Tính cấp thiết của đề tài
Chất lượng thông tin kế toán (CLTT) đã được nhấn mạnh trong các báo cáo của FASB và IASB, cũng như trong các quy định của Nhà Nước như Chuẩn mực kế toán Việt Nam và Luật Thương mại Pháp (Phạm, 2016) CLTT bao gồm các đặc tính như tính thích hợp, tính đáng tin cậy và khả năng hiểu được, nhằm đảm bảo thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) hữu ích cho người sử dụng Các thuộc tính này bao gồm tính đáng tin cậy, tính thích hợp, khả năng hiểu được và khả năng so sánh (IASB).
2001) Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, CLTT BCTC bao gồm các thuộc tính: trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh
Báo cáo tài chính (BCTC) tổng hợp số liệu kế toán, phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn, nợ phải trả, tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp BCTC ngày càng quan trọng trong việc cung cấp thông tin thiết yếu cho chủ sở hữu, nhà đầu tư, chủ nợ và các tổ chức quản lý, giúp họ đưa ra quyết định phù hợp với mục tiêu của mình Do đó, chất lượng thông tin trong BCTC là chủ đề được nghiên cứu nhiều cả ở Việt Nam và trên thế giới, và việc nâng cao chất lượng này giúp người dùng đưa ra nhận xét chính xác trong quá trình ra quyết định.
Ngành ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, huy động nguồn tài chính từ người dân và thị trường Tại Việt Nam, ngân hàng thương mại (NHTM) là nhà tài trợ vốn lớn và hỗ trợ nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ Tuy nhiên, hiệu quả kinh doanh của các NHTM chưa đạt yêu cầu, dẫn đến tình trạng nợ xấu gia tăng Ngân hàng nhà nước phải can thiệp bằng cách mua lại và sáp nhập các ngân hàng yếu kém Để giảm chi phí, các ngân hàng thường áp dụng các thủ thuật kế toán như ghi giảm chi phí cho nợ xấu và điều chỉnh doanh thu, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Việc nâng cao chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) của các ngân hàng thương mại (NHTM) rất quan trọng, vì nó không chỉ tạo ra cái nhìn tổng quan về tình hình kinh doanh thực tế mà còn giúp các nhà điều hành đưa ra quyết định đúng đắn Điều này cũng nâng cao lợi thế cạnh tranh, tăng cường niềm tin của nhà đầu tư và khách hàng vào BCTC, đồng thời giúp họ dễ dàng tiếp cận thông tin Kết quả là, giá trị và năng lực cạnh tranh của ngân hàng được gia tăng, dẫn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt hơn và sự tăng trưởng vững chắc về doanh thu và lợi nhuận.
Trên cơ sở đó, chủ đề nghiên cứu “CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
Chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam là đề tài nghiên cứu quan trọng được tác giả chọn cho luận văn thạc sĩ Nghiên cứu này nhằm đánh giá và phân tích mức độ chính xác, minh bạch và đầy đủ của thông tin tài chính, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và ra quyết định trong lĩnh vực ngân hàng.
Các mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: xác định và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT BCTC của các NHTM ở Việt Nam
- Mục tiêu cụ thể là:
+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới CLTT BCTC của các NHTM tại Việt Nam
+ Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến CLTT BCTC của các NHTM tại Việt Nam
+ Đề xuất những khuyến nghị phù hợp giúp nâng cao CLTT BCTC của các NHTM Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu
Từ việc đề ra các mục tiêu nghiên cứu cụ thể, luận văn có ba câu hỏi tương ứng:
- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến CLTT BCTC của các NHTM Việt Nam ?
- Mức độ ảnh hưởng các nhân tố đến CLTT BCTC của các NHTM Việt Nam như thế nào?
- Cần đưa ra những khuyến nghị nào để nâng cao CLTT BCTC của các NHTM Việt Nam?
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp cả định tính và định lượng, để đạt được các mục tiêu nghiên cứu và tìm ra câu trả lời cho ba câu hỏi nghiên cứu đã đề ra.
Phương pháp nghiên cứu định tính được áp dụng thông qua việc tham khảo ý kiến của các chuyên gia, từ đó xác định các nhân tố chính và hoàn thiện thang đo cho các nhân tố này cùng với thang đo chất lượng thông tin báo cáo tài chính.
Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua việc khảo sát trực tiếp và gửi bảng câu hỏi qua email Sau khi thu thập dữ liệu, tác giả sử dụng mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA) với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 20.0 để tiến hành phân tích, nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin tài chính báo cáo của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Những đóng góp của luận văn
Luận văn này có vai trò quan trọng trong việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và tham khảo các đề tài liên quan, nhằm xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam Nghiên cứu cũng đưa ra một mô hình phù hợp với bối cảnh thực tế của ngành ngân hàng tại nước ta.
Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu tố trong mô hình đến chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, đồng thời đưa ra khuyến nghị cho ngân hàng và các bên liên quan nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng tín dụng.
Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu và tài liệu tham khảo, phụ lục kèm theo thì nội dung chính của luận văn bao gồm 5 chương chính như sau:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị.
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu của Geert Braam và Ferdy van Beest (2013) đã đo lường chất lượng thông tin tài chính (CLTT BCTC) trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hoa Kỳ (theo GAAP) và Anh (theo IFRS) thông qua dữ liệu từ các báo cáo tài chính 10-K Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn về chất lượng của FASB và IASB năm 2010 để thiết lập thang đo cho các thuộc tính chất lượng như trung thực, thích hợp, có thể hiểu được, có khả năng so sánh và kịp thời Kết quả cho thấy CLTT BCTC của các doanh nghiệp Hoa Kỳ đạt điểm số 2,94, trong khi các doanh nghiệp Anh đạt 3,18 Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung vào việc xây dựng thang đo và đo lường CLTT BCTC mà chưa xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng này trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nghiên cứu của Jouini Fathi (2013) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin tài chính báo cáo (CLTT BCTC) của các doanh nghiệp niêm yết tại Pháp, với mẫu nghiên cứu gồm 101 doanh nghiệp trong giai đoạn 2004-2008 Các yếu tố được xem xét bao gồm kích cỡ hội đồng quản trị, sự tham gia của thành viên vào các cuộc họp, sự hiện diện của công ty kiểm toán thuộc Big 4 và tình trạng niêm yết, đều có tác động tích cực đến CLTT BCTC Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết và đánh giá CLTT BCTC dựa trên ý kiến chủ quan của nhà nghiên cứu Tương tự, nghiên cứu của Nesrine Klai & Abdelwahed Omri (2011) về 22 công ty phi tài chính niêm yết tại Tunisia trong giai đoạn 1997-2007 cho thấy các cơ chế quản trị, đặc biệt là quyền lực của cổ đông nước ngoài và cổ đông lớn, làm giảm chất lượng thông tin trên BCTC Ngược lại, sự kiểm soát của Nhà nước và tổ chức tài chính có tác động tích cực đến CLTT BCTC, trong khi quy mô doanh nghiệp và cơ hội tăng trưởng liên quan đến chất lượng kém, nhưng tỷ lệ nợ lại cải thiện CLTT BCTC.
Nghiên cứu của Ivana Mamis Sacer & Ana Oluic (2013) phân tích tác động của công nghệ thông tin đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán (TTKT), đồng thời thảo luận về mô hình đo lường chất lượng TTKT Các tác giả đã khảo sát nhân viên kế toán về độ tuổi thiết bị và phần mềm, sự hỗ trợ công nghệ thông tin, và mức độ tác động của công nghệ đến kế toán qua các năm 2001, 2008, 2012 Đánh giá dựa trên thang đo Likert 5 điểm về các yếu tố như nhận thức của quản lý, đào tạo, bản chất hệ thống TTKT và kiểm toán thông tin Bản chất hệ thống TTKT được đo lường qua tính dễ sử dụng, ổn định, khả năng nâng cấp và tích hợp với các hoạt động kinh doanh Nghiên cứu cũng khảo sát chất lượng thông tin theo các tiêu chí như hiểu được, kịp thời, bảo mật, đầy đủ và tin cậy Kết luận cho thấy công nghệ thông tin ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống TTKT, đóng góp vào việc chuẩn bị, xử lý và cung cấp thông tin kế toán Các công ty cần giáo dục nhân viên đúng cách và thực hiện kiểm toán liên tục để đảm bảo chất lượng TTKT.
Nghiên cứu của Milly Jepchumba Tarus và cộng sự (2015) đã phân tích ảnh hưởng của năng lực nhân viên và kế toán trên máy tính đến tính chính xác của báo cáo tài chính (BCTC) tại 25 ngân hàng thương mại ở thành phố Nakuru, Kenya Tính chính xác của BCTC được đánh giá qua các tiêu chí như giải thích các giả định và ước tính, việc sử dụng thông tin phi tài chính phù hợp, tăng cường quy trình BCTC thông qua kiểm toán nội bộ, và có hướng dẫn cụ thể về tính chính xác Kết quả cho thấy, kiến thức của người sử dụng phần mềm máy tính là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất, tiếp theo là mức độ đào tạo, sự chuyên nghiệp của nhân viên và chương trình đào tạo nội bộ của ngân hàng.
Nghiên cứu của Rasha Mahboub (2017) điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) của ngân hàng tại Lebanon Chất lượng BCTC được đánh giá qua các tiêu chí như tính thích hợp, trình bày trung thực, khả năng hiểu, khả năng so sánh và tính kịp thời Kết quả từ mô hình hồi quy đa biến cho thấy có mối quan hệ tích cực và ý nghĩa giữa đòn bẩy, cấu trúc sở hữu và quy mô hội đồng quản trị với chất lượng BCTC Tuy nhiên, quy mô ngân hàng, lợi nhuận và sự độc lập của hội đồng quản trị không có ý nghĩa đáng kể.
Olumide A Olowokure và cộng sự (2016) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các đặc điểm ngân hàng đến chất lượng thông tin tài chính báo cáo của ngân hàng thương mại tại Nigeria Chất lượng thông tin tài chính được xác định dựa trên lợi nhuận qua các khoản dự phòng rủi ro tín dụng bất thường, phù hợp với đặc thù ngành ngân hàng Kết quả nghiên cứu không phát hiện mối quan hệ giữa độ tuổi, quy mô và đòn bẩy tài chính với chất lượng thông tin tài chính báo cáo.
Nghiên cứu của Adebiyi & Olowookere (2016) về chất lượng thông tin báo cáo tài chính (CLTT BCTC) của các ngân hàng thương mại tại Nigeria đã áp dụng phương pháp xác định các khoản dồn tích bất thường theo Dechow và cộng sự (1995) mà không điều chỉnh cho phù hợp với ngành ngân hàng Kết quả cho thấy, sự sở hữu của nhà đầu tư tổ chức và nước ngoài có tác động tiêu cực đến CLTT BCTC, trong khi sở hữu của nhà quản lý lại cải thiện chất lượng báo cáo tài chính bằng cách giảm mức độ quản trị lợi nhuận.
Bảng 1.1 Tổng hợp một số nghiên cứu trên thế giới về đề tài CLTT BCTC Tên đề tài và tác giả Cách đo lường
Các nhân tố ảnh hưởng
CL BCTC được công bố bởi IASB và FASB
Chưa đưa ra các nhân tố ảnh hưởng
- Đo lường theo chỉ số công bố thông tin gồm 78 mục, các khoản dồn tích
Các đặc điểm của DN, Đặc điểm HĐQT, Chất lượng kiểm toán, cấu trúc sở hữu
The Case of Tunisian Firms”
- Đo lường CLTT BCTC thông qua các khoản dồn tích và theo giá trị chứng khoán
- Sự kiểm soát của cổ đông nước ngoài, các cổ đông lớn, gia đình, các tổ chức tài chính và Nhà nước
- Các biến điều tiết quy mô
DN, tỷ lệ nợ và cơ hội tăng trưởng
4 “Information Technology and Accounting Information
- Các đặc tính CL của BCTC
Quản lý cần nhận thức rõ tầm quan trọng của hệ thống thông tin kế toán (TTKT) trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động Việc huấn luyện và đào tạo nhân viên về hệ thống TTKT là cần thiết để đảm bảo sử dụng hiệu quả các công cụ công nghệ thông tin Bản chất của hệ thống TTKT không chỉ là thu thập và xử lý dữ liệu mà còn là cung cấp thông tin chính xác cho việc ra quyết định Kiểm toán hệ thống thông tin cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính toàn vẹn và bảo mật của dữ liệu, từ đó nâng cao độ tin cậy của thông tin kế toán.
Reporting In Listed Banks in
- Chỉ đo lường tính chính xác của BCTC
- Hệ thống kế toán trên máy tính
Financial Reporting Quality in the Lebanese Banking Sector”
- Đòn bẩy, quy mô ngân hàng và lợi nhuận, sự độc lập HĐQT, cấu trúc sở hữu và quy mô HĐQT
Nigeria” ( Olowokure và cộng sự (2016)
- Đo lường CL lợi nhuận bằng các khoản dự phòng rủi ro tín dụng bất thường Độ tuổi, quy mô, đòn bẩy
- Đo lường từ các khoản dồn tích
- Sở hữu nước ngoài, tổ chức, nhà quản lý
(Nguồn:Tác giả tổng hợp)
Tổng quan các nghiên cứu Việt Nam
Luận văn thạc sĩ của Cao Thị Lệ Thư (2014) kế thừa nghiên cứu của Jouini Fathi (2013) với bảng thuyết minh 78 khoản mục, đánh giá chất lượng thông tin tài chính (CLTTKT) trên báo cáo tài chính (BCTC) bằng chỉ tiêu công bố thông tin không trọng số, sử dụng dữ liệu từ 119 BCTC năm 2013 đã kiểm toán của các doanh nghiệp trong ngành xây dựng và chế biến Kết quả cho thấy CLTTKT đồng biến với quy mô doanh nghiệp và tỷ lệ thành viên không điều hành của HĐQT, nhưng nghịch biến với tỷ lệ cổ phần sở hữu của Nhà nước Hạn chế của nghiên cứu là đánh giá chỉ số dựa trên ý kiến chủ quan, làm ảnh hưởng đến kết quả Luận văn thạc sĩ của Phan Minh Nguyệt (2014) trình bày các đặc tính CLTTKT theo quan điểm IASB, xem xét tác động của 7 nhân tố đến CLTTKT, thu thập dữ liệu từ 200 đối tượng khảo sát Kết quả chỉ ra 5 nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến CLTTKT là rủi ro kiểm toán, nhà quản trị doanh nghiệp, lập và trình bày BCTC, thuế, lợi ích và chi phí Tuy nhiên, mẫu khảo sát không đủ lớn và đa dạng, một số đối tượng không có hiểu biết về kế toán, gây khó khăn cho kết quả Ngoài ra, nghiên cứu chưa phân tích BCTC theo từng ngành nghề kinh doanh, điều này có thể ảnh hưởng đến CLTTKT của các công ty niêm yết.
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Trọng Nguyên (2016) nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố thuộc quản trị công ty (QTCT) đến chất lượng thông tin tài chính báo cáo (CLTT BCTC) của 195 doanh nghiệp niêm yết (DNNY) tại Việt Nam Đề tài sử dụng các tiêu chí đo lường CLTT BCTC theo FASB & IASB 2010 và chỉ ra rằng kết quả CLTT BCTC của các doanh nghiệp đạt từ loại khá trở xuống Các nhân tố ảnh hưởng tích cực đến CLTT BCTC bao gồm tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị (HĐQT) độc lập, sự hiện diện của thành viên HĐQT có kiến thức và kinh nghiệm về kế toán tài chính, số lượng cuộc họp HĐQT, tỷ lệ thành viên ban kiểm soát có chuyên môn tài chính, và sự hiện diện của bộ phận kiểm toán nội bộ Nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt về CLTT BCTC giữa các doanh nghiệp theo quy mô và tỷ lệ sở hữu của nhà nước, tuy nhiên, các nhân tố được đánh giá chủ yếu nằm trong lĩnh vực QTCT.
Luận án tiến sĩ của Phạm Quốc Thuần (2016) tập trung vào chất lượng thông tin tài chính (CLTT BCTC) và các yếu tố ảnh hưởng đến CLTT BCTC tại Việt Nam Nghiên cứu nhằm phân tích sự khác biệt trong tác động của các yếu tố này giữa các nhóm doanh nghiệp như doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn, cũng như nhóm doanh nghiệp niêm yết và chưa niêm yết Thông qua phương pháp nghiên cứu tình huống kết hợp thảo luận tay đôi và thảo luận nháp, nghiên cứu đã xác định được 10 yếu tố quan trọng Các phân tích định lượng được thực hiện dựa trên dữ liệu thu thập từ khảo sát các kế toán viên trong các doanh nghiệp.
DN này, với CLTT BCTC được đánh giá theo đặc tính CL của FASB & IASB
Năm 2010, nghiên cứu cho thấy CLTT BCTC đạt điểm 3,76/5, với các yếu tố tác động được xếp hạng như sau: Hỗ trợ từ nhà quản trị là mạnh nhất, tiếp theo là Hành vi QTLN, Áp lực từ thuế, Đào tạo và bồi dưỡng nhân viên, Năng lực nhân viên kế toán, hiệu quả hệ thống KSNB, BCTC được kiểm toán và chất lượng PMKT Đáng lưu ý, chỉ có hai yếu tố, Áp lực từ thuế và Hành vi QTLN, có tác động ngược chiều, trong khi các yếu tố khác đều có tác động thuận chiều Sự khác biệt trong tác động của các yếu tố đến CLTT BCTC cũng được xác định giữa các doanh nghiệp có quy mô khác nhau, bao gồm DNNY và các doanh nghiệp chưa niêm yết.
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) đã đánh giá chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp niêm yết (DNNY) trên thị trường chứng khoán Việt Nam, sử dụng mô hình Jones điều chỉnh và EBO điều chỉnh để đo lường chất lượng lợi nhuận Nghiên cứu dựa trên 283 quan sát trong khoảng thời gian từ 2012 đến 2014, cho thấy chất lượng BCTC của các DNNY vẫn chưa đạt yêu cầu cao Các yếu tố được xem xét rất đa dạng, bao gồm cơ cấu sở hữu vốn, quản trị công ty (QTCT), cơ cấu vốn, đặc điểm thị trường và hiệu quả công ty Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 17 nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC, trong đó có 4 nhân tố mới là tính trì hoãn của BCTC, thị trường niêm yết, thời gian niêm yết và khả năng thanh toán nhanh.
Phạm Thanh Trung (2016) đã thực hiện nghiên cứu về chất lượng thông tin tài chính báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP Hồ Chí Minh, cùng với các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng này Nghiên cứu đề xuất hai nhóm nhân tố chính: công tác kế toán và khung pháp lý kế toán Để đánh giá chất lượng thông tin tài chính BCTC, tác giả áp dụng các tiêu chuẩn của Beest và cộng sự (2009), lựa chọn 9 khoản mục cụ thể, bao gồm: thích hợp (2 khoản mục), trung thực (2 khoản mục), dễ hiểu (2 khoản mục), có khả năng so sánh (2 khoản mục), và kịp thời (1 khoản mục).
Bảy nhân tố ảnh hưởng tích cực đến chất lượng thông tin tài chính báo cáo (CLTT BCTC) của các doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm: hình thức sổ sách kế toán, thuế, bộ máy kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, nhà quản lý, hệ thống chứng từ kế toán, và mục tiêu lập báo cáo tài chính (BCTC).
Bảng 1.2 Tổng hợp một số nghiên cứu Việt Nam về đề tài CLTT BCTC
Tên đề tài và tác giả Cách đo lường CLTTBCTC
Các nhân tố ảnh hưởng
1 “Đánh giá các nhân tố bên trong doanh nghiệp tác động đến chất lượng
TTKT trên BCTC của các CTNY ở sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí
Minh” (Cao Thị Lệ Thư , 2014)
- Các chỉ số thông tin công bố theo Fathi (2013)
- Quy mô DN, tỷ lệ thành viên không điều hành của HĐQT, tỷ lệ cổ phần sở hữu bởi Nhà nước
Nghiên cứu này nhằm xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến chất lượng thông tin kế toán trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam Điều này giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động và cải thiện độ tin cậy của thông tin tài chính, từ đó nâng cao hiệu quả trong việc ra quyết định của nhà đầu tư và các bên liên quan.
- Theo các đặc tính CL của BCTC
- Rủi ro kiểm toán, nhà quản trị DN, việc lập và trình bày BCTC, thuế, lợi ích và chi phí
3 “Tác động của QTCT đến CLTT
BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt
- Theo các đặc tính CL của BCTC
- Các nhân tố thuộc quản trị công ty
4 “Các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam” (Phạm
- Theo các đặc tính CL của BCTC
Hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) chịu ảnh hưởng từ áp lực thuế, đào tạo và bồi dưỡng nhân viên, cũng như năng lực nhân viên kế toán (NVKT) Hiệu quả của kiểm soát nội bộ (KSNB) và báo cáo tài chính (BCTC) được kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng thông tin kế toán (PMKT) Ngoài ra, hai biến kiểm soát như niêm yết và quy mô doanh nghiệp (DN) cũng góp phần ảnh hưởng đến các yếu tố trên.
5 “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán – bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam”
- Đo lường theo CL lợi nhuận trên 2 cơ sở kế toán và thị trường
- Các nhóm nhân tố: cơ cấu sở hữu, QTCT, đặc điểm thị trường, hiệu quả công ty, cơ cấu vốn
Đo lường tác động của các yếu tố đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính là một vấn đề quan trọng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP Hồ Chí Minh Nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng và đánh giá mức độ tác động của chúng đến chất lượng báo cáo tài chính, từ đó giúp các doanh nghiệp cải thiện quy trình báo cáo và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động tài chính.
- Theo các đặc tính CL của BCTC
Hình thức sổ sách kế toán và bộ máy kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý thuế và hỗ trợ nhà quản lý Hệ thống tài khoản kế toán cần được thiết lập rõ ràng để đạt được mục tiêu lập báo cáo tài chính (BCTC) chính xác Đồng thời, hệ thống chứng từ kế toán cũng cần được tổ chức một cách khoa học để đảm bảo tính minh bạch và hợp lệ trong các giao dịch tài chính.
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
Các phương pháp đo lường CLTT BCTC
Theo Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), có 2 phương pháp đo lường CLTT BCTC được sử dụng chủ yếu, đó là:
Phương pháp đo lường chất lượng thông tin tài chính báo cáo tài chính (CLTT BCTC) dựa trên các đặc tính của chất lượng báo cáo tài chính được công bố bởi các tổ chức nghề nghiệp kế toán toàn cầu và các chuẩn mực kế toán tại các quốc gia Những đặc tính quan trọng như tính thích hợp, tính trung thực, khả năng so sánh, tính dễ hiểu, khả năng kiểm chứng và tính kịp thời được xác định bởi IASB và FASB, thường được các nhà nghiên cứu áp dụng để đánh giá CLTT.
BCTC (Beest và cộng sự (2009), Braam & Beest (2013), Nguyễn Trọng Nguyên
- Phương pháp (2): Đo lường theo CL lợi nhuận
Các khoản dồn tích có điều chỉnh được xác định thông qua nhiều mô hình nghiên cứu, cho thấy rằng giá trị cao của các khoản dồn tích này có thể dẫn đến chất lượng thông tin tài chính (CLTT BCTC) kém, và ngược lại Một số nghiên cứu tiêu biểu trong lĩnh vực này bao gồm DeAngelo (1986), Jones (1991), Dechow và cộng sự (1995), cùng Kothari và cộng sự (2005).
Giá trị thích hợp của TTKT được thể hiện qua một số mô hình, bao gồm mô hình tỷ suất sinh lợi do Easton & Harris phát triển vào năm 1991, và mô hình EBO của Edward Bell Ohlson Mô hình EBO này đã được cải tiến với việc bổ sung biến sự thay đổi thu nhập trên một cổ phiếu (EPS1), dẫn đến việc hình thành mô hình EBO điều chỉnh.
Sử dụng phương pháp (2) là những nghiên cứu: Klai & Omri (2011), Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), Jouni Fathi (2013)
Việc đo lường chất lượng thông tin trong báo cáo tài chính (CLTT BCTC) có nhiều phương pháp khác nhau, phụ thuộc vào mục tiêu và không gian nghiên cứu của từng đề tài Mục tiêu cuối cùng của các nhà nghiên cứu là xác định các đặc tính chất lượng để cải thiện hơn nữa chất lượng thông tin trong báo cáo tài chính.
Nhận xét các nghiên cứu
Từ các nghiên cứu có liên quan trên thế giới và tại Việt Nam được liệt kê ở trên, một số nhận xét được rút ra như sau:
Nghiên cứu về chất lượng thông tin báo cáo tài chính được tiếp cận qua hai phương pháp chính: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng, trong khi nghiên cứu định lượng được thực hiện để đo lường mức độ tác động của những yếu tố này đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính.
- Về cách đo lường CLTT BCTC: chủ yếu dựa vào các đặc tính chất lượng được công bố bởi IASB, FASB và CL lợi nhuận
Các nhân tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp có thể được phân chia thành ba nhóm chính: Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp, bao gồm quản trị công ty, quản trị lợi nhuận, hệ thống kế toán máy tính, chất lượng phần mềm kế toán, năng lực nhân viên kế toán, kiểm soát nội bộ, và giáo dục, đào tạo nhân viên Nhóm nhân tố bên ngoài, bao gồm kiểm toán độc lập và thuế Cuối cùng, nhóm nhân tố thuộc đặc điểm của doanh nghiệp như niêm yết, quy mô, cơ cấu sở hữu, đòn bẩy và lợi nhuận.
- Về mức độ ảnh hưởng và chiều hướng của các nhân tố ảnh hưởng có sự khác biệt giữa các nghiên cứu.
Xác định khe hổng nghiên cứu
Trước đây, nghiên cứu về chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính (CLTT BCTC) thường chỉ tập trung vào doanh nghiệp niêm yết (DNNY), trong khi nghiên cứu chuyên sâu cho các doanh nghiệp theo từng ngành nghề cụ thể, đặc biệt là những ngành có báo cáo tài chính đặc thù như bảo hiểm và ngân hàng, vẫn còn hạn chế.
Các nghiên cứu về chất lượng thông tin báo cáo tài chính (CLTT BCTC) trong ngành ngân hàng còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào quản trị lợi nhuận và chất lượng lợi nhuận Nghiên cứu của Adebiyi & Olowookere (2016) đánh giá CLTT BCTC tại Nigeria dựa trên các khoản dồn tích theo công thức của Dechow và cộng sự (1995), nhưng phương pháp này gặp nhiều hạn chế do đặc thù kế toán của ngành ngân hàng Olowokure và cộng sự (2016) cũng thực hiện nghiên cứu tương tự, nhưng sử dụng khoản dự phòng rủi ro tín dụng để đo lường Điều này cho thấy rằng việc áp dụng quản trị lợi nhuận để đánh giá CLTT BCTC không phản ánh đầy đủ các tiêu chí và tiêu chuẩn mà IASB, FASB đã đề ra.
Nghiên cứu của năm 2017 đã xác định các đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính (BCTC) như tiêu chuẩn cho chất lượng thông tin tài chính, nhưng chỉ tập trung vào các yếu tố nội bộ và đặc điểm của ngân hàng, mà chưa xem xét tác động của các yếu tố bên ngoài Trong khi đó, nghiên cứu của Tarus và cộng sự (2015) chỉ đề cập đến tính thích hợp của BCTC và hai yếu tố chính là năng lực nhân viên và kế toán trên máy tính, mà chưa xem xét đầy đủ các yếu tố khác, dẫn đến việc chưa đánh giá toàn diện các đặc tính của chất lượng thông tin tài chính BCTC.
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin tài chính (CLTT BCTC) của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNY) trong các ngành như xây dựng, vận tải và bất động sản Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tập trung vào CLTT BCTC của ngành ngân hàng, do những đặc thù riêng biệt và quy định kế toán khác biệt trong lĩnh vực này.
Định hướng nghiên cứu
Luận văn sẽ áp dụng các thuộc tính chất lượng theo IASB và FASB để đánh giá chất lượng thông tin tài chính báo cáo (CLTT BCTC) Nghiên cứu sẽ xác định các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất mô hình nghiên cứu cùng với thang đo cho biến phụ thuộc CLTT BCTC Các kỹ thuật phân tích sẽ được thực hiện để làm rõ các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của chúng đến CLTT BCTC của các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả sẽ đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng CLTT BCTC.
Trong chương này, tác giả tổng hợp các nghiên cứu quốc tế và trong nước về chất lượng thông tin tài chính báo cáo (CLTT BCTC) cùng các yếu tố ảnh hưởng đến nó Chủ đề này thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhưng nhiều nghiên cứu lại không xem xét ngành ngân hàng Mặc dù các đề tài nghiên cứu về ngân hàng tại Việt Nam đã gia tăng trong thời gian qua, vẫn chưa có nghiên cứu nào tập trung vào CLTT BCTC của ngân hàng Do đó, việc nghiên cứu CLTT BCTC trong lĩnh vực ngân hàng là rất cần thiết.
Chương 2 sẽ nêu ra các lý thuyết cơ sở, khái niệm liên quan, các cơ sở để xây dựng thang đo các nhân tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu, lập ra bảng câu hỏi để phỏng vấn ý kiến các chuyên gia.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Khái niệm CLTT
Thông tin là một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày, được tổ chức theo các quan hệ logic và trở thành một phần của tri thức Trong lĩnh vực kinh tế, thông tin bao gồm dữ liệu từ sự kiện và con số, được xử lý để tạo ra sự hiểu biết và nhận thức tốt hơn về các vấn đề quan tâm Thông tin có nhiều mức độ chất lượng khác nhau, gây ra nhiều tranh luận do tính chủ quan trong đánh giá Dưới đây là một số quan điểm về khái niệm chất lượng thông tin từ các nhà khoa học trong và ngoài nước.
Theo nghiên cứu của Wang & Strong (1998) và Batini & Scannapieco (2006), chất lượng thông tin cần đáp ứng bốn tiêu chuẩn quan trọng: (1) Bản chất bên trong của thông tin (Intrinsic IQ) yêu cầu tính chính xác, khách quan và đáng tin cậy; (2) Khả năng tiếp cận của thông tin (Accessibility IQ) liên quan đến tính dễ truy cập và bảo mật; (3) Ngữ cảnh của thông tin (Contextual IQ) bao gồm tính thích hợp, giá trị gia tăng, tính kịp thời, độ đầy đủ và số lượng dữ liệu; và (4) Trình bày thông tin (Representational IQ) cần có khả năng diễn giải, dễ hiểu, súc tích và nhất quán.
Theo CobiT, CLTT phải đáp ứng bảy tính chất sau: hữu hiệu và hiệu quả, bảo mật, toàn vẹn, sẵn sàng, tuân thủ, đáng tin cậy
Theo Huang và cộng sự (1999), chất lượng thông tin (CLTT) được định nghĩa là thông tin phù hợp với nhu cầu của người dùng Bên cạnh đó, thông tin không chỉ cần đáp ứng yêu cầu của người dùng mà còn phải tuân thủ các thông số kỹ thuật đã được xác định (Kahn & Strong, 1998).
Dựa trên các khái niệm về chất lượng thông tin (CLTT) từ các nhà nghiên cứu, CLTT được định nghĩa là tập hợp các tiêu chuẩn quy định cho thông tin, bao gồm tính chính xác, đầy đủ, tuân thủ, khách quan, tin cậy, có thể giải thích, truy cập, hiểu được, rõ ràng, súc tích, nhất quán và có thể so sánh Những tiêu chuẩn này nhằm đáp ứng kịp thời, đầy đủ, thích hợp và chính xác các yêu cầu của người sử dụng.
Khái niệm CLTT BCTC
Chất lượng thông tin tài chính (CLTT BCTC) phụ thuộc vào các đặc tính được nêu trong báo cáo của IASB và FASB cũng như trong các quy định của các nước Bài viết sẽ phân tích từng quan điểm về CLTT BCTC để lựa chọn các đặc tính phù hợp cho nghiên cứu Các quy định về CLTT BCTC được thiết lập bởi các tổ chức kế toán như FASB và IASB, cũng như trong các tiêu chuẩn của Nhà nước như CMKT Việt Nam và Ủy ban CMKT Úc (AASB) Theo IASB (2010), CLTT BCTC bao gồm hai thuộc tính cơ bản là trung thực và thích hợp, cùng với bốn thuộc tính bổ sung: đáng tin cậy, có thể hiểu được, kịp thời và có thể so sánh được FASB (2010) cũng xác định các đặc tính này trong khuôn khổ chuẩn mực kế toán tài chính tại Hoa Kỳ.
BCTC được phân theo 2 nhóm là: Đặc điểm cơ bản (tính thích hợp và đáng tin cậy);
(2) và đặc điểm thứ yếu (có thể so sánh được và nhất quán) (FASB, 2010)
Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS CLTT BCTC được xây dựng dựa trên các thuộc tính quan trọng như trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể so sánh, theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 1, 2002.
Quan điểm của các nhà nghiên cứu về CLTT BCTC
Bất kỳ báo cáo tài chính (BCTC) nào cũng phải tuân thủ các tiêu chuẩn về chất lượng theo quy định của IASB, FASB hoặc luật kế toán quốc gia Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng thông tin tài chính, nhưng đều nhấn mạnh các đặc tính của BCTC theo tiêu chuẩn IASB và FASB Theo Bushman & Smith (2001, 2003) trích dẫn từ Klai & Omri (2011), thông tin tài chính là cơ sở cho quyết định đầu tư của những người tham gia thị trường vốn, hữu ích cho chủ sở hữu, chủ nợ, đối tác công ty và cơ quan quản lý nhà nước Nó giúp xác định hiệu quả kinh doanh trong quá khứ, dự đoán khả năng sinh lợi trong tương lai và theo dõi hành động của nhà quản lý Thông tin công bố cần phải đáng tin cậy và phù hợp để hỗ trợ người dùng BCTC trong quá trình ra quyết định (Fathi, 2013).
Theo Beest và cộng sự (2009), việc đo lường chất lượng thông tin tài chính (CLTT BCTC) dựa trên các đặc tính định tính sẽ giúp đánh giá toàn diện BCTC theo yêu cầu của IASB và FASB Các tác giả cho rằng việc sử dụng công cụ để phát hiện hành vi quản trị lợi nhuận chủ yếu tập trung vào chất lượng lợi nhuận, phản ánh hiệu quả kinh doanh của công ty hơn là CLTT BCTC Tuy nhiên, CLTT BCTC là khái niệm rộng, không chỉ bao gồm thông tin tài chính mà còn liên quan đến công bố thông tin và các thông tin phi tài chính khác, giúp người dùng có cái nhìn toàn diện hơn về công ty Đánh giá CLTT BCTC theo các đặc tính của IASB và FASB sẽ xem xét các khía cạnh hữu ích của thông tin trên BCTC cho người sử dụng Tóm lại, các tiêu chuẩn đánh giá CLTT BCTC trong nghiên cứu của các tác giả và CMKT Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với công bố của FASB và IASB Luận văn này sẽ lựa chọn đo lường CLTT BCTC theo các đặc tính của IASB và FASB nhằm đánh giá toàn diện CLTT BCTC của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, với các đặc tính xác định bao gồm: thích hợp, trung thực, kịp thời, có khả năng so sánh, có thể hiểu được và có thể kiểm chứng.
Đặc tính nền tảng của CLTT:
Thông tin trong quyết định cần phải phù hợp với yêu cầu của người sử dụng, giúp họ đưa ra lựa chọn chính xác Để đạt được điều này, thông tin cần có tính dự đoán và xác nhận, mang lại giá trị thực sự cho người dùng (IASB, 2010).
Tính dự đoán cho phép người sử dụng tận dụng thông tin như nguồn dữ liệu đầu vào, từ đó đưa ra các kết quả dự đoán cho tương lai.
+ Tính xác nhận: khi thông tin xác nhận hoặc thay đổi các đánh giá trước đây
Trung thực của thông tin được đánh giá qua ba yếu tố chính: tính trung lập, tính đầy đủ và không có sai lệch trọng yếu (IASB, 2010) Những yếu tố này đảm bảo rằng thông tin được cung cấp là chính xác và đáng tin cậy.
Báo cáo tài chính cần đảm bảo tính đầy đủ, cung cấp tất cả thông tin thiết yếu để người đọc có thể hiểu rõ về hiện tượng được trình bày Điều này bao gồm việc mô tả và giải thích các sự kiện quan trọng liên quan đến đặc trưng và bản chất của các khoản mục, cũng như các yếu tố và hoàn cảnh có thể ảnh hưởng đến chúng, nhằm xác định giá trị chính xác (IASB, 2010).
Mô tả trung lập là việc trình bày thông tin tài chính mà không có sự thiên lệch, thành kiến hay điều chỉnh nhằm tạo ra cái nhìn thuận lợi hoặc bất lợi cho người dùng Thông tin trung lập không có nghĩa là không có mục tiêu, mà thực tế, nó có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng, miễn là nó có tính thích hợp (IASB, 2010)
Không sai sót có nghĩa là không có lỗi trong việc mô tả các hiện tượng và quy trình sản xuất thông tin đã chọn Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc mọi thông tin đều hoàn toàn chính xác Chẳng hạn, các ước lượng không thể được đánh giá là chính xác tuyệt đối Dù vậy, nếu các ước tính được trình bày rõ ràng, giải thích đúng về bản chất và giới hạn của quy trình ước lượng, và quy trình ước lượng được thực hiện mà không có sai sót, thì chúng có thể được coi là trung thực (IASB, 2010).
Các đặc tính làm gia tăng CLTT:
- Kịp thời: thông tin luôn sẵn có cho việc ra quyết định Nói chung, thông tin càng cũ thì càng ít hữu ích (IASB, 2010)
Khả năng so sánh thông tin báo cáo giữa các thực thể và qua các khoảng thời gian khác nhau là rất quan trọng, giúp người dùng nhận diện các điểm tương đồng và khác biệt Tính nhất quán, mặc dù liên quan đến so sánh, nhưng lại mang ý nghĩa khác, thể hiện việc sử dụng phương pháp giống nhau cho cùng một khoản mục qua các giai đoạn Để thông tin có thể so sánh được, nó cần phải nhất quán (IASB, 2010).
Thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) cần phản ánh chính xác thực tế kinh tế, với sự đồng thuận từ các bên liên quan độc lập và có hiểu biết Điều này không yêu cầu sự đồng ý hoàn toàn, nhưng cần đảm bảo mô tả được trình bày một cách trung thực Việc kiểm chứng thông tin phải bao gồm cả số lượng và giá trị, có thể thực hiện qua các phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp (IASB, 2010).
Phân loại và mô tả thông tin một cách rõ ràng và súc tích giúp người đọc dễ hiểu hơn Một số hiện tượng phức tạp có thể làm cho báo cáo tài chính (BCTC) khó tiếp cận Việc loại bỏ thông tin về những hiện tượng này có thể làm cho BCTC trở nên dễ hiểu hơn, nhưng đồng thời cũng dẫn đến việc báo cáo không đầy đủ, gây ra nguy cơ hiểu sai cho người sử dụng (IASB, 2010).
Các cơ sở lý thuyết
2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory)
Lý thuyết này được phát triển bởi nghiên cứu của Jensen & Meckling (1976)
Lý thuyết về mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm và bên đại diện cho thấy bên ủy nhiệm ủy quyền cho bên đại diện thực hiện các quyết định và xử lý công việc trong hoạt động của công ty.
Trong công ty cổ phần, cổ đông ủy quyền cho nhà quản lý để vận hành công ty nhằm tối đa hóa lợi ích, nhưng nhà quản lý thường có xu hướng tư lợi Cổ đông mong muốn kết quả kinh doanh bền vững, trong khi nhà quản lý chỉ chú trọng lợi nhuận ngắn hạn, dẫn đến xung đột lợi ích do sự phân chia quyền sở hữu và quyền kiểm soát Xung đột này là vấn đề quan trọng cần giải quyết thông qua các nguyên tắc quản trị Do đó, doanh nghiệp cần áp dụng các chính sách quản trị doanh nghiệp hiệu quả để giám sát hoạt động của nhà quản lý, bảo vệ lợi ích cổ đông Cổ đông cũng cần thiết lập hoạt động giám sát phù hợp để đảm bảo thông tin minh bạch từ nhà quản lý, từ đó nâng cao chất lượng thông tin công bố Lý thuyết này giải thích sự cần thiết của yếu tố quản trị ngân hàng và kiểm soát nội bộ trong mô hình nghiên cứu của luận văn.
Áp lực thuế là một yếu tố quan trọng khiến các nhà quản lý điều chỉnh các khoản mục trên báo cáo tài chính Trong những thời điểm khó khăn về tài chính, họ có thể giảm lợi nhuận để giảm số thuế phải nộp, vì thuế thường dựa vào lợi nhuận Hành động này nhằm bảo vệ danh tiếng và thu hút sự ưu ái từ cổ đông, đồng thời tránh các hình phạt theo hợp đồng.
2.3.2 Lý thuyết xử lý thông tin (Information Processing Theory) Đây là một trong những lý thuyết thuộc về lý thuyết ngẫu nhiên (Bolon, 1998), lý thuyết này được đưa ra vào năm 1973 bởi Galbraith Theo đó, một tổ chức hoạt động có tốt không, điều này phụ thuộc vào năng lực xử lý thông tin có thỏa mãn các nhu cầu thông tin không Và năng lực xử lý đó có hiệu quả hay không thì phải xem nó có đáp ứng được nhu cầu thông tin tại đơn vị không Trong môi trường kinh doanh, nếu khả năng xử lý thông tin của các công ty thỏa mãn các nhu cầu về thông tin thì sẽ giúp cho công việc kinh doanh của tổ chức có được hiệu quả cao
Mỗi loại hình tổ chức có nhu cầu thông tin riêng, vì vậy việc xử lý thông tin cần được tổ chức một cách linh hoạt để đáp ứng yêu cầu của từng đơn vị Điều này giúp giảm thiểu sự không chắc chắn từ môi trường, từ đó hỗ trợ tổ chức đưa ra những quyết định chính xác, hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Lý thuyết này giải thích tác động của chất lượng phần mềm kế toán (PMKT) đến chất lượng thông tin trong báo cáo tài chính (BCTC) Doanh nghiệp sở hữu PMKT chất lượng cao có khả năng xử lý thông tin hiệu quả, đáp ứng tốt nhu cầu thông tin và phù hợp với đặc điểm của tổ chức.
Doanh nghiệp (DN) sẽ nhận được thông tin chính xác và kịp thời, từ đó có cơ sở vững chắc để đưa ra các quyết định kinh doanh Điều này góp phần cải thiện chất lượng thông tin tài chính báo cáo (CLTT BCTC) của DN.
2.3.3 Lý thuyết quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management-TQM)
Theo TCVN ISO 8402:1999, quản lý chất lượng toàn diện (TQM) là phương pháp quản lý tổ chức tập trung vào chất lượng, với sự tham gia của tất cả các thành viên nhằm đạt được thành công lâu dài thông qua việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng và mang lại lợi ích cho tổ chức và xã hội Để đạt được sự tăng trưởng bền vững, các tổ chức cần huy động nguồn lực con người thông qua sự tham gia của toàn bộ nhân viên Lý thuyết này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo và tập huấn nhân viên, các chính sách khen thưởng, xây dựng hệ thống hướng vào nhân viên và tổ chức các hoạt động nhóm.
Một trong những đặc điểm quan trọng của TQM là việc thường xuyên đào tạo và tập huấn cho các thành viên trong doanh nghiệp, nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng thực hiện công việc.
Năng lực của nhân viên kế toán và chương trình đào tạo nhân viên đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng thông tin tài chính báo cáo Doanh nghiệp thường xuyên tổ chức các khóa huấn luyện nhằm cải thiện kỹ năng cho nhân viên kế toán sẽ giúp họ nắm bắt kịp thời các thay đổi trong quy định kế toán Khi thông tin kế toán được xử lý nhanh chóng và chính xác, chất lượng thông tin tài chính báo cáo sẽ được nâng cao đáng kể.
Các nhân tố ảnh hưởng đến CLTTBCTC của NHTM
Quản trị doanh nghiệp (QTDN) đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) (Cohen và cộng sự, 2004) Nghiên cứu đã chỉ ra rằng quản trị yếu kém có liên quan đến chất lượng BCTC kém, bao gồm thao túng lợi nhuận và gian lận BCTC (Dechow và cộng sự, 1996; Beasley, 1996; Beasley và cộng sự, 2000; Klein, 2002) Đặc điểm của QTDN, như tính độc lập của hội đồng quản trị (HĐQT), có thể cải thiện việc công bố thông tin chất lượng (Beekes và cộng sự, 2004) Hơn nữa, quy mô lớn hơn của HĐQT có thể cung cấp kiến thức và năng lực giám sát tốt hơn, dẫn đến chất lượng thông tin tài chính cao hơn (Haji & Ghazali, 2013).
Theo Klai & Omri (2011), chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) bị ảnh hưởng bởi cơ cấu quản trị Sự kiểm soát của Nhà nước và các tổ chức tài chính có mối liên hệ với chất lượng BCTC cao, trong khi ảnh hưởng từ cổ đông nước ngoài, cổ đông gia đình và cổ đông lớn có thể dẫn đến chất lượng BCTC kém.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng kiến thức chuyên môn của ban quản trị có ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) Sự hiện diện của các chuyên gia trong hội đồng quản trị tạo ra mức độ tin cậy cao hơn cho BCTC (Onourah & Imence, 2016) Nghiên cứu của Ismail & King (2007) cho thấy kiến thức kế toán của chủ sở hữu và nhà quản lý giúp tích hợp công nghệ thông tin với chiến lược kinh doanh Tuy nhiên, Kankanamage (2015) đã chỉ ra rằng chuyên môn của hội đồng quản trị có thể có tác động tiêu cực đáng kể đến chất lượng BCTC, khi sử dụng chỉ số QTLN làm thước đo.
Tại Việt Nam, Nguyễn Trọng Nguyên (2016), Nguyễn Thị Phương Hồng
Nghiên cứu của Phạm Quốc Thuần (2016) đã chỉ ra rằng các yếu tố thuộc quản trị doanh nghiệp (QTDN) có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng thông tin tài chính báo cáo (CLTT BCTC), bao gồm đặc điểm của hội đồng quản trị, ủy ban kiểm toán, ban kiểm soát, cơ cấu sở hữu và sự hỗ trợ từ ban quản trị Ngoài ra, luận văn thạc sĩ của Phan Minh Nguyệt (2014) và Phạm Thanh Trung (2016) cũng cung cấp thêm bằng chứng về mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa nhà quản trị và chất lượng thông tin tài chính báo cáo.
Ban quản trị, với kiến thức sâu về kế toán tài chính, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) Sự giám sát của họ không chỉ hạn chế hành vi gian lận mà còn quản trị lợi nhuận, từ đó cải thiện chất lượng BCTC Họ có khả năng lựa chọn hệ thống thông tin phù hợp với nhu cầu của đơn vị, và can thiệp vào quy trình BCTC sẽ góp phần nâng cao chất lượng báo cáo.
Bảng 2.1 Thang đo Quản trị ngân hàng
Thang đo Cơ sở xây dựng
Ban quản trị ngân hàng có hiểu biết nhất định về lĩnh vực BCTC của kế toán
Ismail & King (2007), Phạm Thanh Trung (2016), Phan Minh Nguyệt (2014)
Ban quản trị ngân hàng có quan tâm tới công tác kế toán
Ban quản trị ngân hàng dựa vào các thông tin trên BCTC để đưa ra các quyết định kinh tế của ngân hàng
Ban quản trị ngân hàng có can thiệp vào việc ghi chép và lập BCTC của bộ phận kế toán
(Nguồn: Tham khảo từ các nghiên cứu trước) 2.4.2 Kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đã được công nhận là công cụ quan trọng để đảm bảo chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) cao Theo COSO (2013), KSNB là quy trình do ban giám đốc, quản lý và nhân viên thực hiện nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu về hoạt động, báo cáo và tuân thủ Mục tiêu chính của KSNB bao gồm việc tạo ra BCTC đáng tin cậy, nâng cao hiệu quả hoạt động và đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành Để đạt được những mục tiêu này, cần áp dụng đầy đủ các thành phần của KSNB như môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, hệ thống thông tin và truyền thông, cũng như giám sát trong tất cả các hoạt động.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng thông tin tài chính (CLTT) trong báo cáo tài chính (BCTC) Cụ thể, nghiên cứu của Doyle và cộng sự (2007) cho thấy sự yếu kém của KSNB dẫn đến chất lượng BCTC thấp Trong khi đó, Altamuro & Beatty (2010) khẳng định rằng cải tiến trong giám sát và báo cáo KSNB có thể nâng cao CLTT BCTC trong ngành ngân hàng Ngoài ra, Phạm Quốc Thuần (2016) cũng đã chứng minh mối quan hệ thuận chiều giữa hiệu quả KSNB và CLTT BCTC.
Trong ngành ngân hàng, việc tuân thủ các nguyên tắc kiểm soát nội bộ (KSNB) là rất quan trọng để đảm bảo ngân hàng tuân thủ các quy định pháp luật và chính sách nhà nước Một hệ thống KSNB hiệu quả không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh mà còn ngăn chặn sai sót và gian lận, đảm bảo số liệu kế toán được cung cấp kịp thời và chính xác, từ đó nâng cao độ tin cậy của thông tin báo cáo tài chính (BCTC).
Do đó, hệ thống KSNB càng vững mạnh và hiệu quả thì CLTT BCTC đạt được càng cao
Thang đo dùng để đánh giá nhân tố KSNB được tác giả kế thừa từ Phạm Quốc Thuần (2016)
Bảng 2.2 Thang đo Kiểm soát nội bộ
Thang đo Cơ sở xây dựng
Ngân hàng thiết lập các quy định và thủ tục kiểm soát nhằm đảm bảo ngân hàng tuân thủ theo các quy định pháp luật
Hoạt động KSNB tại ngân hàng giúp ngăn ngừa hiệu quả gian lận và các sai sót trên BCTC
Hoạt động KSNB tại ngân hàng thường xuyên kiểm tra, giám sát việc đảm bảo CLTT BCTC của ngân hàng
(Nguồn: Tham khảo từ Phạm Quốc Thuần (2016))
2.4.3 Chất lượng phần mềm kế toán
Theo Sacer & Oluic (2013), trong môi trường kinh doanh hiện đại, việc áp dụng một hệ thống thông tin kế toán (TTKT) hỗ trợ bởi công nghệ thông tin là điều cần thiết Sử dụng công nghệ thông tin phù hợp trong xử lý dữ liệu kế toán không chỉ giảm chi phí sản xuất TTKT mà còn nâng cao độ tin cậy của thông tin, đồng thời tiết kiệm thời gian và công sức.
Việc sử dụng công nghệ thông tin hiệu quả không chỉ nâng cao tính kịp thời của thông tin tài chính, mà còn cải thiện chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) và độ chính xác của dữ liệu.
Tarus và cộng sự (2015) cũng đã kết luận rằng hệ thống kế toán trên máy tính có tác động tích cực đến tính chính xác của BCTC
Luận án của Phạm (2016) đã chỉ ra rằng chất lượng PMKT là một yếu tố mới, chưa được nghiên cứu trước đây trong các tác động đến chất lượng thông tin tài chính (CLTT BCTC) tại Việt Nam Nghiên cứu cũng cung cấp bằng chứng về mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa chất lượng PMKT và CLTT BCTC.
Trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng phần mềm kế toán (PMKT) phù hợp là điều cần thiết cho mọi doanh nghiệp Phần mềm này hỗ trợ doanh nghiệp nhanh chóng nhận được thông tin quan trọng bằng cách tự động hóa quy trình xử lý thông tin kế toán, từ nhập liệu, phân loại chứng từ đến in sổ kế toán và báo cáo tài chính Sử dụng PMKT phù hợp không chỉ nâng cao tính kịp thời và chính xác của thông tin tài chính mà còn cải thiện chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp, đặc biệt trong ngành ngân hàng Nghiên cứu này áp dụng thang đo chất lượng PMKT của Phạm Quốc Thuần (2016) để đánh giá hiệu quả.
Bảng 2.3 Thang đo Chất lượng phần mềm kế toán
Thang đo Cơ sở xây dựng
PMKT đảm bảo tuân thủ đúng chuẩn mực và quy định kế toán
PMKT có lưu trữ đủ thông tin cho phép theo dõi người truy cập
Mọi chỉnh sửa sổ sách kế toán đều được lưu lại vết tích trên PMKT
PMKT phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của NHTM
Sacer & Oluis (2013), Phạm Quốc Thuần (2016)
(Nguồn: Tham khảo từ Phạm Quốc Thuần (2016)) 2.4.4 Đào tạo nhân viên
Theo lý thuyết TQM, đào tạo nhân viên là một yếu tố quan trọng trong quản lý chất lượng toàn diện, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp Đầu tư vào đào tạo và huấn luyện lực lượng lao động là cần thiết để đảm bảo thành công trong việc thực hiện các chiến lược chất lượng Nghiên cứu cho thấy đào tạo nhân viên là một trong ba yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng trong tổ chức Bằng chứng định lượng cũng chỉ ra rằng có mối quan hệ tích cực giữa đào tạo nhân viên và chất lượng báo cáo tài chính.
Nguồn nhân lực kế toán đóng vai trò quan trọng trong quy trình lập và công bố báo cáo tài chính (BCTC) Nếu bộ máy kế toán thiếu năng lực chuyên môn, sẽ dẫn đến việc hiểu sai các chính sách kế toán, gây sai lệch thông tin trên BCTC và giảm chất lượng thông tin tài chính Do đó, doanh nghiệp cần chú trọng đến chương trình huấn luyện và bồi dưỡng chuyên môn cho nhân viên kế toán, nhằm nâng cao kỹ năng và cập nhật các quy định pháp luật mới trong lĩnh vực tài chính Đặc biệt, ngành ngân hàng có các quy định riêng về kế toán, vì vậy việc đào tạo nhân viên kế toán có năng lực chuyên môn đầy đủ là yếu tố cần thiết để cải thiện chất lượng thông tin tài chính trong ngành này.
Nhân tố Đào tạo nhân viên có thang đo được xây dựng dựa trên nghiên cứu của Hongjang Xu (2003) và Phạm Quốc Thuần (2016) như sau:
Bảng 2.4 Thang đo Đào tạo nhân viên
Thang đo Cơ sở xây dựng
Ngân hàng luôn hỗ trợ việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về kế toán và thuế cho nhân viên
Hongjang Xu (2003), Phạm Quốc Thuần (2016)
Ngân hàng có kế hoạch cụ thể để thực hiện công tác đào tạo kiến thức về kế toán và thuế cho nhân viên và ban quản trị
Ngân hàng kịp thời đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho nhân viên khi có những cập nhật, thay đổi trong hệ thống thông tin kế toán
Hongjang Xu (2003), Phạm Quốc Thuần (2016)
(Nguồn: Tham khảo từ nghiên cứu Phạm Quốc Thuần (2016)) 2.4.5 Năng lực nhân viên kế toán
Theo lý thuyết TQM, năng lực nhân viên là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) Năng lực này bao gồm trình độ đào tạo, kinh nghiệm và khả năng làm việc của nhân viên ở mọi cấp độ, từ quản lý đến nhân viên Cụ thể, kỹ năng và hiểu biết trong cả lĩnh vực kỹ thuật và kinh doanh là cần thiết Khi nhân viên có năng lực kế toán tham gia vào công tác lập BCTC, họ sẽ áp dụng kiến thức và kinh nghiệm để tạo ra báo cáo chất lượng Nghiên cứu của Tarus và cộng sự (2015) chỉ ra rằng trình độ đào tạo và kiến thức của nhân viên kế toán có ảnh hưởng đến tính chính xác của BCTC tại các ngân hàng ở Nakuru, Kenya.
Mô hình nghiên cứu đề xuất
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
(Nguồn: Tham khảo từ mô hình của Phạm Quốc Thuần (2016) )
Đặc điểm của ngành ngân hàng
Theo website của ngân hàng Nhà Nước: htttp://www.sbv.gov.vn/ thì trong hệ thống NHTM cổ phần trong nước có tổng cộng 31 ngân hàng (tính đến ngày 31/12/2018)
Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình ngân hàng thực hiện các hoạt động ngân hàng và kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận, theo quy định của Luật tổ chức tín dụng 2010 Các hoạt động chính của NHTM bao gồm nhận tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, mở tài khoản và cung ứng dịch vụ thanh toán, cùng với nhiều hoạt động khác theo quy định của pháp luật.
Chất lượng phần mềm kế toán Đào tạo nhân viên
Năng lực nhân viên kế toán
Chất lượng thông tin trên BCTC Áp lực từ thuế
Ngành ngân hàng có một số đặc điểm về hoạt động kinh doanh như sau:
Ngành ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, cung cấp tiền tệ và các giấy tờ có giá, đồng thời cung cấp dịch vụ liên quan Do liên quan đến chính sách tiền tệ của quốc gia, ngân hàng thường nhận được sự quan tâm đặc biệt từ chính phủ Hoạt động của các ngân hàng thương mại chịu sự chi phối lớn từ chính sách của Nhà nước, giúp thực hiện các công cụ quản lý vĩ mô nhằm điều hành nền kinh tế hiệu quả.
NHTM là tổ chức trung gian tín dụng, có nhiệm vụ huy động vốn nhàn rỗi và cho vay để đáp ứng nhu cầu đầu tư, tiêu dùng trong nền kinh tế Nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng được huy động từ bên ngoài, và hiệu quả hoạt động kinh doanh của họ có thể tác động đến nhiều ngành nghề khác nhau.
Một số đặc điểm về kế toán ngân hàng:
Kế toán ngân hàng có tính xã hội cao, không chỉ phản ánh hoạt động của ngân hàng mà còn thể hiện mối quan hệ giao dịch tiền tệ, tín dụng và thanh toán giữa ngân hàng với các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân.
- Tính giao dịch cao: khi nhận chứng từ kế toán thì phải tiến hành kiểm soát, xử lý, ghi sổ kế toán đồng thời
Kế toán ngân hàng đòi hỏi tính chính xác và kịp thời cao, vì liên quan đến nhiều doanh nghiệp và cá nhân Ngân hàng quản lý một khối lượng lớn vốn tiền tệ, bao gồm ngoại tệ, vàng, giấy tờ có giá và đất đai, thường xuyên biến động.
Do đó, kế toán ngân hàng cần phải có tính chính xác, kịp thời đáp ứng yêu cầu hạch toán
Chứng từ kế toán tại ngân hàng có khối lượng lớn và đa dạng, với quy trình luân chuyển phức tạp Nguyên nhân chính là do ngân hàng thực hiện nhiều nghiệp vụ khác nhau và số lượng giao dịch hàng ngày rất cao.
Tác giả đã trình bày khái niệm về CLTT và CLTT BCTC, cùng với các lý thuyết nền tảng như lý thuyết ủy nhiệm, lý thuyết xử lý thông tin và lý thuyết TQM Ngoài ra, bài viết còn đề cập đến cơ sở xây dựng các biến quan sát thành phần của các nhân tố.
Dựa trên kết luận từ các nghiên cứu trước và luận án của Phạm Quốc Thuần, tác giả đề xuất một mô hình nghiên cứu với biến phụ thuộc là chất lượng thông tin tài chính báo cáo (CLTT BCTC) và 6 biến độc lập đại diện cho các yếu tố ảnh hưởng Chương tiếp theo sẽ trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu của luận án.