GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
Lý do lựa chọn đề tài
Trường đại học đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội hiện đại, với ba sứ mệnh chính: chuyển giao tri thức, kiến tạo tri thức khoa học mới, và phụng sự xã hội Việc phát triển tri thức mới là nhiệm vụ cốt lõi, giúp phân biệt trường đại học với các cơ sở đào tạo nghề Đại học không chỉ là nơi truyền đạt kiến thức mà còn là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động Chuyển giao tri thức diễn ra qua hoạt động giảng dạy, trong khi việc kiến tạo tri thức mới gắn liền với nghiên cứu khoa học, đóng góp vào hiểu biết về thế giới tự nhiên và xã hội Ngoài ra, trường đại học hiện đại còn là trung tâm văn hóa, bảo vệ tự do học thuật và thực hiện chức năng phản biện xã hội, thúc đẩy sự phát triển bền vững cho cộng đồng.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các trường đại học Việt Nam đang chịu ảnh hưởng từ hệ thống giáo dục đại học của các nước phát triển, đặc biệt là các mô hình đại học nghiên cứu từ Mỹ và Úc (Nguyen, 2015) Những cơ sở giáo dục này không chỉ tạo ra và phổ biến tri thức thông qua nghiên cứu (Brew & Lucas, 2009; Faust, 2013), mà còn cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hơn nữa, các trường đại học còn đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách của quốc gia và toàn cầu, thông qua các hoạt động nghiên cứu và chuyển giao tri thức Sự tồn tại của các trường đại học với chất lượng nghiên cứu cao thường được xem là chỉ số cho chất lượng giáo dục của một quốc gia, đồng thời ảnh hưởng đến vị trí của quốc gia đó trong các bảng xếp hạng giáo dục quốc tế.
Nghiên cứu khoa học (NCKH) là sứ mệnh trung tâm của các trường đại học, phân biệt chúng với các cơ sở đào tạo nghề Đại học không chỉ đào tạo những người làm việc mà còn là nơi phát triển những cá nhân tinh hoa NCKH đóng vai trò quan trọng trong các bảng xếp hạng đại học quốc tế, chiếm từ 20 đến 60% điểm đánh giá Để thành công trong quá trình quốc tế hóa, các trường đại học cần đầu tư vào NCKH Giảng viên không chỉ có trách nhiệm giảng dạy mà còn tham gia NCKH và phục vụ xã hội, thể hiện "sứ mạng thứ ba" Theo giáo sư Soo Jeung Lee, chức năng của đại học đã mở rộng ra ngoài giáo dục, tập trung vào nghiên cứu và đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội Tại Việt Nam, Luật giáo dục 2019 đã quy định rõ nhiệm vụ NCKH của các cơ sở giáo dục và giảng viên.
19 nêu rõ: “Hoạt động khoa học và công nghệ là một nhiệm vụ của cơ sở giáo dục”, và
Cơ sở giáo dục có trách nhiệm tự triển khai hoặc hợp tác với các tổ chức khoa học và công nghệ, cũng như các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ để thực hiện đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội Điều 55 trong Luật Giáo dục đại học 2012 (sửa đổi năm 2018) đã nêu rõ một trong những nhiệm vụ và quyền của giảng viên trong lĩnh vực này.
Nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học trong giáo dục đại học là rất quan trọng, và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục đại học đã quy định rõ chế độ làm việc của giảng viên Cụ thể, theo Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT và Thông tư số 20/2020/TT-BGDĐT, giảng viên phải dành ít nhất 1/3 tổng quỹ thời gian làm việc trong năm học cho nhiệm vụ nghiên cứu khoa học (NCKH), tùy thuộc vào ngạch bậc và học hàm, học vị của họ Điều này đảm bảo chất lượng đào tạo và khuyến khích giảng viên tham gia vào các hoạt động nghiên cứu.
Nhận thức được vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước đã xác định phát triển khoa học và công nghệ là quyết sách hàng đầu từ những năm 1980 Các cơ sở giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn tri thức mới và cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao cho xã hội Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII khẳng định Việt Nam cần phát huy tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia, đầu tư vào các viện khoa học công nghệ và trường đại học cấp quốc gia Quyết định số 418/QĐ-TTg cũng nhấn mạnh việc nâng cao năng lực nghiên cứu cơ bản của các trường đại học Đề án Tái cơ cấu ngành khoa học công nghệ đến năm 2020 nêu rõ sự cần thiết phát triển đội ngũ nhân lực và khuyến khích doanh nghiệp kết nối với các phòng thí nghiệm Nghị định số 99/2014/NĐ-CP quy định chi tiết việc đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ trong cơ sở GDĐH, cùng với nhiều văn bản pháp lý khác từ Thủ tướng Chính phủ nhằm thúc đẩy phát triển lĩnh vực này.
Luật Giáo dục đại học năm 2018 quy định rõ trách nhiệm của nhà nước trong việc phát triển khoa học và công nghệ, với mục tiêu tập trung đầu tư vào tiềm lực khoa học và công nghệ, khuyến khích sự tham gia của tổ chức và cá nhân trong việc phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo tại các cơ sở GDĐH Chính phủ cũng đưa ra các quy định về hoạt động khoa học và công nghệ, đồng thời Nghị định số 99/2014/NĐ-CP đã thiết lập các chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích giảng viên nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này Hệ thống pháp luật hiện tại đã xác lập vai trò của hoạt động NCKH trong các cơ sở GDĐH, tạo ra khung pháp lý đồng bộ cho việc tham gia và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học.
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế, các trường đại học tại Việt Nam đã chuyển từ việc chỉ tập trung vào giảng dạy kiến thức và kỹ năng sang coi hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) là nhiệm vụ quan trọng Tuy nhiên, ở các trường thuộc khối khoa học xã hội, hoạt động NCKH vẫn chưa được chú trọng đúng mức.
Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 phê duyệt Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025, cùng với các quyết định khác như số 1665/QĐ-TTg và 2469/QĐ-TTg, thể hiện cam kết của Chính phủ trong việc phát triển giáo dục và khởi nghiệp tại Việt Nam Mặc dù có những nỗ lực nâng cao chất lượng giáo dục đại học giai đoạn 2019-2025 và cải thiện năng lực giảng viên, ngành khoa học xã hội, đặc biệt là kinh tế, vẫn gặp nhiều hạn chế Sản phẩm nghiên cứu công bố quốc tế trong lĩnh vực này còn thấp hơn so với các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật, dẫn đến việc nhiều ứng viên giáo sư, phó giáo sư trong lĩnh vực kinh tế chưa có bài nghiên cứu đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Các trường đại học khối kinh tế đã đóng góp quan trọng vào công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, đặc biệt trong việc hoạch định chính sách kinh tế Những nghiên cứu về nền kinh tế thị trường đã hỗ trợ cho các quyết sách và đổi mới của Đảng và Chính phủ Tuy nhiên, hoạt động NCKH trong các trường đại học vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ở giảng viên Nhiều giảng viên chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của NCKH và thường dựa vào các mô hình đã có, thiếu sự chủ động trong việc đề xuất đề tài mới Khả năng triển khai nghiên cứu còn yếu, từ thiết kế đến ứng dụng phương pháp định lượng Hạn chế về ngoại ngữ và phụ thuộc vào tài liệu tiếng Việt làm giảm tính thiết thực và phong phú của nghiên cứu Số lượng công bố khoa học quốc tế còn thấp và chất lượng nghiên cứu chưa đạt yêu cầu cao, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện và nâng cao năng lực nghiên cứu trong lĩnh vực này.
Hạn chế trong hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của các trường đại học khối kinh tế xuất phát từ hai nhóm nguyên nhân chính: nguyên nhân khách quan, bao gồm môi trường thể chế và chính sách, và nguyên nhân chủ quan, liên quan đến văn hóa nghiên cứu, quy chế nội bộ và ý thức, động lực NCKH của giảng viên Những vấn đề này đã được thảo luận rộng rãi tại nhiều hội nghị, hội thảo và báo cáo đánh giá về hoạt động khoa học và công nghệ.
Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ tại các trường đại học hiện đang ở mức rất thấp, với bình quân hàng năm trong giai đoạn 2011- không đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển.
Năm 2015, ngân sách đầu tư cho tăng cường năng lực nghiên cứu từ nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ đạt khoảng 30-50 tỷ đồng cho 61 đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo (Vũ Văn Tích, 2016) Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới năm 2016, đầu tư tài chính cho hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) trên toàn quốc trung bình giai đoạn 2011-2015 chỉ đạt khoảng 1,7% ngân sách nhà nước, trong đó ngân sách dành cho NCKH trong ngành giáo dục khá hạn chế và không hợp lý, cụ thể chỉ bằng 35% so với đầu tư cho NCKH của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 86% so với Bộ Công thương, 44,9% so với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, và 18,3% so với các lĩnh vực khác.
Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ ra rằng việc phân bổ kinh phí cho sự nghiệp khoa học và công nghệ hiện tại chưa hợp lý, chủ yếu dựa vào số cấp ban đầu mà không gắn với sản phẩm đầu ra, dẫn đến khó khăn trong việc đạt được mục tiêu phát triển tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia và thu hút các nhà khoa học từ nước ngoài Cách thức phân bổ hiện tại thể hiện tính bình quân chủ nghĩa, chưa chú trọng vào hiệu quả sử dụng kinh phí Mặc dù Chính phủ đã có quy định khuyến khích doanh nghiệp và tổ chức đầu tư vào phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ tại các cơ sở giáo dục đại học, nhưng các chính sách này chủ yếu chỉ dừng lại ở việc đề xuất nhiệm vụ mà chưa thực sự triển khai hiệu quả.
Theo Điều 11 Nghị định số 99/2014/NĐ-CP, Nhà nước khuyến khích xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ (KHCN) thông qua việc miễn, giảm thuế cho doanh nghiệp và cá nhân đầu tư vào KHCN, bao gồm cả việc nhập khẩu thiết bị và chuyển giao công nghệ từ các cơ sở giáo dục đại học Các quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khi đầu tư vào KHCN được Nhà nước công nhận và bảo hộ Tuy nhiên, các giải pháp hiện tại vẫn chưa cụ thể và chưa giải quyết triệt để những vấn đề phát sinh trong thực tế đầu tư vào KHCN Thủ tục đăng ký đề tài và thanh toán kinh phí nghiên cứu khoa học còn phức tạp, gây khó khăn cho các tổ chức và cá nhân Cần có các chương trình đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ nghiên cứu, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế để cải thiện chất lượng nghiên cứu Mặc dù đã có nhiều văn bản đề cập đến chính sách khuyến khích, nhưng các biện pháp này vẫn còn mờ nhạt và chưa cụ thể, cần có hướng dẫn rõ ràng hơn để nâng cao năng lực nghiên cứu và hình thành các tập thể nghiên cứu mạnh.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết này tập trung vào việc xây dựng và kiểm chứng mô hình nghiên cứu để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) dựa trên kết quả nghiên cứu của giảng viên Đồng thời, bài viết cũng đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hoạt động NCKH và cải thiện năng lực nghiên cứu của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam.
Hệ thống hóa và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên tại các trường đại học là cần thiết Việc hiểu rõ cơ sở lý thuyết và thực tiễn sẽ giúp nâng cao hiệu quả NCKH, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên trong việc phát triển nghiên cứu Các nhân tố này bao gồm môi trường làm việc, nguồn tài chính, và sự hỗ trợ từ nhà trường, tất cả đều đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động NCKH.
Mô hình nghiên cứu được thiết lập nhằm đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố động cơ, rào cản nghiên cứu và đặc điểm của nhà khoa học đến kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam.
Nghiên cứu này tập trung vào việc lượng hoá ảnh hưởng của các nhân tố động cơ, rào cản và đặc điểm của giảng viên đến kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam Những yếu tố này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoặc cản trở hoạt động NCKH, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục đại học.
Để nâng cao hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) và năng lực nghiên cứu của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam, cần đề xuất một số khuyến nghị quan trọng Trước hết, cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm và thư viện Thứ hai, khuyến khích giảng viên tham gia các hội thảo, khóa đào tạo nâng cao kỹ năng nghiên cứu và viết bài báo khoa học Thứ ba, tạo môi trường hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp để thúc đẩy các dự án NCKH ứng dụng Cuối cùng, cần xây dựng các chương trình thưởng cho giảng viên có thành tích xuất sắc trong NCKH nhằm khuyến khích sự sáng tạo và cống hiến.
Tổng quan nghiên cứu
Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) được coi là rất quan trọng tại các trường đại học trên toàn cầu, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu quốc tế Trong luận án này, tác giả tổng hợp các nghiên cứu gần đây về hoạt động NCKH của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế.
1.3.1 Các lý thuy ế t n ề n t ả ng v ề các nhân t ố ả nh h ưở ng t ớ i ho ạ t độ ng nghiên c ứ u khoa h ọ c và k ế t qu ả nghiên c ứ u khoa h ọ c
1.3.1.1 Lý thuyết về sự hài lòng và ảnh hưởng của các nhân tố tạo ra sự hài lòng tới kết quả nghiên cứu
Sự hài lòng công việc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu suất tổ chức, đặc biệt trong môi trường đại học, nơi giảng viên đóng vai trò chủ chốt Các khía cạnh như mức lương, cơ hội thăng tiến và môi trường làm việc tích cực có thể tác động mạnh đến sự hài lòng và kết quả nghiên cứu của giảng viên Sự hài lòng này phản ánh cảm xúc tích cực về công việc và thường xuất phát từ việc đáp ứng kỳ vọng cá nhân Do đó, các yếu tố tạo ra sự hài lòng được coi là nguồn lực quan trọng thúc đẩy hiệu suất cao trong tổ chức.
Mối liên hệ tích cực giữa sự hài lòng và kết quả công việc đã được xác nhận từ những năm 1980, với nghiên cứu của Creswell J (1986) cho thấy sự tương quan giữa sự hài lòng và hiệu suất công việc Judge và cộng sự (2001) tiếp tục khẳng định rằng mối quan hệ này mạnh hơn ở những công việc có độ phức tạp cao Trong bối cảnh đại học, nghiên cứu của C A D’Angelo và G Abramo (2014) chỉ ra rằng sự hài lòng của học giả gắn liền với khả năng tiếp cận các nguồn lực và sự hỗ trợ từ trường Họ cũng phát hiện ra mối tương quan nghịch giữa hỗ trợ nghiên cứu và số lượng bài báo được xuất bản, cho thấy sự hài lòng có thể bị ảnh hưởng bởi số lượng học giả tham gia Điều này chỉ ra rằng sự hài lòng là một khía cạnh tâm lý phức tạp, có thể thay đổi theo thời gian và môi trường làm việc Do đó, các yếu tố ảnh hưởng tới sự hài lòng có thể được xem như là những yếu tố dự đoán năng suất nghiên cứu (Nguyen, 2015).
1.3.1.2 Lý thuyết về cam kết tổ chức và ảnh hưởng của cam kết với tổ chức tới kết quả nghiên cứu
Cam kết với tổ chức là khái niệm quan trọng ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của nhân viên, quyết định hiệu quả hoạt động của tổ chức (Perry J & Porter L., 1982) Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa cam kết và thái độ làm việc, với cam kết gia tăng khi mục tiêu cá nhân phù hợp với giá trị tổ chức, dẫn đến hiệu suất công việc cao hơn (Meyer & Allen, 1997) Cam kết không chỉ nâng cao tính trung thành mà còn cải thiện hiệu quả tổ chức khi nhân viên nỗ lực hết mình Cam kết với tổ chức được chia thành ba loại: cam kết tình cảm, cam kết tiếp tục và cam kết chuẩn mực Trong đó, cam kết tình cảm (Affective commitment) liên quan đến cảm xúc và sự gắn bó của nhân viên với mục tiêu tổ chức, thể hiện qua việc sẵn sàng sử dụng nguồn lực cá nhân để đạt được mục tiêu chung.
Cam kết tiếp tục (continuance commitment) thể hiện nhận thức của nhân viên về chi phí rời bỏ tổ chức, được hình thành bởi điều kiện làm việc và sống của họ (Meyer & Allen, 1991) Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nhân viên có kiểu cam kết này thường tiếp tục làm việc vì lý do tài chính cá nhân, như nhu cầu trang trải cuộc sống Khi các kỳ vọng tài chính không được đáp ứng, họ có khả năng chuyển sang tổ chức khác Những người không thể rời bỏ do khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm sẽ vẫn ở lại, nhưng về mặt cảm xúc, họ có thể rút lui khỏi công việc hàng ngày (Joo, 2010) Cam kết tiếp tục là dạng cam kết không tự nguyện, dựa vào kỳ vọng tài chính, dẫn đến ít động lực cống hiến và phát triển tổ chức.
Cam kết chuẩn mực là dạng cam kết thứ ba, thể hiện ý thức về nghĩa vụ của người lao động trong việc tiếp tục làm việc tại tổ chức Những nhân viên có cam kết chuẩn mực cao thường gắn bó với công ty vì lý do đạo đức và tinh thần trách nhiệm.
Nghiên cứu tại các trường đại học cho thấy hệ thống khen thưởng có ảnh hưởng tích cực đến cam kết của giảng viên và nhà nghiên cứu, điều này lại thúc đẩy việc xuất bản ấn phẩm khoa học (Finaly - Newmann, 1990) Các loại cam kết với tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ, trong đó cam kết tình cảm là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hiệu suất (Dunham và cộng sự, 1994; Meyer & Allen, 1991) Cam kết với tổ chức được coi là động lực nội tại của giảng viên và nhà khoa học trong nghiên cứu, vì vậy, lý thuyết cam kết với tổ chức đóng vai trò quan trọng trong kết quả nghiên cứu tại các trường đại học.
1.3.1.3 Lý thuyết động lực của con người: Lý thuyết tự quyết định
Lý thuyết tự quyết định (Self-Determination Theory - STD) của Ryan & Deci (2000) và Gagne & Deci (2005) cung cấp cái nhìn sâu sắc về động lực nghiên cứu của giảng viên và nhà khoa học Theo lý thuyết này, động lực nghiên cứu không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài mà còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các yếu tố tâm lý cá nhân Việc áp dụng lý thuyết tự quyết định giúp hiểu rõ cơ chế hình thành động lực nghiên cứu và tác động của nó đến kết quả nghiên cứu của giảng viên tại các trường đại học, đặc biệt là các trường thuộc khối kinh tế.
Lý thuyết tự quyết định cho rằng động lực xuất phát từ sự tương tác giữa các yếu tố bên ngoài và nhu cầu tâm lý bên trong, giúp cá nhân có khả năng tự chủ và ra quyết định Theo lý thuyết này, con người có xu hướng hành động khi họ tin rằng hành vi của mình sẽ mang lại kết quả mong muốn (Ryan & Deci, 2000) Ngoài ra, lý thuyết cũng nhấn mạnh vai trò của tự điều chỉnh trong việc tạo động lực và thực hiện hành động, đặc biệt phù hợp với những người ưa thích sự tự do trong công việc như giảng viên và học giả (Lam, 2014).
Lý thuyết tự quyết định phân biệt ba loại động lực của cá nhân: động lực bên trong, động lực bên ngoài và không có động lực Động lực bên trong liên quan đến việc theo đuổi đam mê và cảm nhận sự hài lòng, trong khi động lực bên ngoài tập trung vào việc đạt được kết quả và phần thưởng từ bên ngoài Trạng thái không có động lực xảy ra khi cá nhân thiếu ý định hành động do không quan tâm hoặc không đánh giá được kết quả Lý thuyết này cho rằng hành vi cá nhân có thể thay đổi từ không có động lực đến động lực nội tại, với động lực bên ngoài phản ánh khả năng tự quyết của cá nhân Quá trình nội tâm hóa cho phép các giá trị bên ngoài trở thành động lực nội tại, giúp cá nhân hành động mà không cần phần thưởng bên ngoài.
Lam (2011) đã phát triển một mô hình dựa trên lý thuyết tự quyết định để giải thích mối quan hệ giữa động lực hành động và thương mại hóa nghiên cứu tại Anh Theo nghiên cứu của Lam, động lực nghiên cứu rất phức tạp và không chỉ đơn thuần là động cơ tài chính Hệ thống khen thưởng trong khoa học bao gồm ba nhóm phần thưởng: sự vinh danh (ruy băng), lợi ích tài chính (vàng) và việc giải quyết các thách thức (giải đố) (Stephan & Levin, 1992) Trong giới học thuật, sự vinh danh được coi là phần thưởng quan trọng nhất cho các nhà khoa học, vì nó không chỉ thúc đẩy họ bởi sự công nhận từ đồng nghiệp mà còn liên quan đến việc tài trợ nghiên cứu và các phần thưởng tài chính từ tổ chức (Stephan, 1996).
Sự vinh danh là một yếu tố quan trọng trong hệ thống khoa bảng, ảnh hưởng đến quỹ và ngân sách nghiên cứu của các nhà khoa học Mặc dù giải thưởng danh dự cho nghiên cứu không phổ biến, nhưng chúng có tác động lớn đến việc tạo ra nguồn lực nghiên cứu Trong mô hình truyền thống, các ấn phẩm khoa học được coi là chứng từ trong mối quan hệ với sự vinh danh, và nhà khoa học có thể sử dụng bằng sáng chế để đạt được sự công nhận và xây dựng uy tín nhằm nhận các phần thưởng truyền thống.
Các quá trình điều khiển động lực trong nghiên cứu có thể đồng thời tồn tại, với các nhà khoa học chịu ảnh hưởng từ cả yếu tố bên trong lẫn bên ngoài Trong môi trường đại học, giảng viên thường có mức độ tự chủ cao và có quyền quyết định tham gia vào quá trình thương mại hóa Tuy nhiên, xu hướng thương mại hóa khoa học đang tạo ra áp lực, buộc các nhà khoa học và giảng viên cân nhắc tham gia vào các hoạt động thương mại dựa trên lợi ích tiềm năng Hình dưới đây minh họa các loại nhà khoa học và các cơ chế động lực ảnh hưởng đến hoạt động thương mại hóa, nghiên cứu và công bố của họ.
Hình 1.1: Các dạng nhà khoa học và các động cơ ảnh hưởng tới các hoạt động thương mại hoá nghiên cứu hay công bố
Hoạt động thương mại hóa/nghiên cứu/công bố
Ruy băng Vàng Giải đố Định hướng giá trị
Nhà khoa học doanh nhân
Không có động lực Động lực bên trong
Hoạt động kiểm soát Hoạt động tự thân Động lực Động lực bên ngoài
Nhà khoa học truyền thống Hybrid
1.3.2 T ổ ng quan các nghiên c ứ u c ủ a n ướ c ngoài v ề nghiên c ứ u khoa h ọ c trong tr ườ ng đạ i h ọ c
1.3.2.1 Các nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường đại học
Nghiên cứu là một quá trình liên tục, với kiến thức thu được luôn là mục tiêu của khoa học (Muhammad Zafar Iqbal và cộng sự, 2011) Khu vực giáo dục đại học thế kỷ XXI đã thay đổi đáng kể so với các thế kỷ trước, với các trường đại học trở thành trung tâm sản sinh kiến thức khoa học và công nghệ (Geiger, 1986) Giảng viên đại học phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao chuyên môn qua công việc giảng dạy và nghiên cứu Tham gia vào các hoạt động nghiên cứu không chỉ nâng cao kiến thức của giảng viên mà còn làm cho bài giảng trở nên hấp dẫn hơn, giúp sinh viên tiếp cận các vấn đề thực tiễn Ngoài ra, năng lực nghiên cứu được đánh giá qua các công trình công bố trên các tạp chí uy tín sẽ có tác động tích cực đến danh tiếng của trường (Geiger, 1986).
Theo "Tuyên bố về các nguyên tắc" năm 1915 của ủy ban đại diện gồm giảng viên từ Hiệp hội Giáo sư Đại học Hoa Kỳ (AAUP), chức năng chính của các trường đại học là thúc đẩy sự tìm hiểu, nâng cao kiến thức nhân loại, cung cấp hướng dẫn cho sinh viên và phát triển chuyên gia cho các ngành dịch vụ công Giảng viên đại học thực hiện các vai trò nghiên cứu, giảng dạy và phục vụ để hỗ trợ công việc học tập của tổ chức Mỗi vai trò này cho phép giảng viên tạo ra và phổ biến kiến thức đến đồng nghiệp, sinh viên và công chúng Tuy nhiên, sự cân bằng giữa giảng dạy, nghiên cứu và dịch vụ có sự khác biệt rõ rệt giữa các loại hình tổ chức và chế độ bổ nhiệm của giảng viên.
Trong bài chuyên khảo của tổ chức Niên giám các trường đại học, cao đẳng
Khoảng trống nghiên cứu
Nghiên cứu về hoạt động NCKH của giảng viên đại học đã chỉ ra tính đa dạng và sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố, tuy nhiên, vẫn tồn tại những hạn chế và khoảng trống trong các nghiên cứu này.
Nghiên cứu nước ngoài chủ yếu tập trung vào việc thiết lập khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH), bao gồm các yếu tố cá nhân như giới tính, độ tuổi và trình độ, cùng với các yếu tố môi trường làm việc như khen thưởng và phân bố thời gian Mặc dù các phương pháp định lượng đã được áp dụng thành công để xác định các yếu tố này, nhưng các tác giả chưa chú trọng đến sự khác biệt giữa các ngành khoa học và lĩnh vực nghiên cứu Điều này cho thấy rằng các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu có thể khác nhau tùy thuộc vào ngành, và cần có những giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực của người nghiên cứu Đặc biệt, trong lĩnh vực kinh tế, vẫn thiếu các nghiên cứu định lượng về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả của nghiên cứu.
Các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào việc đánh giá các vấn đề như tổ chức, quản lý, thể chế chính sách và quản lý tài chính Mặc dù đã chỉ ra nhiều vấn đề và phân tích thực trạng, nhưng các nghiên cứu này chủ yếu mang tính định tính và thiếu các nghiên cứu định lượng Điều này dẫn đến việc chưa có mô hình hóa rõ ràng về tác động của các yếu tố khác nhau tới kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên, cũng như chưa đề xuất được các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cho người nghiên cứu.
Do đó, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:
Một là, các nhân tố nào ảnh hưởng tới hoạt động nghiên cứu khoa học của các giảng viên của các trường đại học khối kinh tế?
Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố như điểm đề tài, điểm viết sách, điểm công bố và điểm hướng dẫn đến kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên có sự khác biệt rõ rệt Các yếu tố này không chỉ quyết định chất lượng nghiên cứu mà còn ảnh hưởng đến uy tín và khả năng công bố của giảng viên trong cộng đồng học thuật Việc phân tích từng nhóm nhân tố sẽ giúp hiểu rõ hơn về vai trò của chúng trong việc nâng cao hiệu quả nghiên cứu.
Để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và nâng cao năng lực nghiên cứu của giảng viên tại các trường đại học, đặc biệt là các trường khối kinh tế, cần thiết phải xây dựng môi trường nghiên cứu tích cực, khuyến khích sự hợp tác giữa giảng viên và sinh viên, đồng thời tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng nghiên cứu Việc tổ chức các hội thảo, hội nghị và chương trình đào tạo chuyên sâu cũng sẽ góp phần nâng cao kỹ năng nghiên cứu cho giảng viên Hơn nữa, việc tạo ra các quỹ nghiên cứu và hỗ trợ tài chính cho các dự án nghiên cứu sẽ khuyến khích giảng viên tham gia nhiều hơn vào các hoạt động nghiên cứu khoa học.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung vào hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học, đặc biệt là các nhân tố tác động đến hoạt động này tại các trường đại học thuộc khối kinh tế.
Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam Khảo sát được thực hiện tại năm trường đại học, bao gồm: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Thương mại, Trường Đại học Tài chính - Kế toán, và Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP HCM).
Phạm vi thời gian của nghiên cứu bao gồm dữ liệu thứ cấp từ năm 2012 đến 2017, được cập nhật đến năm 2019, trong khi số liệu sơ cấp được thu thập cũng đến năm 2019 Các giải pháp và hàm ý chính sách dự kiến sẽ được áp dụng trong giai đoạn từ 2021 đến 2025.
Luận án này tập trung vào việc đánh giá và phân tích hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên đại học khối kinh tế, đồng thời xác định các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả NCKH Dựa trên việc khảo sát thực trạng và các yếu tố tác động, nghiên cứu đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động NCKH, nâng cao năng lực nghiên cứu của giảng viên và các trường đại học kinh tế.
Trong luận án này, các trường đại học khối kinh tế được định nghĩa là những cơ sở giáo dục có tên gọi liên quan đến lĩnh vực kinh tế hoặc những trường chuyên đào tạo các ngành học thuộc lĩnh vực kinh tế.
Tác giả lựa chọn các trường đại học khối kinh tế cho nghiên cứu này vì các lý do sau:
Chương trình nghiên cứu tiến sĩ trong lĩnh vực kinh tế đòi hỏi nghiên cứu sinh lựa chọn các trường kinh tế phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai nghiên cứu.
Trong thời gian gần đây, hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) tại các trường khối kinh tế chưa phát triển mạnh mẽ như ở các trường khối kỹ thuật - công nghệ Do đó, nghiên cứu này nhằm mục đích thúc đẩy và nâng cao hiệu quả NCKH tại các trường khối kinh tế.
Trong giai đoạn 2021-2025 và những năm tiếp theo, nền kinh tế thị trường của Việt Nam sẽ tiếp tục hoàn thiện sau một thời gian phát triển thành công Để đạt được mục tiêu hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong các trường kinh tế là vô cùng cần thiết.
Vì hạn chế về thời gian và ngân sách, nghiên cứu sinh đã quyết định khảo sát 5 trường đại học hàng đầu trong khối kinh tế Mặc dù số lượng trường không nhiều, nhưng đây đều là những cơ sở giáo dục lớn, có uy tín và chuyên môn sâu về các ngành kinh tế, đồng thời có tính đại diện cho các vùng miền.
Khái quát về phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng để giải quyết vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu định tính được thực hiện ở giai đoạn đầu và sau nghiên cứu định lượng, nhằm lựa chọn và hiệu chỉnh thang đo trước khi tiến hành nghiên cứu định lượng Các phương pháp nghiên cứu định lượng bao gồm phân tích thống kê mô tả, phân tích khám phá nhân tố, kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích tương quan, hồi quy bội và hồi quy logistic, nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu khoa học và khả năng công bố quốc tế của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế.
Đóng góp mới của luận án
Luận án có những đóng góp về lý luận và thực tiễn như sau:
Luận án đã trình bày hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động nghiên cứu khoa học, đồng thời phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế.
Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị “Phát triển khoa học công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học giai đoạn 2017-2025”, trong giai đoạn 2011 – 2015, Việt Nam đã công bố tổng cộng 10.034 bài báo quốc tế Các trường kỹ thuật công nghệ lớn chiếm 1.733 bài, tương đương hơn 30% tổng số Các trường thuộc khối nông, lâm, ngư và y tế đã đăng tải 7.023 bài báo, trong đó có 3.349 bài trên các kỷ yếu hội thảo quốc gia và quốc tế Phần còn lại đến từ các trường sư phạm, khoa học xã hội và nhân văn Đặc biệt, tỷ lệ đề tài trên giảng viên của các trường đại học khối kinh tế còn thấp, với Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia có tỷ lệ cao nhất.
Hà Nội đạt tỷ lệ 0,71, theo sau là Trường Đại học Kinh tế Quốc dân với 0,47 Các trường khác có tỷ lệ thấp hơn, như Trường Đại học Ngoại thương chỉ đạt 0,17, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng 0,19, và Trường Đại học Kinh tế Tp HCM với 0,28.
Luận án đã phát triển và điều chỉnh các thang đo chính để đánh giá tác động của các yếu tố tạo nên động cơ bên trong và bên ngoài, cũng như các rào cản nghiên cứu và các yếu tố điều kiện đến kết quả nghiên cứu của giảng viên.
Nghiên cứu đã phát triển một phương pháp đánh giá trọng số cho các thành phần ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu, dựa trên việc điều chỉnh cách tính điểm nghiên cứu khoa học của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước.
Nghiên cứu đã xác định và lượng hóa ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học trong lĩnh vực kinh tế, bao gồm cả kết quả tổng hợp và điểm các thành phần Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất một mô hình đánh giá tác động của các yếu tố đến khả năng công bố quốc tế trong danh mục ISI/Scopus của giảng viên đại học khối kinh tế.
Thông qua phân tích luận án, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên tại các trường đại học kinh tế Các giải pháp bao gồm: (1) Thực hiện tự do học thuật, (2) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nghiên cứu, (3) Cải thiện cơ chế tài trợ khoa học, (4) Xã hội hóa nguồn quỹ tài trợ, (5) Đổi mới mô hình hợp tác nghiên cứu quốc tế, (6) Tăng cường liên kết giữa đại học và doanh nghiệp, và (7) Thúc đẩy hội nhập văn hóa khoa học quốc tế.
Kết cấu của luận án
Luận án được kết cấu thành 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về kết quả nghiên cứu khoa học và các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Thảo luận và các hàm ý nghiên cứu.