1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu kỹ thuật gây trồng đương quy di thực angelica acutiloba sieb et zucc kitagawa tại xã bản già huyện bắc hà tỉnh lào cai

91 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Kỹ Thuật Gây Trồng Đương Quy Di Thực (Angelica Acutiloba (Sieb.et.Zucc) Kitagawa) Tại Xã Bản Già, Huyện Bắc Hà, Tỉnh Lào Cai
Tác giả Lê Thái Phượng
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Ngọc Hải
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản Lý Tài Nguyên Rừng
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 5,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên thế giới (12)
  • 1.2. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam (13)
  • 1.3. Tình hình nghiên cứu Đương Quy trên Thế giới và Việt Nam (15)
    • 1.3.1. Trên thế giới (15)
    • 1.3.2. Tại Việt Nam (15)
  • 1.4. Tình hình nghiên cứu cây thuốc tại Lào Cai (17)
    • 1.4.1. Tiềm năng cây thuốc của Tỉnh Lào Cai (17)
    • 1.4.2. Tình hình nghiên cứu cây Đương Quy tại tỉnh Lào Cai (19)
  • PHẦN 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (12)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (22)
      • 2.1.1. Mục tiêu chung (22)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (22)
    • 2.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (22)
      • 2.2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (22)
      • 2.2.3. Nội dung nghiên cứu (22)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (23)
      • 2.3.1. Phương pháp (23)
      • 2.3.2. Điều tra ngoại nghiệp (23)
      • 2.3.3. Phương pháp điều tra ngoài thực địa (24)
      • 2.3.4. Phương pháp xử lí nội nghiệp (28)
  • PHẦN 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU (22)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường (29)
      • 3.1.1. Điều kiện tự nhiên (29)
      • 3.1.2. Các nguồn tài nguyên (30)
    • 3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (32)
      • 3.2.2. Kinh tế và đời sống (34)
      • 3.2.3. Cơ sở hạ tầng (36)
    • 3.3. Đánh giá tiềm năng của xã (42)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (43)
    • 4.1. Thực trạng gây trồng loài Đương quy tại xã Bản Già (43)
      • 4.1.1. Diện tích, số lượng, quy mô trồng Đương quy ở xã Bản Già (43)
    • 4.2. Tìm hiểu kĩ thuật nhân giống, trồng, chăm sóc, thu hoạch (47)
      • 4.2.1. Giống và kỹ thuật nhân giống (47)
      • 4.2.2. Gieo hạt tại vườn ươm (48)
      • 4.2.3. Kỹ thuật gieo hạt giống (50)
      • 4.2.4. Chăm sóc vườn ươm (52)
      • 4.2.5. Kỹ thuật trồng, chăm sóc (53)
      • 4.2.6. Che phủ nilon (55)
      • 4.2.7. Cách trồng (56)
      • 4.2.8. Thu hoạch (59)
      • 4.2.9. Chế biến (61)
    • 4.3. Đánh giá sinh trưởng của loài Đương quy này trong vườn trồng của các hộ (63)
    • 4.4. Tìm hiểu vai trò, thị trường tiêu thụ và tác động ảnh hưởng của việc trồng cây Đương quy tới kinh tế các hộ gia đình (69)
    • 4.5. Đề xuất giải pháp phát triển bền vững loài Đương quy này tại địa phương (70)

Nội dung

Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên thế giới

Trong cuốn „Lịch sử liên đại cây cỏ‟ xuất bản năm 1878, Charles Pikering đã chỉ ra rằng từ năm 4271 trước Công nguyên, cư dân vùng Trung Cận Đông đã sử dụng nhiều loại cây như sung, vả, và cau dừa không chỉ để làm lương thực mà còn để chữa bệnh.

Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, Borisova B (1960) cho rằng khoảng 5.000 năm trước công nguyên, cây thuốc đã được sử dụng rộng rãi và trở thành mục tiêu chiếm đoạt trong các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc, bên cạnh phụ nữ và lương thực Điều này cho thấy tầm quan trọng của cây thuốc quý đã được nhận thức từ thời cổ đại bởi các chiến binh.

Châu Úc được coi là cái nôi của nền văn minh cổ xưa nhất trên thế giới, với sự định cư của các thổ dân từ 60.000 năm trước Họ đã phát triển những kiến thức quý giá về các loài cây thuốc bản xứ, trong đó có cây bạch xà xanh (Eucalyptus globulus) - loài cây duy nhất chỉ có ở Châu Úc và được sử dụng hiệu quả trong việc chữa bệnh.

Alen (131-200 sau công nguyên) là một thầy thuốc nổi tiếng của Hoàng đế La Mã, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc Ông đã viết hàng trăm cuốn sách, và những kiến thức của ông đã được áp dụng trong ngành Y học châu Âu suốt hơn 1500 năm.

Vào khoảng thế kỉ XI sau công nguyên, các thầy tu tại Scotland đã sử dụng cây thuốc Phiện và cây cần sa như những loại thuốc giảm đau và gây mê Sau này, Nicholas Culpeper (1616-1654) đã kế thừa kiến thức và kinh nghiệm chữa bệnh từ các thầy thuốc địa phương, và ông đã xuất bản một cuốn sách nổi tiếng, được tái bản nhiều lần.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1985, trong số 250.000 loài thực vật đã biết, gần 20.000 loài được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp hoạt chất chế biến thuốc Hiện nay, ước tính có từ 30.000 đến 70.000 loài cây được sử dụng trên toàn thế giới Tại vùng nhiệt đới Châu Á, có khoảng 6.500 loài, Ấn Độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc có trên 5.000 loài, và riêng ở một số nước Đông Nam Á đã ghi nhận tới 2.000 loài cây thuốc, trong khi vùng nhiệt đới Âu Mỹ có hơn 1.900 loài.

Khi nói đến Châu Á, Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia không thể không nhắc tới Trung Quốc nổi bật với kinh nghiệm phong phú trong việc sử dụng cây cỏ tự nhiên làm thuốc chữa bệnh, với ước tính khoảng 1000 loài thực vật đã được áp dụng trong y học truyền thống.

Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam

Việt Nam, nằm gần cái nôi của Y học nhân loại, đã tiếp thu nhiều kinh nghiệm dân gian từ y học Trung Quốc.

Việt Nam là một quốc gia đa dạng với 54 dân tộc, mỗi dân tộc mang đến những nền văn hóa và kinh nghiệm chữa bệnh độc đáo Sự phong phú này đã làm giàu thêm kho tàng thuốc dân tộc của Việt Nam Y học cổ truyền Việt Nam sở hữu nhiều bài thuốc hiệu quả cho các loại bệnh, và qua thời gian, những kinh nghiệm dân gian quý giá đã được ghi chép lại thành những cuốn sách, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị y học truyền thống trong cộng đồng.

Tài liệu cổ về cây thuốc hiện còn lại không nhiều tuy nhiên có thể coi

2838 trước công nguyên là năm hình thành bộ môn nghiên cứu cây thuốc và dƣợc liệu Vào năm này Thần nông viết cuốn „Bản thảo đầu tiên‟

Vào năm 1595 trước công nguyên, Lý Thời Trân đã biên soạn cuốn sách "Bản thảo cương mục", tập hợp kinh nghiệm về cây thuốc và dược liệu từ trước Đây là tác phẩm vĩ đại nhất của Trung Quốc trong lĩnh vực y học cổ truyền, mô tả và giới thiệu 1094 loại cây thuốc và vị thuốc từ thiên nhiên.

798 vị thuốc từ động vật và khoáng vật

Từ thời Vua Hùng dựng nước cách đây 2900 năm, tổ tiên ta đã biết sử dụng cây cỏ làm gia vị để kích thích vị giác và chữa bệnh, điều này được ghi chép trong các văn tự Hán Nôm như Đại việt sử ký ngoại ký, Lĩnh năm chích quái liệt truyện và Long úy bí thư.

Tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt Nam là „Nam thần dƣợc hiệu‟ và

Tuệ Tĩnh, một bậc kì tài trong lịch sử y học Việt Nam, được biết đến với tác phẩm "Hồng nghĩa giác tƣ y nhƣ", trong đó mô tả hơn 630 vị thuốc, 13 đơn thuốc cho các loại bệnh và 37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn Ông được vinh danh là "Vi thánh thuốc Việt Nam" và để lại nhiều bộ sách quý giá cho thế hệ sau, bao gồm "Tuệ tĩnh y thư", "Thập tam phương gia giảm" và "Thương hàn tam thập thất trùng pháp".

Vào thế kỷ XVIII, Hải thượng lãn ông Lê Hữu Trác đã cho ra mắt bộ sách lớn thứ hai mang tên „Y tông Tâm tĩnh‟, bao gồm 28 tập và 66 quyển, trong đó mô tả chi tiết về thực vật và các đặc tính chữa bệnh.

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, nhất là sau khi miền Bắc đƣợc giải phóng năm 1954 đáng chú ý nhất là năm 1957, Đỗ Tất Lợi đã biên soạn bộ

"Dƣợc liệu học và các vị thuốc Việt Nam" là một tác phẩm gồm 3 tập, được tái bản vào năm 1961 Tác phẩm này mô tả và nêu rõ công dụng của hơn 100 loại cây thuốc nam, bắt đầu từ năm 1962.

Năm 1965, Đỗ Tất Lợi cho xuất bản bộ sách "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" gồm 6 tập, giới thiệu hơn 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật Ông mô tả chi tiết tên khoa học, phân bố, công dụng và thành phần hóa học, đồng thời phân loại các cây thuốc theo nhóm bệnh Bộ sách này đã trở thành kim chỉ nam quý giá cho nhiều thầy thuốc và là tài liệu thiết yếu cho gia đình, kết hợp giữa khoa học dân gian và khoa học hiện đại, mang lại giá trị lớn về cả mặt khoa học lẫn thực tiễn.

Năm 1960, Phạm Hoàng Bộ và Nguyễn Văn Dương đã cho ra mắt bộ sách "Cây cỏ Việt Nam", mặc dù chưa giới thiệu đầy đủ toàn bộ hệ thực vật của Việt Nam, nhưng bộ sách đã góp phần quan trọng trong việc trình bày công dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật.

Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc, nổi bật là cuốn "Tài nguyên cây thuốc Việt Nam" của Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương (1993), giới thiệu khoảng 300 loài cây thuốc được sử dụng trên toàn quốc Ngoài ra, Trình Đình Lý (1995) đã xuất bản cuốn "1900 loài cây có ích", trong đó nêu rõ rằng trong số các loài thực vật bậc cao ở Việt Nam, có 76 loài cho nhựa thơm.

160 loài cho tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 loài chƣa tanin, 50 loài cây gỗ có giá trị cao, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây

Võ Văn Chi (1997) đã biên soạn „Từ điển cây thuốc Việt Nam‟, bao gồm khoảng 3.200 loài cây thuốc, trong đó có 2.500 loài thực vật có hoa thuộc 1050 chi, được phân loại vào 230 họ thực vật theo hệ thống A.L Takhtajan Tác giả cung cấp thông tin về nhận dạng, bộ phận sử dụng, môi trường sống, thu hái, thành phần hóa học, tính vị, tác dụng và công dụng của từng loài thực vật.

Các nhà nghiên cứu tại Viện Sinh Thái và Tài Nguyên sinh vật đã thu thập và công bố nhiều tài liệu liên quan đến cây thuốc Trong đó, hai tập sách "Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam" của tác giả Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001; 2002) nổi bật với việc đề cập đến giá trị sử dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu tại Việt Nam.

Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003;2005) đã xuất bản bộ sách „Danh lục các loài thực vật Việt Nam‟, mang lại giá trị quan trọng cho việc tra cứu hệ thực vật và thành phần cây thuốc Tập sách này cung cấp thông tin về tên khoa học, tên thường gọi, nhận dạng, phân bố, dạng sống-sinh thái và công dụng của các loài thực vật, hỗ trợ hiệu quả cho các nghiên cứu về thực vật làm thuốc.

Tình hình nghiên cứu Đương Quy trên Thế giới và Việt Nam

Trên thế giới

Cây Đương quy, thuộc loài Angelica sinensis, được nhập từ Nhật Bản vào Việt Nam vào năm 1990 và hiện tại chưa có ghi nhận về Đương quy mọc tự nhiên trong hệ thực vật Việt Nam Loài cây này được trồng và sử dụng phổ biến ở Trung Quốc, trong khi ở Triều Tiên và Nhật Bản, người ta trồng và sử dụng loài Angelica acutiloba.

Tại Việt Nam

Năm 1990, Đương quy Nhật Bản được đưa vào Việt Nam và được Viện Dược liệu trồng thử nghiệm tại Trạm cây thuốc Sapa, Lào Cai Sau 3 năm thử nghiệm từ 1991 đến 1993, kết quả cho thấy thời gian sinh trưởng và phát triển của Đương quy Nhật Bản ở miền núi cao phía Bắc rất khả quan.

- Thời gian nảy mầm của hạt (từ gieo đến mọc) khoảng trên dưới 20 ngày

- Tỷ lệ nảy mầm của hạt đạt khoảng 75% – 85%

- Thời gian từ gieo hạt đến thu được dược liệu khoảng trên dưới 500 ngày

- Thời gian từ gieo hạt đến khi thu hạt giống khoảng trên dưới 550 ngày

- Năng suất củ đạt được trên dưới 25 tạ/ha

- Năng suất hạt giống khoảng xấp xỉ 300 kg/ha

- Thử nghiệm cũng cho thấy tỷ lệ cây ra hoa năm thứ nhất thấp (6,5%), củ to, năng suất dƣợc liệu khá ổn định

Nghiên cứu về sản xuất hạt giống Đương quy Nhật Bản ở Sapa cho thấy đây là địa điểm lý tưởng không chỉ để thu dược liệu mà còn để sản xuất hạt giống chất lượng cao cung cấp cho miền Bắc Việt Nam Trong khi đó, vùng đồng bằng sông Hồng, cụ thể là Thanh Trì – Hà Nội, chỉ phù hợp để trồng Đương quy Nhật Bản nhằm lấy dược liệu, do thời gian ra hoa ngắn và tỷ lệ đậu quả thấp, không thuận lợi cho việc sản xuất hạt giống.

Từ năm 2013, nhiều hộ gia đình ở Lâm Hà đã bắt đầu trồng cây dược liệu đương quy, với giá củ tươi đạt 70.000 đồng/kg, mang lại thu nhập 800 triệu đồng/năm cho mỗi hecta Nếu được sấy khô, giá trị có thể lên đến 1,2 tỷ đồng Để nâng cao giá trị sản phẩm, nông dân đã thành lập Tổ hợp tác Biết Thành Lập, chịu trách nhiệm toàn bộ quy trình từ đầu vào đến đầu ra Việc canh tác được thực hiện theo tiêu chuẩn VietGap, đảm bảo chất lượng và hiệu quả.

Kỹ thuật trồng cây đương quy đơn giản và chi phí đầu tư thấp, khoảng 5 triệu đồng/ha Theo kinh nghiệm của người dân, cây không bị sâu bệnh trong suốt chu kỳ sinh trưởng, chỉ cần nhổ cỏ và tưới nước Sự chủ động trong việc trồng cây và tìm kiếm thị trường đã cho thấy sự nhạy bén của nông dân Lâm Đồng Vào đầu năm 2014, tại xã Ngọc Lây, anh Biên, Phó chủ tịch UBND xã, cùng ba hộ khác đã tiên phong trồng cây đương quy Anh nhận thấy việc trồng cây này không khó, chỉ cần chuẩn bị đất kỹ và bón phân Sau một năm, diện tích 3.000 m2 đã mang lại thu nhập hơn 100 triệu đồng, sau khi trừ chi phí, gia đình anh Biên lãi trên 60 triệu đồng.

Năm 2015, chị gặp một người quen tại Viện Dược liệu, người đã giới thiệu về việc trồng cây Đương quy với tiềm năng làm giàu cao Sau khi tìm hiểu về tác dụng chữa bệnh và bổ dưỡng của loài cây này, chị quyết định phá bỏ 3 sào cà phê (3.000 m2) để trồng thử nghiệm cây Đương quy Qua quá trình nghiên cứu và chăm sóc, sau 7 tháng trồng, chị đã bắt đầu thu hoạch vào tháng thứ 12 và liên tục mang củ đến cơ quan chuyên môn để phân tích chất lượng, nhận được kết quả tốt Điều này đã mở ra nhiều cơ hội mới cho người dân trong việc canh tác.

Tình hình nghiên cứu cây thuốc tại Lào Cai

Tiềm năng cây thuốc của Tỉnh Lào Cai

Lào Cai là vùng đất giàu tiềm năng về cây thuốc tự nhiên, sở hữu những cánh rừng bạt ngàn với đa dạng loài động thực vật Theo điều tra của các nhà khoa học, khu rừng Lào Cai có hơn 2500 loài thực vật, trong đó có khoảng 700 loài cây thuốc quý hiếm như Kim tuyến và Hoàng liên.

Cẩu tích, Tam thất hoang, Sâm vũ diệp…mọc hoang ở những cánh rừng và khu bảo tồn thiên nhiên…

Từ lâu, người dân Lào Cai đã sử dụng cây thuốc tự nhiên để chữa bệnh và nâng cao sức khỏe, đặc biệt trong thời kỳ chưa có sự phổ biến của thuốc kháng sinh và thuốc tân dược Nhờ vào những cây thuốc có sẵn, các dân tộc thiểu số đã phát triển những bài thuốc đặc biệt mà y học hiện đại không thể chữa khỏi.

Mặc dù cây thuốc tự nhiên có tiềm năng lớn, nhưng chưa có cuộc khảo sát khoa học nào đánh giá chính xác số lượng, loài và trữ lượng cây thuốc tại tỉnh, điều này cản trở việc quản lý, khai thác và bảo tồn hiệu quả.

Lào Cai sẽ mở rộng diện tích trồng cây thuốc theo quy trình công nghệ cao nhằm khai thác lợi thế về đất đai, khí hậu và nguồn gen cây thuốc quý Các công nghệ trồng dược liệu sẽ bao gồm nhà kính, nhà lưới, hệ thống tưới tiết kiệm tự động, và màng che phủ chống bốc hơi nước Những biện pháp này không chỉ giảm xói mòn đất canh tác mà còn áp dụng quy trình quản lý cây trồng tổng hợp, bảo quản và sơ chế nhằm giảm thiểu tổn thất sau thu hoạch.

Cây dược liệu Đan sâm (Salvia multiorrhiza Bunge), Cát cánh (Platycodon grandiflorum), Đương quy (Angelica acutiloba), và Bạch truật (Atractylodes macrocephal) là những loại thuốc quý được sử dụng bởi các vị vua, hoàng hậu trong quá khứ Chúng có tác dụng bổ dưỡng, ích khí, cường tráng và hỗ trợ điều trị các bệnh như đau dạ dày, bụng trướng, chậm tiêu, thấp nhiệt, tiêu chảy, viêm ruột mãn tính, an thai, bổ khí huyết, chống viêm, và mất ngủ Những cây thuốc này đã được di thực vào Việt Nam trong những năm gần đây để phục vụ nhu cầu của ngành sản xuất thuốc Tân dược, Đông dược và thực phẩm chức năng, nhằm giảm sự phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ Trung Quốc với chất lượng và giá cả không ổn định.

Công ty Nam Dƣợc, Trapaco và Tâm phát Green đã phối hợp với Trạm Khuyến Nông Bắc Hà và một số hộ dân để thử nghiệm trồng các cây dƣợc liệu quý như Sa sâm, Đương quy, Đan sâm, Cát cánh và Bạch truật, nhằm xây dựng vùng nguyên liệu dược liệu xanh tại Lào Cai Những đánh giá sơ bộ cho thấy các cây này sinh trưởng và phát triển tốt, góp phần nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình tham gia trồng thử nghiệm.

Để đảm bảo sự bảo tồn và phát triển bền vững các loài cây dược liệu tại Lào Cai, cần tiến hành nghiên cứu đánh giá cụ thể về tính thích ứng của chúng Việc chọn tạo và sản xuất giống đạt tiêu chuẩn địa phương, cùng với các yếu tố trồng trọt và sơ chế, cũng cần được chú trọng ngay từ đầu Điều này sẽ giúp tạo ra nguồn giống và nguyên liệu dược liệu có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo chất lượng và được kiểm soát chặt chẽ.

Xây dựng mô hình sản xuất giống tại chỗ và trồng dược liệu đạt tiêu chuẩn là hướng đi đúng đắn nhằm tăng hiệu quả kinh tế và đáp ứng nhu cầu thị trường Điều này không chỉ phù hợp với mục tiêu của tỉnh Lào Cai mà còn góp phần mở rộng vùng sản xuất dược liệu phục vụ cho ngành thuốc Việt Nam.

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá thực trạng trồng cây Đương quy tại địa phương là cần thiết để đề xuất giải pháp phát triển loài cây thuốc quý này Điều này không chỉ góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng mà còn hướng tới phát triển bền vững các loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao.

Bài viết phản ánh thực trạng diện tích, phạm vi, số lượng và kỹ thuật nhân giống cũng như trồng cây Đương quy, đồng thời đánh giá hiệu quả và rủi ro kinh tế từ cây Đương quy đối với các thôn trong xã Qua đó, bài viết đúc kết kỹ thuật gây trồng cây Đương quy và đề xuất các giải pháp phát triển loài cây này.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng của đề tài là loài Đương quy (Angelica sinensis (Oliv.) Diels,) đƣợc trồng tại huyện Bắc Hà, Tỉnh Lào Cai

- Phạm vi không gian: Khu vực trồng Đương quy tại Xã Bản Già, Huyện Bắc Hà, Tỉnh Lào Cai

- Phạm vi về thời gian: từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2018

2.2.3 Nội dung nghiên cứu Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên đề ra, đề tài thực hiên một số nội dung nghiên cứu nhƣ sau:

- Thực trạng gây trồng cây Đương quy tại xã Bản Già

- Tìm hiểu kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sóc, thu hoạch và sơ chế loài Đương quy của người dân tại xã Bản Già

- Đánh giá sinh trưởng của loài Đương quy này trong vườn trồng của các hộ gia đình tại xã Bản Già

- Tìm hiểu vai trò, thị trường tiêu thụ và tác động ảnh hưởng của việc trồng cây Đương quy tới kinh tế các hộ gia đình

- Đề xuất giải pháp phát triển bền vững loài Đương quy này tại địa phương

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường

Bản Già là xã vùng cao thuộc huyện Bắc Hà, nổi bật với khí hậu ôn hòa và mát mẻ cùng với cảnh quan núi non hùng vĩ Nơi đây có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, đồng thời là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, gắn bó với nhau qua nhiều thế hệ, tạo nên những truyền thống văn hóa tốt đẹp được gìn giữ cho đến ngày nay.

Xã Bản Già, cách trung tâm thị trấn Bắc Hà 23km, có diện tích tự nhiên 1.309 ha, nằm hoàn toàn trên một sườn núi cao với độ dốc lớn Địa hình của xã Bản Già trải dài theo hướng Đông – Tây và tiếp giáp với nhiều xã lân cận.

-Phía Đông giáp Tả Củ Tỷ và tỉnh Hà Giang

- Phía Tây giáp xã Lùng Phình

- Phía Nam giáp xã Thải Giàng phố, xã Tả Củ Tỷ

-Phía Bắc giáp xã Lùng Cải

Xã Bản Già có địa hình đồi núi phức tạp nằm trên sườn núi dốc, với độ cao từ 500 đến 1400m và kéo dài theo hướng Đông - Tây Khu vực này bị chia cắt bởi nhiều khe suối, với độ dốc trung bình từ 250 đến 400.

Bản Già nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, bị ảnh hưởng bởi địa hình đồi núi cao và độ chia cắt lớn, dẫn đến sự hình thành hai tiểu vùng khí hậu: nhiệt đới và á nhiệt đới Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 18 đến 20 độ C, với nhiệt độ cao nhất ghi nhận là 30 độ C và thấp nhất là 10 độ C.

Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 1.650mm đến 1.850mm, với độ ẩm không khí không rõ ràng Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10, trong đó đầu mùa hè thường xuất hiện mưa đá gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp Mùa hè có khí hậu mát mẻ, trong khi mùa đông thường xuyên xảy ra sương mù.

Khu vực Bản Già chịu ảnh hưởng của hai luồng gió thịnh hành do địa hình núi cao Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau mang đến thời tiết khô lạnh và mưa phùn, trong khi gió Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 10 tạo ra khí hậu nóng ẩm với mưa lớn kéo dài.

Xã Bản Già có hệ thống suối chính là suối Nậm Kỷ chảy theo hướng Nam, cùng với một số suối nhỏ khác Các suối ở đây có dòng chảy quanh co, lòng suối hẹp và độ dốc lớn, với lượng mưa ít Sự chênh lệch lưu lượng nước giữa hai mùa rất lớn: mùa mưa thường gây lũ lụt và xói lở, trong khi mùa khô lại thiếu nước, gây khó khăn cho việc tưới tiêu và sinh hoạt của người dân.

Theo các nghiên cứu ban đầu, mực nước ngầm tại xã rất sâu và trữ lượng thấp, gây khó khăn trong việc khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt Điều này đặc biệt nghiêm trọng khi nguồn nước sạch cho sinh hoạt đang thiếu hụt.

Dựa trên tài liệu và bản đồ thổ nhưỡng huyện Bắc Hà tỷ lệ 1/50.000 được biên vẽ năm 2000 bởi Viện thổ nhưỡng Nông hóa, khu vực Bản Già có các nhóm đất chính được xác định rõ ràng.

Nhóm đất này có diện tích lớn nhất 1.301,30 ha, chiếm 92,13% tổng diện tích tự nhiên của xã Đất có thành phần cơ giới từ thịt pha sét đến sét, với tầng đất dày trên 100cm và cấu trúc viên tơi xốp Đất ít chua và có hàm lượng bùn, đạm, lân, kali tổng số từ trung bình tới khá, tạo nên độ phì tương đối cao, thích hợp cho nhiều loại cây trồng như chè và cây ăn quả.

- Nhóm đất đỏ vàng bị biến đổi do trồng lúa:

Nhóm đất này có diện tích 70,20ha, chiếm 5,00% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ven các suối lớn Đất có độ pH chua, hàm lượng mùn và các chất dinh dưỡng như đạm, kali ở mức khá, với thành phần cơ giới biến động từ nhẹ đến nặng Nhìn chung, đây là nhóm đất có độ phì nhiêu tốt, phù hợp cho việc trồng nhiều loại cây ngắn ngày, đặc biệt là lúa nước.

Diện tích 40,50ha, chiếm 2,80% tổng diện tích tự nhiên, được hình thành từ sự bồi tụ trên đá vôi tại các khu vực địa hình thấp Đất có thành phần từ thịt pha sét đến sét, với tầng đất dày từ 50 – 100cm, cấu trúc viên tơi xốp, thường ít chua Hàm lượng mùn, đạm và kali tổng số ở mức trung bình đến khá, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loại cây trồng như lúa nương, ngô và đậu tương.

Với tổng diện tích tự nhiên 1.309ha, đất nông nghiệp chiếm 847,85ha, tương đương 64,77% tổng diện tích Đất phi nông nghiệp chỉ chiếm 62,39ha, tương đương 4,77% tổng diện tích tự nhiên Đất chưa sử dụng chiếm 398,76ha, tương đương 30,46% tổng diện tích.

Diện tích đất lâm nghiệp đạt 349,80 ha, chiếm 26,73% tổng diện tích tự nhiên, trong đó đất có rừng tự nhiên là 269,70 ha (77,10% diện tích lâm nghiệp), bao gồm rừng phòng hộ 162,40 ha và rừng sản xuất 107,30 ha Ngoài ra, có 80,10 ha đất rừng trồng, chủ yếu là các loài cây gỗ nhóm IV – VII và cây tiên phong phục hồi sau khai thác Các loài cây rừng trồng chủ yếu là sa mộc, tổng quán sù và chè san Tuy nhiên, động vật rừng chỉ có một số loài như chim, sóc, rắn, dúi và lợn rừng với số lượng không nhiều.

Xã không có khoáng sản, chỉ có 1,00 ha núi đá trống và một số đoạn suối có thể khai thác cát, sỏi phục vụ sản xuất.

Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1 Dân số, dân tộc, lao động

Bản Già là xã vùng cao với địa hình đồi núi, nơi cư dân áp dụng hai phương thức sản xuất nông nghiệp: trồng lúa nước ở vùng thấp và làm nương rẫy trên đồi Người Tày chủ yếu canh tác lúa nước, trong khi người Mông có kinh nghiệm trong việc thâm canh ngô trên nương rẫy, áp dụng kỹ thuật phù hợp để nâng cao năng suất Đặc biệt, những cánh đồng ruộng bậc thang tại khu Lao Thìn, thôn Kha Phàng II không chỉ là danh lam thắng cảnh thu hút du khách mà còn là nguồn lương thực quý giá của đồng bào các dân tộc Đây là minh chứng cho phương thức canh tác nông nghiệp bền vững từ xa xưa, đặc biệt khi thực hiện chiến dịch thi đua làm ruộng bậc thang theo lời dạy của Bác Hồ và chủ trương của Tỉnh Ủy Lào Cai cách đây 50 năm.

Hình 3.1: Ruộng bậc thang khu Lao Thìn

( Nguồn: UBND xã Bản Già )

Ngày nay, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cùng với sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền xã Bản Già và đội ngũ cán bộ 30A, đồng bào các dân tộc trong xã đã từng bước thay đổi tập quán canh tác Họ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thực hiện luân canh tăng vụ, sử dụng phân bón hợp lý và canh tác hai vụ trong năm, thay vì chỉ một vụ như trước Những thay đổi này đã giúp tăng năng suất lao động và sản lượng, đồng thời giảm dần thói quen canh tác lạc hậu, góp phần ổn định đời sống nhân dân.

Bên cạnh việc phát triển kinh tế công và nông nghiệp, dịch vụ thương mại và du lịch cũng được chú trọng, với giao thông ngày càng được cải thiện để thúc đẩy trao đổi hàng hóa Xã hiện có suối Lù Sui Tủng dài 15km, chảy theo hướng Bắc Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch Ngoài ra, hai hang động lớn cần được đầu tư và phát triển để nâng cao đời sống nhân dân và thu hút du khách.

Cơ cấu kinh tế đang trong quá trình chuyển dịch, với sự đầu tư chú trọng vào cơ sở hạ tầng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương Chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện hệ thống giao thông vận tải, thủy lợi, cũng như cơ sở y tế và giáo dục.

Bản Già là nơi sinh sống của 05 dân tộc anh em, trong đó người H Mông chiếm 69,20% dân số, người Tày chiếm 29,02%, và dân tộc Phù Lá chiếm 1,79% Mỗi dân tộc mang những đặc trưng văn hóa, đời sống và tập quán riêng, với người Mông thường chọn cư trú ở các triền núi cao, còn người Tày ưa thích các thung lũng thuận lợi cho canh tác lúa nước Là xã vùng cao với dân số ít, 98,71% hộ gia đình sống rải rác trên diện tích rộng, trong đó 1.213 nhân khẩu nông nghiệp chiếm 99,06% tổng số nhân khẩu, chỉ có 03 hộ phi nông nghiệp, chiếm 1,29%.

12 khẩu chiếm 0,94% so với số khẩu trên địa bàn

Tổng số lao động trong độ tuổi tại địa bàn là 602, chiếm 49,14% dân số Trong đó, 594 lao động làm việc trong các ngành kinh tế, chủ yếu là nông nghiệp với 571 lao động, chiếm 96,13% Ngành dịch vụ thương mại có 282 lao động, chiếm 3,87% Số lao động qua đào tạo chỉ có 58, chiếm 9,6%, trong khi đó, 544 lao động chưa qua đào tạo, chiếm 90,4% Địa bàn cư trú rộng với sự đa dạng dân tộc gây ra nhiều khó khăn cho việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, chính quyền xã và người dân đang nỗ lực vượt qua những thách thức này để hướng tới công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

3.2.2 Kinh tế và đời sống

3.2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong chương trình công tác toàn khóa, Đảng bộ xã Bản Già đã xác định sản xuất nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo và ổn định dân cư Việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với khí hậu địa phương, cùng với việc chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đã tạo ra những chuyển biến rõ nét trong lĩnh vực nông nghiệp.

3.2.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế:

Tổng sản lượng lương thực có hạt đầu nhiệm kỳ đạt 425 tấn, tương đương 350kg/người/năm Mục tiêu đề ra là 658 tấn, tăng 233 tấn so với đầu nhiệm kỳ Bình quân lương thực đầu người đạt 537kg/năm, tăng 187kg, đạt 153% so với mục tiêu đại hội, tập trung vào diện tích trồng một số cây chính như ngô và lúa.

Trong những năm qua, cây lúa nước đã phát triển nhanh và ổn định nhờ vào việc xây dựng các công trình thủy lợi, khai hoang ruộng bậc thang, và chuyển đổi giống lúa từ địa phương sang lúa lai năng suất cao Hiện nay, tổng diện tích ruộng lúa nước đạt 80ha, với năng suất bình quân đạt 35 tạ/ha, tăng 3 tạ/ha so với trước.

Diện tích trồng ngô đầu nhiệm kỳ đạt 100 ha, với năng suất bình quân 27 tạ/ha nhờ tận dụng tối đa các diện tích còn trống để cải tạo Cơ cấu giống chủ yếu vẫn là giống địa phương, trong khi tỷ lệ giống kỹ thuật vẫn còn thấp.

+ Cây đậu tương: Diện tích cây đậu tương 40ha, trong đó 100% là giống đậu tương ĐT 84, ĐT 90 năng suất bình quân 110 tạ/ha

Đảng bộ huyện khóa XXI đã triển khai đề án phát triển chăn nuôi gia súc, đồng thời quy định quản lý chăn nuôi Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Đảng ủy xã đã chỉ đạo UBND xã xây dựng kế hoạch phát triển chăn nuôi hàng năm, tập trung vào công tác thú y và phòng chống dịch bệnh cho gia súc.

Xã vùng cao với địa hình chủ yếu là đồi núi đang đối mặt với tình trạng thoái hóa đất do tập quán phát nương làm rẫy Đảng bộ xã đã tích cực chỉ đạo và tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức bảo vệ rừng cho người dân, đồng thời chuyển đổi đất nương rẫy kém hiệu quả sang trồng rừng sản xuất và rừng phòng hộ Hiện nay, tổng diện tích đất lâm nghiệp của xã đạt 854 ha, trong đó có 406,6 ha đất có rừng, 44,7 ha đất chưa có rừng, 23,4 ha rừng phòng hộ và 39,6 ha rừng kinh tế, với độ che phủ đạt 28%.

Chỉ đạo UBND xã và các ngành, đoàn thể cùng bà con nhân dân thực hiện nghiêm quy ước cấm thả rông gia súc, vật nuôi, đồng thời chú trọng công tác phòng cháy chữa cháy rừng Ký giao ước với hạt kiểm lâm huyện và Ban quản lý 661 để bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn xã Hợp tác chặt chẽ với Hạt kiểm lâm huyện trong việc quản lý và xử lý nghiêm các hành vi khai thác, mua bán, vận chuyển gỗ trái phép.

3.2.3 Cơ sở hạ tầng Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu và các chương trình dự án hỗ trợ sản xuất dân sinh

Trong lĩnh vực giao thông vận tải, đã có sự đầu tư đáng kể vào hệ thống đường ô tô cấp khối đến trung tâm xã Trong 5 năm qua, nhiều tuyến đường đã được tu sửa và mở mới, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân di chuyển và lưu thông hàng hóa đến các thôn bản.

Thủy lợi được tập trung xây dựng tuyến mương thôn Kha Phàng 1, 2 và thôn Lù Sui Tủng đảm bảo nước tưới tiêu và khai hoang mở rộng diện tích

Đánh giá tiềm năng của xã

Trong sản xuất nông - lâm nghiệp, BCH Đảng bộ xã chú trọng phát triển nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là mở rộng diện tích lúa nước và chuyển đổi sang giống lúa năng suất cao Ngoài ra, xã tập trung phát triển chăn nuôi đại gia súc, với lúa lai là mũi nhọn Trong nhiệm kỳ, Đảng bộ xã đã chỉ đạo lồng ghép các nguồn vốn để hỗ trợ sản xuất nông lâm nghiệp, như Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất chương trình 135 giai đoạn II và Dự án WB An ninh chính trị và trật tự xã hội ổn định, cùng với việc củng cố hệ thống chính trị và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực.

Phương thức lãnh đạo của đảng hiện chưa đồng bộ và nhịp nhàng, thể hiện qua việc nghị quyết được ban hành nhưng chính quyền chưa có kế hoạch cụ thể để thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chưa phát động hiệu quả phong trào phát triển kinh tế, dẫn đến chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi chưa đạt hiệu quả cao, giá trị thu nhập trên đất nông - lâm nghiệp còn thấp và tỷ lệ hộ nghèo vẫn cao Năng lực quản lý của một số cán bộ xã còn hạn chế, gây ra tình trạng trật tự xã hội không ổn định Mặc dù cơ sở hạ tầng nông thôn đã được đầu tư, nhưng triển khai còn chậm và chưa đồng bộ, trong khi công tác quản lý bảo vệ rừng chưa tốt Thêm vào đó, khí hậu ẩm lạnh không thuận lợi cho việc phát triển giống mới, và phong trào văn nghệ, thể dục, thể thao còn kém phát triển.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thực trạng gây trồng loài Đương quy tại xã Bản Già

4.1.1 Diện tích, số lượng, quy mô trồng Đương quy ở xã Bản Già

Dự án luôn nhận được sự chỉ đạo và quan tâm từ UBND tỉnh cùng các sở, ban ngành liên quan Sự tham gia tích cực của Huyện ủy, UBND huyện và các cơ quan liên quan, cũng như UBND các xã trong vùng quy hoạch, góp phần quan trọng vào quá trình triển khai thực hiện dự án.

Huyện luôn duy trì sự hợp tác chặt chẽ với các đơn vị như Viện Dược liệu, Công ty Traphaco Sa Pa, Công ty Nam Dược, Công ty Nam Hà, Công ty Cây thuốc Hà Nội, Công ty cổ phần Dược liệu Việt Nam, Dự án BIOTRADE Việt Nam và Trung tâm nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ Sự phối hợp này không chỉ giúp chuyển giao khoa học kỹ thuật mà còn đảm bảo bao tiêu sản phẩm, từ đó tạo niềm tin cho người dân và khuyến khích họ tích cực tham gia vào sản xuất.

Nên hiện giờ có đủ những ƣu điểm trên và trong khi đó loài này có nhiều tác dụng chữa bệnh tốt

Trong mấy năm qua quy mô cũng như diện tích trồng cây Đương quy của các hộ trong xã Bản Già đƣợc thể hiện ở bảng sau

Bảng 4.1: Thống kê diện tích trồng Đương Quy tại các thôn trong xã Bản già

STT Năm Thôn ( số hộ trồng )

Thu hoạch tươi ( Kg ) Đơn giá (20000đ/1kg)

Thành tiền ( Vnđ ) Đợt 1 Đợt 2

( 5 hộ gia đình ) 1.45 674 kg 165 kg 20 Bản Già

( 4 hộ ) 0.5 1.362 kg 1.206kg 20.000 Kha Phàng I

Qua bảng ta thấy đƣợc diện tích, năm trồng và số hộ trồng tại xã Bản Già

Tính đến năm 2016, Bản Già đã trồng Đương quy với tổng diện tích 7,1 ha, thu hút gần 10 hộ dân tham gia trồng từ 3 thôn, bao gồm thôn Lù Sui Tủng.

Bản Già và thôn Pha Khàng I trong 3 năm 2014,2015,2016 Ly Seo Dín, Ly Seo

Tại thôn Lù Sui Tủng, có hai hộ trồng khoảng 0.25 ha Đương quy mỗi năm Đến năm 2016, diện tích trồng của hai hộ này đã tăng lên 0.5 ha mỗi năm.

Năm 2016, hộ Tráng Quáng Sì thuộc xã Bản Già đã trồng 0.5ha cây Đương quy, mang lại thu nhập từ 40-100 triệu đồng mỗi năm, giúp nâng cao đời sống gia đình Tại xã Bản Già, nhiều diện tích đất được sử dụng để trồng Đương quy, một loại cây dễ trồng nhưng đòi hỏi sự chăm sóc tỉ mỉ Nhờ vào sự hỗ trợ giống và hướng dẫn kỹ thuật từ chính quyền địa phương, người dân chỉ cần tập trung vào việc mua phân bón Chính sách khuyến khích trồng cây dược liệu của nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp người dân yên tâm phát triển cây Đương quy.

Qua phỏng vấn với người dân và cán bộ, đặc biệt là chủ tịch xã Bản Già, chúng tôi nhận thấy rằng truyền thống sản xuất lâu đời của người Mông có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của cây Đương Quy Người Mông sinh sống tại các bản làng trên sườn núi cao, họ phải tự túc cho cuộc sống và quen với lối sống sản xuất tự cung tự cấp.

Tại xã Bản Già, tập quán sản xuất lạc hậu vẫn ăn sâu vào đời sống người dân, khiến họ chỉ sản xuất các sản phẩm phục vụ nhu cầu của cộng đồng dân tộc địa phương như ngô và lúa Việc duy trì các phương pháp sản xuất cũ và thiếu sự đổi mới trong trang thiết bị đã cản trở sự phát triển Hơn nữa, người dân chưa quen với việc đầu tư thâm canh cho cây Đương quy, một loại cây trồng đòi hỏi sự tỉ mỉ và chăm sóc hơn so với những cây trồng truyền thống như ngô và lúa.

Bảng 4.2: Diễn biến diện tích trồng loài Đương quy này qua các năm

Số hộ Diên tích Số hộ Diện tích Số hộ Diện tích

2 Bản Già 4 0.55 ha 4 0.5 ha 7 1.9 ha

Tổng 9 2 ha 11 2.1ha 12 3 ha Ở bảng trên ta cũng thấy rõ đƣợc qua các năm các hộ gia đình tham gia trồng cây Đương Quy đang có chiều hướng tăng Mỗi năm từ 2014-2016 tăng lên 1 vài hộ, thấy rằng người dân dần đã có nhìn nhận đúng đắn tích cực hơn về giống cây Dƣợc liệu này Thôn Lù Sui Tủng, Bản Già là 2 thôn tích cực trồng nhất , hộ gia đình tăng lên đáng kể , có thôn Kha Phàng I tham gia trồng đúng năm 2015 là có 5 hộ , 2016 không còn thấy hộ nào tham gia trồng nữa Thôn Bản Già qua 3 năm là 4-4-7 hộ trồng, Lù Sui Tủng qua 3 năm là 5-3-5 hộ trồng Trong 2 năm đầu 2014 và 2015 nhìn ha trồng không tăng là bao, nhƣng thấy rõ hộ dân đã có sự khác rõ là nhiều hơn 2 hộ, nhƣng nhìn so với bảng kia ta lại thấy số lượng thu được số Kg khác xa nhau năm 2015 gấp 4 lần vụ trước trong khi 2 năm đó số ha trồng gần nhƣ 2 năm là bằng nhau

Người dân đã học được cách trồng và chăm sóc cây trồng đúng phương pháp, dẫn đến kết quả ấn tượng Đến năm 2016, sản lượng Đương quy thu hoạch đạt 16.971 kg, gấp 4 lần so với năm 2015 Tuy nhiên, nếu người dân tiếp tục cải thiện kỹ thuật trồng và chăm sóc, họ có thể đạt được kết quả cao hơn nữa.

Hai năm trước, kết quả sản xuất tại xã Bản Già kém do người dân chưa quen với thay đổi và bị ảnh hưởng bởi phong tục tập quán lạc hậu Họ chỉ tập trung vào sản xuất lúa, ngô để đáp ứng nhu cầu hàng ngày mà không chú trọng đến việc sản xuất các sản phẩm phục vụ nhu cầu của khách hàng, đặc biệt là dòng dược liệu đang rất cần.

Chính sách mới về cây Đương quy chưa được người dân cảm nhận rõ ràng, dẫn đến việc họ thiếu kiến thức và kinh nghiệm trong việc trồng và chăm sóc loại cây dược liệu này Mặc dù đã có chuyên gia hướng dẫn, nhưng do đây là loại cây mới tại xã Bản Già, người dân vẫn thường mắc sai lầm trong quá trình trồng trọt Hơn nữa, hiện tại ở Việt Nam chưa có tài liệu hướng dẫn cụ thể về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Đương quy, gây khó khăn cho người dân trong việc thực hiện.

Tìm hiểu kĩ thuật nhân giống, trồng, chăm sóc, thu hoạch

4.2.1 Giống và kỹ thuật nhân giống:

Giống Đương quy hiện trồng trong sản xuất là giống nhập nội từ Nhật

Vào năm 1990, Viện Dược liệu đã tiến hành tuyển chọn giống Đương quy (Angelica acutiloba Kitagawa) nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đồng thời chống thoái hóa giống Trong các năm 1992, 1994 và 1996, quần thể cây 2N được chọn lọc có thời gian sinh trưởng dài, ra hoa chủ yếu ở độ tuổi 16-18 tháng Quần thể này không chỉ cho năng suất và chất lượng dược liệu cao, ổn định mà còn hứa hẹn về hiệu quả kinh tế Các giống cây đã được thử nghiệm trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau tại miền Bắc Việt Nam, trong đó có tỉnh Lào Cai, nơi Công ty Traphaco tổ chức sản xuất tại huyện Sa Pa.

- Giống phải rõ nguồn gốc, tốt nhất đƣợc sản xuất tại xã Lùng Phình Bắc

- Hạt giống thu hái ở cây trồng năm thứ hai trở lên; không bị ẩm mốc, lép

- Tỉ lệ nảy mầm đạt từ 85% trở lên

+ Thời gian sinh trưởng: Đối với cây thu dược liệu thời gian sinh trưởng là 420 – 450 ngày, đối với cây làm mẹ thời gian sinh trưởng kéo dài từ 670 –

730 ngày Thời gian sinh trưởng được tính từ khi trồng đến khi cây tàn lụi (khi xuất hiện 10 – 15 % bộ phận trên mặt đất tàn lụi)

Khả năng chống chịu của cây rất tốt, với khả năng sống sót ở nhiệt độ từ -3 đến 50°C và trên 38°C trong nhiều ngày mà tỷ lệ cây chết không vượt quá 15% Cây cũng có khả năng chống lại sâu bệnh hại hiệu quả, với tỷ lệ cây bị hại do sâu xám chỉ khoảng 2%, do rệp hại không quá 12%, và bệnh lở cổ rễ không quá 2% Tỷ lệ cây bị ảnh hưởng bởi bệnh đốm lá và cháy lá cũng chỉ ở mức 5% trên tổng số cây.

Công ty Traphaco Sapa (hoặc Công ty TNHH Nam Dược) là nơi cung cấp hạt giống, được sản xuất và chọn tạo bởi Viện dược liệu Việt Nam Để đảm bảo chất lượng, tỉ lệ nảy mầm của giống cần đạt từ 70% trở lên Lượng hạt giống gieo thích hợp là khoảng 4 - 4,5 kg/ha khi gieo thẳng và 2 - 2,5 kg/ha khi gieo vào bầu.

4.2.2 Gieo hạt tại vườn ươm:

Hình 4.1: Khi đã làm đất xong

- Chọn đất cát pha, thịt nhẹ, hơi dốc, không lẫn đá sỏi

- Có đủ ánh sáng và chủ động nước

Để chuẩn bị đất trồng, hãy cày xới và ải đất trước 30 ngày Sau đó, đập đất cho nhỏ và loại bỏ cỏ dại Tiến hành lên luống cao 20cm, rộng 80cm, có hình dạng như mu rùa, với rãnh luống rộng 40cm.

+ Lƣợng phân bón: ( Tính cho 1 sào bắc bộ = 360m 2 )

- Phân chuồng hoại mục: 120 kg;

- Phân vi sinh hoặc spe lân 10 kg;

Để bón phân hiệu quả, trộn đều phân chuồng, phân vi sinh và tro bếp với đất đã được sàng lọc Sau đó, ủ hỗn hợp này trong bạt dứa, bao kín hố phân khoảng 30 ngày trước khi sử dụng.

Hình 4.2: Vườn ươm cây giống Đương quy

(Nguồn: Khuyến nông Huyện Bắc Hà)

Khi cây được 40-45 ngày tuổi và có dấu hiệu thiếu dinh dưỡng, cần ngâm phân NPK trong nước từ 2-3 ngày trước khi pha loãng với 100 lít nước để tưới cho cây Sau khi tưới phân, hãy rửa sạch bằng nước sạch để đảm bảo cây nhận đủ dinh dưỡng.

4.2.3 Kỹ thuật gieo hạt giống:

Hình 4.3: Đất trồng Đương quy đã được phủ nilon

Mật độ và khoảng cách: Mật độ trồng với khoảng cách cây cách cây là 15 x 15cm, hàng cách hàng là 20 x 20cm

- Thời vụ geo: Thời vụ gieo trồng thích hợp là tháng 9 - 10, thời vụ thu hoạch vào tháng 11, 12 năm sau

Cách sử lý hạt giống: Ngâm hạt giống trong nước 2 sôi 3 lạnh trong vòng

4 tiếng, sau đó vớt ra đãi lại 3 nước cho sạch trong rồi tiến hành ủ , sau 5 -7 ngày nứt nanh đem gieo

Trước khi gieo hạt, cần trộn hạt giống với cát khô hoặc tro bếp, kết hợp 70% đất giàu mùn và 30% phân chuồng hoai Sau đó, phủ một lớp đất mỏng khoảng 1 cm và rắc trấu dập nhỏ hoặc rơm khô lên trên, rồi tưới ẩm Khi ươm hạt, phân đã được trộn đều trong đất, tạo luống cao 15 - 20 cm, rộng 1,2 m và rãnh 40 cm Gieo hạt cách nhau 5 - 7 cm, phủ một lớp đất mỏng và vỗ nhẹ để hạt tiếp xúc với đất, sau đó phủ rơm rạ để giữ ẩm và tránh mưa lớn làm trôi hạt Tưới nước thường xuyên cho đến khi cây mọc đều, sau 13 - 17 ngày, khi cây con bắt đầu mọc rộ, bỏ rơm rạ và khi cây đủ tuổi thì tiến hành trồng.

Để bảo vệ hạt giống gieo vào tháng 9 khỏi mưa lớn, cần thiết phải làm mái che bằng nilon màu trắng Việc này giúp hạn chế nước mưa và ngăn ngừa bệnh thối nũn cũng như lở cổ rễ.

Hình 4.4: Ảnh người dân đang nhổ cỏ trong các hố đất cây

Hình 4.5: Cây con đang phát triển

- Thường xuyên thăm vườn Nếu phát hiện cây bị bệnh cần phun thuốc kép có gốc đồng hoặc báo cán bộ khuyến nông

Để bảo vệ cây con khỏi sương muối và mưa nhiều, các vùng trồng nên sử dụng nilon che phủ sau khi gieo hạt cho đến khi cây con đạt tiêu chuẩn.

Khi cây con phát triển được 1 – 2 lá, hạt giống không còn dinh dưỡng để cung cấp, vì vậy cần bổ sung dinh dưỡng từ bên ngoài Hãy pha 5g phân Lân super và 2g phân Đạm urê với 10 lít nước để tưới cho 360m2 diện tích cây con Sau khi tưới phân, cần tưới nước lã để rửa qua lá, tránh tình trạng cháy lá.

Để cây con phát triển tốt, cần tưới nước giữ ẩm, nhổ cỏ và xáo đất nhẹ nhàng thường xuyên Ngoài ra, có thể sử dụng phân loãng trong mỗi lần làm cỏ để hỗ trợ sự phát triển của cây.

Tỉa bỏ những cây con yếu, nhỏ, xấu, bệnh tật

Thăm vườn hàng ngày để phát hiện và xử lý sâu bệnh hại kịp thời cho cây con

4.2.5 Kỹ thuật trồng, chăm sóc:

- Chọn đất: Chọn đất cát pha, thịt nhẹ, có nhiều mùn, thoát nước tốt Chủ động nguồn nước tưới tiêu

- Làm đất: Cày, bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại trước khi trồng

- Lên luống: Chia mỗi luống 1,2 mét, rãnh luống chừa 30 cm

Sau đó dùng cuốc kéo cao luống 25 cm, rộng mặt luống 80 cm

Cuốc hố hoặc rạch hàng: Hàng cách hàng 20 cm, cây cách cây 15 cm

Mặt luống Rãnh luống Mặt luống

Hình 4.6: Sơ đồ bố trí luống trồng cây Đương quy

( Nguồn: UBND Huyện Bắc Hà )

+ Trồng bằng phương pháp tra hạt trực tiếp bằng biện pháp che phủ màng nilon từ ngày 15/9 – 15/10

Để trồng Đương quy, bạn cần thực hiện các bước sau: Đào hố hàng cách nhau 20 cm, mỗi hố tra 3-4 hạt tùy vào tỷ lệ nảy mầm, sau đó lấp đất nhỏ 1 cm và rắc trấu để giữ ẩm Đất phải được cày sâu, bừa kỹ và loại bỏ cỏ dại, chia luống khoảng 1,2 m Rải đều phân chuồng, tro bếp, và phân lân lên mặt luống, sau đó lấp kín phân bón lót với chiều cao luống 30-35 cm và mặt luống rộng 90-95 cm Chọn đất trồng Đương quy cần có độ tơi xốp, nhiều mùn, dễ thoát nước với pH từ 5,5 - 6,0.

Vôi bột có thể được sử dụng để khử chua, vi khuẩn và nấm bệnh với liều lượng 500kg/ha Nên rắc đều vôi bột lên mặt luống trước khi bón các loại phân khác khoảng một tuần.

+ Phân chuồng hoai mục: 15 tấn/ ha => 542 kg / sào 360 m 2 ;

+ NPK: 300 kg/ ha => 10,8 kg/ sào 360 m 2 ;

+ Phân Ka li: 200 kg/ ha => 7,2 kg/ sào 360 m 2 ;

+ Tro bếp: 500 kg/ ha => 18 kg/ sào 360 m 2

+ Vôi bột: 500 kg/ ha => 18 kg/ sào 360 m 2 .( Tùy theo độ PH của đất)

Hình 4.7: Luống trồng cây Đương quy

(Nguồn: Khuyến Nông Huyện Bắc Hà)

* Cách bón: Lƣợng phân bón cho 1ha:

- Phân NPK (13-13-13+TE) là 840 kg

Bón lót là quy trình sử dụng toàn bộ phân chuồng hoai mục, phân lân super, 50% tổng lượng phân NPK (khoảng 420 kg/ha) và 2,5 tấn tro bếp (nếu có) Các nguyên liệu này cần được rải đều trên mặt luống đã được chuẩn bị, sau đó dùng cào để đảo đều cùng với đất Cuối cùng, cần lên luống lại, lấp kín phân bón lót, san phẳng và đánh hố theo đúng mật độ và khoảng cách đã định.

Bón thúc: Vào các giai đoạn nhƣ sau: Đợt 1: Sau trồng 5 tháng (tháng 2 – 3 năm sau) bón 25% tổng lƣợng phân

NPK Đợt 2: Sau trồng 7 tháng (tháng 6 – 7 năm sau) bón 100% lƣợng phân

Kali, 25% tổng lƣợng phân NPK còn lại

Việc hoà nước tưới bón cho cây không chỉ cung cấp dinh dưỡng mà còn bổ sung nước cần thiết Ngoài ra, bạn có thể rạch rãnh bón phân cách gốc cây rồi lấp đất lại nếu không sử dụng nilon che phủ.

Sau khi lên luống, bón lót các loại phân xong, làm phẳng mặt luống ta mới phủ nilon

Đánh giá sinh trưởng của loài Đương quy này trong vườn trồng của các hộ

Từ năm 2014, người dân xã Bản Già đã bắt đầu trồng cây Đương Quy, nhưng số lượng vườn còn hạn chế Hiện nay, số lượng vườn trồng Đương Quy đã tăng lên đáng kể nhờ sự hỗ trợ từ chính quyền huyện Bắc Hà và cán bộ xã Bản Già, giúp người dân cải thiện kỹ thuật trồng và phát triển cây Để đánh giá chất lượng cây trồng, nghiên cứu đã thiết lập 10 ô dạng bản (ODB), mỗi vườn có 5 ODB với diện tích 1.2 mét vuông, tại 2 vườn, nhằm theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng như đường kính gốc trung bình, chiều cao trung bình, chiều dài lá, chiều rộng lá trung bình và tình hình sâu bệnh.

Bảng 4.3: Điều tra sinh trưởng cây tại vườn

Bệnh Tốt Trung hại bình Xấu

Từ bảng cho ta thấy đường kinh gốc trung bình của cây Đương Quy từ 3.7

- 4.1 cm, chiều cao trung bình từ 47.6- 56.2 cm , chiều dài lá trung bình 7.7- 8.85 cm , chiều rộng lá trung bình từ 5.8- 6.35 cm

Theo tìm hiểu về kỹ thuật trồng của người dân, Đương quy được trồng theo cây cách cây

Mật độ và khoảng cách: Mật độ trồng 330.000 cây/ha với khoảng cách cây cách cây là 15 x 15cm, hàng cách hàng là 20 x 20cm

Lên luống: Chia mỗi luống 1,2 mét, rãnh luống chừa 30 cm

Sau đó dùng cuốc kéo cao luống 25 cm, rộng mặt luống 80 cm

Từ đó có thể tính được trung bình thường là 22-39 cây/ diện tích luống là 1.2 mét vuông

Theo điều tra thực tế, có ít nhất 18 cây Đương quy trên 1,2 mét vuông, do mùa mưa khiến nhiều gốc cây bị chết Trong 10 ô điều tra, ô cao nhất ghi nhận 31 cây sinh trưởng tốt và không có cây chết.

Biểu đồ 4.1 : Tỷ lệ sinh trưởng cây trong quá trình điều tra

Mỗi ô dạng bản lấy tiêu chuẩn 10 cây điển hình để điều tra, trong tổng

Trong số 100 cây được khảo sát, tỷ lệ cây tốt chiếm 17%, cây ở mức trung bình chiếm 72% và cây ở mức xấu chỉ chiếm 11% Mặc dù số lượng cây phát triển tương đối tốt, nhưng cây sinh trưởng khá tốt vẫn còn ít Tuy nhiên, điều này cho thấy người dân đã dần nắm vững kỹ thuật trồng cây đúng cách.

Trong quá trình đi thực địa và phỏng vấn người dân các hộ cũng cho biết thêm rằng

Trong quá trình gieo hạt, nên gieo 2-3 hạt để chờ nảy mầm Khi cây bắt đầu phát triển, cần phải nhổ cỏ ở các hốc gieo hạt, vì cỏ và cây cùng sinh trưởng Việc chăm sóc và nhổ cỏ cần được thực hiện cẩn thận để tránh nhầm lẫn với cây Đương quy.

Loài cây này có khả năng kháng sâu hại tốt, tuy nhiên, thiệt hại chủ yếu vẫn do khí hậu, đặc biệt là tình trạng úng nước vào mùa mưa, dẫn đến nguy cơ chết cây.

Khi gieo trồng, người dân thường cho từ 2-3 hạt vào gốc, dẫn đến việc cây Đương Quy sinh trưởng không đầy đủ do sự cạnh tranh giữa các cây con Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của cây, khiến củ Đương Quy không đạt kích thước lớn nhất, từ đó tác động tiêu cực đến kinh tế hộ gia đình.

 Trong quá trình cây sinh trưởng cũng nên nhỏ cỏ thường xuyên để cây không bị ảnh hưởng tới sự phát triển

Nhờ sự hướng dẫn của các cán bộ Huyện Bắc Hà và xã Bản Già, người dân đã nâng cao hiểu biết về kỹ thuật trồng Đương quy, dẫn đến tình trạng sinh trưởng cây ổn định và phát triển tốt.

Bảng 4.4: Biểu đo đạc củ cây Đương quy tươi

(cm) Đường kính củ (cm)

Chiều dài rễ ( cm ) Ghi chú

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã phỏng vấn người dân và các tiểu thương, đồng thời tiến hành quan sát và thu thập số liệu về kích thước củ tươi Người dân cho biết có hai loại củ tươi: loại 1 và loại 2.

Cây đương quy sinh trưởng rất tốt, với loại 1 cho 4-7 củ mỗi kg và loại 2 cho 8-12 củ mỗi kg, được bán tươi với giá 20.000 đồng Để cây phát triển tối ưu, cần có khoảng cách phù hợp, vì nếu trồng quá dày sẽ ảnh hưởng đến sự hút chất dinh dưỡng, từ đó làm giảm kích thước củ và sự sinh trưởng của cây.

Bảng 4.5 : Kết quả phỏng vấn các hộ gia đình về lượng thu Đương quy

STT Tên Hộ gia đình Thôn

Các khoản thu nhập của GĐ

Nguồn chi phí chính vẫn là lúa ngô, thêm khoản thu của đương quy người dân thấy gấp 4-5 lần lúa ngô thu về Đương quy năm 2016 nhà a thu về

Vào năm 2015, gia đình chưa có kinh nghiệm trong việc trồng cây DDQ, dẫn đến việc không thu hoạch được gì trong mùa mưa và toàn bộ cây đã chết Tuy nhiên, đến năm 2016, gia đình đã học hỏi được kỹ thuật trồng trọt và đã đạt được kết quả khả quan.

Họ cũng thấy rằng Đq đem lại hiệu quả cao hơn lúa ngô

Hai hộ gia đình này đều có kinh nghiệm trồng cây hiệu quả và biết cách tận dụng lợi thế của mình Họ tập trung vào việc trồng cây Đq, mang lại thu nhập đáng kể cho gia đình, dao động từ 50 triệu đến 80 triệu đồng.

Theo ý kiến của người dân, cây này rất dễ trồng và không gây khó khăn cho họ Tuy nhiên, họ băn khoăn về cách chăm sóc cây trong mùa mưa, vì họ nhận thức được rằng cây sẽ mang lại một nguồn thu ổn định cho cộng đồng.

Quá trình trồng cây ở xã Bản Già đang có dấu hiệu tăng trưởng rõ rệt, với nhiều hộ dân tích cực tham gia trồng trọt Bảng phỏng vấn cho thấy đây chỉ là những hộ tiêu biểu, còn nhiều hộ khác cũng tham gia Thời gian từ khi trồng đến khi thu hoạch kéo dài khoảng một năm Hiện nay, người dân chủ yếu thu hoạch củ tươi và bán ngay sau khi thu hoạch, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương.

Cây Đương quy mang lại hiệu quả kinh tế cao cho hộ gia đình, gấp 6-7 lần so với lợi nhuận từ trồng lúa, ngô hay nuôi gia cầm.

* Đánh giá hiệu quả kinh tế:

Bảng 4.6 : Hoạch toán hiệu quả kinh tế cây Đương quy cho 1ha canh tác

TT Hạng mục ĐVT Số lƣợng Đơn giá Thành tiền

2 Vật tư và chi phí khác 160.175,0

Theo bảng trên, lãi bình quân trên mỗi ha là 52.629.000 đồng Tuy nhiên, do người dân đã có sẵn phân chuồng và công lao động, lãi thực tế sẽ cao hơn, cụ thể là 19.200.000 đồng (bao gồm 12.000.000 đồng tiền phân chuồng và 7.200.000 đồng tiền công) Do đó, lãi trung bình thực tế đạt 71.829.000 đồng.

Tìm hiểu vai trò, thị trường tiêu thụ và tác động ảnh hưởng của việc trồng cây Đương quy tới kinh tế các hộ gia đình

Thuận lợi, khó khăn trong thực hiện trồng cây dƣợc liệu:

- Luôn có sự quan tâm chỉ đạo từ tỉnh tới các cơ sở xã Có sự hỗ trợ đầu tƣ về các cơ chế chính sách của nhà nước

Hàng năm, UBND huyện TT.HU tổ chức cuộc họp với các công ty để thảo luận và thống nhất các nội dung, từ đó lập biên bản ghi nhớ giữa UBND huyện và các công ty Sau đó, các cơ quan và UBND các xã sẽ ký hợp đồng với công ty trước khi tiến hành triển khai các hoạt động.

- Luôn có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Công ty về chuyển giao khoa học kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm

- Tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, nắng hạn kéo dài, mƣa tuyết, dịch

- Vẫn chưa chủ động được nguồn giống tốt nên cũng gây ảnh hưởng đến sự phát triển vùng dƣợc liệu

Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất cây trồng mới vẫn gặp nhiều khó khăn, do chưa xây dựng được quy trình chuẩn từ khâu giống, chọn đất, gieo trồng, chăm sóc đến thu hoạch và chế biến Chính vì vậy, hiệu quả thu được chưa đạt như mong muốn.

Nhiều hộ nông dân vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng vào hiệu quả của chương trình, dẫn đến việc một số gia đình chưa dám áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Sự thiếu mạnh dạn trong đầu tư thâm canh và chăm sóc cây trồng đã ảnh hưởng đến hiệu quả của các mô hình và dự án Do đó, cần đánh giá lại vai trò của Đương quy trong việc cải thiện đời sống của các hộ gia đình và cộng đồng.

So sánh giá trị kinh tế giữa cây dược liệu và các cây trồng chính như lúa và ngô cho thấy, sau khi trừ chi phí đầu tư, bình quân mỗi hecta dược liệu mang lại từ 40 - 70 triệu đồng/năm, cao gấp 2,5 – 3 lần so với lúa và ngô Điều này giúp người dân có thêm một nguồn thu nhập ổn định cho gia đình.

Hiệu quả môi trường và sinh thái được thể hiện qua việc tạo ra các sản phẩm đặc trưng của từng vùng miền, đồng thời nâng cao hệ số sử dụng đất Điều này không chỉ góp phần tạo ra một môi trường cảnh quan đẹp mà còn thu hút du khách đến tham quan du lịch.

Giải quyết việc làm cho nông dân trong thời gian nông nhàn không chỉ giúp cải thiện đời sống mà còn góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới.

Đề xuất giải pháp phát triển bền vững loài Đương quy này tại địa phương

Để đảm bảo nguồn giống chất lượng cao cho sản xuất, cần phối hợp với Sở Khoa Học và các công ty trong việc xây dựng cơ sở sản xuất giống Việc trồng giống sạch bệnh, có nguồn gốc rõ ràng và phù hợp với điều kiện đất đai cùng kế hoạch thu mua của các công ty là rất quan trọng.

Trong thời gian tới, hệ thống khuyến nông sẽ phối hợp với các cơ quan ban ngành và UBND các xã trong vùng dự án để triển khai hỗ trợ từng hộ dân có nhu cầu đăng ký trồng Quá trình này sẽ bao gồm việc chọn hộ và điểm cụ thể, đồng thời áp dụng đúng quy trình kỹ thuật vào sản xuất và sơ chế nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế.

 Giải pháp về tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm:

+ Khuyến khích tổ chức sản xuất tập trung tạo thành vùng Liên kết sản xuất với các cơ sở sơ chế, chế biến, tiêu thụ sản phẩm

Xây dựng và ký kết biên bản ghi nhớ giữa các công ty và UBND huyện nhằm đảm bảo bao tiêu sản phẩm Giao nhiệm vụ cho các cơ quan, UBND các xã và hợp tác xã ký hợp đồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hiệu quả.

 Giải pháp về chính sách khuyến khích sản xuất:

Chính sách phát triển nguồn nhân lực tập trung vào việc nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ từ cấp huyện đến cơ sở thông qua các chương trình đào tạo và bồi dưỡng.

 Giải pháp về nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực:

+ Xây dựng các cơ chế chính sách để khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tƣ phát triển sản xuất cây dƣợc liệu

Sử dụng nguồn lao động tại chỗ từ các hộ tham gia dự án là một chiến lược quan trọng Để nâng cao hiệu quả sản xuất dược liệu, cần có kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng cho người lao động, giúp họ áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào quy trình sản xuất.

 Giải pháp về vốn đầu tƣ:

- Vốn từ nguồn ngân sách nhà nước lồng ghép từ các Chương trình dự án

- Vốn ngân sách của tỉnh: (chủ yếu từ nguồn vốn thực hiện Nghị quyết 30a)

Ngân sách huyện bao gồm các nguồn ủng hộ và vốn hợp pháp khác do huyện quản lý, nhằm hỗ trợ chi phí quản lý và chỉ đạo trong việc triển khai dự án Đồng thời, ngân sách cũng hỗ trợ việc trồng thử nghiệm một số mô hình cây dược liệu khác.

- Vốn huy động từ các công ty, doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế - Vốn tự có của nhân dân

KẾT LUẬN- TỒN TẠI- KIẾN NGHỊ

Qua quá trình nghiên cứu và thu thập số liệu thực địa, cùng với việc phân tích tổng hợp bằng nhiều phương pháp khác nhau, tôi đã rút ra một số kết luận quan trọng từ kết quả thu được.

Thực trạng trồng cây Dược cho thấy sự phối hợp hiệu quả giữa các ban ngành trong việc chuyển giao khoa học kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm, điều này đã tạo niềm tin cho người dân và khuyến khích họ tích cực tham gia sản xuất Diện tích trồng cây đương quy đã gia tăng đáng kể từ năm 2014, từ 2 ha đã lên 3 ha vào năm 2016, cho thấy sự phát triển khả quan của loại cây này.

Tại 2 thôn Lù Sui Tủng, Bản Già là 2 thôn tích cực trồng nhất , hộ gia đình tăng lên đáng kể, và 2 thôn này trồng nhiều nhất chiếm phần lớn diện tích trồng của xã Bản Già Qua vài năm trồng thấy rõ diện tích trồng đang đ ƣ dƣợc đ ẩy m ạnh , tập trung trồng cây dƣợc liệu hơn

Người dân đã nắm vững kỹ thuật trồng cây Đương Quy nhờ sự tuyên truyền của các cán bộ khuyến nông Họ hiểu rõ cách trồng và đặc điểm của cây, nhưng cần chú ý đến việc chăm sóc Việc nhổ cỏ và phòng trừ sâu bệnh thường xuyên là rất quan trọng để bảo vệ chất lượng củ Ngoài ra, trong mùa mưa, cây dễ bị thối củ do ngập úng và độ ẩm cao, vì vậy cần phải thoát nước tốt và loại bỏ những cây bị bệnh.

Cây cần đất phù hợp để sinh trưởng và phát triển tốt Trong mùa mưa, cây dễ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, không chỉ ngừng phát triển mà còn có nguy cơ chết do ngập úng, dẫn đến thối rễ và gây thiệt hại cho người dân.

Trong những năm gần đây, cây Đương quy đã cho thấy sự ổn định trong sinh trưởng, với tỷ lệ cây trung bình đạt 72% Đây là tín hiệu tích cực cho dự án trồng Đương quy tại Xã Bản Già.

Tại Huyện Bắc Hà, người dân bán giá dược liệu Đương quy là 20 nghìn đồng/kg, mang lại thu nhập ổn định hơn so với trồng ngô, với lợi nhuận gấp 2,5-3 lần Điều này giúp cải thiện kinh tế gia đình và tạo ra cơ hội phát triển bền vững cho cộng đồng.

Giải pháp hiệu quả là chủ động hợp tác với Sở Khoa Học và các công ty xây dựng cơ sở sản xuất giống, nhằm đảm bảo nguồn cây giống chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển sản xuất bền vững.

Cán bộ khuyến nông hướng dẫn trồng cây Đương quy đúng kỹ thuật, từ khâu chọn hộ đến quy trình sản xuất và sơ chế, nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế Các giải pháp kỹ thuật được đề xuất góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nâng cao giá trị sản xuất, giúp người dân tăng thu nhập và xóa đói giảm nghèo.

 Trong quá trình nghiên cứu điều tra không phải vào mùa hoa và mùa thu hoạch củ nên chƣa thể quan sát mô tả trực tiếp

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Ngọc Hải (2006) Tài liệu kỹ thuật gây trồng , nuôi 1 số loài Lâm sản ngoài gỗ, trường Đại Học Lâm nghiệp- dự án lâm sản ngoài gỗ giai đoạn II , phân vùng miền Bắc Khác
4. Giàng Seo Thề, Chủ Tịch Xã Bản Già , huyện Bắc Hà , Tỉnh Lào Cai-Các số liệu về hiện trạng rừng, điều kiện kinh tế xã hội của xã Bản Già, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai Khác
5. Sùng Văn Phúc. Cán bộ khuyến nông của xã Bản Già - Báo cáo số liệu các hộ gia đình đăng kí trồng Đương quy của xã Bản già Khác
6. Nguyễn Thị Thu Hằng (2017) - Khóa luận tìm hiểu kỹ thuật gây trồng loài Tam Thất tại xã Si Ma Cai, Tỉnh Lào Cai Khác
7. Các báo cáo, biểu tổng hợp, báo cáo đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất, kĩ thuật trồng cây Đương quy của Trạm Khuyến nông huyện Bắc Hà trong các năm 2014-2016Các trang web tham khảo Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w