1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích về thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái? Liên hệ Việt Nam trong 3 năm gần đây

22 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 448,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG NHẤT 1.1. Các khái niệm liên quan đến tỷ giá hối đoái 1.1.1. Ngoại tệ ● Ngoại tệ là đồng tiền của nước ngoài do một nước khác phát hành nhưng phải là một phương tiện chi trả có hiệu lực trong thanh toán. 1.1.2. Ngoại hối ● Ngoại hối bao gồm 3 yếu tố cơ bản: Ngoại tệ Vàng Chứng từ có giá trị ngoại tệ như các cổ phiếu lưu hành bằng ngoại tệ, hối phiếu, chứng khoán có giá trị ● Trong đó: Đối với hối phiếu, thời hạn hiệu lực của hối phiếu tùy thuộc vào kỳ hạn của hối phiếu đó. Đối với các chứng từ có giá trị khác như trái khoán, trái phiếu khi hết hạn phải quay lại nơi phát hành để lấy cả gốc lẫn lãi. Khi ngoại hối là vàng thì đó là phao cứu hộ cho sự ổn định tiền tệ quốc gia bởi lẽ nó là phương tiện chi trả cuối cùng trong thanh toán quốc tế. Vàng có khả năng chuyển sang bất kỳ ngoại tệ mạnh nào mà chủ sở hữu mong muốn. ● Thị trường ngoại hối là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi (mua – bán) ngoại hối kể trên. 1.1.3. Tỷ giá hối đoái ● Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một nước tính bằng tiền tệ của một nước khác. ● Một khái niệm khác: tỷ giá hối đoái là mức giá tại đó một đơn vị tiền tệ của nước này có thể đổi lấy tiền của một nước khác. VD: TGHĐ của USD được công bố ở Việt Nam là ≈ 22000 VNDUSD TGHĐ của Yên Nhật được công bố ở Nhật là 0,012 USDJPY ● Hai cách niêm yết tỷ giá hối đoái Niêm yết trực tiếp (Direct quote): Tỷ giá hối đoái được định giá theo nội tệ. Ký hiệu E VD: 1 USD = 22000 VND => E = 22000 VNDUSD Niêm yết gián tiếp (Indirect quote): Tỷ giá hối đoái được định giá theo ngoại tệ. Ký hiệu e VD: 1 VND = 122000 USD => e = 122000 USDVND 1.2. Chức năng của tỷ giá Chức năng so sánh sức mua giữa các đồng tiền để thấy được năng suất lao động, giá thành, giá cả, hiệu quả trong kinh tế đối ngoại để từ đó có các biện pháp điều chỉnh kinh tế. Chức năng khuyến khích: Nhà nước hoàn toàn có thể điều tiết tỷ giá để khuyến khích các ngành, các chủng loại hàng hóa tham gia hoạt động kinh tế đối ngoại. Chức năng phân phối: tỷ giá có khả năng phân phối lại thu nhập giữa các ngành hàng tham gia hoạt động kinh tế đối ngoại; có khả năng phân phối lại thu nhập giữa các nước có quan hệ kinh tế với nhau. Tỷ giá được sử dụng như là vũ khí cạnh tranh trong thương mại để giành giật thị trường. 1.3. Tỷ giá cân bằng trên thị trường ngoại hối Tỷ giá hối đoái cân bằng là mức tỷ giá mà ở đó cung và cầu về nội tệ trên thị trường ngoại hối bằng nhau. 1.3.1. Cầu nội tệ Cầu nội tệ là khối lượng tiền nội tệ mà mọi người muốn mua và có khả năng mua tương ứng với mỗi mức giá của nội tệ (e) trên thị trường ngoại hối. Cầu về nội tệ được sinh ra từ 2 nguồn: + Lượng hàng hóa, dịch vụ và tài sản trong nước mà người nước ngoài muốn mua + Lượng vốn và các khoản chuyển nhượng vào trong nước VD: Người Nhật muốn mua hàng hóa của Việt Nam. Các hãng sản xuất và những người làm công, sản xuất ra hàng hóa của Việt Nam phải được chi trả bằng tiền Việt Nam. Điều này đòi hỏi người Nhật phải mua tiền Việt Nam trong thị trường ngoại hối. Do đó tạo lên cầu về đồng Việt Nam trên thị trường ngoại hối. Một nước xuất khẩu càng nhiều thì cầu đối với đồng tiền nước đó càng lớn trên thị trường ngoại hối (và ngược lại). Đường cầu nội tệ + Đường cầu nội tệ (đường cầu về một loại tiền) là hàm của tỷ giá hối đoái của nó (một lượng tiền khác mà một đơn vị tiền ấy có thể trao đổi được hay “giá” của đồng tiền ấy trên thị trường ngoại hối) dốc xuống về phía phải. + Tỷ giá hối đoái (e) càng cao thì tiền của nước Việt Nam càng có giá trị, do đó hàng hóa của Việt Nam càng trở nên đắt hơn đối với người Nhật, nên càng ít hàng hóa Việt Nam được xuất khẩu hơn → lượng cầu nội tệ Việt Nam giảm. + Tỷ giá hối đoái (e) càng thấp thì tiền của nước Việt Nam bị sụt giá (mất giá) do đó hàng hóa của Việt Nam càng trở nên rẻ hơn đối với người Nhật, nên càng nhiều hàng hóa Việt Nam được xuất khẩu hơn → lượng cầu nội tệ Việt Nam tăng. 1.3.2. Cung nội tệ Cung nội tệ là khối lượng tiền nội tệ mà mọi người muốn và có khả năng chuyển đổi thành ngoại tệ tương ứng với mỗi mức giá của nội tệ (e) trên thị trường ngoại hối. Cung nội tệ được sinh ra từ hai nguồn: + Lượng hàng hóa, dịch vụ và tài sản nước ngoài mà người trong nước muốn mua. + Lượng vốn và các khoản chuyển nhượng từ trong nước ra nước ngoài. VD: Người Việt Nam muốn mua hàng hóa của Nhật Bản. Các hãng sản xuất và những người làm công, sản xuất ra hàng hóa Nhật phải được chi trả bằng tiền Nhật (Yên Nhật). Điều này đòi hỏi người Việt Nam phải bỏ tiền đồng của Việt Nam để mua lấy đồng Yên Nhật rồi mới có thể mua hàng hóa của Nhật Bản. Lượng tiền đồng của Việt Nam khi ấy bước vào thị trường tiền tệ quốc tế. Một nước nhập khẩu càng nhiều thì đồng tiền của nước ấy sẽ được đưa vào thị trường quốc tế càng nhiều (và ngược lại). Đường cung nội tệ + Đường cung nội tệ (đường cung về một loại tiền) là hàm của tỷ giá hối đoái của nó, dốc lên trên về phía phải. + Tỷ giá hối đoái (e) càng cao thì tiền Việt Nam càng có giá trị, do đó hàng hóa Nhật càng trở lên rẻ hơn đối với người Việt Nam nên hàng hóa Nhật được nhập khẩu vào Việt Nam càng nhiều → lượng cung nội tệ Việt Nam tăng. + Tỷ giá hối đoái (e) càng thấp thì tiền Việt Nam càng bị sụt giá (mất giá), do đó hàng hóa Nhật càng trở lên đắt hơn đối với người Việt Nam nên hàng hóa Nhật được nhập khẩu vào Việt Nam ít đi → lượng cung nội tệ Việt Nam giảm. Như vậy cân bằng trên thị trường chính là do sự tương tác giữa cung và cầu nội tệ + Khi tỷ giá tăng thì cung nội tệ tăng, cầu nội tệ giảm. + Khi tỷ giá giảm thì cung nội tệ giảm, cầu nội tệ tăng. Trường hợp với một nền kinh tế nhỏ, mở cửa trong điều kiện vốn tự do chu chuyển, lãi suất cố định thì tỷ giá có thể thay đổi. 1.3.3. Trạng thái cân bằng trên thị trường ngoại hối ▪ được xác định khi cung và cầu nội tệ cân bằng ▪ Khi tỷ giá thị trường ngoại hối dư cung nội tệ

Trang 1

ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KHÁCH SẠN – DU LỊCH

🙦🕮🙤

BÀI THẢO LUẬN Môn: Kinh tế vĩ mô

Đề tài thảo luận: Phân tích về thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái? Liên hệ

Việt Nam trong 3 năm gần đây?

Hà Nội - 2020

Trang 2

và tỷ giá hối đoái Việc đề ra quy định về tỷ giá đã giúp các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc thanh toán quốc tế qua các ngân hàng thương mại, giúp nền kinh tế hội nhập sâu rộng và ngày càng phát triển mạnh mẽ

3 Tầm quan trọng của đề tài

- Là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với nền kinh tế nước nhà

4 Tác dụng sau khi nghiên cứu

- Rút ra được bài học kinh nghiệm để áp dụng vào Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu

- Phân tích tài liệu

6 Lời cảm ơn

Có thể bài thảo luận không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu và trình bày Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn Nhóm chúng em xin trân thành cảm ơn sự hướng dẫn của cô giáo Đỗ Thị Thanh Huyền đã giúp đỡ nhóm chúng em hoàn thành đề tài này

Nhóm em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

3

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG NHẤT

1.1 Các khái niệm liên quan đến tỷ giá hối đoái

1.1.1 Ngoại tệ

● Ngoại tệ là đồng tiền của nước ngoài do một nước khác phát hành nhưng phải

là một phương tiện chi trả có hiệu lực trong thanh toán

● Thị trường ngoại hối là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi (mua – bán) ngoại hối kể trên

1.1.3 Tỷ giá hối đoái

● Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một nước tính bằng tiền tệ của một nước khác

● Một khái niệm khác: tỷ giá hối đoái là mức giá tại đó một đơn vị tiền tệ của nước này có thể đổi lấy tiền của một nước khác

VD: TGHĐ của USD được công bố ở Việt Nam là ≈ 22000 VND/USD

TGHĐ của Yên Nhật được công bố ở Nhật là 0,012 USD/JPY

● Hai cách niêm yết tỷ giá hối đoái

- Niêm yết trực tiếp (Direct quote): Tỷ giá hối đoái được định giá theo nội tệ

Trang 4

4

1.2 Chức năng của tỷ giá

- Chức năng so sánh sức mua giữa các đồng tiền để thấy được năng suất lao động, giá thành, giá cả, hiệu quả trong kinh tế đối ngoại để từ đó có các biện pháp điều chỉnh kinh tế

- Chức năng khuyến khích: Nhà nước hoàn toàn có thể điều tiết tỷ giá để khuyến khích các ngành, các chủng loại hàng hóa tham gia hoạt động kinh tế đối ngoại

- Chức năng phân phối: tỷ giá có khả năng phân phối lại thu nhập giữa các ngành hàng tham gia hoạt động kinh tế đối ngoại; có khả năng phân phối lại thu nhập giữa các nước có quan hệ kinh tế với nhau

- Tỷ giá được sử dụng như là vũ khí cạnh tranh trong thương mại để giành giật thị trường

1.3 Tỷ giá cân bằng trên thị trường ngoại hối

- Tỷ giá hối đoái cân bằng là mức tỷ giá mà ở đó cung và cầu về nội tệ trên thị trường ngoại hối bằng nhau

1.3.1 Cầu nội tệ

- Cầu nội tệ là khối lượng tiền nội tệ mà mọi người muốn mua và có khả năng mua tương ứng với mỗi mức giá của nội tệ (e) trên thị trường ngoại hối

- Cầu về nội tệ được sinh ra từ 2 nguồn:

+ Lượng hàng hóa, dịch vụ và tài sản trong nước mà người nước ngoài muốn mua + Lượng vốn và các khoản chuyển nhượng vào trong nước

- VD: Người Nhật muốn mua hàng hóa của Việt Nam Các hãng sản xuất và những người làm công, sản xuất ra hàng hóa của Việt Nam phải được chi trả bằng tiền Việt Nam Điều này đòi hỏi người Nhật phải mua tiền Việt Nam trong thị trường ngoại hối Do đó tạo lên cầu về đồng Việt Nam trên thị trường ngoại hối

- Một nước xuất khẩu càng nhiều thì cầu đối với đồng tiền nước đó càng lớn trên thị trường ngoại hối (và ngược lại)

- Đường cầu nội tệ

Trang 5

5

+ Đường cầu nội tệ (đường cầu về một loại tiền) là hàm của tỷ giá hối đoái của nó (một lượng tiền khác mà một đơn vị tiền ấy có thể trao đổi được hay “giá” của đồng tiền ấy trên thị trường ngoại hối) dốc xuống về phía phải

+ Tỷ giá hối đoái (e) càng cao thì tiền của nước Việt Nam càng có giá trị, do đó hàng hóa của Việt Nam càng trở nên đắt hơn đối với người Nhật, nên càng ít hàng hóa Việt Nam được xuất khẩu hơn → lượng cầu nội tệ Việt Nam giảm

+ Tỷ giá hối đoái (e) càng thấp thì tiền của nước Việt Nam bị sụt giá (mất giá) do đó hàng hóa của Việt Nam càng trở nên rẻ hơn đối với người Nhật, nên càng nhiều hàng hóa Việt Nam được xuất khẩu hơn → lượng cầu nội tệ Việt Nam tăng

1.3.2 Cung nội tệ

- Cung nội tệ là khối lượng tiền nội tệ mà mọi người muốn và có khả năng chuyển đổi thành ngoại tệ tương ứng với mỗi mức giá của nội tệ (e) trên thị trường ngoại hối

- Cung nội tệ được sinh ra từ hai nguồn:

+ Lượng hàng hóa, dịch vụ và tài sản nước ngoài mà người trong nước muốn mua + Lượng vốn và các khoản chuyển nhượng từ trong nước ra nước ngoài

VD: Người Việt Nam muốn mua hàng hóa của Nhật Bản Các hãng sản xuất và những người làm công, sản xuất ra hàng hóa Nhật phải được chi trả bằng tiền Nhật (Yên Nhật) Điều này đòi hỏi người Việt Nam phải bỏ tiền đồng của Việt Nam để mua lấy đồng Yên Nhật rồi mới có thể mua hàng hóa của Nhật Bản Lượng tiền đồng của Việt Nam khi ấy bước vào thị trường tiền tệ quốc tế

- Một nước nhập khẩu càng nhiều thì đồng tiền của nước ấy sẽ được đưa vào thị trường quốc tế càng nhiều (và ngược lại)

- Đường cung nội tệ

Trang 6

6

+ Đường cung nội tệ (đường cung về một loại tiền) là hàm của tỷ giá hối đoái của

nó, dốc lên trên về phía phải

+ Tỷ giá hối đoái (e) càng cao thì tiền Việt Nam càng có giá trị, do đó hàng hóa Nhật càng trở lên rẻ hơn đối với người Việt Nam nên hàng hóa Nhật được nhập khẩu vào Việt Nam càng nhiều → lượng cung nội tệ Việt Nam tăng

+ Tỷ giá hối đoái (e) càng thấp thì tiền Việt Nam càng bị sụt giá (mất giá), do đó hàng hóa Nhật càng trở lên đắt hơn đối với người Việt Nam nên hàng hóa Nhật được nhập khẩu vào Việt Nam ít đi → lượng cung nội tệ Việt Nam giảm

- Như vậy cân bằng trên thị trường chính là do sự tương tác giữa cung và cầu nội tệ

+ Khi tỷ giá tăng thì cung nội tệ tăng, cầu nội tệ giảm

+ Khi tỷ giá giảm thì cung nội tệ giảm, cầu nội tệ tăng

- Trường hợp với một nền kinh tế nhỏ, mở cửa trong điều kiện vốn tự do chu chuyển, lãi suất cố định thì tỷ giá có thể thay đổi

1.3.3 Trạng thái cân bằng trên thị trường ngoại hối

Trang 7

7

e0 được xác định khi cung và cầu nội tệ cân bằng

▪ Khi tỷ giá e1 e0 thị trường ngoại hối dư cung nội tệ 🡪 khiến nội tệ giảm giá trở về e0

▪ Khi tỷ giá e2 e0 thị trường ngoại hối dư cầu nội tệ 🡪 khiến nội tệ tăng giá

+ Tỷ giá thả nổi có quản lí

1.4.1 Hệ thống tỷ giá cố định: Bretton Woods (1944 -1971)

Gần cuối thế chiến thứ II, một hội nghị quốc tế đã được tổ chức ở Bretton Woods, New Hampshise (Mỹ) để hoạch định “một hệ thống các tỷ giá hối đoái có trật tự thuận lợi cho luồng thương mại tự do”

- Hệ thống này có các yếu tố sau:

+ Giá của vàng được cố định là 35 đô-la Mỹ một Ounce Nghĩa là giá trị của đồng đôla Mỹ được cố định theo vàng

+ Tiền của các nước tham gia hệ thống được cố định theo đồng đôla Mỹ, các ngân hàng trung ương của những nước này có trách nhiệm duy trì các tỷ giá hối đoái của

họ bằng việc mua và bán đôla trên thị trường ngoại tệ

+ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã được tạo ra để quản lí hệ thống này và làm một số chức năng của ngân hàng trung ương quốc tế: Đảm bảo rằng các nước duy trì các tỷ giá hối đoái như thỏa thuận cho các ngân hàng trung ương tham gia quỹ này vay tiền, khi dự trữ của họ không còn đủ để mua hoặc bán đủ lượng tiền đôla để hỗ trợ các tỷ giá hối đoái của họ nữa; bàn bạc với các nước tham gia về những thay đổi trong các tỷ giá hối đoái của họ

- Ưu điểm

+ Tích cực thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế vì chính sự biến động của tỷ giá

là nguyên nhân làm cho kết quả kinh doanh trở nên không chắc chắn và làm phát sinh rủi ro trong các giao dịch quốc tế, kìm hãm tăng trưởng và phát triển doanh số của các giao dịch này

+ Buộc các chính sách kinh tế vĩ mô phải có kỷ luật hơn vì một khi các chính phủ

đã cam kết duy trì tỷ giá cố định nghĩa là họ đã tự nguyện chấp hành kỷ luật trong

Trang 8

+ Các điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo xu hướng lâu dài: Các tỷ lệ tăng trưởng về xuất khẩu và nhập khẩu cũng như tỷ lệ lạm phát rất khác nhau giữa các nước, gây nên những thay đổi dài hạn về giá trị tương đối của tiền tệ Nhiều nước đã đề nghị IMF thay đổi các tỷ giá hối đoái của họ

+ Các cuộc khủng hoảng mang tính đầu cơ: Khi đã rõ ràng rằng một đồng tiền được đánh giá quá cao hoặc quá thấp so với tỷ giá hiện tại của nó thì các nhà đầu cơ sẽ mua hoặc bán những lượng tiền lớn theo dự đoán của họ về sự thay đổi tỷ giá hối đoái Ngân hàng trung ương sẽ phải chi tiêu những ngoại tệ lớn nhằm duy trì tỷ giá

cố định cho tới khi nó được thay đổi

Vào năm 1971 các nước không còn khả năng đảm bảo rằng những đồng đôla Mỹ có thể được chuyển đổi thành vàng và tháng 8 năm 1971 Chính phủ Mỹ đã buộc phải xóa bỏ chế độ bản vị vàng của đồng USD

1.4.2 Các hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi (linh hoạt)

- Nguyên lí của hệ thống này là:

+ Cho phép các tỷ giá hối đoái được xác định hoàn toàn bởi các lực lượng cung và cầu của thị trường, không có sự can thiệp nào của Chính phủ

+ Về mặt lý thuyết của các tỷ giá cần điều chỉnh một cách tự động theo những thay đổi trong lạm phát, trong cán cân thương mại và các luồng vốn và được duy trì “sự ngang bằng của sức mua” sao cho có thể mua được một lượng hàng nhất định từ cùng một lượng tiền của một trong hai nước Từ 1971, Mỹ và một số nước khác đã cho phép tiền của họ thả nổi hoàn toàn hoặc phần lớn

- Ưu điểm

+ Tỷ giá thả nổi nên nó luôn tự điều chỉnh để đảm bảo cân bằng thường xuyên trong cung cầu tiền tệ trên thị trường ngoại hối Trong trường hợp một quốc gia bị thâm hụt cán cân vãng lai, đồng nội tệ giảm giá, dẫn đến nhập khẩu giảm, xuất khẩu tăng cho đến khi nào cán cân trở lại cân bằng và ngược lại

+ Cho phép chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ độc lập theo quan điểm riêng Theo đó các quốc gia có thể tự xác định mức lạm phát tùy theo từng hoàn cảnh cụ

Trang 9

9

thể Những quốc gia ưu tiên mức lạm phát thấp được tự do áp đặt chính sách kinh tế

vĩ mô thắt chặt sẽ qua thời kì nội tệ lên giá

+ Nền kinh tế cách ly được những ảnh hưởng các cú sốc về giá cả từ bên ngoài Nếu giá nước ngoài tăng thì tỷ giá hối đoái sẽ thay đổi phù hợp với điều kiện tỷ giá hối đoái ngang bằng sức mua, nghĩa là nội tệ sẽ lên giá để ngăn ngừa lạm phát ở mức không mong muốn

+ Góp phần ổn định kinh tế, tỷ giá biến động lên xuống được trong khi đó giá cả lại rất khó có thể giảm được Khi nền kinh tế giảm sức cạnh tranh quốc tế thì tốt nhất là

để mặc cho nội tệ giảm giá hơn là cố định tỷ giá để rồi phải áp dụng các chính sách điều chỉnh giá trị đồng tiền một cách tốn kém để khôi phục sức cạnh tranh quốc tế

mà hậu quả của nó là làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, giảm tiền lương

- Nhược điểm

Trước năm 1971, nhiều nhà kinh tế đã ủng hộ việc để các tỷ giá hối đoái thả nổi tự

do và dự tính rằng các tỷ giá sẽ tương đối ổn định vì đầu cơ sẽ giữ chúng sát với sự ngang bằng của sức mua Trong thực tế các tỷ giá đã chao đảo rất mạnh và đã tách rời khỏi sự ngang bằng sức mua trong những thời kì dài Lí do là:

+ Có sự vận động về vốn do những khác biệt về lãi suất trong các nước gây ra Các mục tiêu của chính sách trong nước đã làm cho các nước theo đuổi những chính sách tiền tệ rất khác nhau, chúng làm lãi suất thực tế khác nhau và làm cho những luồng vốn lớn chảy vào các nước có lãi suất cao, đẩy tỷ giá hối đoái của nước này lên bất

kể các điều kiện thương mại

+ Đầu cơ tiền tệ quốc tế cũng dẫn tới việc tăng và giảm khá lớn các tỷ giá hối đoái

và những thay đổi này không liên quan tới các điều kiện thương mại

+ Sự thay đổi về cơ cấu trong và giữa các nền kinh tế Các giá trị tương đối của nhiều hàng hóa đã thay đổi cùng với sự phát triển ngành công nghiệp mới và sự suy giảm của những ngành cũ làm cho giá trị trao đổi thực tế thay đổi so với các giá trị dự kiến thông qua sự ngang bằng sức mua

1.4.3 Các hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lý (không thuần nhất)

- Một hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lý (hay không thuần nhất) là một hệ thống trong đó tỷ giá hối đoái được phép thay đổi phù hợp với các điều kiện thị trường, nhưng đôi khi Chính phủ can thiệp vào để ngăn ngừa không cho nó vận động ra ngoài các giới hạn nhất định

- Một số nước đã chấp nhận và thực hiện một “khối tiền tệ”, trong đó họ tìm cách duy trì những tỷ giá cố định với các đồng tiền của những nước thuộc khối, nhưng lại cho phép cả khối thay đổi cùng với các lực lượng thị trường một cách tương đối với các nước bên ngoài khối Ví dụ điển hình nhất là hệ thống tiền tệ châu Âu (EMS)

Trang 10

10

- Các hệ thống này đã gặp phải những khó khăn và dẫn đến sự kết thúc tương tự như

hệ thống Bretton Woods như: dự trữ không tương xứng, cần có sự điều chỉnh thường xuyên, các cuộc khủng hoảng mang tính đầu cơ

- Cuối cùng, vào mùa thu năm 1992 hệ thống tiền tệ châu Âu (EMS) đã sụp đổ do

áp lực dự trữ khổng lồ của đồng bảng Anh Đó là sự giảm xuống của giá trị ngang bằng sức mua do có những sự di chuyển lớn về tư bản vào nước Đức, nơi mà lãi suất cao gấp đôi

- Các ngân hàng trung ương và các bộ trưởng tài chính hầu hết các nước đều muốn

có một hệ thống tỷ giá hối đoái ổn định hơn, nhưng vẫn không có sự nhất trí về việc

nó sẽ hoạt động ra sao Hai trong những giải pháp đó là:

+ Quyền rút vốn đặc biệt (SQRS): Năm 1969 IMF đã tạo ra các tài sản dự trữ để ổn định hóa tỷ giá hối đoái

+ Hội đồng tiền tệ châu Âu: Việc thành lập hội đồng tiền tệ châu Âu được nhiều nhà kinh tế và lãnh đạo châu Âu ủng hộ, nhưng hiện nay vẫn chưa có khả năng thành hiện thực, vì các nhu cầu trong nước về chính sách tiền tệ của các nước trong hội đồng đang có nhiều mâu thuẫn

~ Vấn đề thiết lập một hệ thống tài chính quốc tế như thế nào còn là câu hỏi bỏ ngỏ Đây là lĩnh vực nóng bỏng trong hệ thống kinh tế toàn cầu Mỗi nước sẽ ứng phó như thế nào trong một thế giới đầy biến động như vậy?

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá

- Cung và cầu ngoại hối trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và nhạy bén đến sự biến động của tỷ giá hối đoái Nói chung, mức cầu tiền tệ thường biến đổi ngược chiều với tỷ giá hối đoái

VD: + Nếu USD tăng giá so với VND thì hàng nhập về với giá cao, khó tiêu thụ nên mức cầu về hàng nhập khẩu giảm, đưa đến mức cầu USD cũng giảm theo và đồng USD cũng giảm

+ Nếu USD giảm giá so với VND thì hàng nhập về sẽ rẻ hơn, do đó nhà nhập khẩu mua nhiều USD hơn tức mức cầu USD tăng nhiều, từ đó tỷ giá có thể giảm xuống và người nhập sẽ không mua USD để nhập hàng thêm nữa, USD có thể trở lại mức giá bình thường

- Mức chênh lệch lạm phát cũng có thể ảnh hưởng đến tỷ giá:

+ Với một mức tỷ giá cân bằng, nước nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn thì đồng tiền mất giá nhiều hơn Xuất phát từ công thức:

*

.

n r

e P e

P

=

(P: là chỉ số giá trong nước

P*: là chỉ số giá ở nước ngoài

e n : là tỷ giá hối đoái trong nước

Trang 11

11

e r : là tỷ giá hối đoái thực)

+ Khi lạm phát ở trong nước tăng cao hơn so với lạm phát ở nước ngoài, P sẽ tăng

cao hơn *

P làm cho tỷ giá thực tế tăng

- Tình hình cán cân thanh toán quốc tế của một nước:

+ Khi mức cung ngoại tệ trên thị trường hối đoái lớn hơn mức cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ tăng tức giá ngoại tệ tính bằng nội tệ sẽ giảm (tình trạng dư thừa ngoại tệ)

+ Nếu cán cân thanh toán quốc tế của một nước bị thiếu hụt, có nghĩa là tổng số chi ngoại tệ lớn hơn tổng số thu ngoại tệ, tức cầu ngoại tệ lớn hơn cung ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ giảm, ngoại tệ tăng giá và nội tệ giảm giá

- Tình hình chính trị, kinh tế của một nước:

+ Tình hình chính trị ổn định sẽ tăng cường cơ hội thu hút vốn ngoại tệ từ nước ngoài vào trong nước khiến tăng mức cung ngoại tệ; đồng thười người trong nước không muốn chuyển vốn ra nước ngoài mà để đầu tư trong nước khiến mức cầu ngoại tệ có thể thay đổi (cầu ngoại tệ có thể giảm) Kết quả là tỷ giá hối đoái có thể tăng, giá ngoại tệ giảm và tất nhiên giá nội tệ tăng

+ Tình hình kinh tế chính trị bất ổn, mức cầu ngoại tệ sẽ lớn hơn mức cung ngoại tệ

vì người có vốn trong nước và vốn của người nước ngoài ở trong nước có chiều hướng mua hoặc chuyển đổi ngoại tệ để chuyển vào trong nước, nên tỷ giá hối đoái

có thể giảm Hơn thế nữa những người có vốn ở nước ngoài sẽ e ngại mà không chuyển vốn vào trong nước Nó cũng làm giảm tỷ giá hối đoái

- Vấn đề đầu cơ tiền tệ:

+ Trên thị trường ngoại hối, những người kinh doanh tiền tệ, tức mua và bán tiền nhằm mục đích kiếm lời

+ Nếu dự đoán một loại tiền nào đó sẽ tăng giá, tức khắc người ta mua loại tiền đó khi giá mua còn thấp để bán lại sau khi giá lên cao, hưởng chênh lệch giá

+ Nếu dự đoán một loại tiền nào đó sẽ giảm giá và giảm đến mức nào đó sẽ tăng trở lại, họ lập tức bán ra đồng tiền sắp mất giá khi giá bán còn cao để sau đó mua lại số

đó mà vẫn được hưởng chênh lệch giá

+ Những việc làm như vậy cũng làm cho mức cung và mức cầu ngoại tệ thay đổi và dẫn đến làm thay đổi tỷ giá

- Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước:

+ Nước nào có lãi suất cao hơn sẽ thu hút được vốn ngoại tệ vào nhiều hơn và tăng mức cầu về đồng nội tệ và làm tăng tỷ giá

+ Ngược lại, nước nào có lãi suất thấp hơn sẽ không thu hút được vốn ngoại tệ và mức cầu về đồng nội tệ giảm và làm giảm tỷ giá

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w