1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên các trường đại học khối kinh tế ở việt nam TT

12 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 295,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn vấn đề “Các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam” làm đề tài

Trang 1

1

MỞ ĐẦU 1.1 Lý do lựa chọn đề tài

Với 3 sứ mệnh quan trọng là (1) chuyển giao tri thức; (2) kiến tạo hay phát triển tri

thức khoa học mới và (3) phụng sự xã hội với vai trò như một trung tâm văn hóa, trung tâm

học thuật thực hiện chức năng phản biện chính sách, các trường đại học có vai trò quan

trọng đối với quá trình phát triển của xã hội hiện đại, trong đó việc phát triển và chuyển giao

tri thức mới không thể tách rời khỏi hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH), và trong xu

thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay thì hoạt động NCKH ngày càng trở thành

nhiệm vụ trọng tâm của tất cả các trường đại học, các bảng xếp hạng quốc tế các trường đại

học cũng tính trọng số cao cho các hoạt động liên quan đến NCKH

Tại Việt Nam, với việc ban hành nhiều chủ trương, chính sách của Nhà nước về đổi

mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm cùng với

quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế, các trường đại học, trong đó có các trường đại học

khối kinh tế, từ chỗ chủ yếu thực hiện chức năng chuyển giao, phân phối tri thức đã và đang

quan tâm nhiều hơn đến hoạt động NCKH và đã có những đóng góp nhất định vào công

cuộc đổi mới, phát triển đất nước, để lại dấu ấn rõ nét trong nhiều chính sách kinh tế lớn của

đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường mang

định hướng xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên, hiện nay hoạt động NCKH trong các trường đại học nói chung, trường đại

học khối kinh tế nói riêng, còn những hạn chế như: (1) Chưa nhận thức được tầm quan trọng

của NCKH, chưa thực sự chủ động đưa ra các đề xuất đề tài nghiên cứu; (2) Khả năng triển

khai nghiên cứu còn hạn chế, thể hiện từ việc thiết kế nghiên cứu đến ứng dụng các phương

pháp định lượng, sử dụng các phần mềm phân tích - thống kê; (3) Không thành thạo ngoại

ngữ, lệ thuộc nhiều vào Internet; số lượng công bố khoa học đẳng cấp quốc tế còn khiêm

tốn, chất lượng nghiên cứu chưa cao, lệ thuộc khoa học nhiều vào người nước ngoài Tại các

tài liệu nghiên cứu và diễn đàn, các nguyên nhân khách quan đã được chỉ ra là: (i) đầu tư từ

ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ ở các trường đại học rất thấp; (ii) chủ

trương xã hội hóa hoạt động NCKH chưa được cụ thể hóa và kết quả đạt được không xứng

với tiềm năng; (iii) thủ tục đăng ký đề tài, thanh toán kinh phí phức tạp và mất nhiều thời

gian; (iv) các giải pháp nâng cao năng lực NCKH cho đội ngũ nhà giáo mới mang tính định

hướng chung, nặng về thủ tục hành chính; (v) các biện pháp khuyến khích, khen thưởng

chưa đủ tạo động lực cho người làm nghiên cứu Các nguyên nhân chủ quan là: (i) văn hóa

nghiên cứu của các trường chưa đủ mạnh, kinh phí thực sự dành cho NCKH rất hạn chế; (ii)

sức ép nghiên cứu chưa đủ nhiều, chưa có chế tài hữu hiệu để giảng viên vừa thấy cần thiết

vừa buộc phải tích cực tham gia NCKH, đôi khi giảng viên chỉ coi NCKH là điều kiện bắt

buộc phải hoàn thành, phổ biến tâm lý đối phó của một bộ phận giảng viên khi tham gia

NCKH; (iii) việc phân bổ số giờ và kinh phí NCKH còn bất cập, giảng viên chưa dành thời

gian thích đáng cho hoạt động NCKH

2 Câu hỏi đặt ra là phải làm thế nào để các chính sách, giải pháp về phát triển NCKH trúng và đúng? Muốn vậy, trước hết cần đi sâu tìm hiểu có những nhân tố nào tác động đến hoạt động NCKH của các trường đại học ở cả cấp độ tổ chức (trường đại học) cũng như cấp

độ cá nhân (giảng viên), tiếp đến là phải phân tích, đánh giá, “đo lường” được mức độ tác động của từng nhân tố này đến kết quả NCKH của giảng viên, từ đó đề ra các giải pháp tác động vừa khoa học vừa thiết thực từ phía các cơ quan quản lý vĩ mô (chính phủ, các bộ, ngành) và tổ chức, đơn vị nơi giảng viên công tác Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả NCKH sẽ hướng vào mục tiêu kép: (i) giúp cơ quan quản lý ban hành, điều chỉnh, sửa đổi chính sách phù hợp; (ii) giúp định hướng cho giảng viên đại học biết cách đầu tư và tham gia NCKH có hiệu quả trong từng giai đoạn phát triển sự nghiệp của mình

Với những lý do trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn vấn đề “Các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên các trường đại học khối kinh tế

ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình Trọng tâm của luận án đánh giá ảnh hưởng

của các nhân tố về động cơ, rào cản cũng như điều kiện ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu của giảng viên trong các trường đại học khối kinh tế Trên cơ sở đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh NCKH và nâng cao năng lực nghiên cứu của giảng viên trong trường đại học khối kinh tế

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

a) Mục tiêu chung: Trên cơ sở xây dựng và kiểm chứng mô hình nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố tới hoạt động NCKH thông qua kết quả nghiên cứu của giảng viên,

đề xuất một số khuyến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động NCKH và năng lực nghiên cứu của giảng viên các trường đại học khối kinh tế tại Việt Nam

b) Mục tiêu cụ thể:

- Hệ thống hoá và luận giải cơ sở lý thuyết và thực tiễn về các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động NCKH của giảng viên các trường đại học

- Thiết lập mô hình nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố động cơ, các rào cản nghiên cứu và đặc điểm nhà khoa học tới kết quả NCKH của giảng viên các trường đại học khối kinh tế tại Việt Nam

- Lượng hoá ảnh hưởng của các nhân tố động cơ, rào cản và đặc điểm giảng viên tới kết quả NCKH của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế tại Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động NCKH và năng lực nghiên cứu của giảng viên đại học khối kinh tế tại Việt Nam

1.3 Tổng quan nghiên cứu

1.3.1 Các lý thuyết nền tảng về các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động NCKH và kết quả NCKH

a) Lý thuyết về sự hài lòng và ảnh hưởng của các nhân tố tạo ra sự hài lòng tới kết quả nghiên cứu (Creswell, J., 1986; Judge và cộng sự, 2001; C A D’Angelo và G Abramo,

Trang 2

3

- Sự hài lòng công việc xuất phát từ việc đáp ứng những kỳ vọng với công việc và

thành quả mang lại,bởi vậy, các nhân tố tạo ra sự hài lòng được xem như một dạng nguồn

lực thúc đẩy đạt hiệu suất cao trong tổ chức;

- Có mối quan hệ thuận chiều giữa năng suất nghiên cứu và sự hài lòng của các nhà

nghiên cứu/giảng viên;

- Có mối tương quan nghịch đáng kể giữa hỗ trợ nghiên cứu và số lượng các bài báo

được xuất bản bởi giảng viên/nhà nghiên cứu (nếu dự án có càng nhiều học giả tham gia thì

càng ít hài lòng với những hỗ trợ mà họ nhận được)

b) Lý thuyết về cam kết tổ chức và ảnh hưởng của cam kết với tổ chức tới kết quả nghiên

cứu (Perry J.& Porter L., 1982; Meyer & Allen, 1997, Finaly–Newmann, 1990…)

- Có mối quan hệ chặt chẽ giữa cam kết với tổ chức và thái độ, hành vi của nhân viên

với công việc,sự cam kết của nhân viên sẽ tăng lên khi các mục tiêu và giá trị cá nhân của

họ phù hợp với giá trị và mục tiêu của tổ chức,hệ quả là hiệu suất và hiệu quả công việc

được nâng cao

- Cam kết với tổ chức được phân loại thành (i) cam kết tình cảm (tự nguyện gắn bó);

(ii) cam kết tiếp tục (tùy thuộc vào việc kỳ vọng của nhân viên được đáp ứng đến đâu) và

(ii) cam kết chuẩn mực (coi tiếp tục thực hiện công việc tại nơi làm việc như một nghĩa vụ

đi kèm những cân nhắc đạo đức hay tinh thần trách nhiệm)

- Cam kết với tổ chức được xem như một dạng động lực bên trong của nhà khoa

học/giảng viên để thực hiện nghiên cứu; các khía cạnh của lý thuyết cam kết với tổ chức

được xem như một trong những nhân tố ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu của giảng

viên/nhà nghiên cứu tại đại học

c) Lý thuyết động lực của con người - Lý thuyết tự quyết định (STD) (Lam, 2011,

2014; Ryan & Deci, 2000; Stephan & Levin, 1992,…)

- Cho rằng mọi người sẽ cảm thấy cần thiết hành động khi họ tin rằng các hành vi

của họ sẽ dẫn đến các kết quả mong muốn

- Phân biệt ba loại hình động lực của cá nhân là động lực bên trong (để theo đuổi

đam mê và tạo ra sự hài lòng), động lực bên ngoài (uy tín, sự vinh danh, chuyển giao kết

quả) và không có động lực

1.3.2 Tổng quan các nghiên cứu của nước ngoài về NCKH trong trường đại học

a) Các nghiên cứu về hoạt động NCKH trong trường đại học

- Khái niệm, nội hàm của hoạt động nghiên cứu (Muhammad Zafar Iqbal và cộng sự,

2011; Geiger, 1986);

- Khái niệm kết quả nghiên cứu (Rashid, 2001; Creswell, 1986; Williams, 2003);

- Những năng lực cần có để trở thành một nhà nghiên cứu (Pierre Lamblin, 2010;

Crawford Gray, 2007; Kelly Wester, 2011)

4 b) Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả NCKH của giảng viên đại học

- Các yếu tố liên quan đến nhân thân người nghiên cứu: Tuổi tác, Giới tính, Sự cộng tác, Tình trạng hôn nhân (Astin, 1969, 1978; Hamovitch và Morgenstern, 1977; Gmelch, Wilke và Lovrich, 1986; Creamer, 1995), Trạng thái gia đình (Cole, 1979; Cole và Zuckerman, 1984; Fox và Faver, 1985; Kyvik, 1990, 1991; Hunter và Leahey, 2010), Động lực/đam mê cá nhân (Blackburn, 1991; Davis, 1964, 1965) và một số biến khác như Độ tuổi đạt học vị Tiến sĩ và Độ tuổi có tác phẩm khoa học đầu tiên (Clemente, 1973),…; Giới tính (W.K Cummings và M Fenkelstein, 2014);

- Các yếu tố ngoại cảnh, môi trường hoạt động, làm việc: Sự cộng tác (Lotka, 1926; Price và Beaver, 1966; Levin và Stephan, 1987; Thonstiensdottir, 2000; Bozeman và Corley, 2004), Cơ cấu khen thưởng, Phân bổ thời gian giảng dạy - nghiên cứu của khoa (Fox, 1992), Sự công bằng trong tổ chức (Greenberg, 1993, được trích dẫn trong Nguyễn Thùy Dung, 2015), Động lực tài chính để nghiên cứu, Sự sẵn có của các chương trình hướng dẫn tiến sĩ (Gordon, Maassen, 2014), Sự thiếu hụt tạp chí khoa học (Iqbal, Mahmood, 2011)

1.3.3 Các nghiên cứu tại Việt Nam

- Các yếu tố tạo động lực làm việc của giảng viên: Khía cạnh công bằng trong tổ chức (Nguyễn Thùy Dung, 2015); bố trí nhân sự, khen thưởng thi đua, tiền lương (Lê Đình

Lý, 2010), hội thảo Giải pháp tạo động lực cho giảng viên đại học tham gia NCKH và chuyển giao công nghệ do Bộ GD&ĐT tổ chức ngày 18/12/2010;

- Tổ chức quản lý hoạt động NCKH (Nguyễn Văn An, 2006; Phạm Hồng Chương, 2005; Mai Ngọc Cường, 2004, 2005, 2006; Phan Xuân Dũng - Hồ Thị Mỹ Duệ, 2006; Hoàng Ngọc Hà, 2006; Nguyễn Văn Phúc, 2005; Nguyễn Minh Sơn, 2006; Nguyễn Trọng Thụ, 2006);

- Thể chế chính sách (Mai Ngọc Cường, 2005; Nguyễn Trường Giang, 2006; Vũ Duy Hào, 2005; Minh Nguyệt, 2006; Nguyễn Văn Phúc, 2005; Minh Nguyệt, 2006; Nguyễn Thị Anh Thư, 2006; Trần Xuân Trí, 2006; Hồ Thị Hải Yến, 2007 )

1.4 Khoảng trống nghiên cứu

- Thứ nhất: các nghiên cứu của nước ngoài cơ bản tập trung vào thiết lập và hướng dẫn khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động NCKH và áp dụng cho hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu (gồm các yếu tố cá nhân như giới tính, độ tuổi, trình độ và các yếu tố ngoại cảnh, môi trường làm việc và hoạt động như khen thưởng, phân bố thời gian giảng dạy – nghiên cứu) và dùng các phương pháp định lượng xác định các yếu tố ảnh hưởng khá thành công, tuy nhiên các tác giả nghiên cứu của nước ngoài chưa chú ý hoặc chưa coi trọng nghiên cứu và phân tích sự khác biệt của các yếu tố ảnh hưởng tới các ngành khoa học, lĩnh

Trang 3

5 của nước ngoài về định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả cũng như hiệu quả của các

nghiên cứu

- Thứ hai: các nghiên cứu trong nước phần lớn tập trung vào đánh giá các vấn đề liên

quan như tổ chức, quản lý, thể chế chính sách và quản lý tài chính; các giải pháp đưa ra

mang tính định tính là cơ bản, thiếu các nghiên cứu định lượng, mô hình hóa tác động của

các nhân tố khác nhau tới kết quả NCKH của giảng viên làm cơ sởđưa ra các giải pháp cụ

thể để nâng cao năng lực của người nghiên cứu

Các khoảng trống nghiên cứu nói trên đưa đến các câu hỏi nghiên cứu sau:

1) Các nhân tố nào ảnh hưởng tới hoạt động NCKH của các giảng viên của các

trường đại học khối kinh tế?

2) Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các kết quả NCKH của giảng viên tổng

hợp và theo từng nhóm như thế nào (điểm đề tài, điểm viết sách, điểm công bố, điểm hướng

dẫn…)?

3) Làm thế nào để thúc đẩy hoạt động NCKH, nâng cao lực NCKH của trường đại

học, của giảng viên nói chung và của các trường đại học khối kinh tế nói riêng?

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu: hoạt động NCKH của giảng viên đại học và các nhân tố

ảnh hưởng tới hoạt động NCKH của giảng viên các trường đại học khối kinh tế

b) Phạm vi

- Về không gian: Nghiên cứu đánh giá hoạt động NCKH của giảng viên các trường

đại học khối kinh tế (được hiểu là những trường có tên phù hợp với lĩnh vực kinh tế hoặc

những trường tập trung đào tạo các ngành kinh tế) tại Việt Nam thông qua khảo sát tại 5

trường đại học có tính đại diện (Kinh tế Quốc dân, Kinh tế TP.HCM, Thương mại, Tài

chính - Kế toán, Kinh tế - Luật – ĐHQGHCM)

- Về thời gian: Các dữ liệu nghiên cứu thứ cấp giai đoạn 2012-2017 và được cập nhật

đến năm 2019, số liệu sơ cấp được thu thập đến năm 2019

- Về nội dung: (i) Đánh giá, phân tích hoạt động NCKH của giảng viên đại học và

các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả NCKH của giảng viên đại học khối kinh tế; (ii) trên cơ sở

đánh giá thực trạng và nhân tố ảnh hưởng, đề xuất các giải pháp thúc đẩy hoạt động NCKH,

nâng cao lực NCKH của trường đại học, của giảng viên nói chung và của các trường đại học

khối kinh tế nói riêng

1.6 Khái quát về phương pháp nghiên cứu

Kết hợp cả nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

- Định tính: sử dụng trong giai đoạn đầu và giai đoạn sau nghiên cứu định lượng để

lựa chọn, hiệu chỉnh các thang đo nghiên cứu cho trước khi thực hiện nghiên cứu định

lượng và các phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm

6

- Định lượng (gồm các phân tích đa biến như phân tích thống kê mô tả, phân tích khám phá nhân tố, kiểm định sự tin cậy thang đo nghiên cứu, phân tích tương quan, phân tích hồi quy bội và phân tích hồi quy logistic): dùng để đánh giá khả năng công bố quốc tế của các giảng viên các trường đại học khối kinh tế

1.7 Đóng góp mới của luận án

- Về mặt lý luận: (i) luận giải được hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động NCKH và các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả NCKH của giảng viên các trường đại học khối kinh tế; (ii) xây dựng được mô hình và hiệu chỉnh những thang đo chính đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố tạo nên động cơ bên trong, động cơ bên ngoài, các rào cản nghiên cứu và các nhân tố điều kiện tới kết quả nghiên cứu của giảng viên; (iii) đưa ra được cách đánh giá trọng số cho các thành phần tạo ra kết quả nghiên cứu dựa trên hiệu chỉnh lại cách tính điểm NCKH của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước; (iv) lượng hóa được ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau tới các khía cạnh của kết quả NCKH của giảng viên đại học các trường đại học kinh tế (cả kết quả tổng hợp

và điểm các thành phần) đồng thời đề xuất được một mô hình đánh giá ảnh hưởng của các nhân

tố tới khả năng công bố quốc tế trong danh mục ISI/Scopus của giảng viên đại học khối kinh tế

- Về mặt thực tiễn: đề xuất được một số nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động NCKH của giảng viên tại các trường đại học kinh tế ở cấp độ cá nhân (giảng viên), tổ chức (trường đại học) và thể chế (các cơ quan quản lý nhà nước)

1.8 Kết cấu của luận án

Luận án được kết cấu thành 5 chương, gồm Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu; Chương 2: Cơ sở lý luận về kết quả NCKH và các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả NCKH của giảng viên; Chương 3: Phương pháp nghiên cứu; Chương 4: Kết quả nghiên cứu; Chương 5: Thảo luận và các hàm ý nghiên cứu

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN

- Tiếp theo phần trình bày cơ sở lý luận về các vấn đề liên quan đến “nghiên cứu khoa học” (bao gồm: Khái niệm về NCKH; Vai trò của NCKH; Phân loại NCKH) tại mục 2.1 và

“kết quả NCKH” (bao gồm: Khái niệm kết quả NCKH; Đo lường kết quả NCKH; Các chỉ tiêu đánh giá kết quả NCKH) tại mục 2.2, luận văn đề cập cụ thể đến các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động NCKH của giảng viên trong trường đại học (bao gồm: Các nhân tố bên ngoài; Các nhân tố bên trong; Các nhân tố rào cản) tại mục 2.3

- Kế thừa kết quả nghiên cứu của các học giả nước ngoài và trong nước, căn cứ thực trạng hoạt động NCKH của các trường đại học, luận án đề xuất mô hình nghiên cứu như

Trang 4

7

- Động cơ bên trong: là các động lực nội tại bên trong giảng viên thôi thúc họ thực

hiện các NCKH như đam mê nghiên cứu, mong muốn theo đuổi học thuật, ý thức trách

nhiệm và mong muốn đem lại đóng góp cho xã hội;

- Động cơ bên ngoài: xuất phát từ các áp lực bên ngoài thúc ép giảng viên thực hiện

nghiên cứu như nhiệm vụ hay nghĩa vụ thay vì các lợi ích cá nhân của họ (trong mô hình

này, các động cơ bên ngoài được thể hiện qua các yếu tố động cơ tài chính, quan niệm coi

NCKH là nhiệm vụ bắt buộc, sự công nhận của đồng nghiệp, tổ chức và xã hội về uy tín học

thuật của người nghiên cứu)

- Rào cản nghiên cứu: là những điều kiện gây cản trở hoạt động nghiên cứu của giảng

viên đến từ nhà trường (chẳng hạn giao khối lượng giảng dạy/ nghiên cứu), các hình thức

thể chế hay điều kiện đảm bảo (cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí) và cản trở từ chính

nội tại giảng viên (thiếu kiến thức hay kinh nghiệm nghiên cứu)

Trong mô hình này, tác giả đưa ra giả thuyết là cả 3 nhóm yếu tố trên có tác động đến

kết quả NCKH của giảng viên các trường đại học khối kinh tế

Ngoài ra, những khía cạnh về đặc điểm cá nhân như có học hàm, học vị, biết sử

dụng ngoại ngữ hay các phần mềm phân tích… được đưa vào mô hình làm biến kiểm

soát với giả thuyết rằng các đặc điểm cá nhân của giảng viên khác nhau dẫn đến kết

quả NCKH khác nhau giữa các giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế

Động cơ bên trong

- Đam mê nghiên cứu

- Theo đuổi học thuật

- Đóng góp cho xã hội

Rào cản nghiên cứu

- Cơ sở vật chất

- Khối lượng giảng dạy

- Kiến thức, kinh nghiệm

Động cơ bên ngoài

- Động cơ tài chính

- Nhiệm vụ bắt buộc

- Uy tín học thuật

Biến kiểm soát

- Học hàm, học vị

- Giới tính

- Trình độ…

Kết quả NCKH

- Tổng điểm

- Điểm bài báo

- Điểm viết sách…

H1

H2

H3

8

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu: Thực hiện qua 8 bước, gồm:

(1) Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu: Xác định và lượng hóa ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau (động cơ, rào cản và điều kiện) tới kết quả NCKH của giảng viên các trường đại học khối kinh tế tại Việt Nam

(2) Xem xét cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu tiên nghiệm: Thông qua xem xét tổng quan các nghiên cứu trước đây, tác giả định hình các câu hỏi nghiên cứu, xác định được các khoảng trống nghiên cứu để xây dựng mô hình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu (3) Xây dựng mô hình nghiên cứu: Mô hình đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố (động cơ, rào cản, điều kiện) tới kết quả NCKH của các giảng viên, trong đó các nhân tố nói trên là biến độc lập, kết quả NCKH của các giảng viên (xét theo tổng thể và từng khía cạnh

cụ thể) là biến phụ thuộc

(4) Phát triển các thang đo nháp cho các nhân tố trong mô hình nghiên cứu: Tham khảo các bộ công cụ đo lường từ các nghiên cứu trước đây đồng thời kết hợp với các nghiên cứu định tính bằng phỏng vấn các chuyên gia là các nhà khoa học và nhà quản lý có kinh nghiệm để lựa chọn bộ chỉ tiêu đo lường thích hợp

(5) Đánh giá sơ bộ thang đo và hiệu chỉnh thang đo chính thức: Dùng kiểm định Cronbach Alpha và phân tích nhân tố để đánh giá sơ bộ thang đo về tính tin cậy và tính thích hợp của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu mẫu, sau khi tiến hành phân tích thì hiệu chỉnh bảng câu hỏi và tiến hành lấy mẫu cho phân tích chính thức

(6) Thu thập dữ liệu chính thức: Thực hiện thông qua khảo sát trực tiếp và internet (7) Phân tích dữ liệu: Sử dụng các phân tích đa biến thích hợp như thống kê phân loại, phân tích khám phá nhân tố, kiểm định sự tin cậy thang đo, phân tích tương quan, phân tích hồi quy và phân tích hồi quy logistic…để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả NCKH của giảng viên, đặc biệt là để đánh giá khả năng công bố quốc tế – một xu hướng bắt buộc đối với các trường đại học muốn hội nhập vào hệ thống đào tạo quốc tế

(8) Báo cáo kết quả nghiên cứu: Phân tích và bàn luận về các kết quả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động NCKH và công bố khoa học

3.2 Thiết kế nghiên cứu

- Về lựa chọn các biến cho mô hình nghiên cứu: Các biến được quy về 3 nhóm chính là: động cơ bên trong, động cơ bên ngoài và các rào cản Ngoài ra, luận án còn đưa vào một

Trang 5

9

- Về phát triển và hiệu chỉnh thang đo: Gồm 5 bước chính là Xây dựng thang đo

nháp, Hiệu chỉnh bằng đánh giá chuyên gia, Hiệu chỉnh ngữ nghĩa, Điều chỉnh bảng hỏi

chính thức, Điều tra thử và điều chỉnh, trong đó đáng lưu ý là:

+ Việc đánh giá và cho trọng số điểm nghiên cứu (viết sách, đăng bài tạp chí trong

nước và quốc tế, tham gia hội nghị/ hội thảo, hướng dẫn sinh viên NCKH…) được thực hiện

thông qua sử dụng nghiên cứu định tính bằng phương pháp chuyên gia căn cứ bộ hướng dẫn

của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước

+ Thực hiện phỏng vấn sâu mười (10) chuyên gia là những nhà nghiên cứu có uy tín

trong hoạt động nghiên cứu và quản lý khoa học để cho điểm trọng số và quy đổi từ các sản

phẩm NCKH khác nhau (ví dụ: nếu chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước thì 3 điểm nhưng nếu chỉ

tham gia thì chỉ 1 điểm; đăng tạp chí ISI/Scopus được 2 điểm, đăng tạp chí khoa học trong

nước hạng 1 điểm thì được xếp ngang với đăng tạp chí ngoài ISCI/Scopus là 1 điểm…)

+ Các thang đo sử dụng trong luận án được phát triển dựa trên nghiên cứu từ Zhang

(2014), Lam (2011) và Renko (2013)

- Về chọn mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu: Tác giả dựa vào quy tắc của

Comrey & Lee (1992) để tính số lượng mẫu là 300 mẫu phục vụ cho nghiên cứu này

3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu

- Đối với việc phân tích dữ liệu định tính: Sử dụng quy trình do Cresswell (2009) đề

xuất với các dữ liệu thu được từ phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm các đối tượng tham gia ở

bước nghiên cứu định tính, với 5 bước: Sắp xếp dữ liệu; Sàng lọc dữ liệu; Mã hóa dữ liệu;

Kết nối dữ liệu; Diễn giải và bàn luận

- Đối với việc thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp (chủ yếu là các

báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ và một số trường đại học

khối kinh tế) được lấy trong khoảng từ 5 đến 10 năm gần nhất tùy vào từng chỉ tiêu và mức

độ sẵn có của dữ liệu

- Thu thập và phân tích dữ liệu sơ cấp: Sử dụng các phương pháp phổ biến như:

+ Thống kê mô tả (mẫu nghiên cứu được mô tả về những đặc điểm của các giảng

viên khảo sát bằng các chỉ số thống kê như tần suất, tỷ lệ, số trung bình, độ lệch chuẩn của

các biến khảo sát)

+ Phân tích khám phá nhân tố: Sử dụng với ba nhóm nhân tố trong mô hình được đo

lường bằng đa quan sát (nhiều biến quan sát) bao gồm (1) các động cơ bên trong; (2) động

cơ bên ngoài và (3) rảo cản nghiên cứu Các khái niệm nghiên cứu hình thành sẽ tiếp tục

được đánh giá tính tin cậy bằng hệ số Cronbach Alpha và hệ số tương quan biến tổng, đồng

thời được đánh giá tính thích hợp về giá trị nội dung, trên cơ sở đó tác giả điều chỉnh mô

hình và các giả thuyết nghiên cứu cho phù hợp với dữ liệu thực tế

10 + Kiểm định sự tin cậy thang đo: Sử dụng hệ số Cronbach Alpha và hệ số tương quan biến tổng để đánh giá tính tin cậy của các khái niệm nghiên cứu

+ Phân tích khẳng định nhân tố: Sử dụng để khẳng định sự tồn tại của các khái niệm được hình thành qua phân tích khám phá nhân tố có thích hợp với dữ liệu thực tế không Tác giả lựa chọn hệ số tải nhân tố của các biến quan sát lớn hơn 0,5 là chỉ dấu cho thấy các nhân tố hình thành đạt giá trị hội tụ, nếu tương quan giữa các nhân tố hình thành nhỏ hơn 0,9 thì có thể kết luận các nhân tố đạt giá trị phân biệt

+ Phân tích hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu: Sử dụng phương pháp tổng bình phương nhỏ nhất (OLS) và kiểm định t với mức ý nghĩa thống kê lấy theo thông

lệ là 5% để kiểm định các giả thuyết đặt ra

+ Phân tích hồi quy logistic: Sử dụng mô hình hồi quy logistics với biến phụ thuộc được mã hóa là một biến nhị phân (0-1) với giá trị 0 là không có bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí thuộc danh mục ISI/Scopus và 1 là có bài đăng trên tạp chí ISI/Scopus để đánh giá xác suất (khả năng) công bố trong danh mục ISI/Scopus của đối tượng nghiên cứu

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Khái quát hoạt động NCKH trong các trường đại học khối kinh tế

Trong phần này, luận án tổng hợp các quy định mang tính pháp quy về hoạt động NCKH của giảng viên do Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan quản lý liên quan ban hành, tiếp theo luận án trình bày số liệu tổng hợp về kết quả NCKH của các giảng viên trường đại học khối kinh tế trên một số khía cạnh chủ yếu sau:

- Thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia và tương đương (Bảng 4.1); cấp bộ và tương đương (Bảng 4.2); cấp cơ sở (Bảng 4.3);

- Thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ tư vấn cho doanh nghiệp và tổ chức bên ngoài (Bảng 4.4.); Tỷ lệ đề tài trên giảng viên (Bảng 4.5); nguồn thu từ việc thực hiện các nhiệm vụ NCKH các cấp (Bảng 4.6);

- Công bố các sản phẩm khoa học (Bảng 4.7); Công bố bài báo quốc tế và trong nước trên giảng viên (Bảng 4.8); Kết quả NCKH của sinh viên (Bảng 4.9)

Qua đó, luận án nhận định các thành công trong hoạt động khoa học và công nghệ của các trường khối kinh tế chủ yếu là ở việc kiện toàn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức bộ máy quản lý, triển khai hoạt động NCKH cùng một số thành tựu bước đầu trong quá trình hội nhập và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, các hạn chế vẫn còn nhiều và thể hiện ở tất cả khía cạnh chủ yếu như: xây dựng chiến lược khoa học và công nghệ, cơ chế tài trợ và quản lý hoạt động NCKH, cơ sở vật chất, liên kết đa chiều, năng lực

Trang 6

11 tác động của các yếu tố khác nhau trong mô hình nghiên cứu đến kết quả NCKH của giảng

viên khối trường kinh tế

4.2 Mô tả mẫu nghiên cứu

Kết quả thống kê trên 327 phiếu điều tra thu được trên 400 phiếu phát ra tại 5

trường(tỷ lệ hồi đáp là 82%) cho thấy một số nét đáng chú ý về đội ngũ giảng viên được

khảo sát như sau:

- Số giảng viên nam cao hơn gần 1.5 lần so với nữ; 158 giảng viên được khảo sát có

trình độ tiến sĩ (48,3%), 169 có trình độ thạc sỹ (51,7%); dưới 10% có học hàm giáo sư với

số lượng là 24 giáo sư (7,3%), 48 có học hàm phó giáo sư (14,7%) và 255 chưa có học hàm;

- Trên 70% trả lời kỹ năng tiếng Anh ở mức khá và thành thạo;

- Hơn 80% giảng viên trả lời là tự tin với khả năng sử dụng tin học văn phòng ở mức khá

và thành thạo Về sử dụng các phần mềm phân tích dữ liệu, tỷ lệ này là 50%;

- Số bài báo trong hai danh mục tạp chí khoa học uy tín ISI /Scopus trung bình là 0,77 bài

cho mỗi giảng viên và các bài báo quốc tế khác là 0,33 bài cho mỗi giảng viên;

- Trung bình mỗi giảng viên (đủ điều kiện hướng dẫn hướng cao học và nghiên cứu

sinh) hướng dẫn 1,86 luận án, trong đó hoàn thành 0,6 và đang thực hiện 1,28

Điều đáng chú ý rút ra qua các bảng phân bố mẫu khảo sát (Bảng 4.11 về trình độ

ngoại ngữ, Bảng 4.12 về trình độ tin học, Bảng 4.13 về tham gia đề tài NCKH, Bảng 4.14 về

giáo trình và sách tham khảo, Bảng 4.15: về các bài báo công bố, Bảng 4.20 về điểm

NCKH, v.v.) là độ lệch chuẩn trong các bảng này khá lớn, điều này cho thấy có sự khác biệt

đáng kể giữa các giảng viên trong cùng một khía cạnh cụ thể của hoạt động hoặc kết quả

NCKH được xem xét

4.3 Phân tích khám phá và đánh giá tính tin cậy của các nhân tố trong mô hình

Với mục đích kiểm tra lại sự thay đổi về cấu trúc của các khái niệm trong nghiên cứu

giữa các môi trường nghiên cứu khác nhau, tác giả đã tiến hành phân tích khám phá nhân tố

từng thành phần trong ba nhóm biến nghiên cứu chính bao gồm (1) các động lực bên ngoài;

(2) các động lực bên trong và (3) các rào cản đối với hoạt động NCKH của giảng viên để

tìm ra những khái niệm tiềm ẩn cho mỗi nhóm từ các chỉ tiêu được kế thừa từ các nghiên

cứu trước đây (chẳng hạn: “tính tự chủ trong NCKH” là khái niệm đồng thời là cũng là một

yêu cầu được đặt ra khá thường xuyên trong bối cảnh Việt Nam, tuy nhiên dựa trên giá trị

nội dung phản ánh của các biến quan sát (gồm BT20, BT23 và BT24) trong từng nhân tố và

kết hợp tham khảo ý kiến các chuyên gia, tính tự chủ này được gộp lại với khái niệm “đóng

góp xã hội” thành một khái niệm duy nhất là “tự chủ và đóng góp xã hội”) Kết quả phân

tích cho thấy:

12

- Đối với cả 3 nhóm nhân tố (động lực bên trong, động lực bên ngoài và rào cản), hệ

số KMO luôn có kết quả lớn hơn 0,5, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (p-value < 0,05), tổng phương sai giải thích (TVE) lớn hơn 50% và các biến quan sát giữ lại có hệ số yếu tố tải (factor loading) lớn hơn 0,5 cho thấy sử dụng phân tích khám phá nhân tố là phù hợp

- Tương tự, kết quả phân tích cả 3 nhóm nhân tố cũng cho thấy hệ số Cronbach Alpha luôn lớn hơn 0,6 và các hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát đều lớn hơn 0,3, điều này cho thấy thang đo các nhân tố tương ứng đạt tính nhất quán nội tại, tin cậy và phù hợp để sử dụng trong nghiên cứu

4.3.4 Phân tích khẳng định nhân tố Mục đích của phân tích khẳng định nhân tố (CFA) là khẳng định sự tồn tại của các khái niệm được hình thành qua phân tích khám phá nhân tố (EFA) có thích hợp với dữ liệu thực tế không

Kết quả phân tích khẳng định nhân tố (Chi–square/df = 4,282 < 5, CFI = 0,851, IFI = 0,853 lớn hơn 0,85 và RMSEA = 0,073 < 0,08) cho thấy các nhân tố hình thành được từ phân tích khám phá nhân tố tương thích với dữ liệu thực tế

4.3.4 Điều chỉnh mô hình nghiên cứu Căn cứ kết quả phân tích khám phá nhân tố (đã được khẳng định lại qua phân tích khẳng định nhân tố), tác giả điều chỉnh mô hình và các giả thuyết nghiên cứu cho phù hợp với dữ liệu thực nghiệm như sau:

Động cơ bên ngoài

Thăng tiến và động cơ tài chính

Uy tín học thuật

Động cơ bên trong

Đam mê nghiên cứu Theo đuổi học thuật

Sự tự chủ và đóng xã hội

Rào cản ảnh hưởng hoạt động nghiên cứu

Rào cản cơ sở vật chất Thiếu kỹ năng và kinh nghiệm Tuổi tác và hỗ trợ

Khối lượng giảng dạy và văn hóa khoa học

Kết quả nghiên cứu khoa học

Nhân tố đặc điểm

Trình độ học vấn Giới tính Học hàm Ngoại ngữ, tin học

H1a-b

H2a-c

H3a-d

H4a-d

Trang 7

Stt

hiệu

biến

Tên biến Stt Ký hiệu biến Tên biến

1 FIN Thăng tiến và động cơ tài

chính

3 PASS Đam mê nghiên cứu 11 Diemsach Điểm khoa học từ viết sách

4 SCI Theo đuổi học thuật 12 Diembaibao Điểm khoa học từ các bài

báo khoa học

5 AUT Sự tự chủ và đóng góp xã

hội

13 HD_SV Điểm hướng dẫn sinh viên

NCKH

6 INF Rào cản do cơ sở vật chất 14 Diem_HD Điểm khoa học từ hướng

dẫn học viên cao học

7 EXP Thiếu kỹ năng và kinh nghiệm 15 TongdiemNC Tổng điểm NCKH

8 SUP Tuổi tác và sự hỗ trợ

4.4 Kết quả phân tích tương quan

Để đảm bảo tính độc lập giữa các biến với nhau, tác giả sử dụng phân tích tương quan để

xem xét mối quan hệ giữa các biến trong mô hình Kết quả phân tích từ dữ liệu khảo sát cho

thấy 9 biến độc lập không có tự tương quan với nhau (Bảng 4.33):

FIN ACA PAS

S SCI AUT INF EXP SUP TEC

Diemd etai Diems ach Diemba ibao HD_SV

Diem_

HD Tongdie mNC

ACA 283** 1

PASS -.001 444** 1

SCI 073 652** 595

** 1

AUT 010 436** 643

** 681** 1

INF 038 057

-.047 .016 023 1

EXP 096

-.234**

-.187 -.189**

-.135*

.399

** 1

14

FIN ACA PAS

S SCI AUT INF EXP SUP TEC

Diemd etai Diems ach Diemba ibao HD_SV

Diem_

HD Tongdie mNC

**

SUP 057 -.103

-.042 -.221**

-.156*

*

.266

** 316** 1

TEC 070 160**

-.003 .252

** 202*

* 300

** 267** 085 1

Diemde tai .045 116

* 282

** 048 .181

*

* -.089 -.106 018

-.246

**

1

Diemsa

ch -.054 090

.205

** 072 .180

*

* -.067 -.160** 058

-.082 .597

** 1

Diemba ibao .009 125

* 248

** 093 .148

*

* -.086 -.187** -.049

-.069 .403

** 308** 1

HD_SV -.094 169** 211

** 084 068

-.212

**

-.295** -.047

-.190

**

.152** 147** 244** 1

Diem_

HD -.094 094

.286

** 101 .155

*

*

-.219

**

-.280** -.064

-.195

**

.406** 464** 316** 501** 1

Tongdie mNC -.041 155

** 347

** 118* 211*

*

-.175

**

-.282** -.038

-.184

**

.671** 666** 803** 464** 748** 1

** Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed)

* Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed)

Điều này có nghĩa là những nhân tố (biến) độc lập là phân biệt và thực sự có tương quan với nhân tố (biến) phụ thuộc và vì vậy, những nhân tố này phù hợp để đưa vào phân tích hồi quy

4.5 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

- Công cụ kiểm định: phân tích hồi quy bằng phương pháp tổng bình phương nhỏ nhất OLS với phương pháp đưa biến vào toàn bộ (Enter) Kết quả phân tích (Bảng 4.35) cho thấy:

+ Kiểm định F có p-value = 0,000 (< 0,05) chứng tỏ các biến độc lập có ảnh hưởng

Trang 8

15 + Hệ số R2 = 0,702 cho thấy các biến độc lập giải thích được khoảng 70% sự thay đổi

của biến phụ thuộc, hay nói cách khác, 70% điểm NCKH phụ thuộc vào động cơ bên trong, bên

ngoài, các khía cạnh rào cản và những đặc điểm của nhà khoa học

- Kết quả kiểm định đối với các động cơ bên ngoài: chỉ có động cơ về uy tín học

thuật có ảnh hưởng tới kết quả NCKH (p - value < 0,05), nhân tố thăng tiến và động cơ tài

chính không có ý nghĩa thống kê (p-value > 0,05) Điều này có vẻ không đúng nhưng có

một thực tế là sau khi có các chức vụ thì hoạt động NCKH lại không phải là ưu tiên của

giảng viên hoặc lợi ích tài chính từ nghiên cứu không còn hấp dẫn các giảng viên

- Kết quả kiểm định đối với các động cơ bên trong: có 2 trong 3 động cơ có ảnh

hưởng tới kết quả NCKH của giảng viên là (1) đam mê nghiên cứu và (2) theo đuổi học

thuật (p-value < 0,05), mong muốn tự chủ và đóng góp xã hội không cho thấy có ảnh hưởng tới

kết quả nghiên cứu của giảng viên (p-value > 0,05) Tuy nhiên, nhân tố “theo đuổi học thuật” có

ảnh hưởng ngược chiều tới kết quả nghiên cứu của các giảng viên (nguyên nhân được trình bày

tại phần bình luận về kết quả nghiên cứu định lượng ở mục 5.1.2)

- Kết quả kiểm định đối với các nhân tố rào cản: chỉ duy nhất nhân tố “thiếu cơ sở vật

chất” có ảnh hưởng tiêu cực tới kết quả nghiên cứu của giảng viên (p-value < 0,05) Trong

khi đó, các nhân tố như thiếu kỹ năng và kinh nghiệm, tuổi tác và sự hỗ trợ, khối lượng

giảng dạy và văn hóa khoa học không có ảnh hưởng nhiều tới kết quả NCKH của giảng viên

(p-value > 0,05)

- Kết quả kiểm định đối với các khía cạnh về đặc điểm của giảng viên: trình độ ngoại

ngữ và tin học không có ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu, nhóm độ tuổi không có ảnh

hưởng tới kết quả nghiên cứu (p-value > 0,05) Các nhân tố như giới tính có ảnh hưởng (nam có

mức công bố nghiên cứu cao hơn nữ trong cùng một điều kiện, những giảng viên có học vị tiến

sĩ có mức công bố cao hơn những người có học vị thạc sỹ, những giảng viên có học hàm cũng

có mức công bố cao hơn, tuy nhiên việc có học hàm PGS ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu

hơn so với GS (p-value < 0,05)

- Riêng về ảnh hưởng của các nhân tố tới khả năng đăng bài báo trong danh mục

ISI/Scopus,kết quả hồi quy cho thấy:

+ Có 4 biến đưa vào không có ảnh hưởng tới khả năng công bố bài báo của giảng

viên bao gồm (1) thâm niên công tác; (2) giới tính; (3) điểm viết sách; (4) điểm hướng dẫn

sinh viên NCKH

+ Nhóm có ảnh hưởng dương bao gồm: (i) uy tín học thuật; (ii) đam mê nghiên cứu;

(iii) kinh nghiệm và hỗ trợ; (iv) khối lượng giảng dạy và văn hóa khoa học; (v) khả năng

ngoại ngữ; (vi) độ tuổi trẻ (dưới 40) và (vii) điểm đề tài khoa học

+ Nhóm có ảnh hưởng âm bao gồm: (i) theo đuổi học thuật; (ii) sự tự chủ và đóng

góp xã hội; (iii) cơ sở vật chất; (iv) thiếu hỗ trợ; (v) trình độ tiến sĩ; (vi) kỹ năng sử dụng các

16 phần mềm phân tích; (vii) học hàm (PGS, GS); (viii) điểm khoa học không trong danh mục ISI/Scopus; (ix) điểm hướng dẫn cao học, nghiên cứu sinh

Những phát hiện này rất có ý nghĩa trong việc nhận diện “chân dung” của nhà nghiên cứu đặt trong bối cảnh của Việt Nam và cũng là cơ sở để các trường đại học, các nhà quản

lý cân nhắc những giải pháp nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu của đối tượng này (nội dung này được thảo luận tại chương 5)

CHƯƠNG 5 THẢO LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU 5.1 Thảo luận về kết quả nghiên cứu

5.1.1 Qua nội dung nhận xét, đánh giá tổng hợp về các khía cạnh khác nhau của đội ngũ giảng viên các trường đại học khối kinh tế mà đại diện là 5 trường được khảo sát, tác giả rút ra một số điểm đáng chú ý sau:

- Về cơ cấu giảng viên: tỷ lệ nam cao hơn nữ gần 50% (khác biệt với nhận thức thông thường là các trường đại học khối kinh tế có tỷ lệ sinh viên và giảng viên nữ nhiều hơn nam) Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi việc nhóm mẫu được điều tra tỷ lệ tại hai trường Đại học Kinh tế Quốc dân và Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (hai trường chiếm tỷ trọng lớn nhất) vốn là những trường đại học có tuyển sinh đại học khối A

- Về giảng viên có trình độ tiến sĩ và học hàm: tỷ lệ là 50% Tỷ lệ này cho thấy sự tiến bộ lớn so với 30% trong khoảng 10 năm trước đây, trong đó có 2 nguyên nhân quan trọng là (i) yêu cầu về giảng viên theo các quy định của Bộ Giáo dục và Đạo tạo cùng sự gia tăng quy mô tuyển sinh cao học của các trường đại học đòi hỏi số lượng giảng viên có trình

độ tiến sĩ cao hơn và (ii) đòi hỏi của quá trình hội nhập của các trường đại học theo tiêu chuẩn quốc tế Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn còn khá thấp so với các đại học trên thế giới, riêng

tỷ lệ giảng viên có học hàm (giáo sư, phó giáo sư) chỉ khoảng 20%, một trong những nguyên nhân là Việt Nam phong giáo sư, phó giáo sư theo cơ chế “tập trung” (thông qua Hội đồng học hàm nhà nước)

- Về kinh nghiệm giảng dạy: số giảng viên có kinh nghiệm giảng dạy trên 10 năm chiếm tỷ lệ khá cao (70%) Điều này vừa là cơ hội (những giảng viên có nhiều kinh nghiệm

có thể đem lại lợi thế về hoạt động giảng dạy và kinh nghiệm nghiên cứu) nhưng cũng là một thách thức (có một tỷ lệ lớn các giảng viên của thế hệ giáo dục truyền thống có thể có những bất lợi khi tham gia hội nhập vào hệ thống giáo dục quốc tế, đặc biệt khi mà ở Việt Nam có một số lượng đáng kể giảng viên được đào tạo theo mô hình của hệ thống giáo dục Liên Xô và các nước XHCN trước đây)

- Về trình độ ngoại ngữ của giảng viên: 70% giảng viên khảo sát cho rằng mình có trình độ ngoại ngữ khá hoặc thành thạo, trên 80% thành thạo tin học văn phòng, tuy nhiên chỉ 50% biết sử dụng các phần mềm phân tích dữ liệu Điều này phản ánh một tín hiệu tích

Trang 9

17 trong khoa học gần như là bắt buộc Tuy nhiên, mức độ sử dụng các công cụ phân tích còn

khá hạn chế như hiện nay sẽ là một rào cản lớn cho các nhà khoa học Việt Nam trong lĩnh

vực kinh tế có thể đạt được đến trình độ của các nhà khoa học quốc tế và có khả năng công

bố các bài báo khoa học trên các tạp chí uy tín

- Về điểm đánh giá các công trình khoa học được công bố: Trong cơ cấu điểm nghiên

cứu chỉ có 41% điểm đến từ các bài báo khoa học công bố, điểm đánh giá từ việc thực hiện

đề tài nghiên cứu và viết sách còn khá lớn (38%, trong đó 21% là điểm từ các đề tài nghiên

cứu, 17% là từ viết sách) cho thấy các trường đại học Việt Nam khá khác biệt so với các

trường đại học trên thế giới, nơi mà NCKH tập trung vào công bố và đăng ký sáng chế, tiêu

chuẩn thực hiện các đề tài (dự án) nghiên cứu thường gắn với công bố quốc tế và việc viết

sách giáo trình, sách tham khảo thường không phải là phần được đánh giá cao Điều này

cũng xuất phát từ sự khác biệt trong hệ thống đánh giá điểm phong chức danh giáo sư, phó

giáo sư tại Việt Nam khi mà trọng số về viết sách và thực hiện các đề tài nghiên cứu chiếm

tỷ lệ khá lớn

- Về công bố quốc tế: Có 2 điểm đáng chú ý: (i) về lượng, hoạt động công bố quốc tế

trong các danh mục khoa học uy tín như ISI/Scopus của các giảng viên đại học khối kinh tế

còn rất khiêm tốn (trung bình mỗi giảng viên chưa có 1 bài), điểm nghiên cứu của các hoạt

động khoa học khác cao gấp 12 lần so với điểm công bố trên các tạp chí ISI/Scopus, mặt

khác, độ lệch chuẩn về số bài nghiên cứu quốc tế của các giảng viên rất lớn (điều này cho

thấy, hoạt động công bố quốc tế mới dừng lại ở một nhóm nhỏ các nhà nghiên cứu có trình

độ cao); (ii) về chất, sự lệ thuộc khoa học còn cao (khoảng 80% bài báo công bố có hợp tác

quốc tế và tác giả nước ngoài là các tác giả chính, các tác giả Việt Nam thường đứng ở các

vị trí thấp trong danh sách tác giả) Điều này cho thấy văn hóa khoa học tại Việt Nam còn

khá thấp, việc đứng tên bài báo là một vấn đề khó, và các tiêu chuẩn đánh giá nhà khoa học,

giảng viên còn chưa đánh giá đúng mức “vị trí” của nhà khoa học trong các công trình

nghiên cứu

5.1.2 Kết quả phân tích định lượng

Tác giải tổng hợp và kết luận kết quả nghiên cứu như sau:

(i) Cấu trúc khái niệm nghiên cứu trong các nhân tố động cơ bên ngoài, động cơ bên

trong, các nhân tố rào cản nghiên cứu có sự khác biệt với các nghiên cứu trên thế giới (đã

trình bày ở phần tổng quan nghiên cứu) Phân tích khám phá nhân tố (EFA) cho thấy các

động cơ bên ngoài chỉ gồm 2 cấu trúc khái niệm (Thăng tiến và cộng cơ tài chính; Uy tín

khoa học), động cơ bên trong có 3 cấu trúc khái niệm (Đam mê nghiên cứu; Theo đuổi học

thuật; Tự chủ và đóng góp xã hội) và rào cản có 4 cấu trúc khái niệm (Rào cản cơ sở vật

chất; Thiếu kỹ năng và kinh nghiệm; Tuổi tác và sự hỗ trợ; Khối lượng giảng dạy và văn

hóa khoa học) Điều này cho thấy có sự khác biệt về nhận thức của các giảng viên, nhà khoa

học Việt Nam so với các nghiên cứu trên thế giới Sự khác biệt này có thể do sự khác biệt về

18 định sự tin cậy thông qua phân tích bằng hệ số tương quan biến tổng và hệ số Cronbach Alpha cho thấy các cấu trúc khái niệm này là thích hợp và tin cậy Điều này cho thấy việc

sử dụng mô hình nghiên cứu có thể được điều chỉnh cho thích hợp với các bối cảnh nghiên cứu khác nhau Những khái niệm nghiên cứu này là thích hợp, các thang đo của chúng có thể được tham khảo sử dụng cho các nghiên cứu đánh giá động cơ, rào cản đối với nhà khoa học trong các trường đại học khối ngành khoa học xã hội và kinh tế

(ii) Tất cả các giả thuyết nghiên cứu đều được chấp nhận một phần ở các khía cạnh khác nhau Hay nói cách khác, các nhân tố động cơ bên trong, động cơ bên ngoài, các yếu tố

về đặc điểm nhà khoa học đều có ảnh hưởng tới kết quả NCKH của giảng viên ở các mức

độ khác nhau trên các khía cạnh khác nhau

Các nhân tố ảnh hưởng

Kết quả NCKH Tổng

điểm nghiên cứu

Điểm bài báo khoa học

Điểm bài báo ISI/

Scopus

Bài báo ngoài ISI/

Scopus

Điểm

đề tài

Điểm viết sách

Khả năng công bố ISI/ Scopus Động cơ bên trong

Tự chủ và đóng

Động cơ bên ngoài Thăng tiến và cộng

Rào cản nghiên cứu

Thiếu kỹ năng và

Khối lượng giảng dạy và văn hóa khoa học

Đặc điểm giảng viên (biến kiểm soát)

Sử dụng phần

Trang 10

Các nhân tố ảnh

hưởng

Kết quả NCKH Tổng

điểm nghiên cứu

Điểm bài báo khoa học

Điểm bài báo ISI/

Scopus

Bài báo ngoài ISI/

Scopus

Điểm

đề tài

Điểm viết sách

Khả năng công bố ISI/

Scopus

Các biến khác (ảnh hưởng tới khả năng công bố quốc tế)

Điểm hướng dẫn

Điểm hướng dẫn

(iii) Ảnh hưởng của các nhân tố động cơ, rào cản, điều kiện tới kết quả nghiên cứu

của các giảng viên trong các trường đại học khối kinh tế là khá khác nhau Qua phân tích dữ

liệu nghiên cứu có thể khái quát đặc điểm hay lợi thế của các giảng viên có kết quả NCKH

tốt qua một tập hợp các nhân tố ảnh hưởng được sắp xếp theo thứ tự thấp dần như sau:

- Nhà khoa học có điểm NCKH cao (bao gồm điểm đề tài, điểm viết sách, điểm bài

báo, điểm hướng dẫn) có những đặc điểm (1) có học hàm phó giáo sư, giáo sư (2) có bằng

tiến sĩ và (3) là người coi trọng uy tín khoa học trong chuyên ngành; (4) tham gia giảng dạy;

(5) nam giới là một lợi thế Kết quả phân tích của luận án cho thấy 5 nhân tố này là những

nhân tố chính ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê tới kết quả NCKH của giảng viên trong các

trường đại học khối kinh tế Kết quả này cũng cho thấy không phải tất cả các động cơ bên

ngoài, động cơ bên trong, rào cản nghiên cứu và các điều kiện đặc điểm đều ảnh hưởng tới

kết quả NCKH của giảng viên

- Giảng viên có điểm công bố trên tạp chí cao có đặc điểm (1) có học hàm phó giáo

sư là một lợi thế; (2) uy tín học thuật cao; (3) tham gia giảng dạy; (4) thuộc độ tuổi trẻ dưới

40 là một lợi thế và (5) có trình độ tiến sĩ Đây là chính là những nhân tố ảnh hưởng tới kết

quả điểm công bố bài báo trên các tạp chí khoa học Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng

không tìm thấy ảnh hưởng của các hoạt động nghiên cứu khác tới kết quả công bố Đặc biệt

nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng cho thấy việc tham gia các đề tài NCKH các cấp,

điểm viết sách, điểm hướng dẫn của giảng viên với điểm công bố bài báo trên tạp chí khoa

học Tín hiệu này phản ánh một thực tế là đầu ra cho các NCKH của giảng viên các trường

đại học thuộc khối kinh tế còn thấp, công bố trên các tạp chí còn ít

- Giảng viên có điểm công bố khoa học trên các tạp chí ISI/Scopus cao có đặc điểm

(1) có học hàm phó giáo sư là một lợi thế; (2) thành thạo các phần mềm phân tích dữ liệu;

(3) thuộc độ tuổi trẻ dưới 40 là một lợi thế; (4) có trình độ tiến sĩ và (5) tham gia giảng dạy

20 ISI/Scopus Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng không tìm thấy ảnh hưởng của các hoạt động nghiên cứu khác tới kết quả công bố Đặc biệt nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa việc tham gia các đề tài NCKH các cấp, điểm viết sách, điểm hướng dẫn của giảng viên với điểm công bố bài báo trên tạp chí ISI/Scopus Tín hiệu này phản ánh tiêu chuẩn đầu ra cho các NCKH của giảng viên các trường đại học thuộc khối kinh tế còn thấp, chưa hướng tới hoạt động công bố quốc tế hoặc hoạt động công bố quốc tế trước đây mới dừng ở mức khuyến khích chứ không phải tiêu chuẩn cho sản phẩm đầu ra của các đề tài NCKH các cấp Kết quả này cũng cho thấy khoảng cách lớn về chất lượng nghiên cứu từ việc thực hiện các đề tài và các hoạt động nghiên cứu so với chuẩn mực quốc

tế Nhóm giảng viên trẻ dưới 40 cho thấy có lợi thế trong việc công bố quốc tế cũng phản ánh đúng thực tế là thế hệ các giảng viên lớn tuổi được đào tạo từ khối xã hội chủ nghĩa trước đây sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong hoạt động công bố quốc tế so với những giảng viên trẻ được đào tạo từ các nước phát triển, quen với văn hóa công bố quốc tế ở các nước này

- Riêng đối với khả năng công bố quốc tế: Bằng phân tích hồi quy logistic, tác giả cho thấy phần lớn các nhân tố trong mô hình đều có ảnh hưởng tới khả năng công bố quốc

tế của các giảng viên với các bài nghiên cứu trong danh mục ISI/Scopus Tuy nhiên, một số nhân tố không có ảnh hưởng tích cực mà lại có ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng công bố bài báo khoa học trên các tạo chí ISI/Scopus, ví dụ: động cơ theo đuổi học thuật có ảnh hưởng

âm, tương tự là học hàm PGS, GS và điểm khoa học cho các bài báo không trong danh mục ISI/Scopus; việc giảng viên có động cơ theo đuổi học thuật đem lại kỳ vọng là những người này có khả năng công bố bài báo trên tạp chí ISI/Scopus tốt hơn, thế nhưng trong thực tế điểm về động cơ theo đuổi học thuật tăng lại làm cho xác suất công bố giảm (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi) Nghịch lý này có thể lý giải bằng những đặc thù của thế thống đánh giá khoa học Việt Nam vẫn chưa chú trọng đến hoạt động công bố quốc tế trong quá khứ; điểm NCKH vẫn được đánh đồng giữa các tạp chí quốc tế có phẩm chất cao với các tạp chí trong nước có phẩm chất khiêm tốn hơn (ví dụ: theo quy định trước đây thì các bài báo quốc tế không phân biệt hạng Q1, Q2, Q3, Q4 đều được tính 1 điểm như nhóm 4 tạp chí cao nhất trong nước Điểm NCKH từ công bố bài báo ngoài ISI/Scopus không cho thấy

có ảnh hưởng tới khả năng công bố của bài báo trong ISI/Scopus cũng thể hiện đẳng cấp hay khoảng cách giữa các nghiên cứu theo tiêu chuẩn “nội địa” và tiêu chuẩn quốc tế là rất khác biệt

Trên cơ sở phân tích và làm rõ kết quả mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động NCKH, nhận dạng “chân dung” nhà nghiên cứu của các trường đại học khối kinh

tế trên cơ sở xếp hạng yếu tố ảnh hưởng đến kết quả NCKH theo thứ tự giảm dần; qua tham khảo, phân tích ý kiến đánh giá của giảng viên theo 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng bên trong,

bên ngoài và rào cản đến kết quả nghiên cứu, NCS kết luận về các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu như sau:

Ngày đăng: 24/06/2021, 08:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w