Mặt khác, Người Việt có truyền thống “tôn sư trọng đạo” rất đáng tự hào. Tuy vậy, trong thời đại hôm nay, truyền thống này được thể hiện như thế nào? Nghề giáo và hình ảnh các thầy cô giáo được nhìn nhận ra sao? Trong câu chuyện các cô giáo đi “hầu rượu” ở Hồng Lĩnh vừa qua, dù biện minh thế nào cũng không thể phủ nhận một sự thật buồn đội ngũ các thầy cô giáo hôm nay đang chịu nhiều áp lực rất ghê gớm nhưng cơ hội để họ cất lên tiếng nói trao đổi hay phản biện là rất khó. Trong tư cách viên chức thuộc cấp, các cô giáo ở Hà Tĩnh hoàn toàn không thể thoái thác “nhiệm vụ” mà cấp trên họ đã giao phó. Đây là vấn đề lớn nhưng có vẻ cho đến nay chẳng mấy người quan tâm. Ở một phương diện khác, nghề giáo cũng như bao nhiêu nghề khác trong xã hội. Tuy vậy, lâu nay xã hội ta luôn mặc định rằng “nghề giáo là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”. Tôi rất hiểu sự chân thành của tác giả câu nói trên khi muốn nhấn mạnh và đề cao sự đóng góp to lớn của đội ngũ những người được xem là “kỹ sư tâm hồn”. Thế nhưng, theo logic thông thường một khi đã nói như thế buộc người ta phải suy luận và đặt vấn đề: Nếu nói nghề giáo là “cao quý nhất trong những nghề cao quý” vậy nghề nào là “cao quý nhì”…? Từ những vấn đề trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu chủ đề “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý” làm đề tài tiểu luận môn học là rất cần thiết.
Trang 1Mở đầu
“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, một chữ cũng thầy, nửa chữ cũng thầy Điều này cho thấy, nghề giáo là một nghề rất cao cả và luôn được xã hội kính trọng và yêu quý từ xưa đến nay Xã hội dù có phát triển đến đâu thì vị trí, vai trò của người thầy giáo, cô giáo trong lòng mỗi con người vẫn được khẳng định với sự kính yêu và tôn trọng Trong ký ức
đó, bạn bè, trường lớp và thầy cô là hình ảnh không bao giờ phai Thầy, cô giáo là những người đã truyền đạt các kiến thức, những kinh nghiệm sống cho con người từ khi chập chững bước vào đời cho đến khi họ trưởng thành, những kiến thức và kinh nghiệm đó có thể ở nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và cả những kiến thức để hình thành nhân cách con người, góp phần tạo dựng một xã hội tốt đẹp
Mặt khác, Người Việt có truyền thống “tôn sư trọng đạo” rất đáng tự hào Tuy vậy,
trong thời đại hôm nay, truyền thống này được thể hiện như thế nào? Nghề giáo và hình
ảnh các thầy cô giáo được nhìn nhận ra sao? Trong câu chuyện các cô giáo đi “hầu rượu” ở Hồng Lĩnh vừa qua, dù biện minh thế nào cũng không thể phủ nhận một sự thật
buồn - đội ngũ các thầy cô giáo hôm nay đang chịu nhiều áp lực rất ghê gớm nhưng cơ hội để họ cất lên tiếng nói trao đổi hay phản biện là rất khó Trong tư cách viên chức thuộc cấp, các cô giáo ở Hà Tĩnh hoàn toàn không thể thoái thác “nhiệm vụ” mà cấp trên
họ đã giao phó Đây là vấn đề lớn nhưng có vẻ cho đến nay chẳng mấy người quan tâm Ở một phương diện khác, nghề giáo cũng như bao nhiêu nghề khác trong xã hội Tuy vậy, lâu nay xã hội ta luôn mặc định rằng “nghề giáo là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý” Tôi rất hiểu sự chân thành của tác giả câu nói trên khi muốn nhấn mạnh và đề cao sự đóng góp to lớn của đội ngũ những người được xem là “kỹ sư tâm hồn” Thế nhưng, theo logic thông thường một khi đã nói như thế buộc người ta phải suy luận và đặt vấn đề: Nếu nói nghề giáo là “cao quý nhất trong những nghề cao quý” vậy nghề nào là
“cao quý nhì”…?
Từ những vấn đề trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu chủ đề “Nghề dạy học là
nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý” làm đề tài tiểu luận môn học là rất cần thiết.
Trang 2CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ NGHỀ GIÁO VÀ QUÁ TRÌNH TRƯỞNG THÀNH
1.1 Lịch sử hình thành nghề giáo
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, giáo dục đã tồn tại, phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của dân tộc và luôn đóng vai trò quan trọng như một trụ cột cơ bản của việc xây dựng và vun đắp cho nền văn hiến lâu đời của đất nước
Trải qua các thời kỳ: thời tiền sử, thời trước Bắc thuộc, thời Bắc thuộc, thời độc lập trung đại và cận đại, thời thuộc Pháp và thời độc lập hiện đại, nền giáo dục đã từng phải đương đầu với âm mưu xâm lược và đồng hóa của các thế lực phong kiến, thực dân, song vẫn giữ được những truyền thống dân tộc tốt đẹp, tiếp thu có chọn lọc những gì tinh túy nhất của các trào lưu văn minh nhân loại để hình thành một nền giáo dục đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ và xây dựng đất nước, vừa có khả năng hội nhập vừa bảo toàn bản sắc dân tộc của riêng mình
1.1.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945
Nền giáo dục Nho học của nhà nước phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XI trải qua các thời Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Tây Sơn, Nguyễn Sự ra đời và sử dụng rộng rãi chữ quốc ngữ theo bảng chữ La tinh trong nhà trường từ cuối năm 1919 đã báo hiệu sự chấm dứt nền cựu học truyền thống Nho giáo để thay thế bằng hệ thống tân học của chủ nghĩa thực dân Pháp
Cũng trong thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trào lưu giáo dục Duy Tân yêu nước của Phan Bội Châu và Lương Văn Can, Nguyễn Quyền đã khởi xướng cho khuynh hướng thực học, sử dụng chữ quốc ngữ trong dạy và học, tiếp cận với các khoa học tự nhiên và kỹ nghệ, từ bỏ lối học từ chương khoa cử
Trang 31.1.2 Giai đoạn 1945-1954
Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, lịch sử giáo dục nước nhà sang một trang mới Bộ Quốc gia giáo dục là một trong những Bộ - thành viên Chính phủ - được thành lập ngay từ những ngày đầu Bộ trưởng đầu tiên là ông Vũ Đình Hòe Ngày 02/3/1946 trong kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, ông Đặng Thai Mai được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục (thay ông Vũ Đình Hòe sang làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp) Chính phủ đã ký sắc lệnh quan trọng thành lập Nha bình dân học vụ, chống nạn mù chữ Cùng với việc chống nạn mù chữ, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có những chủ trương cải tổ và xây dựng bước đầu đối với toàn bộ hệ thống giáo dục quốc gia
Tháng 11/1946, trong kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa 1, ông Nguyễn Văn Huyên được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục Bộ Quốc gia giáo dục gồm Văn phòng Bộ
và các nha: Đại học vụ, Trung học vụ, Tiểu học vụ và Nha Bình dân học vụ Trong kháng chiến toàn quốc, Bộ đã sơ tán và di chuyển cơ quan từ Thủ đô về nông thôn, từ Hà Đông, Phú Thọ đến Tuyên Quang và An toàn khu
Năm 1950, Trung ương Đảng và Chính phủ đã quyết định tiến hành cuộc cải cách giáo dục Cuộc cải cách này quyết định thực hiện hệ thống trường phổ thông 9 năm và chương trình giảng dạy mới Giai đoạn này cũng đánh dấu việc thành lập Công đoàn Giáo dục Việt Nam (tháng 7/1951)
Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, sự nghiệp giáo dục từ phổ thông đến đại học không những được duy trì và không ngừng phát triển mà còn có sự biến đổi về chất Các trường từ giáo dục phổ thông đến đại học đều giảng dạy bằng tiếng Việt Cuộc cải cách giáo dục năm 1950 đến 1954 dù có mặt còn hạn chế, nhưng đã thay đổi cơ bản nền giáo dục thực dân cũ, xây dựng nền tảng cho một nền giáo dục mới: dân tộc, khoa học, đại chúng
Trang 41.1.3 Giai đoạn 1954-1975
Giữa năm 1954, cơ quan Bộ Giáo dục chuyển từ xã Yên Nguyên, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang về huyện Đại Từ, Thái Nguyên để chuẩn bị về Hà Nội Bộ đã chỉ đạo các trường trực thuộc và địa phương có vùng mới giải phóng chuẩn bị các điều kiện cần thiết ban đầu để nhanh chóng phục hồi trường lớp
Nhiều công việc đã được Bộ chú trọng triển khai thực hiện trong giai đoạn này:
Mở các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc để đón nhận các em học sinh miền Nam
ra Bắc học tập; tiến hành cải cách giáo dục năm 1956 đã đặt cơ sở cho việc hình thành Hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm gồm 3 cấp học
Tháng 10/1965, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định phê chuẩn việc thành lập
Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, tách khỏi Bộ Giáo dục và bổ nhiệm đồng chí Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng Sau những năm phát triển giáo dục trong điều kiện hòa bình, lúc này trên toàn miền Bắc nạn mù chữ đã được thanh toán Cũng trong giai đoạn này, phong trào thi đua “Hai tốt” phát triển rộng rãi với mô hình tiêu biểu là trường Phổ thông cấp II Bắc Lý (Hà Nam), trường Tiểu học Cẩm Bình (Hà Tĩnh), phong trào giáo dục xã Ngổ Luống (Hà Đông, Hà Nội) Hệ thống trường bổ túc công nông, trường phổ thông lao động được phát triển mạnh Ở miền Bắc, mỗi ngày hàng triệu học sinh, sinh viên, các thầy
cô giáo vẫn đội mũ rơm, khắc phục muôn vàn khó khăn đến trường học tập, giảng dạy Hàng loạt trường trung học chuyên nghiệp mới được mở ra ở cả trung ương và địa phương Mạng lưới các trường đại học và quy mô đào tạo không ngừng được mở rộng
Tháng 10/1962, Tiểu ban Giáo dục thuộc Trung ương cục miền Nam được thành lập Miền Bắc đã chi viện 3000 cán bộ cùng rất nhiều tài liệu sách giáo khoa, tạo điều kiện để phong trào giáo dục miền Nam lúc này có nhiều bước chuyển biến mới Hàng vạn thanh niên tiêu biểu của cả nước thời kỳ này đã được cử ra nước ngoài học tập trở thành những trí thức, nhà khoa học là nguồn lực to lớn, góp phần phụng sự kháng chiến thắng lợi, xây dựng Tổ quốc
Trang 51.1.4 Giai đoạn 1975-1986
Sau khi Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên qua đời (10/1975), Thứ trưởng Hồ Trúc kiêm Bí thư Đảng đoàn phụ trách công việc chung của Bộ
Tháng 7/1976 bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam được cử làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục
Năm 1976, GS.TS Nguyễn Đình Tứ, Thứ trưởng, Ủy viên dự khuyết TW Đảng khóa IV được cử làm Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp thay Bộ trưởng
Tạ Quang Bửu nghỉ hưu
Tháng 1/1979, Bộ Chính trị ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
đã ban hành Nghị quyết về cải cách giáo dục Việc cải cách bắt đầu từ giáo dục phổ thông, song song với việc tiến hành bồi dưỡng giáo viên, theo hướng cải cách giáo dục, từng bước cải cách sư phạm
Trong thời kỳ này cũng đánh dấu việc thực hiện nhiệm vụ quốc tế với hai nước bạn Lào, Campuchia; mở rộng quan hệ hợp tác, đối ngoại đa dạng với Liên Xô, các nước XHCN ở Đông Âu…
1.2 Giáo dục Việt Nam thời kỳ đổi mới đến nay
1.2.1 Giai đoạn 1986-1995
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12/1986 đã mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam Chủ trương của ngành trong thời kỳ này là đa dạng hóa các loại hình trường, lớp, các hình thức đào tạo, quy chế các trường, lớp dân lập, tư thục
đã được ban hành Năm 1987, theo quyết định của Nhà nước, Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Trung ương được sáp nhập vào Bộ Giáo dục; nhà trẻ, mẫu giáo hợp nhất lại thành ngành học Mầm non, nay còn gọi là bậc học Mầm non Bộ trưởng Bộ Giáo dục thời
kỳ này là GS, Viện sĩ Phạm Minh Hạc
Năm 1988: sáp nhập Tổng cục Dạy nghề vào Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp thành Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề Năm 1990 Chính phủ
Trang 6quyết định thành lập Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở sáp nhập Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý thống nhất hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến giáo dục đại học và sau đại học GS.TS Trần Hồng Quân, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII được bầu giữ chức
bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
1.2.2 Giai đoạn 1996 đến nay
Từ năm 1997 đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo lần lượt qua các thời kỳ lãnh đạo của các Bộ trưởng: Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận từ 4/2016 đến nay là Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ
Giáo dục trong giai đoạn này đã đáp ứng được cơ bản nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân Thực hiện được các mục tiêu lớn trong Chiến lược phát triển giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước và hội nhập quốc tế thành công
Trong giai đoạn đổi mới, đặc biệt sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI và Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, giáo dục đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.Hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục phát triển nhanh, thực hiện nền giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân và nâng cao trình độ đào tạo, trình độ và kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn, các đối tượng chính sách và người có hoàn cảnh khó khăn, bình đẳng giới được bảo đảm Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, góp phần đáp ứng yêu cầu nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Công tác phát triển đội ngũ được đặc biệt chú trọng để củng cố và đổi mới Cơ sở vật chất kỹ thuật của hệ thống giáo dục và đào tạo được tăng
Trang 7thêm và từng bước hiện đại hóa Xã hội hóa giáo dục và hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng
1.3 Quá trình trưởng thành
Hằng năm, đã thành thông lệ, ngày 20/11 là dịp để các thế hệ học sinh, sinh viên, phụ huynh bày tỏ sự tri ân và kính trọng của mình đối với những người thầy, người cô đã dưỡng dục mình Đó chính là truyền thống “tôn sư trọng đạo” của người Việt Nam được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử Với lễ giáo phong kiến, vị trí của người thầy đã đứng
trên cả cha mẹ (Quân - Sư - Phụ) và đã đi vào lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân (Muốn sang thì bắc cầu Kiều - Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy hay Không thầy đố mày làm nên) Người thầy được coi là tấm gương sáng để học trò soi vào đó mà hoàn
thiện mình Nghĩa thầy trò vì thế đã được hình thành từ ngàn xưa Học trò muốn thành người thì phải ra sức học tập thành tài Người thầy có đạo đức trong sáng, tri thức uyên bác thì học trò mới kính trọng Sử sách nước ta đã ghi lại khá nhiều câu chuyện cảm động
và tình nghĩa thầy trò
Người thầy nổi tiếng nhất trong thời kỳ phong kiến ở nước ta là thầy giáo Chu Văn
An, người được hậu thế tôn xưng là “vạn thế sư biểu” Ông Chu Văn An là một người học rộng tài cao nhưng không theo con đường khoa cử để kiếm danh lợi trên chốn quan trường mà về mở trường dạy học ở quê nhà Được vua Minh Tông (1314 - 1329) mời vào dạy học ở Quốc Tử Giám Đến đời vua Dụ Tông (1341 - 1369) nhân chính sự suy đốn, ông trả mũ áo xin về làng cũ ở ẩn Các học trò vô cùng kính trọng ông Nhiều người hiển đạt như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát… làm đến tể tướng nhưng mỗi khi có dịp đến thăm thầy, vẫn giữ phép học trò, đứng hầu dưới thềm, khoanh tay nghe thầy dạy bảo Còn biết bao tấm gương thầy giáo mẫu mực, học trò giữ đạo hiếu được truyền tụng mãi
Bước sang thời kỳ hiện đại, dạy học đã trở thành một nghề, được Nhà nước trả lương nhưng truyền thống “tôn sư trọng đạo” vẫn được nhân dân và Nhà nước ta đề cao Vai trò quan trọng và trách nhiệm vẻ vang của người thầy đã được Đảng và Nhà nước ta
Trang 8thể hiện sâu sắc trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khoá VII), Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai (khoá VIII), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ lần thứ XII… Các văn bản đó cùng với các chủ trương, chính sách của Nhà nước đã khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Hệ thống các trường đại học, cao đẳng sư phạm được phát triển mạnh mẽ; sinh viên các trường sư phạm được hưởng nhiều ưu đãi như miễn học phí, tăng học bổng; chế độ, chính sách cho nhà giáo ngày càng được quan tâm, cải thiện
Tuy đời sống còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn song đội ngũ giáo viên trong cả nước vẫn ngày đêm miệt mài trên bục giảng, bám lớp, bám trường, sẵn sàng hy sinh quyền lợi bản thân để cống hiến hết mình cho sự nghiệp “trồng người” Đã có hàng trăm, hàng ngàn giáo viên chấp nhận xa gia đình, bè bạn… lên miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo dạy học Đã có biết bao người thầy không màng danh lợi, sống đạm bạc, suốt đời vì sự nghiệp giáo dục và đào tạo Không ít thầy cô giáo đã chia sẻ phần thu nhập ít ỏi của mình nuôi học sinh nghèo học giỏi
Chính từ những hoạt động tưởng như bình thường ấy đã góp phần đem lại cho nền giáo dục nước nhà những bước tiến vượt bậc Nếu như trước Cách mạng Tháng Tám năm
1945, 95% dân số Việt Nam bị mù chữ thì đến nay tất cả các tỉnh, thành trong cả nước đã hoàn thành kế hoạch đạt mục tiêu về xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Ngày càng nhiều học sinh Việt Nam được vinh danh trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế Đó là những tấm gương sáng cho học sinh cả nước noi theo, có tác dụng tích cực trong phong trào thi đua dạy tốt, học tốt
Rất tiếc trong khi đa số giáo viên vẫn tiếp tục giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp của người thầy thì cũng có một bộ phận giáo viên suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống Dư luận xã hội đang hết sức bất bình trước những tiêu cực trong môi trường giáo
Trang 9dục như: tình trạng quản lý lỏng lẻo; tham nhũng, lãng phí trong giáo dục khá phổ biến với nhiều hình thức; sự gian lận trong thi cử, nạn mua bằng, bán điểm vẫn còn; bệnh chạy theo thành tích mà không chú ý đến chất lượng thực chất, tổ chức dạy thêm, học thêm tràn lan, tốn nhiều thời gian và tiền bạc của học sinh và phụ huynh… Chính những hiện tượng nói trên đã phần nào đánh mất hình ảnh cao đẹp về người thầy, góp phần khiến cho ngành giáo dục bên cạnh nhiều thành tựu còn có không ít tồn tại, hạn chế
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay đang đặt ra cho ngành giáo dục những đòi hỏi bức thiết, phải kiên quyết và triệt để đổi mới từ công tác lãnh đạo, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cải tiến và nâng cao chất lượng, chương trình giảng dạy… Trong đó, yếu tố quan trọng nhất là giáo dục, rèn luyện đội ngũ giáo viên - nhân tố quyết định chất lượng giáo dục Giáo viên phải là những con người có tình yêu đối với nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh, có tinh thần tự học,
tự vươn lên để biết áp dụng những kiến thức, phương pháp mới trong quá trình giảng dạy Người giáo viên hiện nay không chỉ là người truyền đạt kiến thức cho người học mà còn phải là người tổ chức, hướng dẫn học sinh tự mình chiếm lĩnh tri thức để trở thành những con người toàn diện về đức, trí, thể, mĩ Có như vậy, đội ngũ giáo viên mới có thể đảm
đương được trách nhiệm vẻ vang của mình như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Có gì vẻ vang hơn là đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội
và chủ nghĩa cộng sản Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người
vẻ vang nhất Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh Đây là một điều rất vẻ vang”.
Trang 10CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY CỦA NGHỀ GIÁO VIỆT NAM,
MỘT SỐ QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ NHÀ GIÁO VÀ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO NĂNG LỰC GIẢNG DẠY
2.1 Thực trạng về đạo đức
Người Việt có truyền thống “tôn sư trọng đạo” rất đáng tự hào Tuy vậy, trong
thời đại hôm nay, truyền thống này được thể hiện như thế nào? Nghề giáo và hình ảnh các thầy cô giáo được nhìn nhận ra sao?
Trong câu chuyện các cô giáo đi “hầu rượu” ở Hồng Lĩnh vừa qua, dù biện minh
thế nào cũng không thể phủ nhận một sự thật buồn - đội ngũ các thầy cô giáo hôm nay đang chịu nhiều áp lực rất ghê gớm nhưng cơ hội để họ cất lên tiếng nói trao đổi hay phản biện là rất khó Trong tư cách viên chức thuộc cấp, các cô giáo ở Hà Tĩnh hoàn toàn không thể thoái thác “nhiệm vụ” mà cấp trên họ đã giao phó Thậm chí khi các cơ quan truyền thông bất bình và lên tiếng giúp chỉ làm cho họ thêm hoang mang và lo lắng hơn
Như vụ, Bà Phạm Thị Hương, giáo viên tiếng Anh trường Tiểu học Trung Hiền, quận Hai Bà Trưng, nhiều lần đánh học sinh và cả giáo viên Ngày 19/4, đại diện phụ huynh lớp 3D trường Tiểu học Trung Hiền cho biết đã nhận được văn bản thông báo kết luận nội dung tố cáo bà Phạm Thị Hương, giáo viên tiếng Anh của trường, về việc dùng thước đánh học sinh
Theo tố cáo, ngày 28/1/2021, bà Hương dùng thước sắt đánh vào đầu một nam sinh
do viết chữ xấu và đứng lên nhìn chữ trên bảng Sau đó, bà còn vít đầu, véo tai, đánh bằng
10 đầu ngón tay với nhiều học sinh khác Bà Hương dọa nếu kể với bố mẹ sẽ bị đánh nặng hơn nên học sinh sợ, không dám kể
Hay một vụ khác về người đứng đầu một trường như, Ngày 25/5/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kiên Giang đã khởi tố, bắt tạm giam 4 tháng đối với bà