1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính

109 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH LÊ THỊ PHƯƠNG TRINH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ PHƯƠNG TRINH

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH

VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH

XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ PHƯƠNG TRINH

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH

VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH

XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bài luận văn thạc sĩ kinh tế “Nghiên cứu các nhân tố ảnh

hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty

niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của

riêng tôi, không sao chép của bất kỳ ai

Các kết quả trong nghiên cứu đạt được trong luận văn là trung thực và đáng tin

cậy Luận văn này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TP Hồ Chí Minh, 14 tháng 07 năm 2019

Lê Thị Phương Trinh

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT

ABSTRACT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Câu hỏi nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa của nghiên cứu 5

7 Kết cấu luận văn 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới 7

1.1.1 Nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi QTLN 7

1.1.2 Nghiên cứu về động cơ dẫn đến hành vi QTLN 8

1.1.3 Nghiên cứu về kỹ thuật QTLN 9

1.1.4 Nghiên cứu về các nhân tố đặc điểm của công ty ảnh hưởng đến hành vi QTLN 10

1.1.5 Nghiên cứu về hành vi QTLN theo từng nhóm ngành 12

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 13

1.2.1 Nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi QTLN 13

1.2.2 Nghiên cứu về động cơ dẫn đến hành vi QTLN 13

1.2.3 Nghiên cứu về kỹ thuật QTLN 15

1.2.4 Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN 16

Trang 5

1.2.5 Nghiên cứu về hành vi QTLN theo từng nhóm ngành 17

1.3 Nhận xét và xác định khoản trống nghiên cứu 18

1.3.1 Nhận xét chung 18

1.3.2 Xác định khe hổng nghiên cứu 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 22

2.1 Các vấn đề cơ bản về QTLN 22

2.2.1 Khái niệm về QTLN 22

2.2.2 Phân loại hành vi QTLN 23

2.2.3 Cơ sở của hành vi QTLN – cơ sở dồn tích 24

2.2.4 Động cơ dẫn đến hành vi QTLN 25

2.2.5 Các kỹ thuật để QTLN 28

2.3 Các lý thuyết nền tảng được vận dụng để nghiên cứu hành vi QTLN doanh nghiệp 31

2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm 31

2.3.2 Lý thuyết tín hiệu 33

2.4 Một số mô hình đo lường hành vi QTLN của doanh nghiệp 35

2.4.1 Mô hình Healy (1985) 36

2.4.2 Mô hình DeAngelo (1986) 37

2.4.3 Mô hình Jones (1991) 39

2.4.4 Mô hình Modified Jones (1995) 40

2.4.5 Mô hình Kothari, Leone and Wasley (2005) 41

2.5 Mô hình đo lường hành vi QTLN được lựa chọn áp dụng 41

2.6 Phát triển các giả thuyết nghiên cứu 42

2.6.1 Quy mô công ty 42

2.6.2 Thời gian niêm yết của công ty 43

2.6.3 Đòn bẩy tài chính 43

2.6.4 Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập 44

2.6.5 Chất lượng kiểm toán 45

2.6.6 Quyền sở hữu của cổ đông lớn 46

Trang 6

2.6.7 Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài 46

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49

3.2 Quy trình nghiên cứu 49

3.3 Phương pháp nghiên cứu 50

3.4 Mô hình hồi quy 50

3.4.1 Mô hình đo lường hành vi QTLN theo Kothari, Leone and Wasley (2005) – Mô hình hồi quy giai đoạn 1 50

3.4.2 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN trên cơ sở dồn tích – Mô hình hồi quy giai đoạn 2 53

3.5 Chọn mẫu và thu thập dữ liệu 55

3.5.1 Chọn mẫu 55

3.5.2 Thu thập dữ liệu 56

3.5.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 59

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 60

4.1 Kết quả nghiên cứu giai đoạn 1 60

4.2 Kết quả nghiên cứu giai đoạn 2 61

4.2.1 Thống kê mô tả 62

4.2.2 Phân tích tương quan 63

4.2.3 Phân tích hồi quy 64

4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 73

CHƯƠNG 5: KẾT UẬN VÀ HÀM Ý QUẢN LÝ 74

5.1 Kết luận 74

5.2 Hàm ý quản lý 75

5.2.1 Đối với cơ quan nhà nước 75

5.2.2 Đối với công ty kiểm toán độc lập 75

5.2.3 Đối với công ty cổ phần niêm yết 77

5.2.4 Đối với nhà đầu tư 77

Trang 7

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 78 KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 80 KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HOSE Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Mô tả các biến được sử dụng trong mô hình 54

Bảng 4.1 Kết quả đo lường các hệ số hồi quy theo mô hình Kothari, Leone and Wasley (2005) 60

Bảng 4.2 Mô tả thống kê biến kế toán dồn tích có điều chỉnh 61

Bảng 4.3 Mô tả thống kê các biến quan sát trong mô hình hồi quy thứ hai 62

Bảng 4.4 Ma trận phân tích tương quan giữa các biến 63

Bảng 4.5 Kết quả hồi quy mô hình hồi quy thứ hai 65

Bảng 4.6 Bảng tóm tắt kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 72

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 49

Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN 53

Biểu đồ 4.1 Biểu đồ phân phối chuẩn của phần dư 67

Biểu đồ 4.2 Biểu đồ phần dư chuẩn hóa Normal P-P Plot 68

Biểu đồ 4.3 Biểu đồ phân tán 69

Trang 11

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng tại Việt Nam

TÓM TẮT

Ngành xây dựng được xem là một trong những ngành đóng góp quan trọng vào sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế và thúc đẩy các ngành khác cùng phát triển Thông tin tài chính của các công ty xây dựng ngày càng công khai, điều đó thể hiện qua số lượng công ty ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán ngày càng tăng Tuy nhiên, điều này cũng đồng thời thúc đẩy các công ty trong ngành xây dựng thực hiện hành vi QTLN nhằm đáp ứng các điều kiện để được niêm yết niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán và thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư

Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi QTLN trên Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng tại Việt Nam Thông qua tổng hợp cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây, tác giả đưa ra các giả thuyết và mô hình về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN Kết quả nghiên cứu chỉ ra có 5 nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN tại các công ty thuộc nhóm ngành xây dựng trên thị trường chứng khoán Việt Nam, bao gồm: quy mô công ty, thời gian công ty niêm yết, tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị độc lập, chất lượng kiểm toán và quyền sở hữu của cổ đông lớn Dựa trên kết quả này, tác giả đưa ra các hàm ý quản lý đối với các cơ quan nhà nước, công ty kiểm toán, các công ty xây dựng đã niêm yết và các nhà đầu tư nhằm đưa ra giải pháp góp phần giảm thiểu hành vi QTLN, từ đó góp phần thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh

Từ khóa: Nhân tố ảnh hưởng, quản trị lợi nhuận, công ty niêm yết, ngành xây dựng, Việt Nam

Trang 12

Research the influencing factors on the earnings management behaviors in the

financial statements of listed Construction Companies in Vietnam

ABSTRACT

The Construction Industry is considered one of the important contributors to the development of the entire economy and helps stimulate other industries to further develop Financial information of construction companies is becoming more and more publicized, which is reflected on its increasing listed number on the stock market However, it also motivates the construction companies to implement earnings management behaviors in order to meet the listing requirements on the Stock Exchange and to attract the attention of potential investors Therefore, this paper was conducted to determine the factors that impact the earnings management behaviors on financial statements of listed companies belonged to Construction Industry in Vietnam Through combining the theoretical basis and the overview of previous studies, the author provides hypotheses and models for the influencing factors on the behaviors of earnings management Eventually, five factors have been found that affect the behavior of earnings management of listed construction companies in Vietnam, including: Company Size, Listing Time of the company, the Composition of Independent Board members, Audit Quality and Blockholders Based on this result, the author makes management implications to Government Agencies, Auditing companies, Listed Construction Companies and the Investors regarding to several solutions in order to mitigate the earnings management, thereby, contributing to promote a healthy stock market

Keywords: Influencing factors, Earnings Management, Listed Companies, Construction Industry, Vietnam

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 ý do chọn đề tài

Thị trường chứng khoán là cơ sở cũng như động lực thúc đẩy nguồn vốn từ khu vực tư nhân hoạt động ngày càng năng động và hiệu quả, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp Thị trường chứng khoán ra đời với kỳ vọng sẽ đáp ứng nhu cầu huy động vốn dài hạn cho các doanh nghiệp, cũng như là tạo một sân chơi cho các nhà đầu tư sử dụng nguồn tiền nhàn rỗi của mình để sinh lợi Khi tham gia vào thị trường chứng khoán, nhà đầu tư mong muốn được tiếp cận với các thông tin tài chính đáng tin cậy từ doanh nghiệp niêm yết, và một trong những thông tin quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động và triển vọng phát triển trong tương lai của một doanh nghiệp là thông qua chỉ tiêu lợi nhuận kế toán Lợi nhuận vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tăng năng suất, hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả Vì vậy, nhà quản lý có xu hướng thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) để đạt được các mục đích nhất định QTLN được biết đến như là hành vi сủа nhà quản trị táс động đến kết quả hоạt động сủа dоаnh nghiệр đượс thể hiện trоng BCTC, tạо rа ấn tượng dоаnh nghiệр сó dоаnh thu сао hоặс сhi рhí thấр Ảnh hưởng của hành vi này là làm cho người sử dụng BCTC hiểu sаi về tình hình tài сhính thựс tế сủа сông ty, từ

đó tác động đến hành vi của nhà đầu tư và cản trở sự phát triển của toàn bộ thị trường chứng khoán Do mức độ nghiêm trọng mà hành vi QTLN gây ra nên vấn đề này cần được các bên hữu quan đặc biệt chú ý đến

Trong hai thập kỷ qua, các vụ bê bối về kế toán đã gây chấn động và để lại hậu quả nghiêm trọng cho toàn nền kinh tế thế giới Năm 2012, CEO của WоrldСоm khiến các nhà đầu tư thiệt hại hơn 180 tỷ đô khi thựс hiện vốn hóа сáс khоản сhi рhí thựс tế рhát sinh và thổi рhồng dоаnh thu thông quа сáс giао dịсh giả mạо Công ty này tuyên bố phá sản sau khi CEO bị xác nhận đã thực hiện hành vi gian lận kế toán

số tiền lên đến 11 tỷ đô Và gần đây là Tập đoàn Toshiba, hãng chế tạo thiết bị điện

tử gia dụng và kỹ thuật công trình hàng đầu của Nhật Bản đã "phù phép" để biến lỗ thành lãi, đẩy số tiền khai khống tài chính lên tới 1,2 tỉ USD Cùng với đó, nền kinh

Trang 14

tế thế giới còn chứng kiến hàng loạt các vụ bê bối khác nhằm che dấu tình trạng tài chính suy yếu của: Xerox, Enrol, Olympus… Tại Việt Nam cũng có không ít vụ gian lận kế toán, xảy ra mới đây là trường hợp Công ty Gỗ Trường Thành lỗ gần 1.082 tỷ đồng sau kiểm toán do thiếu hụt hàng tồn kho khi kiểm kê Những vụ bê bối này trở thành động lực mạnh mẽ cho các nghiên cứu về hành vi QTLN

Trong nền kinh tế Việt Nam, ngành xây dựng là một trong những ngành kinh

tế mũi nhọn, có đóng góp quan trọng vào thành tựu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Với vai trò là ngành tạo nền tảng thúc đẩy sự phát triển các ngành khác và hỗ trợ nền kinh tế nói chung, tăng trưởng của ngành xây dựng phụ thuộc vào các yếu tố như tốc độ đô thị hóa, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, lạm phát và lãi suất cho vay Trong giai đoạn năm 2010-2016, ngành xây dựng nằm trong danh sách các ngành có tỷ lệ báo lỗ cao nhất do chịu tác động nhiều từ các chính sách vĩ mô như chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Trong giai đoạn này, chính sách thắt chặt tiền tệ đã đẩy lãi suất cho vay lên cao, khiến cho nguồn vốn đổ vào đầu tư xây dựng giảm mạnh Từ 2017 đến nay, ngành xây dựng đã có nhiều triển vọng và khả quan khi các doanh nghiệp xây dựng nhận được những hợp đồng thầu lớn và nhiều dự án hấp dẫn thu hút nguồn vốn đầu tư từ xã hội Thị trường chứng khoán càng trở nên sôi động với số lượng lớn các công ty thuộc ngành xây dựng tham gia niêm yết Bên cạnh đó, theo số liệu từ Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) cũng cho thấy, số lượng công ty ngành xây dựng báo lỗ cho năm tài chính 2018 là 51 công ty, chiếm tỷ lệ 24,76% tổng số các công ty niêm yết báo lỗ và tỷ lệ này được đánh giá là cao nhất trong các ngành Vì thế, tiềm tàng khả năng lớn là ban quản lý của các công ty thuộc ngành xây dựng có thực hiện hành vi QTLN nhằm giảm lỗ hay tránh báo cáo lỗ để đủ điều kiện niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Ngoài ra, chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC của các công ty xây dựng chịu ảnh hưởng nhiều từ những chính sách kế toán và ước tính kế toán của nhà quản lý Các công ty xây dựng thường đối mặt với các chu kỳ dự án dài và kéo theo đó là những rủi ro trong việc ghi nhận doanh thu và chi phí Việc xác định doanh thu của hợp đồng chịu tác động của nhiều yếu tố không chắc chắn vì chúng tuỳ thuộc vào các sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai Trong trường hợp công ty

Trang 15

ghi nhận doanh thu theo phương pháp tỷ lệ phần trăm hoàn thành, ban quản lý có thể ảnh hưởng đến từng đến giai đoạn ghi nhận thu nhập và lợi nhuận bằng cách làm sai lệch các ước tính và mức độ hoàn thành Cùng với đó, các sản phẩm xây dựng có giá trị lớn và cấu trúc phức tạp, các chi phí phát sinh liên quan đến dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây dựng có thể chiếm tỷ lệ đáng

kể trong cơ cấu chi phí hoạt động của công ty nhưng lại chịu nhiều ảnh hưởng từ quan điểm của nhà quản lý Như vậy, các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng là đối tượng chịu nhiều áp lực và đồng thời có nhiều cơ hội để nhà quản lý thực hiện hành vi QTLN Điều đó đặt ra sự lo ngại cho các cổ đông và các bên hữu quan khi sử dụng thông tin trên BCTC khi đưa ra các quyết định

Nghiên cứu về hành vi QTLN tại các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng đã từng được thực hiện trong nghiên cứu của Trần Thị Như Quỳnh (2017), nhưng nghiên cứu này chỉ mới dừng ở góc độ nhận diện hành vi QTLN nhằm báo cáo lỗ hoặc giảm lợi nhuận tại các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng mà chưa đánh giá đến các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN Nhận thức được tầm ảnh hưởng của hành vi QTLN cũng như là sự tồn tại khoản trống nghiên cứu về

hành vi QTLN, tác giả đề xuất đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến

hành vi quản trị lợi nhuận trên Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng tại Việt Nam”

2 Mục tiêu nghiên cứu

 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Đề tài hướng đến mục tiêu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN trên BCTC tại các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng tại Việt Nam Từ đó tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hạn chế hành vi QTLN gây tác động xấu đến toàn bộ thị trường chứng khoán

 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

 Đo lường hành vi QTLN tại các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng tại Việt Nam

Trang 16

 Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến hành vi QTLN trên BCTC của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng tại Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Mức độ QTLN của các công ty niêm yết thuộc ngành xây dựng tại Việt Nam năm 2014 – 2018 như thế nào?

Câu hỏi 2: Các nhân tố đặc điểm công ty ảnh hưởng như thế nào đến hành vi QTLN của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng tại Việt Nam?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Hành vi QTLN tại các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng tại Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2018

 Phạm vi nghiên cứu

 Phạm vi không gian: Luận văn tập trung xem xét hành vi QTLN trên BCTC của các công ty thuộc nhóm ngành xây dựng được niêm yết trên 2 sàn giao dịch chứng khoán HOSE và HNX

 Phạm vi thời gian: Để đo lường hành vi QTLN của một công ty trong một năm thì phải thu thập số liệu của năm nghiên cứu và năm trước đó, do đó nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu là BCTC của 50 công ty niêm yết thuộc ngành xây dựng tại Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn đã hệ thống hóa lại các nghiên cứu trong và ngoài nước, kết hợp với các cơ sở lý thuyết có liên quan đến hành vi QTLN để lựa chọn mô hình đo lường hành vi QTLN vận dụng trong bài luận văn này Dựa trên lý thuyết nền và các nghiên cứu trước đây, tác giả xây dựng nên mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng Phương pháp nghiên cứu định lượng được vận dụng trong việc thu thập thông tin,

số liệu, phân tích tương quan và phân tích hồi quy để xác định mối liên hệ giữa các

Trang 17

nhân tố đang xem xét với hành vi QTLN trên BCTC của các công ty niêm yết thuộc ngành xây dựng tại Việt Nam

Phương pháp phân tích dữ liệu:

Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 20 Sau khi sàng lọc và làm sạch, dữ liệu được sử dụng để thực hiện các phân tích sau: thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy

6 Ý nghĩa của nghiên cứu

Về mặt khoa học: Tại Việt Nam, cho đến thời điểm này đã có nhiều bài

nghiên cứu về hành vi QTLN được thực hiện Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này tập trung vào nhận diện và phân tích hành vi QTLN Đối với đề tài xác định ảnh hưởng của tổ hợp các nhân tố đến hành vi QTLN trong một nhóm ngành cụ thể thì

đã được thực hiện nhiều quốc gia trên thế giới nhưng tại Việt Nam vẫn còn hạn chế Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây chủ yếu vận dụng mô hình của Jones (1991) hay Modified Jones (1995) để đo lường hành vi QTLN, tuy nhiên các mô hình này không chính xác trong trường hợp công ty có mức tăng trưởng quá cao Để khắc phục các hạn chế nêu trên, trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ vận dụng mô hình nghiên cứu của Kothari, Leone & Wasley (2005) Việc thực hiện nghiên cứu về đề tài này tại Việt Nam là thực sự cần thiết góp phần làm kho tài liệu nghiên cứu trở nên phong phú và đa dạng hơn

Về mặt thực tiễn: Luận văn tập trung xem xét ảnh hưởng của các nhân tố đặc

điểm công ty đến hành vi QTLN tại các công ty nêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng tại Việt Nam Thông qua đó, tác giả đưa ra các kiến nghị và giải pháp giúp các doanh nghiệp hạn chế hành vi QTLN gây tác động xấu đến nền kinh tế Việt Nam, giúp các đối tượng liên quan có thể cập nhật thông tin về hành vi QTLN và hỗ trợ cho việc ra quyết định của mình

7 Kết cấu luận văn

Luận văn được kết cấu theo 5 chương

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 18

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kiến nghị và hàm ý quản lý

KẾT LUẬN

Trang 19

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi QT N

Nghiên cứu về QTLN được bắt nguồn từ thực tế tồn tại của hành vi QTLN và ý định QTLN không thể trực tiếp quan sát được Do đó, các nhà nghiên cứu nỗ lực đưa ra nhiều phương pháp và mô hình đo lường khác nhau để phát hiện hành vi QTLN

Healy (1985) là nghiên cứu đầu tiên sử dụng các khoản dồn tích có thể điều chỉnh để phát hiện hành vi QTLN Mô hình sử dụng trong nghiên cứu này chỉ mới

so sánh chỉ số dồn tích trên tài sản giữa các nhóm doanh nghiệp chứ không đo lường trực tiếp các khoản dồn tích DeAngelo (1986) tính đến chênh lệch giữa tổng dồn tích giữa hai kỳ trên tài sản để xác định giá trị dồn tích riêng biệt cho mỗi công

ty Thực tế, mô hình của DeAngelo là một biến thể của mô hình Healy trong đó giá trị dồn tích có thể điều chỉnh chỉ phụ thuộc vào tổng dồn tích của năm trước đó thay

vì trung bình nhiều năm trong giai đoạn ước tính Friedlan (1994) sử dụng chỉ tiêu doanh thu làm đại diện cho mức độ hoạt động của công ty để kiểm soát sự thay đổi của các khoản dồn tích không thể điều chỉnh qua hai năm, từ đó giá trị khoản dồn tích có thể điều chỉnh được xác định bằng chênh lệch giữa tổng dồn tích giữa hai kỳ trên tài sản được chuẩn hóa bởi doanh thu bán hàng Jones (1991) tính toán giá trị dồn tích không thể điều chỉnh là một hàm số thay đổi theo doanh thu và TSCĐ hữu hình Có thể nói, mô hình nghiên cứu của Jones (1991) có đóng góp quan trọng và

Trang 20

là mô hình ước tính dồn tích phổ biến nhất trong các nghiên cứu về QTLN Các nghiên cứu sau đó đã giải thích và chứng minh một số hạn chế của mô hình Jones Dechow và cộng sự (1995), Kothari và cộng sự (2005) chỉ ra rằng mô hình Jones không mang lại kết quả chính xác trong trường hợp công ty có mức độ tăng trưởng cao Dechow và cộng sự (1995) (còn gọi là Modified Jones) đã sửa đổi mô hình Jones (1991) để loại bỏ xu hướng phỏng đoán, thay đổi sự biến động doanh thu bằng sự biến động doanh thu bằng tiền trong việc xác định các khoản dồn tích Nghiên cứu này khởi xướng mạnh mẽ phong trào đưa ra các mô hình phát hiện hành

vi QTLN Kothari và cộng sự (2005) phát triển mô hình Modified Jones (1995) bằng việc đưa thêm biến lợi nhuận trên tổng tài sản vào mô hình nhằm xem xét mối quan hệ giữa các biến dồn tích với hiệu quả hoạt động của công ty Mô hình được lập luận cho rằng đo lường hiệu quả hoạt động là cần thiết vì đó là động lực cho các hoạt hành vi về QTLN của công ty Kết quả nghiên cứu cho thấy việc đo lường khoản dồn tích có thể điều chỉnh kết hợp với hiệu quả hoạt động giúp nâng cao độ tin cậy cho các kết luận từ nghiên cứu về QTLN Ngoài ra, còn có nhiều mô hình nghiên cứu khác được phát triển dựa trên mô hình Modified Jones (1995) như các

mô hình của Shivakumar (1996), Key (1997), Kasznik Model (1999), Dechow và cộng sự (2003), Larcker và cộng sự (2004)…

Trong giai đoạn từ năm 2007 đến nay, dựa trên các mô hình nghiên cứu hiện có thì các nghiên cứu về hành vi QTLN lại chủ yếu vận dụng mô hình Jones (1991), Modified Jones (1995) và Kothari và cộng sự (2005)

1.1.2 Nghiên cứu về động cơ dẫn đến hành vi QTLN

Tham gia vào QTLN không phải là hoạt động không có rủi ro Các công ty và nhà quản lý có nguy cơ đánh mất danh tiếng của họ và chịu rủi ro về kiện tụng liên quan đến hành vi QTLN Do đó, các công ty chỉ tham gia QTLN khi lợi ích mang lại từ hành vi này cao hơn rủi ro và các chi phí liên quan

Healy (1985) nghiên cứu ảnh hưởng của kế hoạch thưởng cho nhà quản lý đến

số liệu kế toán trên BCTC nhằm thu thập bằng chứng liệu rằng các kế hoạch thưởng này có ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán của nhà quản lý Kết quả

Trang 21

kiểm tra cho thấy các chính sách dồn tích và thay đổi trong quy trình kế toán của nhà quản lý có liên quan đến các kế hoạch thưởng của họ Chính nghiên cứu này đã thúc đẩy dòng nghiên cứu về hành vi QTLN cho các nhà nghiên cứu sau đó Watts

và Zimmerman (1986) cho rằng các nhà quản lý trong các công ty có động cơ thao túng thu nhập để tối đa hóa tiền thưởng của họ bằng cách chọn chính sách kế toán tăng lợi nhuận thông qua việc điều chỉnh lợi nhuận từ tương lai về kỳ kế toán hiện tại Trong cùng năm này, DeAngelo (1986) điều tra các quyết định kế toán được thực hiện bởi các nhà quản lý của các công ty giao dịch chứng khoán Mỹ, những người đề xuất mua tất cả các cổ phiếu phổ thông nắm giữ và chuyển sang sở hữu cá nhân DeAngelo đưa ra giả thuyết rằng các nhà quản lý sẽ có động cơ để giảm lợi nhuận được báo cáo nhằm giảm giá mua, tuy nhiên kết quả nghiên cứu đã không ủng hộ cho giả thuyết này Healy và Wahlen (1999) cho rằng những động cơ chính dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận, đó là kỳ vọng và định giá của thị trường vốn, các hợp đồng được ký kết có liên quan đến số liệu kế toán và các quy định của chính phủ Burgstaler và Dichev (1997) thực hiện để chứng minh rằng các công ty QTLN

để tránh dự sụt giảm và lỗ trong lợi nhuận Họ tìm thấy hai thành phần của lợi nhuận, dòng tiền từ hoạt động và thay đổi vốn lưu động được sử dụng để điều chỉnh lợi nhuận Nghiên cứu của Shivakumare (2005) chỉ ra thuế là mục tiêu chính đối với báo cáo thường niên của các công ty tư nhân Tóm lại, có nhiều động cơ dẫn đến hành vi QTLN, có thể tóm tắt lại như sau: lợi ích của hợp đồng dựa trên lợi nhuận

kế toán, kỳ vọng của thị trường vốn, các quy định về pháp lý của chính phủ và các quy định của các đối tượng liên quan

1.1.3 Nghiên cứu về kỹ thuật QT N

Một hành vi QTLN được thực hiện cho kỳ kế toán hiện tại có thể ảnh hưởng đánh đổi đến khả năng QTLN trong tương lai, nhà quản lý lựa chọn kỹ thuật để QTLN sẽ phải xem xét các chi phí liên quan phát sinh liên quan và lợi ích mang lại Lợi ích của QTLN thì phụ thuộc vào động lực đằng sau hành vi này Do đó, hành vi QTLN sẽ xảy ra trong một tình huống cụ thể, một ngành cụ thể hoặc một chuẩn mục kế toán cụ thể Marquardt và Wiedman (2004) nghiên cứu hành vi QTLN

Trang 22

thông qua việc điều chỉnh các khoản dồn tích trong từng bối cảnh (chào bán cổ phiếu, mua lại cổ phần để giữ quyền quản lý, sự suy giảm lợi nhuận) Động lực đằng sau hành vi QTLN trong việc chào bán cổ phần là tăng giá cổ phiếu Các công

ty phát hành cổ phần sẵn sàng chịu chi phí QTLN cao để đẩy nhanh việc ghi nhận doanh thu thông qua cơ chế điều chỉnh doanh thu từ kỳ tương lai về hiện tại, cụ thể cho thấy các khoản phải thu tăng lên một cách bất thường Trong trường hợp này thì các công ty này xu hướng tăng tốc độ ghi nhận doanh thu hơn là trì hoãn việc ghi nhận chi phí Ngược lại, các công ty dự kiến mua lại cổ phần để giữ quyền quản lý thì nhà quản lý thực hiện hành vi QTLN với mục tiêu là giảm giá cổ phiếu Nhà quản lý sẽ sẵn sàng trì hoãn việc ghi nhận doanh thu để đạt được mục tiêu này Cuối cùng, đối với các công ty đang cố gắng tránh báo cáo lợi nhuận giảm sẽ sử dụng các mặt hàng nhất thời có chi phí tương đối thấp để đạt được mục tiêu thu nhập của họ Ngoài ra, Verbruggen và các cộng sự (2008) cho rằng còn có 3 kỹ thuật QTLN khác nữa là: QTLN thông qua phân bổ chi phí và doanh thu, QTLN thông qua công

bố thông tin và QTLN thông qua các hoạt động thực tế khác

1.1.4 Nghiên cứu về các nhân tố đặc điểm của công ty ảnh hưởng đến hành vi

QTLN

Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013) xác định ảnh hưởng của các nhân tố: số lượng thành viên HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập của HĐQT, quy mô công ty và chất lượng kiểm toán đối với hành vi QTLN tại Indonesia Tác giả sử dụng mô hình Kothari và cộng sự (2005) để nhận diện, đo lường hành vi QTLN Kết quả nghiên cứu chỉ ra biến số lượng thành viên của HĐQT có mối quan hệ thuận chiều đến hành vi QTLN, trong khi các biến về quy mô công ty và chất lượng kiểm toán thì có mối quan hệ nghịch chiều với hành vi QTLN và biến tỷ lệ thành viên độc lập của HĐQT không có ý nghĩa thống kê

Nalarreason và các cộng sự (2019) nghiên cứu ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính

và quy mô công ty đối với hành vi QTLN Nghiên cứu này đã sử dụng một mẫu dữ liệu BCTC từ các công ty sản xuất được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Indonesia trong giai đoạn 2013-2017 Các kết quả thực nghiệm cho thấy đòn bẩy tài

Trang 23

chính và quy mô công ty tăng lên sẽ tạo động cơ khuyến khích cho các nhà quản lý thực hiện hành vi QTLN

Backer và các cộng sự (1988) xem xét mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán

và QTLN với mẫu quan sát trên các công ty do Big6 (hiện nay là Big4) kiểm toán

và các công ty không do Big6 kiểm toán Hành vi QTLN được nhận diện thông qua các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được ước lượng bằng mô hình Jones Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty không do Big6 kiểm toán có mức độ thực hiện hành vi QTLN cao hơn các công ty do Big6 kiểm toán

Kim và Yi (2005) xem xét ảnh hưởng của ba nhân tố về đặc điểm của công ty đến hành vi QTLN tại các công ty Hàn Quốc, bao gồm: phân chia quyền kiểm soát của các cổ đông đa số, mối liên kết giữa các công ty trong một nhóm doanh nghiệp lớn, tình trạng niêm yết của công ty Nghiên cứu sử dụng số lượng mẫu lớn gồm 15.159 các công ty đại chúng và các doanh nghiệp tư nhân trong giai đoạn năm

1992 -2000 Bài viết sử dụng giá trị dồn tích có thể điều chỉnh từ mô hình Jones (1991) làm cơ sở đánh giá mức độ QTLN Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty phân chia quyền kiểm soát của cổ đông sở hữu lớn, mối liên kết giữa các công ty trong một nhóm doanh nghiệp lớn thì các cổ đông kiểm soát có xu hướng tham gia nhiều hơn vào QTLN cơ hội để che giấu hành vi của họ và tránh các hậu quả bất lợi Đồng thời, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng thị trường chứng khoán tạo ra động lực cho các công ty đại chúng tham gia hành vi QTLN trên BCTC để đáp ứng kỳ vọng của những người tham gia thị trường

Halioui và cộng sự (2012) nghiên cứu tác động của các cổ đông chi phối (blockholder) đối với hành vi QTLN tại các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tunisia trong giai đoạn 1998-2009 Hành vi QTLN được đo lường thông qua ước tính các khoản dồn tích có thể điều chỉnh theo hai mô hình: Kothari

và cộng sự (2005), Zhong và cộng sự (2007) Nghiên cứu đưa ra kết luận sự hiện diện của các cổ đông chi phối tạo áp lực cho các nhà quản lý thực hiện hành vi QTLN nhằm che dấu tình trạng hiệu quả hoạt động kém

Trang 24

Lazzem và cộng sự (2017) xem xét ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính đối với hành vi QTLN trên cơ sở dồn tích được thực hiện tại các công ty niêm yết ở Pháp trong giai đoạn 2006 – 2012 Việc ước lượng các khoản dồn tích có thể điều chỉnh

để nhận diện hành vi QTLN được thực hiện thông qua bốn mô hình: Hribar và Collins (2002), Kothari và cộng sự (2005), McNichols (2002), Raman và Shahrur (2008) Kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tài chính có tác động cùng chiều đối với hành vi QTLN, khi đòn bẩy tài chính tăng lên sẽ tạo động lực để nhà quản lý thao túng lợi nhuận

1.1.5 Nghiên cứu về hành vi QTLN theo từng nhóm ngành

Một số nghiên cứu trước đây cho thấy việc xem xét yếu tố ngành là một trong các biến quan trọng để xác định lựa chọn chính sách kế toán (Watts và Zimmerman, 1986), do một số ngành nhất định có động lực thao túng lợi nhuận cao hơn so với các ngành khác Trong quan điểm này, Lema và cộng sự (2013) chỉ ra cạnh tranh trong ngành và hành vi QTLN có mối tương quan với nhau, cụ thể là cạnh tranh trong ngành làm giảm lợi ích riêng của nhà quản lý thông qua việc tăng cường luồng thông tin cụ thể của công ty và do đó làm giảm động lực để nhà quản lý tham gia vào hoạt động QTLN Nghiên cứu của Wasiuzzaman (2017) cũng ghi nhận vai trò của các đặc điểm giữa các ngành khác nhau trong việc ảnh hưởng đến hành vi QTLN, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét các biến cấp độ ngành trong một nghiên cứu về QTLN

Một số nghiên cứu khác thực hiện nghiên cứu hành vi QTLN cho một ngành cụ thể, chẳng hạn như nghiên cứu của Ali và cộng sự (2015) thực hiện đánh giá tác động của quy mô doanh nghiệp đối với QTLN trong ngành dệt may ở Pakistan Kết quả thống kê của nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực và đáng kể đến hành vi QTLN Gasteratos và cộng sự (2016) nghiên cứu về hành vi QTLN trong ngành xây dựng ở Hi Lạp, kết quả nghiên cứu cho thấy các khoản dồn tích có thể điều chỉnh trong các công ty ngành xây dựng tăng lên trong giai đoạn thuế suất tăng, đồng thời trong lĩnh vực xây dựng ở Hy Lạp thì các công ty lớn có mức độ thực hiện hành vi QTLN cao hơn nhiều so với các công ty nhỏ Ngành xây

Trang 25

dựng là một trong những ngành được các nhà nghiên cứu lựa chọn khi xem xét về hành vi QTLN vì nó là nền tảng của sự phát triển kinh tế và các nguyên tắc kế toán được sử dụng trong lĩnh vực này khá phức tạp Cũng về ngành xây dựng, Pordea (2019) nghiên cứu xác định các khoản dồn tích có thể điều chỉnh để phân tích tác động của một số nhân tố đến quyết định sáng tạo kế toán nhằm mục tiêu QTLN tại các công ty vừa và nhỏ trong ngành xây dựng ở Rumani Tuy nhiên do hạn chế kích thước mẫu và mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên nghiên cứu này đã chưa đưa ra được bằng chứng cho thấy các nhân tố quy mô công

ty, tỷ lệ nợ và tình trạng khó khăn về tài chính có tác động đến hành vi QTLN

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.1 Nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi QT N

Phạm Thị Bích Vân (2012) phân tích sự phù hợp của mô hình Dechow và các cộng sự (1995) (còn gọi là mô hình Modified Jones) trong việc nhận diện hành vi QTLN, nghiên cứu được thực hiện với mẫu gồm 54 doanh nghiệp niêm yết trên Sàn giao dịch HOSE trong năm 2010 Kết quả nghiên cứu đưa ra nhận định mô hình Modified Jones không đem lại hiệu quả trong việc nhận diện hành vi QTLN của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE Sau khi phân tích môi trường vĩ mô của TTCK thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung, Phạm Thị Bích Vân (2012) đề xuất mô hình mới để nhận diện hành vi QTLN Mô hình mới này được xây dựng dựa trên mô hình Modified Jones, trong đó có đưa thêm biến chi phí dự phòng và biến chi phí khấu hao được sử dụng để thay thế biến TSCĐ Kết quả cho thấy hệ số đo lường sự phù hợp của mô hình tăng lên, tuy nhiên biến chi phí dự phòng được đưa vào mô hình không có ý nghĩa thống kê, còn lại các biến số doanh thu và chi phí khấu hao có ý nghĩa trong mô hình để xác định hành vi QTLN tại các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán HOSE

1.2.2 Nghiên cứu về động cơ dẫn đến hành vi QT N

Nguyễn Thị Minh Trang (2012) sử dụng mô hình đo lường hành vi QTLN của DeAngelo (1986) và Friedlan (1994) với mẫu nghiên cứu gồm 20 doanh nghiệp ở 4

Trang 26

loại hình doanh nghiệp khác nhau (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty nhà nước) Kết quả nghiên cứu cho thấy động cơ của mỗi loại hình doanh nghiệp để QTLN là khác nhau, cụ thể: công ty cổ phần có xu hướng quản trị tăng lợi nhuận nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, đồng thời cũng

có xu hướng tiết kiệm thuế TNDN; các loại hình doanh nghiệp còn lại vì không bán chứng khoán trên thị trường nên ít quan tâm đến việc điều chỉnh tăng lợi nhuận để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài và thường sẽ ưu tiên lựa chọn điều chỉnh giảm lợi nhuận nhằm tiết kiệm chi phí thuế TNDN phải nộp Thái Thị Hằng (2014) nghiên cứu hành vi QTLN trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn các công ty niêm yết trước khi phát hành thêm cổ phiếu có điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm tăng thu hút nhà đầu tư, tăng giá bán cổ phiếu để đợt chào bán cổ phiếu được thành công Đặng Ngọc Hùng (2015) nghiên cứu xu hướng QTLN do thay đổi thuế suất thuế TNDN của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi, khi thuế suất thuế TNDN giảm từ 25% năm 2013 xuống 22% năm 2014, các công ty có thực hiện điều chỉnh giảm lợi nhuận hay không? Kết quả kiểm định và phân tích trên mẫu 193 công ty cổ phần niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán HOSE và HNX đã cho thấy việc giảm thuế suất thuế TNDN có ảnh hưởng rất lớn đến động cơ QTLN của các công ty này, cụ thể: các công ty cổ phần niêm yết có xu hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận chịu thuế trong BCTC năm 2013 nhằm mục tiêu tiết kiệm thuế TNDN, trong khi đó các năm trước và sau năm 2013 các công ty thể hiện rõ xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận Nguyễn Đỗ Quyên, Trần Quốc Hoàng (2017) nghiên cứu thực hiện thông qua khảo sát vào 628 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên hai sàn HNX

và HOSE từ 2010-2015 Nhóm tác giả đã sử dụng 2 mô hình là Jones (1991) và Modified Jones (2003) nhằm đo lường hành vi QTLN thông qua các biến kế toán dồn tích Kết quả nghiên cứu chỉ ra các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận giảm thay vì điều chỉnh lợi nhuận tăng trong giai đoạn 2010 -2015 Điều này cho thấy các doanh nghiệp có thể có các giao dịch ngầm hoặc tìm kiếm ưu đãi về thuế hoặc trì hoãn một phần lợi

Trang 27

nhuận năm nay để chuyển sang năm sau Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có mối quan hệ thuận chiều đối với đến hành vi QTLN, có nghĩa là các doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động tăng ở năm trước thì có khả năng sẽ thực hiện hành vi QTLN ở năm nay

1.2.3 Nghiên cứu về kỹ thuật QT N

Nguyễn Công Phương (2009) tổng hợp 4 kỹ thuật mà nhà quản lý vận dụng kế toán theo cơ sở dồn tích để thực hiện hành vi QTLN, bao gồm: lựa chọn phương pháp kế toán, vận dụng phương pháp kế toán, lựa chọn thời điểm vận dụng phương pháp kế toán, các ước tính doanh thu chi phí và lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh

lý tài sản cố định Võ Văn Nhị và Trần Thị Thanh Hải (2016) trình bày một số kỹ thuật kế toán được thực hiện để chi phối thu nhập được phổ biến tại các doanh nghiệp Việt Nam, bao gồm: thay đổi chính sách kế toán áp dụng, thông qua việc trích lập và hoàn nhập các khoản dự phòng tổn thất tài sản, thông qua việc lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dỡ dang, thông qua các khoản trích trước và phân

bổ, thông qua các khoản dự phòng phải trả và thông qua ước tính tỷ lệ hoàn thành

và ghi nhận doanh thu, chi phí đối với hợp đồng dài hạn Nguyễn Thị Hương Liên (2017) nghiên cứu làm rõ các thủ thuật phổ biến trong việc vận dụng cơ sở dồn tích

để thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận Khi nhà quản lý có ý định điều chỉnh tăng lợi nhuận, các kỹ thuật được sử dụng gồm: trì hoãn việc ghi nhận tài sản ngắn hạn, ghi nhận thấp hơn các khoản dự phòng đối với nợ xấu, đẩy nhanh tiến độ ghi nhận doanh thu, trì hoãn việc ghi nhận tài sản dài hạn, ghi nhận thấp hơn giá trị hao mòn tài sản dài hạn Trường hợp nhà quản lý muốn giảm lợi nhuận, cụ thể khi doanh nghiệp có khả năng sinh lời lớn và nhà quản trị quyết định dự trữ một khoản lợi nhuận cho tương lai thì các kỹ thuật được sử dụng bao gồm: tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn bị ghi nhận giảm quá mức, các khoản dự phòng được ước tính trích lập quá cao, tài sản cho thuê tài chính chuyển ngoại bảng, ghi giảm các khoản nợ phải thu đã bán cho các tổ chức tài chính, tài sản vô hình chủ yếu không được vốn hóa

Trang 28

1.2.4 Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QT N

Huỳnh Thị Vân (2012) nghiên cứu thực hiện khảo sát số liệu BCTC của các công ty cổ phần được niêm yết trên 2 sàn giao dịch chứng khoán HNX và HOSE có năm đầu tiên niêm yết trong giai đoạn năm 2008 – 2010 Tác giả xem xét tác động của 3 nhân tố đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận gồm: năm đầu tiên niêm yết trên sàn chứng khoán, chính sách ưu đãi thuế TNDN và quy mô doanh nghiệp Hành vi điều chỉnh lợi nhuận được xác định và đo lường thông qua 2 mô hình DeAngelo (1986) và Friedlan (1994) Kết quả nghiên cứu chỉ ra là phần lớn các doanh nghiệp

có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán, điều kiện ưu đãi thuế TNDN có ảnh hưởng thuận chiều với hành vi điều chỉnh lợi nhuận và quy mô công ty không ảnh hưởng đến mức độ thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Lê Văn Thừa (2017) nghiên cứu sử dụng số liệu BCTC trong giai đoạn 2013 –

2016 của 270 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng mô hình Modified Jones (1995) để đo lường hành vi QTLN, tiếp đến là xác định mối quan hệ và mức độ tác động của các nhân

tố đối với hành vi QTLN, bao gồm: Đòn bẩy tài chính, đa dạng đầu từ, biến tích hợp giữa đòn bẩy tài chính và đa dạng đầu tư, quy mô công ty, chất lượng kiểm toán, tính độc lập của HĐQT Kết quả cho thấy có ba biến có mối quan hệ nghịch biến với hành vi QTLN gồm là chất lượng kiểm toán, tỷ lệ độc lập của HĐQT, quy mô công ty, 2 biến có quan hệ đồng biến là đa dạng đầu tư và đòn bẩy tài chính và biến còn lại không đạt nên bị loại khỏi mô hình nghiên cứu

Nguyễn Hà Linh (2017) thực hiện tổng quan và lựa chọn mô hình phù hợp trong việc phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty niêm yết phù hợp với môi trường, điều kiện thực tế tại Việt Nam Tiếp sau đó, tác giả làm rõ mối quan

hệ giữa các đặc điểm công ty, đặc điểm về cơ chế quản lý – kiểm soát với hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Thông qua việc kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, kết quả nhận định trong 9 biến nghiên cứu thì có 7 biến có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với

Trang 29

hành vi điều chỉnh lợi nhuận, bao gồm: Hệ số nợ, hiệu quả tài chính, quy mô công

ty, quy mô HĐQT, cấu trúc sở hữu, tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, kiểm toán độc lập Và 2 biến không có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận là: số lượng thành viên HĐQT độc lập và sự kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT

Nguyễn Thị Hồng Nhung (2018) nghiên cứu tập trung đánh giá mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi QTLN của các công ty niêm yết tại Việt Nam với mẫu gồm 100 công ty niêm yết trong giai đoạn 2014 - 2017 trên 2 sàn giao dịch chứng khoán HOSE và HNX Bài nghiên cứu sử dụng mô hình Modified Jones để phát hiện các khoản khoản trích trước bất thường, được sử dụng để phát hiện hành

vi điều chỉnh lợi nhuận Kết quả nghiên chỉ ra quy mô doanh nghiệp có tác động cùng chiều đối với hành vi QTLN của các công ty niêm yết tại Việt Nam

1.2.5 Nghiên cứu về hành vi QTLN theo từng nhóm ngành

Nguyễn Thị Thủy Tiên (2017) thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN dựa trên cơ sở dồn tích của các công ty sản xuất kinh doanh trong ngành dầu khí tại Việt Nam Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu chỉ

ra có ba nhân tố tác động đến hành vi QTLN là quy mô công ty, chất lượng kiểm toán độc lập và lĩnh vực kinh doanh của công ty Hai nhân tố còn lại là hệ số nợ của công ty và khủng hoảng ngành không có ý nghĩa thống kê Trần Thị Như Quỳnh (2017) nghiên cứu hành vi QTLN nhằm tránh báo cáo lỗ hoặc giảm lợi nhuận của các công ty thuộc nhóm ngành xây dựng được niêm yết trên TTCK Việt Nam bằng cách sử dụng mô hình phân phối lợi nhuận theo phương pháp tiếp cận nghiên cứu của Burgstahler & Dichev Kết quả nghiên cứu tìm được bằng chứng cho thấy các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng có hành vi QTLN nhằm tránh công

bố thông tin báo cáo lỗ hoặc giảm lợi nhuận

Trang 30

1.3 Nhận xét và xác định khoản trống nghiên cứu

1.3.1 Nhận xét chung

 Đối với các nghiên cứu nước ngoài

Từ giữa thập niên 80 thế kỷ XX, hành vi QTLN trên BCTC đã bắt đầu nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu trên thế giới Khởi đầu cho luồng nghiên cứu này là Healy (1985) bằng việc đưa ra các khoản dồn tích có thể điều chỉnh để phát hiện hành vi QTLN Ở những năm tiếp theo, nhiều nghiên cứu khác tiếp tục được thực hiện nhằm xây dựng mô hình đo lường hành vi QTLN mang lại độ chính xác cao hơn (DeAngelo, 1986; Jones, 1991; Modified Jones, 1995; Kothari và cộng sự, 2005…) Các nhà nghiên cứu cũng mở rộng tìm hiểu về các động cơ, kỹ thuật mà nhà quản lý sử dụng để QTLN và các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN Trong các nghiên cứu đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hành

vi QTLN thì có những nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng riêng lẻ của từng nhân tố (Backer và các cộng sự, 1988; Halioui và cộng sự, 2012; Lazzem và cộng sự, 2017)

và cũng có những nghiên cứu đề cập đến sự ảnh hưởng của tổ hợp nhiều nhân tố đến QTLN (Swastika, 2013; Kim và Yi, 2005) Mặc dù, đã có khá nhiều nghiên cứu

về hành vi QTLN như đã nêu trên, nhưng vẫn chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN đặc thù trong ngành xây dựng Chẳng hạn như, Gasteratos và cộng sự (2016) chỉ mới tìm ra bằng chứng cho thấy các công ty ngành xây dựng tích cực QTLN trong giai đoạn thuế suất tăng nhưng chưa nghiên cứu chi tiết về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN trong ngành này Pordea (2019) xem xét ảnh hưởng của các nhân tố bao gồm: quy mô công ty, tỷ lệ nợ và tình trạng khó khăn về tài chính đến hành vi QTLN ở các công ty vừa và nhỏ trong ngành xây dựng Tuy nhiên do hạn chế kích thước mẫu và mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên nghiên cứu này đã chưa đưa ra được bằng chứng về mối quan hệ mang ý nghĩa thống kê của các nhân tố này đến hành vi QTLN Điều đó cho thấy, có một khoản trống trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN trên BCTC của các công ty trong nhóm ngành xây dựng cần được xem xét

Trang 31

 Đối với các nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán còn khá non trẻ, cùng với đó các vấn đề

về QTLN chỉ mới được mới được quan tâm trong những năm gần đây Các nghiên cứu về hành vi QTLN dựa trên cơ sở dồn tích trên BCTC chủ yếu tập trung vào nhận diện hành vi QTLN (Phạm Thị Bích Vân, 2012) hoặc xem xét mức độ ảnh hưởng các nhân tố thuộc đặc điểm công ty đến hành vi QTLN (Nguyễn Hà Linh, 2017; Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2018…) Có một số nghiên cứu xem xét hành vi QTLN của các công ty thuộc nhiều nhóm ngành và nghiên cứu về hành vi QTLN của các công ty trong một nhóm ngành cụ thể Về nghiên cứu hành vi QTLN trong một ngành cụ thể có nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy Tiên (2017) đánh giá về hành vi QTLN trong ngành dầu khí hay, Lê Thị Yến Nhi (2017) nghiên cứu về hành

vi QTLN trong ngành sản xuất hàng tiêu dùng… Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào xem xét tổ hợp các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN của các công ty thuộc ngành xây dựng niêm yết Trong khi đây là ngành có tác động lớn đến

sự phát triển của TTCK nói riêng và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam nói chung nên có rủi ro cao về sự hiện diện của hành vi QTLN Bên cạnh đó, kế toán ngành xây dựng cũng đưa ra nhiều cơ hội cho nhà quản lý lựa chọn các chính sách kế toán, ước tính

kế toán để ghi nhận doanh thu, chi phí tùy theo từng điều kiện phù hợp Như vậy, nhà quản lý ở các công ty xây dựng có nhiều cơ hội để điều chỉnh chỉ tiêu lợi nhuận cho mục đích riêng Đây là vấn đề cần được các nhà đầu tư, các tổ tín dụng và các bên hữu quan khác quan tâm bởi lẽ nó có thể gây thiệt hại cho họ và ảnh hưởng chung đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế

Bên các đó, các nghiên cứu trước đây chủ yếu vận dụng mô hình của DeAngelo (1986), Jones (1991) hay Modified Jones (1995) để đo lường hành vi QTLN, tuy nhiên các mô hình này không chính xác trong trường hợp công ty có mức tăng trưởng quá cao Mặc khác, nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Quyên, Trần Quốc Hoàng (2017) cho thấy có mối liên hệ giữa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đối với hành vi QTLN Do đó, nếu sử dụng mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi

Trang 32

nhuận có xem xét đến hiệu quả hoạt động của công ty, điển hình như mô hình

Kothari, Leone and Wasley (2005) thì sẽ mang lại kết quả chính xác hơn

1.3.2 Xác định khe hổng nghiên cứu

Kết quả tổng quan các nghiên cứu về hành vi QTLN được thực hiện trong và

ngoài nước cho thấy chưa có nghiên cứu nào xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến

hành vi QTLN trên BCTC tại các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng tại

Việt Nam Trong khi đó, ngành xây dựng là nền tảng của sự phát triển kinh tế và

các nguyên tắc kế toán được sử dụng trong lĩnh vực này khá phức tạp tạo cơ hội

thuận lợi cho nhà quản lý thực hiện hành vi QTLN Nhận diện được khoản trống

nghiên cứu nêu trên, đồng thời khắc phục hạn chế các của nghiên cứu trước đây,

trong bài luận văn này tác giả sẽ đi sâu vào nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến

hành vi QTLN của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng tại Việt Nam

thông qua sử dụng mô hình mô hình Kothari, Leone and Wasley (2005) để đo lường

hành vi QTLN Bên cạnh đó, tác giả sẽ kế thừa các biến nhân tố ảnh hưởng đến

hành vi QTLN từ những nghiên cứu trước đây, cụ thể là biến Quy mô công ty

(Swastika, 2013; Huỳnh Thị Vân, 2012; Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2018), Đòn bẩy

tài chính (Lazzem và cộng sự, 2017; Nalarreason và các cộng sự, 2019), Chất lượng

kiểm toán (Backer và các cộng sự, 1988), Tính độc lập của HĐQT (Swastika, 2013;

Lê Văn Thừa, 2017), Tỷ lệ sở hữu nước ngoài (Nguyễn Hà Linh, 2017) và Quyền

sở hữu của cổ đông lớn (Kim và Yi, 2005; Halioui và cộng sự, 2012)

Trang 34

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ Ý THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN

CỨU

Trong chương 2 này, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về QTLN, các lý thuyết nền tảng được vận dụng trong nghiên cứu hành vi QTLN Ngoài ra, tác giả cũng trình bày các mô hình tiêu biểu được sử dụng để nhận diện hành vi QTLN trên BCTC Dựa vào đó, tác giả lựa chọn mô hình phù hợp để đo lường hành vi QTLN được vận dụng trong bài nghiên cứu này và liên hệ trên lý thuyết nền để đưa ra giả thuyết nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành xây dựng

2.1 Các vấn đề cơ bản về QTLN

Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản chênh lệch giữa các khoản doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác Bên cạnh đó, Chế độ kế toán hiện hành quy định kế toán doanh nghiệp phải dựa trên cơ sở dồn tích (ghi nhận tại thời điểm phát sinh bất kể đã thực thu, chi bằng tiền hay chưa) Tuy nhiên, Chế độ kế toán cũng đưa ra quyền lựa chọn một số phương pháp kế toán hay ước tính kế toán cho doanh nghiệp lựa chọn khi ghi nhận doanh thu và chi phí Vì thế, nhà quản lý có thể vận dụng điểm này để có những tác động nhằm thay đổi thông tin lợi nhuận trên BCTC

2.2.1 Khái niệm về QTLN

Đã có nhiều nghiên cứu đưa ra khái niệm về QTLN, trong đó Schipper (1989) cho rằng QTLN là sự điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt mục tiêu đã đặt ra trước đó của nhà quản trị Nó là “một sự can thiệp có tính toán kỹ lưỡng trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân” Levitt (1998) định nghĩa “QTLN là một mảng mà ở đó, kế toán đang bị làm sai do nhà quản trị đã “cắt gọt” các khía cạnh của nó Khi đó, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh mong muốn của nhà quản trị hơn là phản ánh tình hình tài chính thực của doanh nghiệp” Quan điểm này có phần nhấn mạnh thái quá phần tiêu cực của QTLN nên

Trang 35

đã được thay thế dần bởi quan điểm toàn diện hơn của Healy và Wahlen (1999), cho rằng “QTLN xảy ra khi nhà quản trị sử dụng các ước tính kế toán hoặc giao dịch nội

bộ để tác động đến BCTC, nhằm làm cho các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC hiểu sai về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoặc làm ảnh hưởng đến các hợp đồng mà có cam kết dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận kế toán (ví dụ: hợp đồng tín dụng với ngân hàng, hợp đồng thù lao giữa nhà quản trị và công ty…)”

Nhìn chung, có nhiều quan điểm khác nhau về hành vi QTLN dựa trên cách nhìn nhận về đặc điểm cũng như cách thức thực hiện, nhưng có thể tóm lại: QTLN

là một thuật ngữ tài сhính đề сậр đến сáс hành động сủа nhà quản trị táс động đến kết quả hоạt động сủа dоаnh nghiệр đượс thể hiện trоng BCTC, tạо rа một hình ảnh tài chính doanh nghiệp như nhà quản lý mong muốn QTLN có thể khiến сáс nhà đầu tư hiểu sаi về tình hình tài сhính thựс tế сủа сông ty Nhà quản trị сó nhiều mụс đíсh để thựс hiện QTLN, сó thể là để thu nhiều lợi nhuận thông quа giао dịсh trên thị trường vốn, hоặс để giảm thiểu сhi рhí trоng việс рhát hành сổ рhiếu, muа bán sáp nhậр Về mặt lý thuyết, hành vi QTLN không đượс xеm là vi рhạm рháр luật, bởi đây là một hình thứс đượс сhấр nhận trоng kế tоán, nhà quản lý áр dụng những nguyên lý đượс сhо рhéр nhằm hạсh tоán сáс khоản сhi рhí, lợi nhuận, thường thì сáс bút tоán này vận dụng nguyên tắс dồn tíсh, hаy сáс сáсh kháс nhаu trоng quá trình khấu hао tài sản Tuy không bị luật giới hạn, nhưng đây lại là hành vi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi íсh сủа рhần lớn nhà đầu tư, và khi сông ty gặр vấn đề

về khả năng thаnh tоán, thường dẫn đến khоản thâm hụt lớn Trong bài viết này, tác giả sẽ xem xét hành vi QTLN dựa trên cơ sở dồn tích và vận dụng linh hoạt các chính sách kế toán trong khuôn khổ chuẩn mực kế toán hoặc sử dụng xét đoán chủ quan, dàn xếp một số giao dịch thực nhằm điều chỉnh lợi nhuận doanh nghiệp như mong muốn của nhà quản trị

2.2.2 Phân loại hành vi QTLN

Theo nghiên cứu của Miloud (2014) thì hành vi QTLN có thể được phân thành

2 nhóm dựa vào cách thức thực hiện, bao gồm:

Trang 36

- QTLN dựa trên cơ sở dồn tích (Accrual based Earnings Management - AEM) được Gordon (1964) định nghĩa là cách thực hiện hành vi QTLN thông qua sự linh hoạt trong việc lựa chọn các chính sách kế toán và ước tính

kế toán được chấp nhận bởi các quy định về kế toán Ví dụ như: nhà quản lý vận dụng và thay đổi chính sách dự phòng, khấu hao, phương pháp xuất kho…

- QTLN dựa trên các hoạt động kinh doanh thực tế (Real Earnings Management – REM) là việc nhà quản lý tác động vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, thay đổi mức độ hoạt động của doanh nghiệp hướng đến mục đích điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp theo như mong muốn, nhằm làm các bên liên quan hiểu lầm về các mục tiêu BCTC đã đạt được trong quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp (Rowchowdhury, 2006) Ví dụ: nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận nào đó, nhà quản lý thay đổi mức hoạt động tối ưu như đưa ra các chính sách chiết khấu hoặc nới lỏng thời hạn thanh toán để tăng doanh thu, giảm chi phí nghiên cứu phát triển hoặc thực hiện sản xuất thái quá vào thời điểm cuối năm làm tăng hàng tốn kho, giảm giá vốn, tăng lợi nhuận cho năm hiện tại

2.2.3 Cơ sở của hành vi QTLN – cơ sở dồn tích

Theo Chuẩn mực kế toán chung (VAS 01): “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính

của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền.” Theo quy định của Chuẩn mực này thì các

BCTC (trừ báo cáo lưu chuyển tiền tệ) đều phải được lập trên cơ sở dồn tích Các khoản chi phí được ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí BCTC lập trên cơ sở dồn tích giúp phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai

Kế toán trên cơ sở dồn tích sẽ đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu

và chi phí phát sinh trong một kỳ kế toán nhất định, giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả hoạt động một cách toàn diện thay vì chỉ quan tâm đến dòng thu và dòng

Trang 37

chi tiền Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo cơ sở dồn tích sẽ cho biết tất cả các khoản thu nhập trong kỳ và tương ứng đó là các khoản chi phí phát sinh để tạo được khoản thu nhập đó Ngoài ra, cơ sở dồn tích tạo điều kiện vận dụng linh hoạt các chính sách và ước tính kế toán giúp cung cấp tình hình tài chính của công ty thông qua chỉ tiêu lợi nhuận trong một kỳ kế toán

Bên cạnh những ưu điểm, kế toán trên cơ sở dồn tích đôi khi không tuân thủ theo yêu cầu khách quan trong kế toán Các khoản phải thu và phải trả và tương ứng với đó là các khoản doanh thu và chi phí được ghi nhận căn cứ vào thời điểm phát sinh Các khoản khấu hao của tài sản cố định dựa vào thời gian hữu dụng ước tính của tài sản đó (phù hợp với khung khấu hao theo quy định hiện hành) Như vậy, số liệu trên BCTC thể hiện một phần ý kiến chủ quan của nhà quản trị và họ có cơ hội tận dụng cơ hội này để thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong BCTC và cung cấp thông tin kế toán tài chính

2.2.4 Động cơ dẫn đến hành vi QTLN

Trong một doanh nghiệp, nhà quản trị là người nắm rõ hình hình hoạt động của công ty và các cơ hội kinh doanh trong tương lai của công ty hơn so với các đối tượng bên ngoài, vì thế việc lựa chọn chính sách kế toán hay các ước tính kế toán nằm trong phạm vi cho phép nhằm duy trì sự ổn định của công ty là rất cần thiết Tuy nhiên, nhà quản trị cũng có thể tận dụng việc ghi nhận kế toán dựa trên cơ sở dồn tích để làm thay đổi mức lợi nhuận nhằm đạt mục tiêu mong muốn

Nhiều nghiên cứu trước đây đã đưa ra các động cơ thúc đẩy nhà quản trị thực hiện hành vi QTLN Healy (1985) tìm thấy bằng chứng về việc sử dụng các khoản dồn tích để tối đa hóa các khoản thưởng Watts và Zimmerman (1990) cho rằng các nhà quản lý có động lực để điều chỉnh lợi nhuận từ tương lai về kỳ kế toán hiện tại khi có kế hoạch thưởng cho nhà quản lý dựa trên kết quả lợi nhuận Healy và Wahlen (1999) cho rằng có ba động lực chính dẫn đến hành vi QTLN, gồm: kỳ vọng thị trường vốn, các hợp đồng bằng văn bản được ký kết, mà các thỏa thuận trong hợp đồng này có liên quan đến số liệu sổ sách kế toán và phản ứng lại các quy định của chính phủ Burgstahler và Eames (2006) nghiên cứu vai trò của thị trường

Trang 38

vốn và phát hiện ra rằng hành vi QTLN càng tăng khi cần đáp ứng những kỳ vọng của các nhà phân tích và những dự báo trong quản lý

Như vậy, có nhiều nguyên nhân được tìm thấy dẫn đến thúc đẩy nhà quản lý thực hiện hành vi QTLN Ở đây, tác giả khái quát một số động cơ điều chỉnh lợi nhuận phổ biến như sau:

 Hợp đồng quản lý – thù lao

Trong thực tế, các doanh nghiệp niêm yết có thỏa thuận trả lương hoặc thưởng cho nhà quản lý theo tỷ lệ % nhân với (x) lợi nhuận kế toán Theo quan điểm của lý thuyết ủy nhiệm thì nhà quản lý có xu hướng hành động để tối đa hóa lợi ích cá nhân của mình hơn là vì lợi ích của bên ủy nhiệm Khi hợp đồng thù lao dựa trên các chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh doanh như doanh thu hoặc lợi nhuận sẽ thúc đẩy nhà quản lý thực hiện hành vi QTLN

Như vậy, nhà quản lý có động cơ QTLN khi kết quả kinh doanh đạt được khác với mục tiêu đề ra của nhà quản lý Lợi nhuận thực có thể quá cao hoặc quá thấp, còn mục tiêu của nhà quản lý thì được xác định trên cơ sở kỳ vọng của các cổ động hoặc yêu cầu đòi hỏi của hợp đồng quản lý đã ký kết Trường hợp lợi nhuận thực thấp hơn mục tiêu đề ra, nhà quản lý có thể thực hiện điều chỉnh tăng lợi nhuận thông qua cách điều chỉnh lợi nhuận từ tương lai về kỳ kế toán hiện hành (Watts và Zimerman, 1990), hoặc sử dụng xét đoán trong kế toán để tăng lợi nhuận nhằm đạt được khoản tiền thưởng theo lợi nhuận (Healy, 1985) Trường hợp khi hợp đồng thù lao giữa doanh nghiệp và nhà quản lý có quy định giới hạn mức thưởng tối đa khi kết quả quả kinh doanh đã đạt được mục tiêu đề ra, thì nhà quản lý sẽ có khuynh hướng điều chuyển bớt lợi nhuận năm nay sang năm sau

 Mục tiêu thu hút vốn đầu tƣ từ bên ngoài

Lợi nhuận luôn là chỉ tiêu quan trọng để nhà đầu tư đánh giá khả năng sinh lợi trong tương lai của một công ty Lợi nhuận ảnh hưởng trực tiếp đến giá cổ phiếu và ảnh hưởng gián tiếp tới thị trường vốn khi mà chỉ tiêu lợi nhuận dùng để xác định dòng tiền trong tương lai Do vậy, khi phát hành cổ phiếu ra công chúng, nhà quản

Trang 39

lý của công ty nỗ lực đưa ra hình ảnh kết quả hoạt động kinh doanh tốt trong năm vừa qua thông qua việc điều chỉnh tăng lợi nhuận đến mức tối đa (trong khuôn khổ cho phép của chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán hiện hành) nhằm thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà đầu tư cũng như là có thể bán được cổ phiếu ở mức giá cao Hành vi QTLN thường xuyên xảy ra trong trường hợp công ty lần đầu tiên chào bán cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Ở thời điểm này, lượng thông tin mà các nhà đầu tư tiếp nhận còn nhiều giới hạn, làm xuất hiện hiện tượng thông tin bất cân xứng giữa công ty và các nhà đầu tư tiềm năng, gây tác động tiêu cực đến thị trường

Trong thời gian được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, nếu lợi nhuận của công ty thay đổi quá lớn giữa các kỳ kế toán đồng nghĩa với tình hình hoạt động kinh doanh của công ty bất ổn, nhà đầu tư mua cổ phiếu của doanh nghiệp đó sẽ chịu mức rủi ro cao Giá cổ phiếu của công ty này sẽ bị rớt giá so với các công ty có lợi nhuận ổn định qua các kỳ Do đó, nhà quản lý doanh nghiệp thường nỗ lực san bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán giữa các năm nhằm giữ giá cổ phiếu ổn định hoặc làm tăng giá trị thị trường của cổ phiếu

Hành vi QTLN được xem xét trong các nghiên cứu trước đây ở một số tình huống cụ thể, chẳng hạn như khi bán cổ phiếu ra công chúng (Ducharme và cộng

sự, 2001), khi phát hành thêm cổ phiếu (Shivakumar, 2000) Ngược lại với phát hành thêm cổ phiếu, thì hành vi mua lại cổ phiếu cũng là cách để QTLN Vafeas và cộng sự (2003) tìm thấy bằng chứng cho rằng nhà quản lý các nhà quản lý làm lợi nhuận giảm thông qua các khoản trích trước chi phí khi mua lại cổ phiếu Bens và cộng sự (2003) cho rằng giám đốc điều hành của công ty sử dụng cách mua lại cổ phiếu như là một công cụ QTLN dưới mức cần thiết để đạt được sự tăng trưởng mong muốn trên mỗi cổ phiếu Tại Việt Nam, nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2012) cung cấp bằng chứng cho thấy phần lớn các công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có thực hiện hành vi điều chỉnh tăng lợi nhuận trước khi phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu tiên

Trang 40

 Cung cấp thông tin tài chính cho các bên có lợi ích liên quan khác

Ngoài mối quan hệ với nhà đầu tư, doanh nghiệp còn có mối quan hệ chặt chẽ với các bên có lợi ích liên quan khác như nhà cung cấp tín dụng và cơ quan thuế Trong mối quan hệ với nhà cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp như các ngân hàng, các công ty tài chính, doanh nghiệp phải ký nhiều hợp đồng với nhiều điều khoản ràng buộc dựa trên các tiêu chí tài chính Đây là động lực thúc đẩy nhà quản lý thực hiện các hành vi QTLN để tránh vi phạm các điều khoản của hợp đồng Đối với cơ quan thuế, mỗi năm tài chính, doanh nghiệp đều phải nộp báo cáo thuế cho cơ quan thuế và xác định mức thuế thu nhập doanh nghiệp phải đóng căn cứ vào lợi nhuận chịu thuế của năm Mặc dù, kế toán cho mục đích thuế và kế toán cho mục đích cung cấp thông tin tài chính là khác nhau, tuy nhiên giữa hai bên vẫn có mối liên hệ tác động qua lại, số liệu kế toán tài chính là cơ sở để xác định số liệu cung cấp cho mục đích thuế Nếu muốn giảm thuế thì doanh nghiệp phải điều chỉnh lợi nhuận kế toán ở mức tương đối hợp lý với lợi nhuận chịu thuế, từ đó có thể giúp doanh nghiệp giảm được số thuế phải nộp

 Động cơ QTLN trong tình huống khác

Như vậy, có nhiều động cơ khác nhau thôi thúc nhà quản trị QTLN của doanh nghiệp Ngoài các động cơ QTLN phổ biến được nêu trên, thì tùy vào tình hình kinh

tế - chính trị - xã hội và các sự kiện bất ngờ xảy ra mà doanh nghiệp có những động

cơ để nhà quản trị thực hiện hành vi QTLN Trong nghiên cứu của Rosner (2003) đã cho thấy sự tồn tại của QTLN đơn giản là để che dấu thông tin Việc che dấu thông tin có thể liên quan đến lợi ích cá nhân, giao dịch với bên liên quan, che dấu các điểm yếu, các khoản thua lỗ… đó cũng là động lực khiến cho các nhà quản lý của doanh nghiệp sử dụng các kỹ thuật để QTLN

2.2.5 Các kỹ thuật để QTLN

Lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu quan trọng được trình bày trong BCTC,

cụ thể là báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Cũng như các chỉ tiêu khác, việc đo lường và trình bày chỉ tiêu lợi nhuận phải tuân theo các chuẩn mực và chế độ kế

Ngày đăng: 24/06/2021, 08:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w