TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tổng quan về thuốc BVTV
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là các chế phẩm được chiết xuất từ hóa chất, thực vật, động vật, vi sinh vật và nhiều nguồn khác, nhằm mục đích phòng ngừa và kiểm soát các sinh vật gây hại cho tài nguyên thực vật (Nguyễn Trần Oánh và cộng sự, 2007)
Chế phẩm bảo vệ thực vật bao gồm các sản phẩm dùng để phòng trừ sinh vật gây hại cho tài nguyên thực vật, điều hòa sinh trưởng thực vật, và các chất hỗ trợ làm rụng hoặc khô lá Ngoài ra, còn có các chế phẩm có khả năng xua đuổi hoặc thu hút sinh vật gây hại nhằm tiêu diệt chúng, theo quy định của Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và điều lệ Quản lý thuốc bảo vệ thực vật.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Trần Oánh và cộng sự (2007), thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí, bao gồm đối tượng phòng trừ và gốc hóa học Mỗi loại thuốc có nguồn gốc khác nhau sẽ có mức độ độc hại và khả năng gây độc khác nhau Cụ thể, việc phân loại theo đối tượng phòng trừ là một trong những phương pháp quan trọng trong quản lý và sử dụng thuốc BVTV.
- Thuốc điều hoà sinh trưởng
Trong số các loại thuốc nông nghiệp, thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh và thuốc trừ cỏ là những loại được sử dụng phổ biến nhất Phân loại các loại thuốc này có thể dựa trên nguồn gốc hóa học của chúng.
Thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc thảo mộc được chiết xuất từ cây cỏ, có khả năng tiêu diệt dịch hại hiệu quả Các sản phẩm này có độ độc cấp tính cao nhưng nhanh chóng phân hủy trong môi trường, giúp bảo vệ cây trồng một cách an toàn và bền vững.
Thuốc có nguồn gốc sinh học bao gồm các sinh vật như ký sinh thiên địch và các sản phẩm sinh học như kháng sinh, có khả năng tiêu diệt dịch hại hiệu quả.
- Thuốc có nguồn gốc vô cơ: bao gồm các hợp chất vô cơ (như dung dịch boocđô, lưu huỳnh ) có khả năng tiêu diệt dịch hại
- Thuốc có nguồn gốc hữu cơ: Gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khả năng tiêu diệt dịch hại Cụ thể:
Nhóm clo hữu cơ như DDT và 666 có độ độc cấp tính tương đối thấp, nhưng chúng tồn tại lâu trong môi trường và tích tụ trong cơ thể người cũng như động vật, gây ra độc mãn tính Do đó, nhiều sản phẩm chứa các hợp chất này đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng.
+ Nhóm lân hữu cơ: Wofatox Bi-58, : có độ độc cấp tính tương đối cao, mau phân hủy trong cơ thể và môi trường hơn nhóm clo hữu cơ
Nhóm Carbamate, bao gồm Mipcin, Basa, Sevin, có độ độc cấp tính tương đối cao và khả năng phân hủy tương tự như nhóm lân hữu cơ Những loại thuốc này được sử dụng phổ biến do giá thành rẻ và hiệu lực cao.
+ Nhóm Pyrethoide: Decis, Sherpa, Sumicidine, : dễ bay hơi, tương đối mau phân hủy trong cơ thể người và môi trường
Các hợp chất pheromone là hóa chất đặc biệt do sinh vật tiết ra nhằm kích thích hành vi của những sinh vật khác cùng loài Các chất điều hòa sinh trưởng côn trùng như Nomolt và Applaud được sử dụng để điều chỉnh sự phát triển của côn trùng, ngăn cản chúng biến thái hoặc thúc đẩy sự trưởng thành sớm Những hợp chất này có độ độc thấp với con người và môi trường Phân loại các hợp chất này còn dựa vào cách tác động của chúng đến dịch hại.
• Nội hấp d Phân loại theo độc cấp tính
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) trực thuộc Liên Hợp Quốc phân loại độc tính của thuốc như sau:
Bảng 2.1 trình bày phân loại độc tính của thuốc bảo vệ thực vật theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới và Tổ chức Nông Lương Thế Giới, với các chỉ số LD 50 (mg/kg thể trọng) cho đường miệng và đường da.
Chất rắn Chất lỏng Chất rắn Chất lỏng
II: Độc vừa 50-500 200-2.000 100-1.000 400-4.000 III: Độc nhẹ >500 >2.000 >1.000 >4.000
IV Loại sản phẩm không gây độc cấp khi sử dụng bình thường
(Nguồn: FAO, 2000) e Phân loại theo dạng thuốc
ND: Nhũ dầu, EC: Emulsifiable Concentrate
DD: Dung dịch, SL: Solution, L: Liquid, AS: Aqueous Suspension BTN: Bột thấm nước, BHN: Bột hòa nước, WP: Wettable Powder DF: Dry Flowable, WDG: Water Dispersible Granule
HP: Huyền phù FL: Flowable Liquid, SC: Suspensive Concentrate H: Hạt, G: granule, GR: granule P: Pelleted (dạng viên)
Bảng 2.2 Các dạng thuốc Bảo vệ thực vật Dạng thuốc
Tilt 250 ND, Basudin 40 EC, DC-Trons Plus 98.8 EC
Thuốc ở thể lỏng, trong suốt
Dễ bắt lửa cháy nổ
Bonanza 100 DD, Baythroid 5 SL, Glyphadex 360 AS
Hòa tan đều trong nước, không chứa chất hóa sữa
Viappla 10 BTN, Vialphos 80 BHN, Copper-zinc 85 WP, Padan 95 SP
Dạng bột mịn, phân tán trong nước thành dung dịch huyền phù
Lắc đều trước khi sử dụng
Chủ yếu rãi vào đất
Chủ yếu rãi vào đất, làm bả mồi
Thuốc phun bột BR, D Karphos 2D
Dạng bột mịn, không tan trong nước, rắc trực tiếp
(Nguồn: Trần Văn Hai, 2013) 2.1.3 Vai trò của thuốc BVTV
Trong lĩnh vực trồng trọt, thuốc BVTV có vai trò rất quan trọng trong việc giữ vững năng suất, chất lượng cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực
Theo Nguyễn Trần Oánh (2007), thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nhờ vào khả năng diệt trừ dịch hại nhanh chóng và hiệu quả trên diện rộng Biện pháp hóa học không chỉ giúp ngăn chặn dịch bệnh trong thời gian ngắn mà còn bảo vệ năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng nông sản và mang lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài ra, thuốc BVTV dễ sử dụng, có thể áp dụng ở nhiều vùng khác nhau, thường là biện pháp phòng trừ duy nhất và không thể thay thế.
Tình hình sử dụng thuốc BVTV
Mặc dù có nhiều thăng trầm trong sự phát triển của biện pháp hóa học, tổng giá trị tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) toàn cầu vẫn tăng không ngừng, với số lượng hoạt chất và chủng loại ngày càng phong phú Những loại thuốc mới và an toàn hơn cho môi trường liên tục được ra mắt, bất chấp các quy định quản lý ngày càng nghiêm ngặt và chi phí nghiên cứu cao Trong hơn 50 năm qua, việc sử dụng thuốc BVTV song song với sự gia tăng diện tích canh tác, thâm canh tăng vụ và giống cây năng suất cao đã dẫn đến sự gia tăng liên tục của dịch hại cây trồng.
Giá trị tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trên thế giới đã tăng từ 22,4 tỷ USD năm 1992 lên khoảng 30 tỷ USD vào năm 2010 Tuy nhiên, sự đóng góp của thuốc BVTV vào quá trình tăng năng suất ngày càng giảm Theo nghiên cứu của Sarazy, trong 10 năm qua, việc sử dụng thuốc BVTV ở các nước Châu Á trồng lúa đã tăng 200 - 300%, nhưng năng suất vẫn không cải thiện, duy trì ở mức trung bình 4 tấn/ha Nguyên nhân chủ yếu là do thuốc BVTV làm suy giảm sức khỏe cây trồng, hệ ký sinh thiên địch và gây mất cân bằng hệ sinh thái Ngoài ra, nghiên cứu của Heong và Kenmore cho thấy số lần phun thuốc trừ sâu không có mối tương quan tích cực với năng suất ở các nước như Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam.
Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đã dẫn đến sự gia tăng tính kháng thuốc của dịch hại và suy giảm hệ sinh thái ký sinh - thiên địch, gây bùng phát dịch hại Một số sản phẩm như Abamectin và Cypermethrin rất độc hại đối với ký sinh thiên địch và có thời gian tồn đọng lâu trong đất, với chu kỳ bán phân hủy lần lượt là 28 ngày và 60 - 120 ngày Do đó, Thái Lan đã khuyến cáo cấm sử dụng hai loại hoạt chất này.
Trong giai đoạn 1996 - 2000, mặc dù các nước phát triển đã áp dụng công nghệ cao và có quy định nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm, vẫn tồn tại tình trạng dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trên nông sản Cụ thể, tại Hoa Kỳ, 72% mẫu có dư lượng, trong đó 4,8% vượt mức cho phép; tại EU, tỷ lệ này là 37% với 1,4% vượt mức; ở Úc, con số là 69,2% và 0,9% vượt mức; còn tại Hàn Quốc và Đài Loan, tỷ lệ mẫu vượt mức cho phép là từ 0,8-1,3%.
Trong những năm gần đây, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật trong phòng trừ dịch hại đã được nghiên cứu và áp dụng, như quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), sản xuất nông nghiệp tốt (GAP), và công nghệ sinh thái bảo vệ thực vật Các nghiên cứu này đã thành công trong việc giảm thiểu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật mà vẫn duy trì hiệu quả quản lý dịch hại.
2000) Thụy Điển giảm lượng thuốc BVTV sử dụng đến 60%, Đan Mạch và
Trong 10 năm qua, tốc độ tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trên toàn cầu đã giảm dần, với sự chuyển hướng rõ rệt sang việc sử dụng thuốc sinh học và các sản phẩm thân thiện với môi trường Hà Lan đã ghi nhận sự giảm 50% trong mức tiêu thụ này Hiện nay, các biện pháp hóa học BVTV đang được phát triển theo những xu hướng chính nhằm giảm độc tính và tăng cường tính an toàn cho môi trường.
1 Nghiên cứu tìm ra các hoạt chất mới có cơ chế tác động mới, có tính chọn lọc và hiệu lực trừ dịch hại cao hơn, lượng dùng nhỏ hơn, tồn lưu ngắn, ít độc và dễ dùng hơn như thuốc trừ sâu tác dụng chậm (điều khiển sinh trưởng côn trùng, pheromon, các chất triệt sản ) là những ví dụ điển hình, đặc biệt các thuốc sinh học được chú ý sử dụng nhiều hơn
2 Tìm hiểu các phương pháp và các nguyên liệu để gia công thành các dạng thốc mới ít ô nhiễm, hiệu lực dài, dễ dùng và loại bỏ dần các dạng thuốc gây ô nhiễm môi trường
3 Nghiên cứu các công cụ phun rải thuốc tiên tiến và cải tiến các loại công cụ hiện có để tăng khả năng trang trải, tăng độ bám dính, giảm tới mức tối thiểu sự rửa trôi của thuốc Chú ý các phương pháp sử dụng thuốc khác bên cạnh phương pháp phun thuốc còn đang phổ biến hiện nay Thay thế quan điểm phun thuốc sớm, đại trà, định kỳ bằng phun thuốc khi dịch hại đến ngưỡng phòng trừ
Trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) lần đầu tiên được sử dụng ở miền Bắc vào vụ Đông Xuân 1956-1957 để kiểm soát sâu gai và sâu cuốn lá lớn tại Hưng Yên Từ năm 1957 đến 1990, lượng thuốc BVTV sử dụng hàng năm chỉ khoảng 15.000 tấn, với khoảng 20 chủng loại chủ yếu là thuốc trừ sâu và thuốc trừ bệnh Hầu hết các loại thuốc này có độ tồn lưu lâu trong môi trường và mức độ độc hại cao.
Theo số liệu từ Cục BVTV, trong giai đoạn 1981 - 1986, lượng thuốc sử dụng dao động từ 6,5 đến 9,0 ngàn tấn, sau đó tăng lên 20 - 30 ngàn tấn trong giai đoạn 1991 - 2000, và tiếp tục tăng mạnh lên từ 36 đến 75,8 ngàn tấn trong giai đoạn 2001.
Từ năm 1981 đến 2010, lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) tính theo đầu diện tích canh tác đã tăng từ 0,3 kg/ha lên 1,24 - 2,54 kg/ha Giá trị nhập khẩu thuốc BVTV cũng ghi nhận sự gia tăng nhanh chóng, từ 472 triệu USD vào năm 2008 lên 537 triệu USD vào năm 2010 Trong giai đoạn 2000-2011, số lượng thuốc BVTV sử dụng đã tăng 2,5 lần, trong khi số loại thuốc nhập khẩu tăng khoảng 3,5 lần Đặc biệt, trong giai đoạn 1995-2000, diện tích gieo trồng hàng năm tăng 1,18 lần, trong khi khối lượng thuốc nhập khẩu và sử dụng tăng từ 2,85 đến 3,37 lần Điều này cho thấy chỉ số gia tăng về thuốc BVTV cao hơn gấp 2,4-2,85 lần so với diện tích gieo trồng.
Theo thông tư số 03/2018/TT-BNNPTNT ban hành ngày 09 tháng 02 năm 2018, nhà nước đã cho phép sử dụng 785 hoạt chất thuốc trừ sâu với 1682 tên thương phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp, cùng với 617 hoạt chất thuốc trừ bệnh.
1280 tên thương phẩm; 234 hoạt chất thuốc trừ cỏ với 713 tên thương phẩm;
Trong lĩnh vực nông nghiệp, có 9 hoạt chất thuốc trừ chuột với 27 tên thương phẩm, 52 hoạt chất thuốc điều hòa sinh trưởng với 141 tên thương phẩm, 9 hoạt chất thuốc dẫn dụ côn trùng với 9 tên thương phẩm, 30 hoạt chất thuốc trừ ốc với 150 tên thương phẩm, và 5 hoạt chất hỗ trợ (chất trài) với 6 tên thương phẩm.
Theo các chuyên gia quốc tế, khoảng 80% thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) tại Việt Nam đang được sử dụng không đúng cách, gây lãng phí và không cần thiết.
Ảnh hưởng của thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp tới môi trường
Một số loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) có tính ổn định hóa học cao, khó phân hủy, dẫn đến sự tích lũy trong môi trường Việc lạm dụng thuốc BVTV ngày càng gia tăng đã làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến đất, nước và không khí Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự tồn lưu của thuốc BVTV trong các yếu tố môi trường này, gây hại cho động vật và con người.
2.3.1 Đối với môi trường không khí
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) rất đa dạng, trong đó một số loại có khả năng bay hơi sau khi phun Mặc dù vậy, có rất ít bằng chứng cho thấy sự tiếp xúc với thuốc BVTV trong không khí có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, ngoại trừ các khu vực kín, nơi không khí không được thông thoáng.
2.3.2 Đối với môi trường đất
Trong đất, có tới 50% lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) còn tồn dư sau khi phun, mặc dù một phần lớn đã bay hơi Một số loại thuốc BVTV như Clo hữu cơ có thể tồn tại trong đất nhiều năm Khi vào đất, cây hấp thụ một phần thuốc, trong khi phần còn lại được keo đất giữ lại Thuốc tồn tại trong đất sẽ dần được phân giải nhờ hoạt động sinh học và các yếu tố hóa lý, nhưng tốc độ phân giải diễn ra chậm nếu lượng thuốc lớn, đặc biệt trong đất có hoạt tính sinh học kém (Lê Văn Khoa, 2001).
2.3.3 Đối với môi trường nước
Môi trường nước có nguy cơ bị ô nhiễm hóa chất từ nhiều nguồn, bao gồm việc nông dân xả thuốc thừa hoặc rửa bình phun xuống ao, kênh mương, cũng như việc phun thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) gần mép nước Hóa chất có thể xâm nhập từ đất qua quá trình rò rỉ, xói mòn và rửa trôi, hoặc từ không khí ô nhiễm qua hiện tượng mưa và sương mù Theo Nguyễn Đình Mạnh (2000), tính di động của thuốc BVTV chủ yếu bị ảnh hưởng bởi nước và lực dòng chảy, với khả năng di động được quyết định bởi độ tan, độ hấp phụ trong keo đất, cường độ và vận tốc hấp phụ của đất đối với nhóm thuốc BVTV Khả năng thấm sâu của thuốc BVTV cũng phụ thuộc vào nước và tính linh động của chúng.
2.3.4 Ảnh hưởng tới sức khoẻ con người
Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) với nồng độ cao, số lượng lớn và thời gian cách ly không đảm bảo dẫn đến dư lượng thuốc trong sản phẩm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng Theo Trung tâm Khuyến nông Việt Nam (2013), năm 2009 đã ghi nhận 4.515 trường hợp nhiễm độc thuốc BVTV, trong đó có 138 ca tử vong Nhiễm độc cấp tính thường xảy ra do tự tử, ngộ độc hàng loạt từ thực phẩm, hoặc tiếp xúc nghề nghiệp trong nông nghiệp Sự tiếp xúc kéo dài với thuốc BVTV ở liều lượng nhỏ có thể gây ra nhiều rối loạn và bệnh tật khác nhau, bao gồm ung thư, các vấn đề sinh sản như đẻ non, vô sinh, và thai dị dạng Nghiên cứu cho thấy dư lượng thuốc BVTV có thể không gây hại cho mẹ nhưng lại ảnh hưởng đến sự phát triển não bộ của thai nhi Ngoài ra, dư lượng thuốc BVTV cũng được phát hiện trong sữa mẹ, góp phần vào các trường hợp sảy thai và đẻ non, tạo ra những nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng.
2.3.5 Ảnh hưởng tới hệ sinh thái
Khi phun thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trên đồng ruộng, không chỉ tiêu diệt sâu bệnh và cỏ dại mà còn làm giảm số lượng các loài thiên địch có ích, như côn trùng và nhện ăn sâu hại Các loài thiên địch này thường nhạy cảm hơn với thuốc BVTV, dẫn đến việc chúng bị tiêu diệt nhiều hơn so với sâu hại Hơn nữa, những cá thể sâu hại sống sót sau khi phun thuốc có khả năng phục hồi quần thể nhanh chóng hơn các thiên địch, do thuốc BVTV hiện nay không thể tiêu diệt hoàn toàn sâu bệnh.
Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) không đúng cách có thể dẫn đến tình trạng sâu bệnh phát triển mạnh mẽ trong các vụ mùa tiếp theo, do thiên địch chưa kịp hồi phục để kiểm soát sâu hại Ngoài ra, việc lạm dụng thuốc BVTV cũng khiến sâu hại quen thuốc, dẫn đến hiện tượng kháng thuốc, làm giảm hiệu quả phòng trừ sâu bệnh (Phạm Văn Phú, 2011).
Phần III ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
- Người dân sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình
- Một số loại cây trồng chính trên địa bàn nghiên cứu: Lúa, ngô, khoai, đậu, dưa chuột,…
- Phạm vi không gian: Khu vự sản xuất nông nghiệp của xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 2/2018 đến tháng 5/2018
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình
- Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp trên các cây trồng chính
- Đề xuất một số biện pháp đề xuất nhằm giảm thiểu tác hại của việc sử dụng thuốc BVTV
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Tổng hợp số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế, xã hội của xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình từ các nguồn thông tin do UBND xã Tân Vinh cung cấp.
UBND xã Tân Vinh phối hợp với Phòng NN & PTNT huyện Lương Sơn và Sở NN & PTNT Hòa Bình để thu thập thông tin về tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Các nguồn tài liệu được sử dụng bao gồm thư viện, sách, báo và internet.
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Phương pháp khảo sát thực địa cho phép thu thập thông tin trực tiếp về tình hình sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Tân Vinh Qua đó, chúng ta có thể có được những hình ảnh trực quan về việc thực hiện và triển khai các chương trình, chính sách tại địa phương.
3.4.3 Phương pháp phỏng vấn, điều tra nông hộ
- Điều tra nông hộ: Xã Tân Vinh có 1135 hộ, từ công thức tính dung lượng mẫu để phục vụ nghiên cứu: n = N/(1 + N*e 2 ) thì số hộ cần khảo sát là
60 hộ (e = 0,1) Nên trong giới hạn nghiên cứu này tôi điều tra số hộ (mẫu) là
Trong một cuộc điều tra, 60 hộ gia đình đã được chia đều cho các xóm, với mỗi xóm khảo sát 6 hộ tham gia sản xuất nông nghiệp Mục tiêu của cuộc điều tra là thu thập thông tin về loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) thường được sử dụng, bao gồm liều lượng, nồng độ, tần suất phun, cũng như mức độ hiểu biết của người dân về việc sử dụng thuốc BVTV và tác động của chúng đến sức khỏe và môi trường.
Hình 3.1 Mẫu phiếu điều tra nông hộ
Phỏng vấn những người có kinh nghiệm, bao gồm cán bộ xã và người dân, là một phương pháp hiệu quả để thu thập thông tin về tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) tại địa phương Việc này giúp hiểu rõ hơn về thực trạng và những vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc BVTV trong cộng đồng.
Dựa trên dữ liệu điều tra và phân tích theo thời gian và không gian, bài viết tổng hợp để phản ánh tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) tại địa phương.
3.4.4 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Tổng hợp, phân tích và xử lý thống kê bằng phương pháp thống kê mô tả trên phần mềm Microsoft Excel
Phần IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sản xuất nông nghiệp của xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình
4.1.1 Điều kiện tự nhiên a Vị trí địa lý
Hình 4.1 Vị trí địa lý xã Tân Vinh
Tân Vinh là một xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, nằm ở phía Đông Nam với diện tích tự nhiên khoảng 13 km² Khu vực này có chiều dài 6 km và chiều rộng 3 km, tạo nên một địa giới đặc trưng cho xã.
+ Phía Bắc: giáp Thị trấn Lương Sơn
+ Phía Nam: giáp xã Hợp Hòa và xã Cao Răm
+ Phía Đông: giáp xã Cư Yên
+ Phía Tây: giáp xã Trường Sơn, Lâm Sơn
Xã được bao quanh bởi sông Bùi chảy từ phía Lâm Sơn và một con suối từ đỉnh 833, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Xã được chia thành 10 xóm: Cời, Đồng Chúi, Đồng Tiến, Nước Vải, Rụt, Suối Khế, Tân Hoà, Tân Lập, Thị Tân và Vé.