TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tổng quan về rừng
Theo Luật bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam năm 2004, rừng được định nghĩa là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật, động vật, vi sinh vật, đất và các yếu tố môi trường khác Trong đó, cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính, với độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên.
Ngoài ra, còn có nhiều khái niệm khác nhau về rừng nhƣ sau:
Theo Morozov (1930), rừng được định nghĩa là một hệ sinh thái gồm các cây gỗ có sự liên kết chặt chẽ với nhau, chiếm một không gian nhất định trên bề mặt đất và trong khí quyển Rừng không chỉ chiếm phần lớn diện tích bề mặt đất mà còn đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc cảnh quan địa lý.
Theo M.E.Tcachenco (1952), rừng là một phần quan trọng của cảnh quan địa lý, bao gồm cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật Các yếu tố này tương tác sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau, cũng như với môi trường xung quanh trong quá trình phát triển của chúng.
Theo I.S.MeLeKhop (1974), rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu
Rừng được định nghĩa đơn giản là quần xã sinh vật chủ yếu bao gồm cây rừng, tồn tại trong không gian rộng lớn Mối quan hệ chặt chẽ giữa quần xã sinh vật và môi trường, cũng như giữa các thành phần trong quần xã, là yếu tố quan trọng giúp phân biệt rừng với các hệ sinh thái khác.
Theo Điều 4 của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, rừng được phân thành ba loại chính dựa trên mục đích sử dụng: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất.
Rừng phòng hộ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước và đất, ngăn chặn xói mòn và sa mạc hóa, đồng thời hạn chế thiên tai và điều hòa khí hậu Những chức năng này góp phần thiết yếu vào việc bảo vệ môi trường.
- Rừng phòng hộ đầu nguồn;
- Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay;
- Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển;
- Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường
Rừng đặc dụng chủ yếu được sử dụng để bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ hệ sinh thái rừng, đồng thời là nguồn gen sinh vật quý giá Ngoài ra, rừng còn phục vụ cho nghiên cứu khoa học, bảo vệ các di tích lịch sử và văn hóa, cũng như tạo điều kiện cho du lịch và nghỉ ngơi Việc kết hợp các chức năng này góp phần quan trọng vào công tác bảo vệ môi trường.
- Khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh;
- Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh;
- Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học
Rừng sản xuất chủ yếu được khai thác để sản xuất và kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phòng hộ.
- Rừng sản xuất là rừng tự nhiên;
- Rừng sản xuất là rừng trồng;
- Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận
1.1.3.1 Đối với môi trường a) Khí hậu
Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu toàn cầu bằng cách giảm lượng nhiệt từ mặt trời chiếu xuống bề mặt trái đất nhờ vào sự che phủ lớn của tán rừng so với các loại hình sử dụng đất khác Đặc biệt, rừng giữ vai trò thiết yếu trong việc duy trì chu trình carbon, từ đó có ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu.
Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất, đặc biệt ở những vùng có đủ rừng, nơi dòng chảy được chế ngự và nạn bào mòn được ngăn chặn, giúp lớp đất mặt không bị mỏng đi Điều này bảo vệ các đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất, duy trì độ phì nhiêu Hơn nữa, rừng liên tục tạo ra chất hữu cơ, thể hiện quy luật rằng rừng tốt sẽ tạo ra đất tốt, và ngược lại, đất tốt sẽ nuôi dưỡng rừng tốt.
Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nguồn nước, giúp phòng chống lũ lụt và xói mòn đất Chúng giảm dòng chảy bề mặt, chuyển hóa nước thành lượng nước ngấm xuống đất và vào tầng nước ngầm Nhờ đó, rừng khắc phục tình trạng xói mòn, hạn chế lắng đọng ở lòng sông, lòng hồ, và điều hòa dòng chảy của các con sông, suối, tăng cường lượng nước vào mùa khô và giảm lượng nước vào mùa mưa.
Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc chống cát di động ven biển và bảo vệ các vùng đất nội địa Nó không chỉ bảo vệ đê biển mà còn cải tạo các vùng đất chua phèn, đồng thời cung cấp gỗ và lâm sản Hơn nữa, rừng còn là nơi cư trú của nhiều loài động vật.
Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp lâm sản đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người Từ gỗ, tre, nứa, các doanh nghiệp có thể sản xuất hàng trăm mặt hàng phong phú như trang sức, mĩ nghệ, dụng cụ lao động, thuyền bè truyền thống, cho đến nhà ở và đồ dùng gia đình hiện đại Ngoài ra, rừng cũng cung cấp nguồn dược liệu quý giá cho ngành y học.
Rừng là nguồn dược liệu quý giá, từ xa xưa, con người đã sử dụng sản phẩm từ rừng để chữa bệnh và nâng cao sức khỏe Hiện nay, nhiều quốc gia đang phát triển ngành khoa học "dược liệu rừng" nhằm khai thác hiệu quả nguồn dược liệu phong phú và tìm kiếm các phương thuốc cho bệnh nan y.
Du lịch sinh thái là dịch vụ rừng bền vững, gắn liền với các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu tinh thần mà còn tạo thêm thu nhập cho người dân địa phương Qua đó, người dân càng gắn bó với rừng và tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng.
1.1.3.3 Vai trò đối với xã hội a) Ổn định dân cƣ
Những vấn đề chung về truyền thông môi trường
1.2.1 Khái niệm truyền thông môi trường
Truyền thông môi trường đóng vai trò quan trọng trong quản lý môi trường, ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ và hành vi của cộng đồng Qua đó, nó khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, không chỉ tự mình hành động mà còn thu hút những người khác cùng tham gia, tạo ra tác động tích cực và rộng rãi.
Truyền thông môi trường là phương thức truyền tải thông tin liên quan đến các vấn đề môi trường, giúp các bên tham gia chia sẻ kiến thức và hiểu biết Mục tiêu của truyền thông môi trường là tạo ra sự nhận thức chung và khuyến khích mọi người cùng nhau chịu trách nhiệm bảo vệ môi trường.
Truyền thông môi trường góp phần cùng với giáo dục môi trường chính khóa và ngoại khóa để:
- Nâng cao nhận thức của người dân về các vấn đề môi trường;
- Thay đổi thái độ của người dân về các vấn đề môi trường;
- Xác định tiêu chí và hướng dẫn cách lựa chọn hành vi môi trường có tính bền vững
1.2.2 Vai trò của truyền thông môi trường trong Quản lý môi trường
Truyền thông môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về tình trạng quản lý và bảo vệ môi trường cho cộng đồng, cơ quan và chính quyền Qua đó, nó khuyến khích mọi người cùng tham gia tìm kiếm giải pháp khắc phục Quá trình này không chỉ nâng cao nhận thức mà còn giúp đối tượng truyền thông có khả năng tiếp nhận, phân tích và tự xử lý các tình huống liên quan đến môi trường.
Truyền thông môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc huy động kinh nghiệm và kỹ năng của cộng đồng địa phương vào các chương trình bảo vệ môi trường Nó khuyến khích sự tham gia của người dân trong việc tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề môi trường, đồng thời nâng cao khả năng đánh giá và kiểm soát tình hình môi trường của họ.
Hoạt động thương lượng và hòa giải các xung đột, khiếu nại và tranh chấp về môi trường giữa các cơ quan và trong cộng đồng có thể được thực hiện thông qua các hình thức truyền thông như họp nhóm nhỏ và họp cộng đồng.
Các hoạt động truyền thông môi trường tạo cơ hội cho mọi người trong xã hội hình thành thói quen ứng xử đúng và hành vi thân thiện với môi trường Những hoạt động này khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường, đồng thời xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
(5) Đối thoại Đối thoại thường xuyên làm tăng khả năng thay đổi các hành vi của cộng đồng về quản lý bảo vệ môi trường
Truyền thông môi trường hỗ trợ đắc lực các công cụ khác nhau trong quản lý môi trường
1.2.3 Xây dựng và thực hiện kế hoạch truyền thông
Quá trình xây dựng và thực hiện chương trình truyền thông môi trường bao gồm bốn giai đoạn chính: xác định vấn đề, lập kế hoạch, tạo sản phẩm truyền thông, và thực hiện cùng với phản hồi Kết quả từ chương trình này sẽ trở thành đầu vào cho các chương trình truyền thông tiếp theo Mỗi giai đoạn được thực hiện thông qua các bước cụ thể khác nhau.
(1) Giai đoạn 1: Xác định vấn đề
- Bước 2: Phân tích đối tượng truyền thông
- Bước 3: Xác định mục tiêu truyền thông
(2) Giai đoạn 2: Lập kế hoạch
- Bước 4: Lên kế hoạch thực hiện
- Bước 5: Lựa chọn và kết hợp các phương tiện truyền thông
(3) Giai đoạn 3: Tạo sản phẩm truyền thông
- Bước 6: Thiết kế thông điệp truyền thông
- Bước 7: Sản xuất và thử nghiệm chương trình truyền thông
(4)Giai đoạn 4: Thực hiện và phản hồi
- Bước 8: Thực hiện truyền thông
- Bước 9: Giám sát, đánh giá và tư liệu hóa.
Các hoạt động truyền thông bảo vệ rừng ở Việt Nam
1.3.1 Các hoạt động tuyên truyền thường niên của các chi cục Kiểm lâm, Ban quản lý rừng, khu bảo tồn
Ngoài việc bảo vệ và phát triển rừng, các lực lượng cũng tích cực tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ rừng thông qua nhiều hoạt động thiết thực.
- Đóng bảng, khẩu hiệu có nội dung tuyên truyền bảo vệ rừng;
- Phát hành hàng tờ rơi, lịch, cặp sách, áo, mũ tuyên truyền bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã;
Tuyên truyền lưu động trực tiếp đến các xã và thôn làng thông qua nhiều hình thức như hội nghị, tập huấn, họp cộng đồng và giao lưu thi đố vui, nhằm nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ rừng.
- Thực hiện tiếp xúc nhóm nhỏ hoặc cá nhân Tuyên truyền trực tiếp cho những đối tƣợng không tích cực;
Chương trình truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng và bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm sẽ được phối hợp tổ chức cùng với các trường học, hướng tới việc giáo dục và trang bị kiến thức cho các em học sinh.
- Thực hiện phát thanh lưu động và đài phát thanh thông báo, phổ biến thông tin về bảo vệ rừng;
- Tổ chức các cuộc thi, hội diễn văn nghệ về tuyên truyền bảo vệ rừng tại địa bàn;
- Kết hợp với Báo, Đài phát thanh và truyền hình của các tỉnh để đăng tải các chuyên mục về bảo vệ và phát triển rừng
1.3.2 Các hoạt động tuyên truyền khác
Ngoài các hoạt động tuyên truyền thường niên như trên, Việt Nam cũng đã thực hiện nhiều hoạt động truyền thông bảo vệ rừng nhƣ:
- Tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình nhằm tố cáo các hành vi xâm hại tài nguyên rừng, hiện trạng rừng;
- Tổ chức các cuộc thi vẽ tranh về bảo vệ rừng và môi trường cho trẻ em;
- Tổ chức các cuộc thi thiết kế poster, tờ rơi về bảo vệ tài nguyên rừng;
- Tổ chức các cuộc mít tinh, buổi diễu hành nhằm cổ động cho công tác bảo vệ môi trường và tài nguyên rừng hưởng ứng các ngày lễ lớn;
- Thực hiện tuyên truyền thông qua các dự án nhƣ: SUSFORM-NOW, Dự án CARBI, KfW04, KfW10…
Các chương trình truyền thông đã được thực hiện tại khu vực nghiên cứu
Ban quản lý rừng Mường Phăng, cùng với hai xã Mường Phăng và Pá Khoang, đã triển khai thành công các chương trình truyền thông tại khu vực của hai xã này.
UBND xã, phối hợp với chương trình dự án SUSFORM-NOW và Kiểm lâm địa bàn, đã tiến hành tuyên truyền về công tác quản lý và bảo vệ rừng, đặc biệt là PCCCR trong mùa khô hanh Họ đã ký cam kết bảo vệ rừng đặc dụng và tổ chức tập huấn chuyển giao kỹ thuật trồng rừng, chăm sóc và quản lý bảo vệ rừng, cùng với việc phổ biến Nghị định 157 của chính phủ Hoạt động này đã thu hút sự tham gia của hơn 500 người từ 14/47 bản thuộc hai xã Mường Phăng và Pá Khoang.
Ban quản lý đã thực hiện việc đóng 53 mốc danh giới rừng đặc dụng và lắp đặt 06 bảng tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng tại khu vực 02 xã.
Chính sách Chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được tuyên truyền tới 19 bản, thu hút hơn 800 người tham gia Cụ thể, tại xã Pá Khoang, 17 trong tổng số 21 bản đã tham gia, trong khi xã Mường Phăng có 2/26 bản tham gia.
Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ rừng, các chương trình truyền thông tại khu vực nghiên cứu vẫn còn hạn chế về đa dạng kênh và đối tượng Phương tiện truyền thông chưa được khai thác triệt để, chủ yếu chỉ tổ chức họp dân để phổ biến kiến thức, nhưng hiệu quả chưa cao do tần suất họp ít và không định kỳ Nhiều bảng hiệu tuyên truyền đã hỏng và chưa được sửa chữa, trong khi các chương trình truyền thông chỉ diễn ra ngắn hạn và không thường xuyên, dẫn đến việc chưa nâng cao đáng kể nhận thức và hành vi của cộng đồng trong công tác bảo vệ rừng.
Để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bảo vệ rừng, cần thiết phải xây dựng một chương trình truyền thông đa dạng về kênh, đối tượng và phương tiện phù hợp với khu vực Điều này sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu.
MỤC TIÊU,ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG,
Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận này nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương về việc bảo vệ Rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường (DTLS&CQMT) trong khu vực nghiên cứu.
- Tìm hiểu và đánh giá đƣợc hiện trạng công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng của Ban quản lý rừng DTLS&CQMT tại Bản Phăng;
- Xây dựng và thực hiện được một số chương trình truyền thông về bảo vệ tài nguyên rừng và cảnh quan môi trường tại khu vực nghiên cứu;
- Đề xuất đƣợc một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác truyền thông tại khu vực nghiên cứu.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng: Cộng đồng dân cƣ và hành vi đối với tài nguyên rừng tại Bản Phăng, xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên;
- Phạm vi nghiên cứu: Bản Phăng, xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, Điện Biên.
Nội dung nghiên cứu
Để đạt đƣợc những mục tiêu đã đặt ra, khóa luận đƣợc thực hiện với những nội dung chính sau:
Ban quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường tại Bản Phăng đang tiến hành đánh giá hiện trạng công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng Việc này nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị tài nguyên rừng trong khu vực.
- Xây dựng và thực hiện một số chương trình truyền thông về bảo vệ tài
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác truyền thông tại khu vực nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu thứ cấp
Đề tài nghiên cứu dựa trên việc kế thừa có chọn lọc các tài liệu pháp lý và điều tra cơ bản từ các cơ quan có thẩm quyền, áp dụng phương pháp thu thập, phân tích thông tin và tổng hợp dữ liệu Các tài liệu đã được thu thập bao gồm tổng quan về rừng, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu, tình hình tài nguyên rừng và hiện trạng quản lý tài nguyên rừng tại khu vực.
Phương pháp này được áp dụng để phân tích và đánh giá các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên rừng và môi trường trong khu vực nghiên cứu, dựa trên tài liệu thu thập và các nguồn thông tin khác nhau.
2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Phương pháp này nhằm đánh giá khách quan tình trạng rừng, môi trường khu di tích, hoạt động du lịch và nhận thức, hành vi của cộng đồng đối với tài nguyên rừng trong khu vực nghiên cứu.
Phương pháp mang lại thông tin, số liệu cập nhật nhanh, toàn diện nhưng không cho số liệu một cách chính xác và chi tiết
2.4.3 Phương pháp điều tra xã hội học Đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn với nhiều hình thức khác nhau:
2.4.3.1 Phương pháp phỏng vấn bán chính thức Đây là phương pháp thu thập thông tin bằng quan sát, phỏng vấn bán chính thức Phương pháp này cho phép cùng một lúc thu thập nhiều số liệu trong khu vực nghiên cứu
Các cuộc phỏng vấn bán chính thức là những cuộc trò chuyện thân mật, diễn ra theo từng trường hợp cụ thể Người được phỏng vấn được chọn ngẫu nhiên dựa trên mục đích thu thập thông tin Một số câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn, nhưng có thể được điều chỉnh và mở rộng tùy theo điều kiện của cuộc trò chuyện để thu thập thông tin cần thiết.
Phỏng vấn bán chính thức mang lại không khí thân thiện và cởi mở giữa người đánh giá và người được phỏng vấn Trong hình thức này, câu hỏi được đưa ra linh hoạt, dựa trên câu chuyện của người phỏng vấn, giúp tránh việc người được phỏng vấn phải chuẩn bị sẵn câu trả lời.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp phiếu phỏng vấn nhằm đánh giá nhận thức của đối tượng truyền thông trước và sau các chương trình truyền thông tại khu vực Đề tài đã thực hiện phỏng vấn bán định hướng cho 40 đối tượng để khảo sát nhận thức ban đầu Sau khi triển khai chương trình truyền thông, 45 đối tượng đã được phỏng vấn để đánh giá hiệu quả của các hoạt động truyền thông.
2.4.3.2 Phương pháp sử dụng phiếu phỏng vấn/bảng hỏi
Phương pháp thu thập thông tin trong nghiên cứu này được thực hiện chủ yếu thông qua các phiếu điều tra Các phiếu điều tra bao gồm những câu hỏi đã được soạn sẵn theo thứ tự hợp lý, cùng với các câu hỏi mở cho phép người dân tự do diễn đạt ý kiến của mình Điều này giúp thu thập thông tin thực tế và sâu sắc hơn về vấn đề cần nghiên cứu.
Qua phân tích, tìm hiểu và khảo sát tại khu vực nghiên cứu đề tài đã xác định đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là:
Cán bộ thôn bản là những cá nhân có khả năng ảnh hưởng đến các thành viên khác trong cộng đồng, góp phần tạo dựng niềm tin và định hướng cho họ Với vai trò là người địa phương, họ có thể giao tiếp và kết nối với các đối tượng khác, thúc đẩy sự đoàn kết và phát triển trong cộng đồng dân cư.
Nam giới là nhóm đối tượng có ảnh hưởng tiêu cực lớn nhất đến rừng, và việc thay đổi nhận thức cũng như hành vi tiêu cực của họ đối với môi trường này gặp nhiều khó khăn.
Đối tượng nữ giới thường chịu ảnh hưởng của hủ tục lạc hậu và có trình độ văn hóa thấp, dẫn đến nhận thức và kiến thức về bảo vệ tài nguyên rừng còn hạn chế Vì vậy, họ cần được quan tâm trong các hoạt động truyền thông Đề tài này thực hiện phát phiếu phỏng vấn nhằm đánh giá nhận thức của cộng đồng tại khu vực trước và sau khi triển khai truyền thông, cũng như đánh giá kết quả thực hiện các chương trình truyền thông Số lượng phiếu phỏng vấn được trình bày trong các bảng sau.
Bảng 2.1: Phiếu phỏng vấn nhằm đánh giá nhận thức của cộng đồng trước khi thực hiện chương trình truyền thông Đối tƣợng Cán bộ Nam Nữ
Bảng 2.2: Phiếu phỏng vấn phát sau khi thực hiện các chương trình truyền thông tại khu vực nghiên cứu Đối tƣợng Cán bộ Nam Nữ
(Nguồn: Khóa luận thực hiện, 2016)
2.4.4.1 Cơ sở lý luận trong xây dựng chương trình truyền thông
Chương trình truyền thông bảo vệ rừng được thực hiện qua 4 giai đoạn: a) Giai đoạn 1: Xác định vấn đề a 1 Phân tích tình hình và xác định vấn đề
Vấn đề hiện nay là tình trạng tiêu cực trong công tác bảo vệ rừng và sự suy giảm tài nguyên rừng, điều mà chúng ta không mong muốn xảy ra.
Phương pháp được sử dụng trong bước này là: Đánh giá nhanh có sự tham gia và đánh giá môi trường có sự tham gia
Cách thức tiến hành của các phương pháp trên là:
- Thu thập và kế thừa tài liệu thứ cấp;
- Điều tra xã hội học a 2 Phân tích đối tượng truyền thông
Phân tích đối tượng truyền thông giúp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhóm đối tượng đến tài nguyên rừng Từ đó, có thể triển khai các hoạt động truyền thông phù hợp, làm cơ sở cho việc xác định mục tiêu truyền thông hiệu quả.
* Phương pháp phân tích đối tượng
- Tiến hành khảo sát thực địa nhằm đánh giá tổng quát các đối tƣợng
- Phân tích nhận thức- thái độ - hành vi của đối tƣợng thông qua điều tra xã hội học ( phỏng vấn bán chính thức và phiếu phỏng vấn)
Phương pháp phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, mối đe dọa) được áp dụng để đánh giá tác động của các đối tượng đến nguồn tài nguyên rừng, dựa trên dữ liệu thu thập từ các phương pháp nghiên cứu Bước tiếp theo là xác định mục tiêu truyền thông nhằm nâng cao nhận thức và bảo vệ tài nguyên rừng.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ – XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên
Khu vực nghiên cứu tọa lạc ở phía Đông Bắc huyện Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ 25 km về phía Đông Bắc, với tọa độ địa lý chính xác.
Từ 21 0 37 ' 97 '' đến 21 0 49 ' 43 '' vĩ độ Bắc;
Từ 103 0 05 ' 47 '' đến 103 0 18 ' 58 '' kinh độ Đông;
Vị trí, ranh giới khu vực nghiên cứu:
- Phía Bắc tiếp giáp với xã Nà Nhạn và xã Nà Tấu, huyện Điện Biên;
- Phía Tây tiếp giáp xã Tà Lèng và xã Thanh Minh, thành phố Điện Biên Phủ;
- Phía Nam tiếp giáp với xã Pú Nhi, huyện Điện Biên Đông;
Khu vực này nằm ở phía Đông, tiếp giáp với xã ng Cang và xã ng Nưa thuộc huyện Mường ng Tổng diện tích đất tự nhiên của khu vực là 9.158,56 ha, bao gồm địa phận của hai xã là Pá Khoang và Mường Phăng.
3.1.2 Đặc điểm địa hình Địa hình khu vực nghiên cứu có độ cao từ 880m đến 1.635m so với mặt nước biển, với 2 kiểu địa hình chính:
Kiểu địa hình núi trung bình là đặc trưng của khu vực nghiên cứu, bao gồm toàn bộ hệ thống núi đất với độ cao dao động từ 880m đến 1.635m.
- Kiểu địa hình thung lũng: Nằm xen với các dãy núi thuộc khu vực hồ Pá Khoang; tuy nhiên kiểu địa hình này diện tích không lớn;
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm đƣợc chia làm hai mùa rõ rệt:
- Mùa mƣa từ tháng 4 đến tháng 10; thời tiết mùa này nóng ẩm mƣa nhiều;
- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; Mùa này thường lạnh và khô hanh lƣợng mƣa ít, lạnh nhất vào tháng 12 và tháng 1 năm sau;
- Nhiệt độ bình quân trong năm 22,3 0 C;
- Lƣợng mƣa trung bình/năm từ 1.600 mm - 2.000 mm;
Hướng gió thịnh hành ở khu vực này là gió Đông Bắc vào mùa lạnh và gió Đông Nam vào mùa nóng Trong các tháng 3 và 4, xã thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam (gió Lào), dẫn đến thời tiết khô hanh.
3.1.4 Địa chất thổ nhƣỡng Đất đai khu vực nghiên cứu đƣợc hình thành và phát triển trên 2 nhóm đá mẹ chính:
- Nhóm đá mẹ macma axit;
- Nhóm đá mẹ biến chất; với các loại nhƣ Granit, phiến thạch sét và đá diệp thạch;
Kế thừa tài liệu kết quả điều tra xây dựng bản đồ lập địa của tỉnh Điện Biên, khu vực nghiên cứu có những nhóm đất sau:
Nhóm đất Feralit mùn vàng đỏ thường được tìm thấy trên các vùng núi có độ cao từ 950m đến 1.600m so với mực nước biển, với độ dốc trung bình lớn hơn 25 độ Đá mẹ chủ yếu của loại đất này là các loại đá macma axit và đá biến chất, đồng thời có thành phần cơ giới trung bình với hàm lượng mùn tương đối dày.
Nhóm đất thung lũng, hình thành qua quá trình bồi tụ, chủ yếu phân bố ở ven hồ, suối, vùng đồi và thung lũng với độ cao dưới 950m so với mặt nước biển và độ dốc nhỏ Đất thung lũng có tầng đất từ trung bình đến dày, với thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến cát pha, tạo nên đất tơi xốp.
Hệ thống thủy văn trên địa bàn khu vực gồm hệ thống suối sau:
Suối Nậm Phăng là suối chính được hình thành từ các dòng suối nhỏ tại khu vực bản Loọng Luông và bản Nghịu, sau đó chảy vào hồ Pá Khoang ở bản Đông Mệt.
Suối Nậm Điếng bắt nguồn từ đỉnh núi cao gần huyện Điện Biên Đông, chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc Suối không chỉ cung cấp nước cho sản xuất mà còn đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho các bản như Tân Bình và bản Khá.
Ngoài ra trong khu vực còn nhiều khe suối khác nhƣ: Khe Tạc Điêng, khe
3.1.6 Hiện trạng sử dụng đất
Tổng diện tích tự nhiên khu vực nghiên cứu: 9.158,56 ha
- Đất nông nghiệp: 7.468,76 ha chiếm 81,5% diện tích đất tự nhiên;
- Đất phi nông nghiệp: 1.684,91 ha; chiếm 18,4% diện tích đất tự nhiên;
- Đất chƣa sử dụng: 4,89 ha.
Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1.1 Trồng trọt Đối với các hoạt động sản xuất nông nghiệp trong khu vực nghiên cứu chủ yếu vẫn là các hoạt động trồng trọt, bao gồm các loài cây trồng nhƣ: Lúa, Ngô, Đậu tương, Lạc, Sắn và một số loài cây ăn quả, … a) Cây trồng hàng năm
* Diện tích trồng lúa nước cả hai vụ là 759,25 ha cụ thể:
- Diện tích vụ Chiêm Xuân: 303,25 ha, năng suất bình quân 61,1 tạ/ha, sản lƣợng 185.285,75 tấn
- Diện tích vụ Lúa Mùa diện tích 456 ha, năng suất bình quân 39,5 tạ/ha, sản lƣợng 180.120 tấn
Các cây hàng năm như đậu tương, ngô và lạc thường phát triển tốt ở những khu vực đồi thấp với độ dốc nhỏ, gần khu dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho canh tác Trong khi đó, tổng diện tích cây lâu năm đạt 34,2 ha, bao gồm các loại cây trồng chính như đào Pháp, đào Ta, mận Tam hoa, mắc coọc (lê) và bưởi Diễn.
Khu vực này chủ yếu phát triển chăn nuôi quy mô hộ gia đình với phương thức chăn thả tự do, nhưng chưa có quy hoạch và đầu tư hợp lý, dẫn đến năng suất vật nuôi thấp Sản phẩm chăn nuôi chủ yếu phục vụ nhu cầu thực phẩm cho sinh hoạt và cung cấp sức kéo cho sản xuất, do đó, sản lượng thịt cung cấp cho thị trường không đáng kể.
Khu vực có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn với hồ Pá Khoang, hồ Loọng Luông và hệ thống ao của các hộ gia đình, tổng diện tích lên tới 53,2 ha, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành này Tuy nhiên, sự đầu tư và quan tâm từ người dân cũng như các cơ quan chức năng vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng, và chủ yếu nuôi theo phương thức quảng canh để tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên.
3.2.2 Điều kiện văn hóa – xã hội
Khu vực Rừng DTLS&CQMT Mường Phăng có 1.967 hộ với tổng số 8.957 khẩu, bao gồm 4 dân tộc sinh sống: Thái, Khơ mú, Mông và Kinh.
Dân tộc Thái chiếm 69,16%, Khơ mú 17,78%, Mông 11,81% và Kinh 1,25% tổng số khẩu trong khu vực Số người trong độ tuổi lao động là 4.797, chiếm 53,56% tổng dân số, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp với lao động phổ thông, có trình độ văn hóa tốt nghiệp tiểu học và chưa qua đào tạo.
Khu vực có 15 bản được công nhận đạt tiêu chuẩn bản văn hóa, chiếm 31,9% tổng số bản Hàng năm, Ủy ban nhân dân các xã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể dục thể thao để chào mừng các ngày lễ và sự kiện trọng đại của đất nước.
- Giáo dục: Tổng số trường trong khu vực là 9 trường, 133 lớp với 2.705 học sinh trong đó trường mầm non 3 trường, trường tiểu học 4 trường, trường THCS 2 trường
Vào năm 2015, các hoạt động y tế đã được tiến hành thường xuyên nhằm đảm bảo sức khỏe cho người dân và cộng đồng, với tổng số lần khám bệnh đạt 15.818 lần.
Trong thời gian qua, tình hình an ninh chính trị tại vùng dự án đã được duy trì ổn định Tuy nhiên, trật tự an toàn xã hội vẫn gặp phải nhiều thách thức, với các vấn đề như khai thác lâm sản trái phép, phá rừng để làm nương rẫy, trộm cắp tài sản, và vận chuyển trái phép chất ma túy có xu hướng diễn biến phức tạp.
Tài nguyên rừng của rừng đặc dụng
3.3.1 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp
Tổng diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn được xác định là 6.729,64 ha, trong đó có 3.061,90 ha diện tích đất có rừng và 3.667,74 ha diện tích đất chưa có rừng.
* Diện tích quy hoạch rừng đặc dụng: 4.436,55 ha
Diện tích đất rừng tại khu vực Di tích lịch sử Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ là 2.496,71 ha, chủ yếu bao gồm rừng nghèo và rừng trung bình, cùng với một phần nhỏ diện tích rừng trồng và rừng giàu.
- Diện tích đất chƣa có rừng: 1.939,84 ha
* Diện tích đất quy hoạch rừng sản xuất: 2.293,09 ha
- Diện tích đất có rừng là 565,19 ha; chủ yếu diện tích rừng nghèo và diện tích rừng trồng
- Diện tích đất chƣa có rừng: 1.727,90 ha
3.3.2 Các đặc trƣng về hệ động, thực vật rừng
3.3.2.1 Đa dạng về hệ thực vật a) Phân loại kiểu rừng tự nhiên
Dựa theo tiêu chuẩn phân loại thảm thực vật của Tiến sĩ Thái Văn Trừng, khu vực nghiên cứu chủ yếu có kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm, cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp Kiểu rừng này phân bố tại các sườn và đỉnh núi đất độc lập có lẫn đá, cũng như trên các đỉnh núi ở ranh giới với huyện Điện Biên Đông, đặc biệt là một số đỉnh núi cao như đỉnh núi Pú.
Rừng lùn hình thành do đất mỏng và gió mạnh, tạo ra kiểu khí hậu thổ nhưỡng đặc trưng với tầng cây gỗ thấp và khẳng khiu Khu vực nghiên cứu có sự đa dạng về thành phần các họ, chi, loài cây, góp phần vào đặc điểm sinh thái độc đáo của nơi đây.
Về thực vật: có tới 991 loài thực vật bậc cao trong 621 chi thuộc 191 họ ở
Việt Nam sở hữu 35 loài thực vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ thế giới, 43 loài trong sách đỏ Việt Nam và 7 loài theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
3.3.2.2 Đa dạng về hệ động vật
Theo kết quả tổng hợp tài liệu và khảo sát thực địa, nghiên cứu thành phần phân loại học của 4 lớp động vật (thú, chim, bò sát, ếch nhái) tại khu vực nghiên cứu cho thấy những thông tin quan trọng về khu hệ thú.
Thông qua việc thu thập dữ liệu thực địa và tham khảo các tài liệu có chọn lọc, chúng tôi đã thống kê được 32 loài thuộc 15 họ và 8 bộ khác nhau.
Với 32 loài thú ghi nhận đƣợc cho thấy khu hệ thú hoang dã ở vùng dự án rất nghèo nàn b) Kết quả khảo sát, nghiên cứu về khu hệ chim
Dựa trên kết quả nghiên cứu thực địa, phỏng vấn người dân địa phương và tài liệu tham khảo, đề tài đã ghi nhận 74 loài chim thuộc 32 họ và 14 bộ trong khu vực nghiên cứu Ngoài ra, kết quả khảo sát cũng cung cấp thông tin về khu hệ bò sát và ếch nhái tại địa phương.
Khu hệ bò sát, ếch nhái ở trong khu vực nghiên cứu có 29 loài, thuộc 12 họ, 3 bộ, 2 lớp, bao gồm:
- Bò sát: 17 loài, 8 họ, 2 bộ
- Ếch nhái: 12 loài, 4 họ, 1 bộ
3.3.2.3 Đánh giá mức độ đe dọa của hệ sinh thái rừng
Mức độ đe dọa đối với tài nguyên thực vật tại khu vực quản lý rừng đang gia tăng, khi tình trạng khai thác và vận chuyển gỗ trái phép vẫn tiếp diễn Điều này đã dẫn đến sự suy giảm đáng kể về chất lượng và số lượng tài nguyên thực vật Nhiều loài cây quý hiếm, đặc biệt là cây gỗ lớn, hiện chỉ còn tồn tại tại khu vực hầm Đại tướng và một vài nơi hẻo lánh Hiện nay, những loài cây tuyệt chủng trong tự nhiên chủ yếu là cây bản địa tại Điện Biên.
Mức độ đe dọa đến động vật rừng chủ yếu đến từ sự phân bố dân cư rộng khắp, với các thôn bản cách nhau chỉ khoảng 3 - 5 km, đã làm xé lẻ sinh cảnh tự nhiên Tài nguyên động vật trong khu rừng đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi nạn săn bắn và sự suy giảm của thảm thực vật Kết quả là, nhiều loài thú đã cạn kiệt và hầu như không còn xuất hiện trong khu rừng nữa.
Rừng DTLS&CQMT Mường Phăng có đa dạng sinh học cao với nhiều loài động thực vật quý hiếm, nhưng hiện đang bị xâm hại nghiêm trọng Mặc dù công tác quản lý và bảo vệ rừng đã được cải thiện trong những năm gần đây, lực lượng kiểm lâm mỏng và địa bàn quản lý rộng khiến việc bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn Hệ sinh thái rừng và các loài quý hiếm vẫn đang đối mặt với mức độ đe dọa cao, và nếu không có biện pháp quản lý kịp thời, khu vực này sẽ tiếp tục bị tàn phá, dẫn đến nguy cơ mất giá trị di tích lịch sử và cảnh quan môi trường trong tương lai.
Khu vực nghiên cứu xây dựng chương trình truyền thông
Khu vực nghiên cứu sản phẩm truyền thông được chọn là Bản Phăng, cách trung tâm xã Mường Phăng 1Km Bản Phăng nằm trong khu rừng đặc dụng, sở hữu đầy đủ các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của khu vực Đặc biệt, sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ cũng nằm trong địa bàn Bản Phăng, do đó, công tác bảo vệ rừng và cảnh quan tại đây cần được quan tâm và chú trọng hơn bao giờ hết.