1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ tác động của đặc điểm ban kiểm soát đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính

109 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (15)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu (11)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (18)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (19)
  • 5. Đóng góp của nghiên cứu (19)
  • 6. Kết cấu bài nghiên cứu (19)
  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN (21)
    • 1.1. Các nghiên cứu trên thế giới (21)
    • 1.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam (25)
    • 1.3. Khe hổng nghiên cứu (30)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (33)
    • 2.1. Các khái niệm (33)
      • 2.1.1 Khái niệm về chất lượng thông tin BCTC (33)
      • 2.1.2 Khái niệm về chất lượng lợi nhuận (Earnig quality) (38)
      • 2.1.3 Đo lường chất lượng lợi nhuận trên cơ sở kế toán (40)
    • 2.4. Một số mô hình nghiên cứu (0)
    • 2.3 Các lý thuyết nền (0)
      • 2.3.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) (0)
      • 2.3.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) và lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory) (0)
      • 2.3.3 Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Depence Theory) (0)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (57)
    • 3.1 Quy trình nghiên cứu (57)
    • 3.2 Phương pháp nghiên cứu (58)
    • 3.3. Mô hình nghiên cứu (58)
    • 3.4. Các giả thuyết nghiên cứu (59)
    • 3.5 Mô tả dữ liệu và phươn pháp thu thập thông tin (0)
    • 3.6 Mô hình hồi quy (64)
    • 3.7. Đo lường các biến (64)
      • 3.7.1. Đo lường biến phụ thuộc (64)
      • 3.7.2. Đo lường các biến độc lập (66)
    • 3.8. Quy trình phân tích dữ liệu (67)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN (70)
    • 4.1 Phân tích thực trạng chất lượng thông tin BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán (70)
    • 4.2 Mô tả các biến đặc điểm của Ban kiểm soát ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC (71)
    • 4.3 Kết quả phân tích tương quan và hồi quy (74)
      • 4.3.1. Lựa chọn mô hình ước lượng phù hợp (74)
      • 4.3.2. Kiểm định các khuyết tật của mô hình do vi phạm các giả định (78)
      • 4.3.3 Kết quả hồi quy (80)
    • 4.4 Bài luận kết quả nghiên cứu (83)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH (88)

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Để nâng cao chất lượng thông tin báo cáo tài chính (BCTC) của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trước tiên cần xác định các đặc điểm của Ban kiểm soát Tiếp theo, việc đo lường mức độ ảnh hưởng của những đặc điểm này đến chất lượng thông tin BCTC sẽ được thực hiện thông qua phân tích chất lượng lợi nhuận của các công ty.

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp định lượng để phân tích tác động của các đặc điểm BKS đến chất lượng thông tin trong báo cáo tài chính, sử dụng phần mềm Stata 12.0 làm công cụ hỗ trợ phân tích.

Tần suất họp của Ban Kiểm Soát (BKS), tỷ lệ cổ phần do Kiểm Soát viên (KSV) nắm giữ, cùng với trình độ học vấn của BKS đều ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trong báo cáo tài chính.

5 Kết luận và hàm ý chính sách

Nghiên cứu này mang lại ý nghĩa quan trọng cho CTNY và các cơ quan ban hành pháp luật, cung cấp cơ sở tham khảo để xây dựng quy định chi tiết về QTCT Đồng thời, CTNY có thể dựa vào nghiên cứu để phát triển bộ phận BKS phù hợp với quy định QTCT theo nghị định 71/2017/NĐ-CP, với tinh thần tự nguyện.

Từ khóa: Ban kiểm soát, Chất lượng thông tin báo cáo tài chính, Công ty niêm yết

LISTED IN VIETNAM STOCK EXCHANGE

Recent financial scandals, such as those involving Enron, Toshiba, WorldCom, Bibica Joint Stock Company, Bach Tuyet Joint Stock Company, and Truong Thanh Wood Industry Corporation, have raised significant concerns regarding the quality of financial statements in Vietnam and globally To ensure high-quality financial reporting, companies—particularly those listed on stock exchanges—must effectively manage the preparation of their financial statements, a process heavily influenced by corporate executives and the Supervisory Board Research by Biao Xie, N Davidson, Peter J DaDalt, Sonda Marrakchi Chtourou, and Jean Bedard (2001) indicates that the characteristics of the Board of Management and the Supervisory Board significantly impact profit behavior, underscoring the Supervisory Board's crucial role in enhancing the quality of financial statement information for publicly traded companies.

The author has chosen to focus her master's thesis in economics on the topic: "The Impact of Supervisory Board Characteristics on the Quality of Financial Statements of Companies Listed on the Vietnam Stock Exchange."

First: Identification of the characteristics of the Supervisory Board affecting the quality of financial statements information of companies listed on Vietnam Stock Exchange

Second: Measurement of the impact level of such characteristics on the quality of financial statements information through the profit quality of the companies listed on Vietnam Stock Exchange

3 Research method statements of the companies listed in Vietnam Stock Exchange with the analytical support tool, stata software 12.0

The study's regression analysis reveals four key characteristics of the Supervisory Board that significantly impact the quality of financial statement information: the financial accounting background of its members, the frequency of meetings, the education level of the board, and the total percentage of shares held by the board members.

This study's findings are crucial for both listed companies and law enforcement agencies, providing a foundational reference for the development of detailed corporate governance regulations Listed companies can utilize these insights to establish their Supervisory Boards in alignment with the corporate governance guidelines set forth in Decree 71/2017/ND-CP, promoting a spirit of voluntary compliance.

Keywords: The Supervisory Board, Information quality of financial reporting, The companies listed

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo Salechi và Azary (2008), Mohsen H et al (2016), báo cáo tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin tài chính cần thiết cho các đối tượng như nhà đầu tư, ngân hàng và cơ quan chính phủ một cách kịp thời và hợp lý Việc cung cấp báo cáo tài chính chất lượng có thể gia tăng hiệu quả đầu tư (Biddle và Hilary, 2006) Tuy nhiên, vẫn tồn tại khoảng cách giữa thông tin mà doanh nghiệp cung cấp và nhu cầu thông tin kế tiếp của người sử dụng (Nguyễn Trọng Nguyên, 2016).

Nhiều sự kiện đã xảy ra liên quan đến việc cung cấp báo cáo tài chính (BCTC) kém chất lượng, gây ra hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế cả trong nước và quốc tế Điển hình là vụ gian lận kế toán của công ty viễn thông WorldCom tại Mỹ vào đầu thế kỷ 21 và tập đoàn HealthSouth cũng tại Mỹ, cho thấy tầm quan trọng của việc đảm bảo tính minh bạch và chính xác trong báo cáo tài chính.

Vào năm 2011, vụ gian lận kế toán của công ty Enron, được biết đến như "Gã khổng lồ năng lượng" tại Texas, đã gây chấn động toàn cầu Enron, thành lập năm 1985, từng đạt doanh thu 111 tỷ USD vào năm 2000 và liên tục được tạp chí Fortune vinh danh là "Công ty sáng tạo nhất nước Mỹ" Tuy nhiên, các hành vi gian lận trong kế toán đã bị phanh phui, dẫn đến thiệt hại ít nhất 5 tỷ USD cho các công ty tín dụng, bảo hiểm và ngân hàng toàn cầu, trong khi các công ty tài chính Nhật Bản cũng chịu thiệt hại khoảng 8 tỷ USD Tương tự, tập đoàn Toshiba đã phải đối mặt với mức phạt từ 2,4 đến 3,2 tỷ USD do thông tin sai lệch trên báo cáo tài chính, ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh thương hiệu và khiến giá cổ phiếu của công ty giảm 23% kể từ tháng 4/2015.

Tại Việt Nam, Trần Thị Giang Tân (2009) chỉ ra rằng nhiều vụ việc đã xảy ra, gây ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế và làm giảm niềm tin của công chúng vào chất lượng thông tin tài chính báo cáo của các doanh nghiệp.

CTNY đã ghi nhận những biến động trên thị trường chứng khoán trong năm 2002, khi thông tin báo cáo tài chính (BCTC) kém chất lượng nổi bật với việc ghi nhận sai doanh thu và việc che giấu lỗ của công ty Bibica.

Năm 2007, công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết đã công bố báo cáo kiểm toán với lãi 2,25 tỷ đồng Tuy nhiên, sau khi thực hiện kiểm toán lại, kết quả cho thấy công ty đã lỗ 6,8 tỷ đồng Cả hai lần kiểm toán đều được thực hiện bởi công ty Kiểm toán và dịch vụ Tin học AISC.

Sự kiện của công ty cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành vào quý 2/2016 đã gây chấn động khi kiểm toán báo cáo tài chính phát hiện hơn 1.000 tỷ đồng hàng tồn kho biến mất, do công ty kiểm toán E&Y phát hiện Nguyên nhân chủ yếu là do việc không trích lập dự phòng cho khoản phải thu khó đòi và thiếu hụt gần 980 tỷ đồng hàng tồn kho trong giá vốn hàng bán, dẫn đến giá vốn trong 6 tháng đầu năm 2016 tăng vọt lên 1.690 tỷ đồng, gấp đôi doanh thu.

Do đó, Trường Thành lỗ gộp tới 807 tỷ đồng và lỗ ròng 1.073 tỷ đồng (Minh Châu,

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu, tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, kế thừa mô hình nghiên cứu trước nhằm đo lường chất lượng thông tin tài chính (CLTT BCTC) và xác định các đặc điểm của Ban kiểm soát ảnh hưởng đến CLTT BCTC Tác giả tiến hành các kiểm định phù hợp để xác định tác động của những đặc điểm này và sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để đo lường mức độ ảnh hưởng của Ban kiểm soát đến CLTT BCTC.

Tác giả đã thu thập dữ liệu nghiên cứu từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán, báo cáo tài chính năm và báo cáo tài chính hợp nhất của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP Hồ Chí Minh.

Hà Nội Sau đó tác giả sàng lọc dữ liệu và tiến hành thực hiện thống kê, mô tả dữ liệu nghiên cứu

Tác giả tiến hành phân tích dữ liệu bằng các mô hình Pooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) để xác định mô hình phù hợp nhất cho nghiên cứu Để hỗ trợ cho việc tính toán, phân tích và lập bảng biểu, tác giả sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2016 và STATA 12.0.

Đóng góp của nghiên cứu

Nghiên cứu này củng cố và mở rộng cơ sở lý thuyết về đặc điểm của Ban Kiểm Soát, đồng thời đánh giá tác động của nó đến chất lượng thông tin tài chính báo cáo tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nghiên cứu này cung cấp cơ sở giá trị để đánh giá chất lượng thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua phương pháp định lượng Kết quả kiểm định và mô hình hồi quy giúp xác định các yếu tố của Ban kiểm soát ảnh hưởng đến chất lượng thông tin tài chính Từ đó, các công ty niêm yết có thể tham khảo và áp dụng trong việc xây dựng bộ phận Ban kiểm soát nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của mình.

Kết cấu bài nghiên cứu

Nghiên cứu này gồm 5 chương như sau:

- Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

- Chương 2: Cơ sở lý thuyết

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu

- Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

Các nghiên cứu trên thế giới

Trong nghiên cứu của Hongjiang Xu và các cộng sự (2003) mang tên “Key issues of accounting information quality management: Australian case”, mục tiêu chính là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp Australia Các tác giả đã áp dụng phương pháp nghiên cứu tình huống, phỏng vấn 4 tổ chức khác nhau và thu thập dữ liệu qua phỏng vấn bán cấu trúc với các bên liên quan trong hệ thống kế toán Nghiên cứu này đã xây dựng mô hình với 4 biến độc lập, trong đó có yếu tố con người.

Hệ thống, (3) Tổ chức, (4) Nhân tố bên ngoài và 1 biến phụ thuộc là CLTT KT CLTT

KT được đo lường qua bốn thuộc tính chính của chất lượng thông tin báo cáo tài chính (BCTC): chính xác, kịp thời, đầy đủ và nhất quán Nghiên cứu cho thấy con người, hệ thống và tổ chức ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC, trong khi các yếu tố bên ngoài không có tác động Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp nói chung, không tập trung vào chất lượng thông tin BCTC của các công ty niêm yết Thang đo chất lượng thông tin tài chính được xác định dựa trên thuộc tính của BCTC, không dựa trên chất lượng lợi nhuận Nghiên cứu này được thực hiện bởi nhóm tác giả Biao Xie, Wallace N Davidson III và Peter.

J DaDalt (2003) “ Earnings management and corporate governance: the role of the board and the audit committee ” Các tác giả nghiên cứu về vai trò của HĐQT và Ủy ban kiểm toán đối với hành vi QTLN Với dữ liệu mẫu nghiên cứu là 282 công ty của

Nghiên cứu từ năm 1992 đến 1994 tại Mỹ đã áp dụng mô hình của Jones (1991) để điều tra hành vi quản trị công ty Kết quả cho thấy rằng, các công ty có Hội đồng Quản trị (HĐQT) độc lập hơn thực hiện hành vi quản trị công ty (QTLN) ít hơn Tần suất họp HĐQT càng cao thì hành vi QTLN càng giảm, do các cuộc họp thường xuyên tạo điều kiện cho việc thảo luận và giám sát hành vi này Ngoài ra, các công ty có HĐQT có nền tảng chuyên sâu về tài chính và kế toán cũng ít xảy ra hành vi QTLN, đặc biệt khi Ủy ban kiểm toán có ít nhất một thành viên có chuyên môn tài chính, điều này giúp giảm mức độ QTLN của người quản lý.

Nghiên cứu "Ủy ban kiểm toán, đặc điểm của ban giám đốc và chất lượng báo cáo tài chính: Nghiên cứu thực nghiệm trên thị trường chứng khoán Trung Quốc" của Qinghua và các cộng sự (2007) chỉ ra rằng có mối quan hệ giữa ủy ban kiểm toán, đặc điểm ban giám đốc và chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) của các công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Thâm Quyến và Thượng Hải Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 1192 công ty vào năm 2002, sử dụng mô hình quản trị lợi nhuận của Jones đã điều chỉnh để đo lường chất lượng lợi nhuận, cùng với phương pháp phân tích thống kê mô tả và hồi quy tuyến tính đa biến Kết quả cho thấy tính độc lập của ban giám đốc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng BCTC; khi tỷ lệ ban giám đốc độc lập vượt quá 1/3, chất lượng BCTC được cải thiện Ngoài ra, đặc điểm chuyên môn của hội đồng quản trị cũng đóng vai trò thiết yếu trong hiệu quả giám sát và chất lượng BCTC Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy mối liên hệ giữa chất lượng BCTC và các yếu tố hành vi của ban giám đốc như tần suất họp hay tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu.

Nghiên cứu này chỉ ra ba hạn chế chính Thứ nhất, nền tảng thể chế tại Trung Quốc ảnh hưởng đến đặc điểm của ban giám đốc, như quy định yêu cầu ít nhất 1/3 thành viên là giám đốc độc lập từ ngày 30/06/2003, điều này có thể làm giảm độ tin cậy của kết luận Thứ hai, mặc dù tác giả đã sử dụng một số biến kiểm soát như quy mô công ty và đòn bẩy tài chính trong mô hình hồi quy, nghiên cứu vẫn không thể xem xét tất cả các yếu tố liên quan, dẫn đến độ lệch trong đo lường chất lượng lợi nhuận Cuối cùng, mặc dù có sự tương quan giữa đặc điểm ban giám đốc và chất lượng báo cáo tài chính, nghiên cứu không thể làm rõ cách mà các đặc điểm này ảnh hưởng và cải thiện chất lượng báo cáo tài chính.

Nghiên cứu của Ahmad Al-Hiyari và các cộng sự (2013), “Factors that Affect

Nghiên cứu "Triển khai Hệ thống Thông tin Kế toán và Chất lượng Thông tin Kế toán: Khảo sát tại Đại học Utara Malaysia" nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán tại Malaysia, dựa trên các nghiên cứu trước Mô hình nghiên cứu gồm ba biến độc lập: (1) Nguồn nhân lực, (2) Cam kết từ phía các nhà quản lý, và (3) Vận hành hệ thống thông tin kế toán và chất lượng dữ liệu Biến phụ thuộc là chất lượng thông tin kế toán được đo lường qua bốn thuộc tính của chất lượng báo cáo tài chính: chính xác, kịp thời, đầy đủ và nhất quán, cùng với một biến trung gian là chất lượng hệ thống thông tin kế toán.

Nghiên cứu định lượng của các tác giả đã khảo sát cựu sinh viên trường đại học Utara Malaysia đang làm việc tại các công ty Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có mối quan hệ ý nghĩa giữa nguồn nhân lực, chất lượng hệ thống thông tin kế toán và chất lượng thông tin kế toán.

Nghiên cứu cho thấy rằng nguồn lực con người trong các doanh nghiệp tại Malaysia ảnh hưởng đến chất lượng thông tin tài chính Tuy nhiên, nghiên cứu không phân tích cụ thể các đặc điểm cá nhân trong doanh nghiệp, do đó không thể áp dụng kết quả này cho đề tài hiện tại.

Nghiên cứu của Ahsan Habib & Mahmud Hossain (2013) mang tên “CEO/CFO characteristics and financial reporting quality: A review” phân tích sự liên kết giữa đặc điểm của CEO/CFO và chất lượng báo cáo tài chính Mục tiêu chính là đánh giá mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và CEO/CFO, ảnh hưởng của sự tự tin quá mức trong quản lý, cùng với tác động của giới tính CEO/CFO đối với kết quả báo cáo tài chính Nghiên cứu tổng hợp các mối quan hệ như giới tính và sự thay đổi trong chất lượng báo cáo tài chính, mối liên hệ giữa thu nhập của CEO/CFO và chất lượng báo cáo tài chính, cũng như ảnh hưởng của tính cách tự tin của CEO/CFO đến chính sách kế toán Kết quả cho thấy sự đa dạng giới tính có thể nâng cao hiệu quả quản lý, với sự gia tăng số lượng CEO nữ tại các công ty Mỹ và yêu cầu bổ nhiệm giám đốc nữ tại châu Âu Hơn nữa, thu nhập của CEO/CFO ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính, và tính cách tự tin của CEO/CFO có thể dẫn đến việc che giấu hậu quả tiêu cực Cuối cùng, sự tham gia của CEO trong việc lựa chọn Hội đồng quản trị cũng ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán, trong khi ban giám đốc độc lập được coi là yếu tố quan trọng trong quản trị doanh nghiệp.

Nghiên cứu chỉ ra rằng, nhóm tác giả tập trung vào tác động của CEO và CFO đối với chất lượng báo cáo tài chính (BCTC), trong khi không xem xét ảnh hưởng của Ban kiểm soát đến chất lượng BCTC.

Nghiên cứu của Guanggui Ran và các cộng sự (2014) mang tên “Supervisory board characteristics and accounting information quality: Evidence from China” nhằm mục đích kiểm tra hiệu quả của Ban kiểm soát tại Trung Quốc liên quan đến chất lượng thông tin kế toán Cụ thể, nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa các đặc điểm của giám sát viên và chất lượng thông tin tài chính Tác giả đã tiến hành một phân tích toàn diện về đặc điểm của các giám sát viên trong các lý thuyết nhằm phát hiện các tranh luận xung quanh Ban kiểm soát tại Trung Quốc Đồng thời, nghiên cứu cũng xác định các đặc điểm cơ bản của chất lượng thông tin kế toán trong mối quan hệ với Ban kiểm soát.

Nghiên cứu được thực hiện bởi nhóm tác giả thông qua phương pháp định lượng, với dữ liệu thu thập từ 2379 công ty giao dịch trên thị trường chứng khoán Trung Quốc, bao gồm 1769 doanh nghiệp.

Bài nghiên cứu trình bày hai mô hình, trong đó mô hình thứ nhất nhấn mạnh rằng báo cáo tài chính chủ yếu phục vụ cho cổ đông Độ tin cậy của thông tin kế toán là yếu tố then chốt cho quyết định đầu tư của cổ đông Khi thông tin kế toán có chất lượng cao, giá cổ phiếu sẽ phản ứng mạnh mẽ với sự thay đổi về thu nhập Do đó, nhóm tác giả phát triển mô hình hồi quy để nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểm ban kiểm soát đến phương trình EPS và giá cổ phiếu.

Mô hình thứ hai trong nghiên cứu đo lường chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) dựa trên chất lượng lợi nhuận theo Kothari & cộng sự (2005), được thể hiện qua công thức QUALITYi,t = |DAi,t| = |θi,t| Theo quan điểm của Kothari & cộng sự, hiệu suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) là một phương pháp đáng tin cậy hơn để ước lượng quản lý thu nhập và đánh giá chất lượng thông tin tài chính.

Các nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện liên quan đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính (CLTT BCTC) Một nghiên cứu nổi bật của tác giả Đào Ngọc Hạnh (2014) tập trung vào việc "Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán" tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh, được thực hiện trong luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp với mẫu và thu thập dữ liệu từ bảng câu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 điểm Phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích khám phá nhân tố EFA và phân tích hồi quy tuyến tính được thực hiện Tác giả xây dựng mô hình gồm 8 biến độc lập ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán (TTKT), bao gồm: cam kết của nhà quản lý, kiến thức sử dụng công nghệ hệ thống thông tin kế toán, kiến thức kế toán của nhà quản lý, hiệu quả của phần mềm và ứng dụng kế toán, chất lượng dữ liệu, tham gia của nhân viên, huấn luyện và đào tạo nhân viên, và môi trường văn hóa Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng ba yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống TTKT tại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở TP Hồ Chí Minh là tham gia của nhân viên, kiến thức sử dụng công nghệ của nhà quản lý và cam kết của nhà quản lý Nghiên cứu này có thể áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nguyên (2015) tại trường ĐHKT TP.HCM về tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) của 195 công ty niêm yết tại Việt Nam cho thấy chất lượng thông tin BCTC dưới mức trung bình, với 81,1% công ty đạt mức yếu kém Nghiên cứu sử dụng thang đo 16 thuộc tính dựa trên tiêu chuẩn của FASB và IASB, kết hợp phương pháp định tính và hồi quy đa biến để đánh giá tác động của các yếu tố quản trị Kết quả cho thấy các yếu tố như tính độc lập của hội đồng quản trị, tần suất họp, và kiến thức chuyên môn của thành viên hội đồng có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng BCTC, trong khi tính độc lập của ban kiểm soát không có tác động đáng kể Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các công ty thường tuân thủ pháp luật hơn là cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng, và đề xuất các nhà nghiên cứu tương lai nên xem xét thêm các đặc tính khác của ban kiểm soát trong các nghiên cứu tiếp theo.

Nguyễn Thị Thanh (2016) đã nghiên cứu về các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, với mô hình gồm 12 nhân tố như quy mô công ty, quy mô Ban điều hành, độ tuổi công ty, và tỷ lệ sở hữu vốn của nước ngoài và nhà nước Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để phân tích hồi quy tuyến tính trên mẫu 35 ngân hàng thương mại Kết quả cho thấy bốn nhân tố tác động cùng chiều với chất lượng thông tin kế toán là quy mô ngân hàng, tỷ lệ sở hữu vốn của nước ngoài, lợi nhuận và tình trạng niêm yết, trong đó quy mô ngân hàng có ảnh hưởng mạnh nhất đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính.

Nghiên cứu này chỉ tập trung vào các ngân hàng thương mại Việt Nam, do đó kết quả không thể áp dụng cho các đối tượng khác, bao gồm cả các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Một nghiên cứu về ban giám đốc điều hành của tác giả Lê Thị Mến (2016), “

Tác động của đặc điểm giám đốc điều hành đến chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh là một vấn đề quan trọng Nghiên cứu này chỉ ra rằng các yếu tố như kinh nghiệm, trình độ học vấn và phong cách quản lý của giám đốc điều hành có ảnh hưởng đáng kể đến độ tin cậy và chính xác của báo cáo tài chính Việc hiểu rõ mối liên hệ này giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định sáng suốt hơn khi đánh giá các công ty niêm yết.

Nghiên cứu tại LVTS trường ĐHKT thành phố Hồ Chí Minh nhằm đo lường mối quan hệ giữa đặc điểm của CEO và chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) Tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, khảo sát lý thuyết liên quan và xây dựng thang đo, sử dụng thống kê mô tả và mô hình hồi quy để đo lường các yếu tố Nghiên cứu xác định bốn biến độc lập: tuổi CEO, quyền kiêm nhiệm, giới tính và trình độ học vấn của CEO, cùng với ba biến điều tiết: tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), công ty kiểm toán và tuổi công ty Kết quả cho thấy tuổi và trình độ học vấn của CEO có mối quan hệ tích cực với chất lượng BCTC, trong khi nữ CEO cũng có ảnh hưởng tích cực Tuy nhiên, nghiên cứu gặp hạn chế do kích thước mẫu nhỏ, làm cho biến quyền kiêm nhiệm không có ý nghĩa thống kê và chưa xem xét tác động của đặc điểm CEO trong các hình thức sở hữu khác nhau.

Nghiên cứu của Phạm Quốc Thuần (2016) chỉ ra rằng có nhiều yếu tố tác động đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp tại Việt Nam Các yếu tố này bao gồm tính minh bạch, độ tin cậy của thông tin, và khả năng so sánh giữa các báo cáo Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện chất lượng thông tin để hỗ trợ ra quyết định hiệu quả trong kinh doanh.

Nghiên cứu của LATS tại trường ĐHKT thành phố Hồ Chí Minh đã xác định và đánh giá tác động của 10 nhân tố đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính (CLTT BCTC) trong các doanh nghiệp Việt Nam, bao gồm hành vi quản trị lợi nhuận, áp lực từ thuế, quy mô doanh nghiệp, hỗ trợ từ nhà quản trị, đào tạo và bồi dưỡng, chất lượng phần mềm kế toán, kiểm toán độc lập, hiệu quả hệ thống kiểm soát nội bộ, năng lực nhân viên và niêm yết chứng khoán Phương pháp phân tích hồi quy bội cho thấy niêm yết và quy mô doanh nghiệp là các biến điều tiết quan trọng Tuy nhiên, nghiên cứu gặp hạn chế khi chỉ thu thập dữ liệu từ các quản lý kế toán tại thành phố Hồ Chí Minh, không tiếp cận người sử dụng thông tin BCTC trực tiếp và chưa xem xét đặc điểm bộ phận ảnh hưởng đến CLTT BCTC Trong nghiên cứu của Trần Mỹ Ngọc (2017) về CLTT BCTC tại phường/xã huyện Châu Thành, Bến Tre, tác giả đã xây dựng mô hình với 7 nhân tố ảnh hưởng, gồm môi trường pháp lý, chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa, đào tạo nhân viên và hệ thống thông tin Kết quả cho thấy tất cả các nhân tố đều có tác động đến CLTT BCTC tại địa bàn nghiên cứu, nhưng chỉ áp dụng cho các đơn vị phường/xã tại huyện Châu Thành.

Nghiên cứu về các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả, trong đó có Nguyễn Thị Phương Hồng.

Năm 2016, bài viết "Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán – bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam" được công bố trong LATS kinh tế của trường ĐHKT TP.HCM, nghiên cứu từ năm 2012 đến 2014 với 123 công ty niêm yết Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán và công bố trên các trang web Tác giả đã kế thừa kết quả nghiên cứu trước và bổ sung các nhân tố mới ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính Kết quả cho thấy chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết Việt Nam vẫn thấp so với các nước khác, nhưng đã cải thiện trong những năm gần đây Trong 23 nhân tố được nghiên cứu, có 17 nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính, tuy nhiên, tác giả nhận thấy hạn chế là chưa xem xét các nhân tố khác như thị trường vốn, chính sách Nhà nước, văn hóa và chính trị Ngoài ra, còn nhiều mô hình nghiên cứu khác chưa được kiểm định trong bài viết.

Nghiên cứu của Đỗ Thị Hải Yến (2017) cũng tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính hợp nhất của các công ty niêm yết tại thành phố Hồ Chí Minh, tương tự như tác giả Nguyễn Thị Phương Hồng.

Nghiên cứu tại LVTS trường ĐHKT thành phố Hồ Chí Minh nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin tài chính (CLTTKT) trên báo cáo tài chính hợp nhất của các công ty niêm yết tại thành phố Hồ Chí Minh Để thực hiện, tác giả áp dụng phương pháp hỗn hợp, trong đó phương pháp định tính được sử dụng để phỏng vấn chuyên gia nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng, từ đó xây dựng bảng khảo sát Phương pháp định lượng thu thập dữ liệu thông qua khảo sát và sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để đánh giá mức độ ảnh hưởng Nghiên cứu đã chỉ ra 6 biến độc lập, bao gồm: (1) Rủi ro kiểm toán báo cáo tài chính hợp nhất của công ty kiểm toán với công ty niêm yết, (2) Môi trường pháp lý, (3) Nhà quản trị công ty, và (4) Trình độ nhân viên kế toán.

Nghiên cứu chỉ ra rằng sự khác biệt giữa kỳ kế toán của công ty mẹ và các công ty con, cùng với chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ, đều ảnh hưởng đến chất lượng thông tin tài chính trên báo cáo tài chính hợp nhất Mặc dù hai nhân tố này có hệ số beta tương đối gần nhau, nhưng nghiên cứu chỉ giải thích được 57% sự biến thiên của biến phụ thuộc, cho thấy còn nhiều nhân tố khác chưa được xem xét Phương pháp chọn mẫu thuận tiện đã hạn chế khả năng đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ở các nhóm công ty khác nhau như ngân hàng, xây dựng và vận tải Ngoài ra, nghiên cứu hiện tại chỉ tập trung vào các công ty niêm yết, thiếu đánh giá tổng quát và không đề cập đến ảnh hưởng của Ban kiểm soát đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính.

Khe hổng nghiên cứu

Nghiên cứu về chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính (CLTT BCTC) đã thu hút sự quan tâm lớn từ nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, dẫn đến việc công bố nhiều công trình nghiên cứu Các nghiên cứu này thường áp dụng những phương pháp tiếp cận khác nhau để đo lường tác động của các yếu tố đến CLTT BCTC, điển hình như các công trình của Hongjiang Xu và cộng sự (2003), Đào Ngọc Hạnh (2014), và Phạm Quốc Thuần.

Nghiên cứu về đặc điểm quản trị doanh nghiệp và tác động của nó đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính (CLTT BCTC) đã được thực hiện bởi nhiều tác giả như Ahsan Habib & Mahmud Hossain (2013), Nguyễn Trọng Nguyên (2015), và Lê Thị Mến (2016) Một số nghiên cứu khác, như của Guanggui Ran và các cộng sự (2014), đã xem xét ảnh hưởng của Ban kiểm soát đối với CLTT BCTC Mặc dù đã có những nghiên cứu về tác động của các nhà quản trị doanh nghiệp, CEO/CFO, và Ban kiểm soát đến CLTT BCTC, nhưng tại Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu nào đo lường toàn diện sự ảnh hưởng của đặc điểm Ban kiểm soát đối với CLTT BCTC Các nghiên cứu trước đây chủ yếu chỉ tập trung vào một số đặc điểm đơn lẻ như tính độc lập của Ban kiểm soát.

Luận văn này nghiên cứu tác động của đặc điểm Ban kiểm soát đến chất lượng thông tin tài chính báo cáo (CLTT BCTC), trong đó lợi nhuận được sử dụng làm đại diện cho CLTT BCTC Tác giả đánh giá chất lượng lợi nhuận trên BCTC để rút ra kết luận về CLTT BCTC, dựa trên định nghĩa của CLLN về độ chính xác của dòng tiền trong các năm Nghiên cứu cũng xem xét một cách toàn diện các đặc điểm của Ban kiểm soát, bao gồm độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn và tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu.

Trong chương 1, tác giả tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến đánh giá chất lượng thông tin tài chính (CLTT BCTC) và các yếu tố ảnh hưởng đến CLTT BCTC cả trên thế giới và trong nước Tác giả đã tham khảo các phương pháp nghiên cứu trước đó về CLTT BCTC, đồng thời đánh giá kết quả và hạn chế của những nghiên cứu này Mỗi nghiên cứu có mục tiêu, phương pháp và đối tượng khác nhau, dẫn đến những kết quả riêng biệt Qua việc lược khảo các nghiên cứu trước, tác giả xác định được khoảng trống nghiên cứu và cơ sở để phát triển giả thuyết cũng như mô hình nghiên cứu cho đề tài của mình.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Các khái niệm

2.1.1 Khái niệm về chất lượng thông tin BCTC Để hiểu về chất lượng thông tin BCTC, luận văn trình từ khái niệm chất lượng thông tin, sau đó đề cập tới chất lượng thông tin BCTC tài chính theo quan điểm của các tổ chức nghề nghiệp trên thế giới và của chuẩn mực kế toán tại Việt Nam

 Ch ấ t l ượ ng thông tin

Theo Mouzhi Ge (2009), đặc điểm thông tin và người sử dụng thông tin là hai khía cạnh chủ yếu được đề cập trong khái niệm chất lượng thông tin

Dựa trên khía cạnh đặc tính của thông tin, theo định nghĩa của Kahn, Strong

(1998) “chất lượng thông tin là đặc tính của thông tin để giúp đạt được yêu cầu hay

Dẫn nhập 2.1 Các khái niệm

2.2 Một số vấn đề về ban kiểm soát (BKS) của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán

2.3 Lý thuyết đại diện, lý thuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết phụ thuộc nguồn lực

Kết luận chương 2 về sự mong đợi của người sử dụng thông tin nhấn mạnh rằng chất lượng thông tin được đánh giá dựa trên bảy tiêu chuẩn của CobiT: hữu hiệu, hiệu quả, bảo mật, toàn vẹn, sẵn sàng, tuân thủ và đáng tin cậy (IT Governance Institute, 2006) Theo Wang và cộng sự (1999), chất lượng thông tin được định nghĩa là tính phù hợp của thông tin với nhu cầu của người sử dụng Eppler và Wittig (2000) cho rằng chất lượng thông tin cao nhất đạt được khi không có sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu và thông tin đạt được, với việc đo lường chất lượng thông tin mang tính cảm tính.

Chất lượng thông tin được xác định bởi khả năng mang lại lợi ích cho người ra quyết định Để đảm bảo thông tin có giá trị, người ra quyết định cần có những tiêu chí cụ thể như tính thích hợp, tính kịp thời, độ chính xác và sự đầy đủ của thông tin.

Các nhà nghiên cứu về chất lượng thông tin (CLTT) có quan điểm khác nhau, nhưng đều thống nhất rằng CLTT phụ thuộc vào cảm nhận của người sử dụng thông tin (Nguyễn Bích Liên, 2012) Theo Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), thông tin chất lượng là thông tin phù hợp với nhu cầu sử dụng của người dùng, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, và có nội dung, hình thức cùng đặc điểm thời gian có giá trị đối với họ.

Trong nghiên cứu này, tác giả kết hợp hai khía cạnh quan trọng: đặc điểm thông tin và người sử dụng thông tin, để định nghĩa khái niệm CLTT CLTT được hiểu là tập hợp các tiêu chuẩn nhằm đáp ứng hiệu quả yêu cầu của người sử dụng thông tin.

 Ch ấ t l ượ ng thông tin báo cáo tài chính

Trong lĩnh vực kế toán, CLTT được đề cập rõ ràng trong các báo cáo của các tổ chức nghề nghiệp quốc tế như AAA, FASB, IASB, cũng như trong các quy định của Nhà nước như Luật kế toán Việt Nam và các nghiên cứu cơ bản liên quan đến CLTT kế toán.

 Theo quan điểm của FASB và IASB:

IASB và FASB đều nhấn mạnh rằng BCTC chất lượng cao phải tuân thủ các mục tiêu và đặc tính chất lượng của thông tin tài chính Mục tiêu chính của việc lập BCTC là cung cấp thông tin hữu ích cho nhà đầu tư, người cho vay và các chủ nợ trong quyết định cung cấp nguồn lực cho một thực thể Theo khuôn mẫu, hai đặc tính nền tảng của chất lượng thông tin BCTC là "Thích hợp" và "Đáng tin cậy".

Trình bày trung thực là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng thông tin Bên cạnh đó, bốn thuộc tính giúp nâng cao chất lượng thông tin bao gồm khả năng so sánh, khả năng kiểm chứng, tính kịp thời và khả năng so sánh được (IASB 2010).

Thông tin kế toán được coi là thích hợp khi nó có khả năng ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng, giúp họ dự đoán kết quả của các sự kiện trong quá khứ, hiện tại và tương lai Để thông tin này đạt tính thích hợp, nó cần được công bố kịp thời và phải có giá trị dự báo hoặc giá trị xác nhận, hoặc cả hai.

Trình bày trung thực (Reliability) là việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và mang tính đại diện Thông tin cần phải có khả năng kiểm chứng và được thể hiện ở trạng thái trung lập, không thiên vị.

Thông tin về một tổ chức kinh tế sẽ trở nên hữu ích hơn khi có thể so sánh với dữ liệu tương tự từ các tổ chức khác hoặc từ chính tổ chức đó qua các thời kỳ khác nhau Sự so sánh này không chỉ giúp tăng cường tính nhất quán trong việc áp dụng phương pháp so sánh mà còn nâng cao giá trị của thông tin, từ đó hỗ trợ việc đánh giá các cơ hội kinh tế và hiệu quả kinh doanh.

Có thể kiểm chứng (Verifiability) là yếu tố quan trọng đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy của thông tin Khi thông tin có thể kiểm chứng, những người độc lập và có kiến thức có thể đạt được sự đồng thuận về tính chính xác của nó, mặc dù sự đồng thuận này không nhất thiết phải hoàn hảo Việc kiểm chứng thông tin cần xem xét cả về số lượng lẫn giá trị, và có thể thực hiện thông qua các phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp (IASB 2010).

- Tính k ị p th ờ i (Timeliness) : thông tin luôn sẵn sàng cho việc ra quyết định

Thông tin không được cung cấp kịp thời sẽ khiến tính hữu ích của thông tin càng thấp (IASB, 2010)

Hiểu biết (Understandability) là yếu tố quan trọng trong việc trình bày thông tin, giúp phân loại, mô tả và làm rõ bản chất một cách rõ ràng Tuy nhiên, một số hiện tượng phức tạp có thể gây khó khăn trong việc hiểu Việc loại bỏ các thông tin phức tạp khỏi Báo cáo tài chính (BCTC) có thể làm tăng tính dễ hiểu, nhưng đồng thời cũng có thể khiến báo cáo thiếu toàn vẹn và dẫn đến sai lầm trong quyết định (IASB, 2010) Do đó, người sử dụng thường cần sự hỗ trợ từ các nhà tư vấn để nắm bắt và hiểu rõ những hiện tượng kinh tế phức tạp.

 Theo quan điểm của VAS

Theo VAS chất lượng thông tin kế toán được đề cập trong “các yêu cầu cơ bản đối với kế toán”, cụ thể bao gồm:

Trung thực trong kế toán yêu cầu rằng tất cả thông tin và số liệu phải được ghi chép và báo cáo dựa trên các bằng chứng đầy đủ, khách quan, phản ánh chính xác thực trạng, bản chất và giá trị của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

Thông tin và số liệu kế toán cần phải được ghi chép và báo cáo một cách chính xác, không bị xuyên tạc hay bóp méo Tất cả các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh trong kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không được bỏ sót bất kỳ chi tiết nào.

Các lý thuyết nền

Đề tài sử dụng phương pháp định lượng để kiểm định các nhân tố tác động đế CLTT BCTC bao gồm các bước:

(Tác động của đặc điểm BKS đến chất lượng thông tin BCTC)

- Đo lường tác động của đặc điểm BKS đến CLTT BCTC

- Xác mức độ ảnh hưởng của từng đặc điêm BKS đến CLTT BCTC

- Tổng quan nghiên cứu về tác động của đặc điểm BKS đến

- Mô tả các biến đo lường, cách thức đo lường của các biến có trong mô hình

Kết luận và kiến nghị

Sơ đồ 3.1: Khung tiếp cận nghiên cứu

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Ngày đăng: 24/06/2021, 08:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài Chính, 2017. Thông tư 95/2017/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 22 tháng 9 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 95/2017/TT-BTC
2. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, 2017. Nghị định số 71/2017/NĐ-CP do Chính Phủ ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 71/2017/NĐ-CP
3. Đào Ngọc Hạnh, 2014. Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ, ĐH Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
4. Đỗ Thị Hải Yến, 2017. Các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính hợp nhất của các công ty niêm yết tại thành phố Hồ Chí Minh. Luận án thạc sĩ, ĐH Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính hợp nhất của các công ty niêm yết tại thành phố Hồ Chí Minh
10. Nguyễn Đình Thọ, 2014. Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh. NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
11. Nguyễn Thị Bích Liên, 2012. Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn nhân lực doanh nghiệp (ERP) tại các doanh nghiệp Việt Nam. Luận án tiến sĩ, ĐH Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn nhân lực doanh nghiệp (ERP) tại các doanh nghiệp Việt Nam
12. Nguyễn Thị Kim Cúc, 2014. Kế toán tài chính doanh nghiệp Việt Nam – nhìn từ khung pháp lý về kế toán. Kỷ yếu hội thảo khoa học: Kế toán tài chính, những thay đổi và phát triển trong tiến trình hội nhập, TPHCM, Việt Nam, tháng 12/2014.Trường ĐH Kinh tế TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học: Kế toán tài chính, những thay đổi và phát triển trong tiến trình hội nhập
13. Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán – bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam. Luận án tiến sĩ, ĐH Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán – bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam
14. Nguyễn Thị Thanh, 2016. Các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận văn thạc sĩ, ĐH Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
15. Nguyễn Trọng Nguyên, 2015. Tác động của quản trị công ty đến chất lượng BCTC tại các công ty niêm yết tại Việt Nam. Luận án tiến sĩ, ĐH Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của quản trị công ty đến chất lượng BCTC tại các công ty niêm yết tại Việt Nam
16. Phạm Quốc Thuần, 2016. Các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam. Luận án tiến sĩ, ĐH Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam
17. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, 2014. Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH- Ban hành Luật doanh nghiệp. Quốc hội khóa XIII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH- Ban hành Luật doanh nghiệp
18. Trần Mỹ Ngọc, 2017. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính phường/xã trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Luận văn thạc sĩ, ĐH Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính phường/xã trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre
7. Minh Châu, 2016. Kiểm kê thiếu hụt gần 1.000 tỷ tại Gỗ Trường Thành: Trách nhiệm của công ty kiểm toán DFK Việt Nam thế nào?   http://cafef.vn/kiem-ke-thieu- hut-gan-1000-ty-tai-go-truong-thanh-trach-nhiem-cua-cong-ty-kiem-toan-dfk-viet-nam-the-nao-20160802224133432.chn truy cập ngày 30 tháng 09 năm 2018 Link
9. Ngọc Vũ, 2015. Mười vụ bê bối đình đám nhất của các doanh nghiệp trên thế giới http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/quoc-te/2015-10-16/10-vu-be-boi-dinh-dam- Link
8. Ngô Hoàng Điệp, 2018. Các nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận của người quản lý tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận án tiến sĩ. ĐH Kinh tế TP.HCM Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w