1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi trồng nấm sò trắng pleurotus florida tại huyện yên thế tỉnh bắc giang

48 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi trồng nấm sò trắng (Pleurotus florida) tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
Tác giả Phương Trọng Nghĩa
Người hướng dẫn Nguyễn Thành Tuấn
Trường học Đại học Lâm nghiệp
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (9)
    • 1.1. Tình hình nghiên cứu và nuôi trồng nấm ăn (9)
      • 1.1.1. Tình hình nghiên cứu về nấm trên thế giới (0)
      • 1.1.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm ở Việt Nam (10)
    • 1.2. Giới thiệu về nấm ăn (13)
      • 1.2.1. Đặc điểm chung (13)
      • 1.2.2. Giá trị dinh dưỡng của nấm ăn (13)
  • CHƯƠNG 2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (17)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (17)
    • 2.2. Đối tƣợng nghiên cứu (17)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (17)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (17)
  • CHƯƠNG 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI (19)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (19)
    • 3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội (21)
  • CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (23)
    • 4.1. Tổng quan về nấm Sò và nấm Sò trắng (23)
      • 4.1.1. Nguồn gốc và phân loại (23)
      • 4.1.2. Đặc điểm hình thái nấm Sò trắng (25)
      • 4.1.3. Chu kỳ sống của nấm Sò trắng (26)
      • 4.1.4. Điều kiện sống (28)
      • 4.1.5. Giá trị dinh dưỡng của nấm Sò trắng (29)
    • 4.2. Quy trình sản xuất nấm Sò trắng (30)
      • 4.2.1. Quy trình sản xuất nấm Sò trắng tại khu vực nghiên cứu (0)
      • 4.2.2. Một số vấn đề khi nuôi trồng nấm Sò trắng tại khu vực nghiên cứu (0)
      • 4.2.3. Đánh giá quy trình sản xuất nấm Sò trắng tại khu vực nghiên cứu (0)
    • 4.3. Đánh giá khả năng phát triển trồng nấm Sò trắng tại Yên Thế (42)
    • 4.4. Đề xuất giải pháp phát triển trồng nấm tại khu vực nghiên cứu (44)
  • CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ ............................................... 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO (46)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tình hình nghiên cứu và nuôi trồng nấm ăn

1.1.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm trên thế giới

Theo tài liệu khảo cổ, từ thời kỳ đồ đá cũ (4000-5000 năm trước Công nguyên), cư dân nguyên thủy ở Trung Quốc đã biết thu lượm và sử dụng nhiều loài nấm ăn từ thiên nhiên Đến năm 400 trước Công nguyên, đã có những miêu tả khoa học về sinh lý và sinh thái của nhiều loài nấm ăn Năm 300 trước Công nguyên, nấm ăn được xem là mỹ thực trong cung đình Trung Hoa, và từ đó, nấm đã được coi là sinh vật đặc biệt, không phải thực vật Đến năm 100 trước Công nguyên, ghi chép đầu tiên về kỹ thuật trồng nấm bắt đầu xuất hiện.

Trên thế giới hiện có khoảng 2000 loài nấm ăn và nấm dược liệu, trong đó có 80 loài nấm ăn có giá trị kinh tế cao Nhiều loài nấm như nấm Hương, nấm Sò, và nấm Rơm đã được nuôi trồng với sản lượng lớn Các quốc gia đang chú trọng nghiên cứu và phát triển giống nấm mới có giá trị, đồng thời áp dụng quy trình trồng nấm công nghiệp để sản xuất các loại nấm cao cấp như nấm Đùi gà, nấm Kim châm, nấm Ngọc châm và nấm Trân châu.

Ngành trồng nấm trên toàn cầu đang phát triển mạnh mẽ Năm 1939, chỉ có 3 quốc gia sản xuất nấm ăn, nhưng đến năm 1995, con số này đã vượt qua 50 quốc gia, cho thấy sự gia tăng đáng kể trong sản xuất và tiêu thụ nấm trên thế giới.

Hiện nay, ngành trồng nấm đang phát triển mạnh mẽ với hơn 100 quốc gia tham gia Quy mô và phương thức sản xuất ngày càng được mở rộng, cùng với sự đa dạng về nguyên liệu Các loại hình và chủng loại sản phẩm nấm cũng ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu thị trường.

Nghiên cứu và sản xuất nấm ăn đã trở thành một ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu Ngành trồng nấm hiện nay đã được cơ giới hóa cao, từ khâu xử lý nguyên liệu đến chăm sóc, thu hái và chế biến, với sự ứng dụng của máy móc tại các quốc gia như Hà Lan, Đức, Pháp và Mỹ Ngoài ra, nghề trồng nấm cũng đang phát triển đáng kể ở các nước châu Á như Đài Loan, Trung Quốc và Thái Lan.

Sản lượng nấm toàn cầu đạt 6.280 nghìn tấn, trong đó Trung Quốc đóng góp 5.230 nghìn tấn, chiếm khoảng 5/6 tổng sản lượng nấm thế giới.

Thị trường tiêu thụ nấm ăn lớn nhất hiện nay bao gồm Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan và các nước châu Âu, với nhu cầu toàn cầu khoảng 20 triệu tấn nấm mỗi năm, tăng trưởng khoảng 4% hàng năm Tuy nhiên, sản lượng nấm hiện tại chỉ đáp ứng khoảng 25% nhu cầu thị trường.

Người Trung Quốc từ lâu đã coi nấm ăn là một trong bốn loại sơn hào hải vị, và hiện nay, việc nghiên cứu và sản xuất nấm đã trở thành một trong chín nghề sản xuất lớn trong nông nghiệp Trung Quốc Năm 2001, sản lượng nấm đạt 5.230 nghìn tấn, mang lại giá trị kinh tế khoảng 19.960 triệu USD và xuất khẩu đạt 650 triệu USD Đến năm 2007, tổng sản lượng nấm ăn của Trung Quốc đã vượt hơn 17 triệu tấn, bao gồm 11.779.962 tấn nấm Kim châm, 232.868 tấn nấm Trân châu và 441.869 tấn nấm Đùi gà, với doanh thu đạt 90 tỷ nhân dân tệ và xuất khẩu nấm đạt hơn 1,42 tỷ USD mỗi năm.

1.1.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm ở Việt Nam

Hiện tại, các nhà khoa học đã xác định khoảng 1200 loài nấm lớn tại Việt Nam, bao gồm gần 200 loài nấm ăn và nấm dược liệu Tuy nhiên, nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, sinh lý, sinh hóa và quy trình công nghệ nuôi trồng nấm để phát triển giống nấm vẫn chưa được thực hiện một cách đồng bộ.

Nghiên cứu và phát triển sản xuất nấm ở Việt Nam đã bắt đầu từ những năm 1970 Hiện tại, nước ta trồng 6 loại nấm chính: nấm Rơm, Mộc nhĩ, nấm Sò, nấm Mỡ, nấm Hương và nấm dược liệu Linh chi Các tỉnh phía Nam chủ yếu tập trung vào trồng nấm Rơm, Mộc nhĩ và nấm Linh chi, trong khi các tỉnh phía Bắc chủ yếu sản xuất nấm Mỡ, nấm Sò và nấm Hương.

Một số cơ quan và đơn vị ở Việt Nam đã bắt đầu chú ý đến việc nghiên cứu, chọn tạo các giống nấm ăn và nấm dƣợc liệu nhƣ:

- Năm 1984 thành lập Trung tâm nghiên cứu nấm ăn – Trường đại học Tổng hợp Hà Nội

Năm 1985, với sự tài trợ của tổ chức FAO, UBND Thành phố Hà Nội đã thành lập Trung tâm sản xuất giống nấm Tương Mai, sau này được đổi tên thành Công ty sản xuất giống, chế biến và xuất khẩu nấm Hà Nội.

Năm 1986, tổ chức FAO đã hỗ trợ UBND Thành phố Hồ Chí Minh trong việc thành lập xí nghiệp sản xuất giống nấm, đánh dấu bước khởi đầu quan trọng cho ngành sản xuất nấm tại địa phương Cùng năm đó, nhiều đơn vị và công ty sản xuất nấm khác cũng được thành lập, góp phần phát triển mạnh mẽ lĩnh vực này.

Vào năm 1992-1993, Công ty giống Hà Nội đã nhập khẩu thiết bị chế biến đồ hộp nấm và nhà trồng nấm công nghiệp từ Italia, thúc đẩy nhiều tỉnh thành trong cả nước đầu tư hàng tỉ đồng cho nghiên cứu và sản xuất nấm ăn Phong trào trồng nấm Mỡ đã lan rộng ra toàn miền Bắc, với sản lượng tăng từ 30 tấn/năm vào năm 1988 lên 500 tấn/năm vào năm 1993 Tuy nhiên, nhiều cơ sở phải giải thể do thua lỗ Cùng thời điểm này, Trung tâm công nghệ sinh học thực vật (Viện Di truyền Nông nghiệp) đã bắt đầu nghiên cứu và chuyển giao công nghệ nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu.

Sau nhiều nỗ lực của Trung tâm công nghệ Sinh học thực vật thuộc trường Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng với sự hỗ trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước, thị trường nghề trồng nấm đã được phục hồi và mở rộng.

Nghề trồng nấm đang phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các tỉnh thành trên cả nước, đặc biệt tại các tỉnh phía Bắc và miền Trung như Bắc Giang, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình Sản lượng nấm ước đạt khoảng 30 nghìn tấn mỗi năm, cho thấy tiềm năng kinh tế của nghề này Sau nhiều thăng trầm, trồng nấm đã khẳng định được vị trí là một trong những nghề nông nghiệp mang lại thu nhập cao hơn so với nhiều ngành khác như trồng lúa Các vùng trồng nấm và các loại nấm đa dạng cũng góp phần vào sự phát triển của ngành này tại Việt Nam.

- Nấm Linh chi là loại nấm dƣợc liệu, mới chỉ đƣợc trồng tại một số tỉnh (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh), sản lƣợng mỗi năm đạt 100 tấn

- Nấm Mỡ, nấm Sò, nấm Hương chủ yếu được trồng ở miền Bắc với sản lƣợng hằng năm khoảng 1000 tấn

- Nấm Mộc nhĩ trồng tập trung ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ (Bình Phước, Đồng Nai…)

Giới thiệu về nấm ăn

Nấm là sinh vật nhân thực không chứa chất diệp lục và sống bằng cách dị dưỡng Trong hệ thống phân loại hiện đại, nấm được xếp vào giới thứ ba, tách biệt với thực vật.

Nấm được cấu tạo từ các sợi nấm hình ống, chia thành hai loại: sợi nấm đa bào (có vách ngăn) và sợi nấm đơn bào (không có vách ngăn) Vách tế bào của nấm bậc thấp chủ yếu là cellulose, trong khi nấm bậc cao có kitin, và một số loài nấm chứa cả hai thành phần này Sợi nấm sinh trưởng theo hướng ngọn và phân nhánh, tập hợp lại tạo thành thể sợi nấm (Mycelium) Thể sợi nấm có thể biến thái thành các dạng như bó nấm hình rễ (Rhimorphs), hạch nấm (selerrotium) hoặc phát dục thành cơ quan chứa bào tử, gọi là thể quả.

Nấm ăn là loại nấm có kích thước lớn, cung cấp thực phẩm cho con người, chủ yếu thuộc ngành phụ nấm Đảm và một phần thuộc ngành phụ nấm Túi Chúng thường phát triển trên cây khô, gốc cây đổ, gốc cây chặt, hoặc trên mặt đất, bụi cỏ, và cành lá mục Nấm có thể mọc đơn lẻ, theo cụm hoặc thành đám, với nhiều hình dạng, màu sắc và kích thước đa dạng.

1.2.2 Giá trị dinh dưỡng của nấm ăn

Nấm ăn là thực phẩm sạch, ngon miệng và được ưa chuộng Ngoài vai trò là thực phẩm, một số loại nấm còn được sử dụng làm dược liệu và vị thuốc chữa bệnh cho con người.

Nấm ăn là thực phẩm giàu dinh dưỡng, cung cấp protein, lipit, axit amin và vitamin, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và hỗ trợ các quá trình trao đổi chất của con người.

Nấm ăn là nguồn thực phẩm giàu đạm, ít mỡ và calo, đồng thời cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất Ba nguồn đạm chính cho con người bao gồm đạm từ nấm, động vật và thực vật Theo nghiên cứu, trong 112 loài nấm ăn, hàm lượng trung bình của các chất dinh dưỡng là 25% protein, 8% lipit, 60% gluxit và 8% chất tro Đặc biệt, nấm Mỡ có hàm lượng protein cao lên tới 44%, làm cho nó trở thành một lựa chọn dinh dưỡng tuyệt vời.

Dưới đây là bảng so sánh giá trị dinh dưỡng của một số loài nấm ăn và sự đối chiếu giữa giá trị dinh dưỡng của nấm ăn với các loại thực phẩm khác.

Bảng 01 So sánh giá trị dinh dƣỡng của nấm ăn so với một số loại rau và thịt (mg/100g chất tươi)

Bảng 02 Hàm lƣợng axit amin (aminoaxit) mg/100g chất khô

TT Sản phẩm Lizin Histizin Arginin Theonin Valin Methionin Izoloxin Lơxin

Bảng 03 Hàm lƣợng vitamin và chất khoáng (mg/100g chất khô)

Bảng 04 Giá trị dinh dƣỡng của một số loài nấm ăn (so với trứng gà) mg/100g chất khô

Protein Lipit Hydro cacbon Khoáng Calo

Qua các bảng trên cho ta thấy: Giá trị dinh dưỡng của nấm ăn tương đương với các loại rau cao cấp

Hầu hết các nguyên tố dinh dưỡng trên được con người hấp thụ triệt để

Do vậy, nấm ăn đƣợc coi là loại thực phẩm sạch

Nấm ăn không chỉ mang lại hương vị thơm ngon mà còn chứa nhiều dưỡng chất phong phú Ngoài việc được sử dụng làm thực phẩm, nấm còn có tác dụng dược liệu, giúp ngăn ngừa xơ cứng động mạch và không làm tăng cholesterol trong máu như nhiều loại thực phẩm khác.

Nấm, đặc biệt là nấm Linh chi, có nhiều tác dụng chữa bệnh như viêm gan, cao huyết áp và thậm chí hỗ trợ điều trị ung thư giai đoạn đầu Ở Trung Quốc và các nước phương Đông, nấm được sử dụng để điều trị các rối loạn tiêu hóa, tim mạch, tiểu đường, và giúp bổ xương, chống viêm Nấm không chỉ là thực phẩm tốt cho sức khỏe mà còn giúp tăng cường miễn dịch, kháng ung thư, kháng virus, giải độc, bảo vệ tế bào gan, loại bỏ gốc tự do và chống lão hóa.

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Nấm Sò trắng có đặc điểm sinh học và sinh thái độc đáo, cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để hiểu rõ hơn về môi trường sống và điều kiện phát triển của chúng Việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của nấm Sò trắng tại khu vực nghiên cứu sẽ là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm phát triển nghề trồng nấm này.

Đối tƣợng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi trồng nấm Sò trắng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Nội dung nghiên cứu

(1) Đặc điểm sinh học, sinh thái của nấm Sò trắng

- Hình thái thể quả nấm

- Hình thái thể sợi nấm

- Chu kỳ sống của nấm

- Điều kiện sống của nấm

(2) Quy trình sản xuất nấm Sò trắng tại khu vực nghiên cứu

- Quy trình sản xuất nấm Sò trắng của người dân

- Đánh giá quy trình sản xuất nấm Sò trắng

(3) Điều kiện phát triển trồng nấm Sò trắng

(4) Đề xuất giải pháp phát triển trồng nấm Sò trắng tại khu vực nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu

Kế thừa các tài liệu nghiên cứu trước đây về đặc điểm sinh học, sinh thái học của nấm Sò trắng, quy trình sản xuất nấm Sò trắng

Kế thừa số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực

2.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp

Tiến hành thu thập số liệu tại các gia đình có nuôi trồng nấm Sò trắng trong khu vực Theo các bước như sau:

(1) Đặc điểm hình thái nấm Sò trắng tại khu vực

+ Nhận biết, mô tả đặc điểm hình thái cơ bản của nấm Sò trắng đƣợc trồng tại các hộ gia đình

+ So sánh, đánh giá về các đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của loài

(2) Quy trình sản xuất nấm Sò trắng tại hộ gia đình

+ Điều tra quy trình sản xuất nấm tại địa phương Năng suất nấm bình quân của hộ gia đình (kg nấm/ tấn nguyên liệu)

+ Điều tra các loại sâu bệnh phát sinh trong quá trình trồng nấm và cách phòng trừ các loại sâu bệnh này của người dân

(3) Khả năng sản xuất nấm Sò trắng

+ Đặc điểm thời tiết, khí hậu của khu vực nghiên cứu

+ Nguồn nguyên liệu sản xuất nấm Sò trắng của người dân tại địa phương

+ Tìm hiểu thị trường tiêu thụ nấm Sò trắng tại các cửa hàng đầu mối bán nấm, khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ trong tương lai

Dựa trên tài liệu và thông tin thu thập từ các hộ gia đình, chúng tôi đã phát triển kỹ thuật nuôi trồng và đánh giá khả năng phát triển của loài tại khu vực Bài viết này sẽ đưa ra nhận định về khả năng mở rộng sản xuất trong khu vực, đồng thời đề xuất các giải pháp thực tiễn để thực hiện hiệu quả.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

Điều kiện tự nhiên

Yên Thế là huyện miền núi thuộc tỉnh Bắc Giang, có diện tích hơn 303 km2 Huyện nằm ở phía Tây Bắc, giáp huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn) ở Đông Bắc, huyện Lạng Giang ở Đông Nam, và huyện Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai (Thái Nguyên) ở Tây Bắc, trong khi phía Nam giáp huyện Tân Yên.

Huyện có 21 xã và thị trấn, trong đó có 3 trung tâm kinh tế xã hội chính là thị trấn Cầu Gồ, thị trấn Bố Hạ và trung tâm cụm xã vùng cao Mỏ Trạng.

10 vạn dân với 14 dân tộc cùng nhau chung sống gồm: Kinh, Tày, Nùng, Mường, Dao, Cao Lan, Hoa, Sán Dìu… Trung tâm huyện lỵ là thị trấn Cầu

Gồ cách thành phố Bắc Giang 27km và cách thủ đô Hà Nội 75km

Huyện có các trục đường chính bao gồm Quốc lộ 17 kết nối Nhã Nam - Yên Thế với Xuân Lương - Tam Kha, và tỉnh lộ 242 từ thị trấn Bố Hạ - Đèo Cà đến Hữu Lũng - Lạng Sơn.

Tuyến đường 292 từ thị trấn Cầu Gồ đến Bố Hạ, tỉnh lộ 294 từ ngã 3 Tân Sỏi - Yên Thế đến Nhã Nam huyện Tân Yên - Cầu Ca huyện Phú Bình, và tuyến đường 268 từ Mỏ Trạng - Bố Hạ đến Thiện Kỵ - Lạng Sơn tạo thành một mạng lưới đường bộ hoàn chỉnh Các tỉnh lộ này kết nối hệ thống đường trục xã, giúp thuận lợi cho giao thông trong và ngoài huyện.

Yên Thế là huyện nằm trong vùng núi thấp, với nhiều sông suối và địa hình đa dạng Địa hình của huyện dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, tạo nên sự phong phú trong cảnh quan tự nhiên.

3 dạng địa hình chính nhƣ sau:

Vùng núi có diện tích 9200,16 ha, chiếm 30,56% tổng diện tích tự nhiên của huyện, chủ yếu nằm ở phía Bắc và thường bị chia cắt bởi độ dốc lớn (cấp III và IV), với hướng dốc chính từ Bắc xuống Nam Độ cao trung bình so với mực nước biển dao động từ 200-300 m, và đất đai trong khu vực này có độ phì khá cao.

Địa hình đồi thấp của huyện có diện tích 8.255 ha, chiếm 27,42% tổng diện tích đất tự nhiên Khu vực này phân bố rải rác ở các xã, với độ chia cắt trung bình và địa hình lượn sóng Độ dốc bình quân dao động từ 8-15 độ, trong khi độ phì của đất ở mức trung bình, chủ yếu là đất sét pha sỏi.

Địa hình của vùng đồng bằng trải rộng trên diện tích 10.633 ha, chiếm 35,32% tổng diện tích tự nhiên Khu vực này có các sông suối và những dải ruộng nhỏ nằm xen kẽ giữa các dãy đồi, với độ dốc bình quân dưới 8 độ.

Yên Thế nằm trong vòng cung Đông Triều, có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm với mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ bình quân hàng năm là 23,4ºC, với nhiệt độ trung bình cao nhất đạt 26,9ºC và thấp nhất là 20,5ºC Các tháng 6, 7, 8 là thời điểm có nhiệt độ cao nhất trong năm, trong khi tháng có nhiệt độ thấp nhất rơi vào các tháng khác.

Yên Thế có khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình từ 12 đến 2 độ C, đôi khi xuống tới 0-10ºC Lượng mưa hàng năm đạt 1.518,4mm, thuộc vùng mưa trung bình của trung du Bắc Bộ Độ ẩm không khí bình quân là 81%, dao động từ 76% đến 86% Mùa Hè tại Yên Thế nóng ẩm với mưa nhiều, trong khi mùa Đông lạnh và khô Khu vực này có hai con sông lớn, sông Thương và sông Sỏi, cung cấp tổng lượng nước dồi dào.

Địa hình huyện Yên Thế phức tạp với núi non hiểm trở và độ dốc lớn, dẫn đến sự không đồng nhất của đất đai Đất ở đây hình thành trên nền đất cổ và phát triển từ đá trầm tích, bao gồm cả đất xói mòn trơ sỏi đá, các loại đất feralit biến đổi do canh tác lúa nước, cùng với đất phù sa từ sông suối.

3.1.5 Tài nguyên rừng Đất lâm nghiệp có rừng toàn huyện là 13.285,11 ha, chiếm gần 43,36% tổng diện tích tự nhiên Các cây trồng chủ yếu là các loài cây Keo lai, Bạch đàn hằng năm cho khai thác 40.000 – 50.000m³ gỗ các loại

Nhờ vào các chương trình và dự án trồng rừng, người dân đã chú trọng hơn đến việc phủ xanh đất trống và trồng cây ăn quả, dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của thảm thực vật rừng.

Đặc điểm kinh tế - xã hội

Dân tộc và dân số: Dân số trên địa bàn huyện có trên 102.574 người

Tính đến năm 2013, khu vực này có 8 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 27% Dân số thành thị, bao gồm thị trấn Cầu Gồ và Bố Hạ, đạt 9.457 người, chiếm 9,85% tổng dân số, trong khi dân số nông thôn lên tới 86.549 người, chiếm 90,15% Mật độ dân số trung bình là 314 người/km².

Lao động và việc làm là yếu tố quan trọng, với lực lượng lao động bình quân chiếm 54,44% dân số, cung cấp nguồn lực dồi dào cho sự phát triển, đặc biệt trong ngành nông nghiệp và các lĩnh vực kinh tế khác Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 43,7%, cho thấy tiềm năng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Hệ thống giao thông từ huyện đến xã, thị trấn đảm bảo thông suốt trong mùa mưa, với 100% xã, thị trấn được sử dụng điện lưới quốc gia từ năm 2007 Tuyến tỉnh lộ 292 là đường giao thông quan trọng, kết nối huyện Yên Thế với các huyện trong tỉnh Bắc Giang Huyện có 65 hồ, đập chứa nước và các công trình thủy lợi được đầu tư nhằm cung cấp nước tưới cho sản xuất và sinh hoạt Dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển nhanh chóng, đáp ứng tốt các chỉ tiêu chuyển phát bưu phẩm và phát hành báo chí Ngành giáo dục đã đạt nhiều tiến bộ, duy trì sự phát triển về quy mô và chất lượng Mạng lưới y tế ngày càng nâng cao khả năng phục vụ chăm sóc sức khỏe, với tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 78%.

Yên Thế có nhiều cảnh quan thiên nhiên có thể phát triển du lịch sinh thái và du lịch nghỉ dƣỡng:

Hồ Suối Cấy, nằm trên địa bàn xã Hồng Kỳ và Đồng Hưu, có diện tích mặt nước lên tới 180 ha và tiềm năng sinh thủy lớn Với những đảo nhỏ trong lòng hồ, khu vực này hứa hẹn sẽ phát triển du lịch sinh thái hấp dẫn.

Hồ Cầu Rễ, tọa lạc tại xã Tiến Thắng và xã Tam Tiến, có diện tích mặt nước lên tới 200 ha, được bao quanh bởi đồi núi và rừng cây xanh tươi Đây là một địa điểm nằm trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh, hứa hẹn mang lại nhiều tiềm năng cho ngành du lịch địa phương.

Hồ Chùa Sừng, nằm tại xã Canh Nậu với diện tích 41 ha, được bao quanh bởi rừng tự nhiên và rừng trồng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và du lịch Bên cạnh đó, khu vực này còn có nhiều hồ đập khác, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao kinh tế và cải thiện cảnh quan môi trường địa phương.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tổng quan về nấm Sò và nấm Sò trắng

4.1.1 Nguồn gốc và phân loại

Nấm được phân loại vào một giới riêng biệt do những đặc điểm khác nhau so với động vật và thực vật, như khả năng quang hợp, dinh dưỡng và sinh sản Giới nấm rất đa dạng, với nhiều loài khác nhau về hình thái và màu sắc, và chúng có mặt ở khắp mọi nơi.

Nấm Sò, có nguồn gốc từ các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới như Nigeria và Tây Phi, là một loại nấm được nghiên cứu nhiều bởi các nhà khoa học.

Sò có tới 39 loài, khác nhau về màu sắc, hình dạng Có nhiều chủng loại nấm

Sò có giá trị kinh tế nhƣ: Pleurotus ostreatus, P eryngii, P florida, P sapidus, P colombinus… theo tài liệu của Đỗ Tự Cường (1980) nấm Sò thuộc

3 hệ nhiệt độ: hệ nhiệt độ thấp, hệ nhiệt độ trung bình và hệ nhiệt độ cao

Nấm Sò (Pleurotus sp.) còn đƣợc gọi tên khác là nấm Bào ngƣ, nấm Tai bên

Theo Underw (1990) đã phân loại nấm Sò trắng (Pleurotus florida) thuộc chi nấm Tai bên (Pleurotus), họ nấm Mỡ (Tricholomataceae), bộ nấm

Tán (Agaricales), lớp nấm Tầng (Hymenomycetes), nghành phụ nấm đảm (Basidiomycotina), ngành nấm Thật (Eumycota), giới nấm (Fungi)

Hình 4.1 Một số loài nấm Sò (Pleurotus sp.)

(Nguồn ảnh: internet nuoi-trong-nam-so-pleurotus)

4.1.2 Đặc điểm hình thái nấm Sò trắng a Hình thái thể quả

Nấm Sò có hình dạng tán quạt với màu trắng sữa, thường mọc thành cụm Đường kính tán của nấm dao động từ 5-14cm và có độ dày từ 0,6-1,6cm Cuống nấm dài từ 3-8cm và bên ngoài được phủ lông trắng.

Thể quả gồm 3 bộ phận: mũ, phiến và cuống nấm

Mũ nấm có bề mặt nhẵn với mặt dưới có nhiều phiến xếp theo dạng tia Mép tán nấm cong cuộn khi còn non và giãn dần khi trưởng thành, thường có hình dạng nguyên vẹn, hiếm khi xẻ thùy Mũ nấm chứa hệ sợi tơ đan chéo, giàu dinh dưỡng dự trữ và đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh sản.

Phiến nấm mọc quanh gốc

Cuống nấm là một bó sợi hệ xốp, được sắp xếp theo hình vòng tròn đồng tâm Khi còn non, cuống nấm có đặc điểm mềm và giòn, nhưng khi già, nó trở nên xơ cứng và khó bẻ gãy Cuống nấm đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dinh dưỡng cho mũ nấm.

Hình 4.2 Hình thái nấm Sò trắng (P florida)

20 b Hình thái thể sợi nấm

Nấm Sò trắng, thuộc ngành phụ nấm Đảm, có cấu trúc sinh sản độc đáo với mỗi đảm tử chứa 4 bào tử Những bào tử này nảy mầm thành sợi đơn nhân, sau đó kết hợp lại thành sợi song nhân, hình thành nên thể quả Sợi song nhân của nấm Sò được liên kết theo dạng khóa, và đặc biệt, nấm Sò phát triển mạnh mẽ với hệ thống sợi nấm khí sinh phong phú.

4.1.3 Chu kỳ sống của nấm Sò trắng

Nấm Sò trắng thuộc ngành Basidiomycetes, khi trưởng thành sẽ phóng thích bào tử vào không khí và được gió phát tán Trong điều kiện ngoại cảnh thuận lợi như nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, bào tử sẽ nảy mầm, hình thành sợi nấm sơ cấp (Monokaryons) Tuy nhiên, sợi nấm sơ cấp không có khả năng tạo ra thể quả.

Hình 4.3 Chu kỳ sống của nấm Sò trắng

Giai đoạn hình thành hệ sợi thứ cấp ở nấm Đảm diễn ra nhanh chóng do các sợi nấm sơ cấp thường chia nhánh và kết hợp với nhau, tạo thành hệ sợi song nhân (Dikaryons) Để phân biệt giữa hệ sợi sơ cấp và hệ sợi thứ cấp, có thể dựa vào một số đặc điểm như sự xuất hiện của các mấu liên kết (Clamp connections) và khả năng hình thành thể quả ở hệ sợi thứ cấp.

Hệ sợi thứ cấp của nấm Đảm chiếm phần lớn chu kỳ sống trong giai đoạn sinh dưỡng, nơi nó hấp thụ và tích lũy dinh dưỡng Quá trình này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thể Đảm và chuẩn bị cho giai đoạn Phối nhân Giảm phân.

Sợi nấm một nhân Phối nhân

Hệ sợi thứ cấp sẽ liên kết tạo thành mầm thể quả (Primodia) Khi môi trường thuận lợi với nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm và dinh dưỡng thích hợp, thể quả sẽ nhanh chóng tăng kích thước để trở thành thể quả trưởng thành.

Khi quả trưởng thành, sự dung hợp của hai nhân tạo ra tế bào sinh bào tử Tế bào này trải qua hai lần phân chia, bao gồm một lần phân bào giảm nhiễm, dẫn đến việc tạo ra bốn nhân con di chuyển đến bốn mấu lồi ở đảm tử, hình thành bốn bào tử đơn nhân (n) Sau khi trưởng thành, bào tử được phát tán ra môi trường và khi gặp điều kiện thuận lợi, sẽ bắt đầu một chu kỳ sống mới.

Hình 4.4 Chu kỳ sống của nấm Đảm (theo Alexopoulos, 1996)

4.1.4 Điều kiện sống a Môi trường sống và chất dinh dưỡng

Nguồn dinh dưỡng phù hợp cho sự sinh trưởng của nấm Sò trắng bao gồm pepton, tương ngô, bột đậu và bột men Tuy nhiên, ure, leucin và axit glutamic không thích hợp cho sự phát triển của loại nấm này.

Nguồn cacbon lý tưởng cho sự sinh trưởng và phát triển của nấm bao gồm tinh bột, glucoza, fructoza, maltoza, xenluloza, lignin và ethanol Tuy nhiên, axit citric và axit oxalic lại không có lợi cho sự phát triển của sợi nấm.

Nấm Sò trắng có khả năng phân giải lignin mạnh mẽ, do đó, việc bổ sung một lượng nhỏ trấu, cám, bột ngô hoặc NH4NO3 vào nguyên liệu tự nhiên có thể thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của sợi nấm và tăng năng suất thu hoạch nấm Sò.

Hiện nay, nấm Sò trắng có thể được trồng bằng nhiều loại nguyên liệu như mùn cưa, rơm rạ, vỏ hạt bông, bông thải, lõi ngô và xác giấy, tất cả đều là những phế thải chứa xenlulo Độ pH lý tưởng cho nấm Sò trắng nằm trong khoảng 5,5 – 6,5, mặc dù nó có thể phát triển trong khoảng pH từ 4-11 Nhiệt độ cao có thể dẫn đến sự phát triển của vi khuẩn ưa chua, gây thối môi trường và làm chết sợi nấm Để khử trùng rơm rạ, có thể sử dụng nước vôi để loại bỏ tạp chất và nguồn bệnh, sau đó chỉ cần rửa sạch bằng nước trước khi tiến hành cấy nấm.

Quy trình sản xuất nấm Sò trắng

4.2.1 Quy trình sản xuất nấm Sò trắng theo quy mô hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu

Tại hộ gia đình ở Yên Thế - Bắc Giang, nấm Sò trắng được trồng chủ yếu bằng mùn cưa, cùng với các nguyên liệu khác như rơm rạ phơi khô và bông phế thải Quy trình sản xuất nấm Sò trắng theo quy mô hộ gia đình sử dụng mùn cưa làm nguyên liệu chính, đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong việc trồng nấm.

Mùn cưa được ẩm hóa bằng nước vôi có pH=7, với độ ẩm đạt từ 62%-65% Sau khi trộn đều, cần vun ủ thành đống với trọng lượng tối thiểu 100 kg Dưới đáy đống ủ, nên lót vật liệu dễ thoát nước, và nếu ủ ngoài trời, cần có nilon để che mưa Thời gian ủ mùn cưa có thể từ 12-24 giờ cho quá trình ủ nhanh, hoặc kéo dài từ 3-4 ngày cho quá trình ủ lâu hơn.

Hình 4.5 Máy trộn mùn cƣa

Hình 4.6 Bể nước vôi dùng để tạo ẩm và khử trùng mùn cưa

Để kiểm tra độ ẩm của mùn cưa, hãy nắm chặt một nắm mùn cưa và quan sát nếu có nước rỉ ra ở các kẽ tay thành từng giọt nhỏ Nếu mùn cưa quá ẩm hoặc quá khô, cần điều chỉnh độ ẩm cho phù hợp.

Túi nilon được sử dụng có kích thước 25x35 cm và phải được gắn đáy, lộn túi để tạo đáy túi có hình vuông, thân tròn

Nguyên liệu có thể được phối trộn với các thành phần khác và phụ gia Sử dụng muỗng chuyên dụng để xúc mùn cưa vào túi nilon, nén chặt nguyên liệu từ trên xuống dưới và từ trong ra ngoài để đảm bảo độ đồng đều Đổ nguyên liệu vào túi nilon cho đến khi cách mép khoảng 7-8 cm để tạo cổ nút Cổ nút có thể làm bằng nhựa chịu nhiệt; luồn miệng túi vào trong cổ nút và kéo căng đều Sử dụng bông để làm nút cho cổ nút, sau đó cố định bằng dây chun và đậy nắp cổ nút lại.

Trọng lƣợng của túi từ 1,1- 1,3kg

Hình 4.7 Đóng bịch nguyên liệu

4.2.1.3 Khử trùng nguyên liệu Đƣa nguyên liệu khử trùng bằng lò thanh trùng thời gian 3 giờ tính từ khi nhiệt độ đạt 117- 121 0 C

Yêu cầu đạt đƣợc sau khi hấp khử trùng: nguyên liệu chín hoàn toàn, diệt sạch mầm bệnh

Sau khi khử trùng phải để túi nguyên liệu nguội, nhiệt độ

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Bá, Cao Ngọc Diệp, Nguyễn Văn Thành (2005), Giáo trình nấm học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nấm học
Tác giả: Nguyễn Văn Bá, Cao Ngọc Diệp, Nguyễn Văn Thành
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
2. Nguyễn Lân Dũng (2003), Công nghệ nuôi trồng nấm - tập 1, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ nuôi trồng nấm - tập 1
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
3. Nguyễn Lân Dũng (2003), Công nghệ nuôi trồng nấm – tập 2, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ nuôi trồng nấm – tập 2
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
4. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông thôn (2003), Hội thảo phát triển nghề trồng nấm ăn và nấm dược liệu, Yên Khánh, Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo phát triển nghề trồng nấm ăn và nấm dược liệu
Tác giả: Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông thôn
Năm: 2003
5. Nguyễn Hữu Đống, Đinh Xuân Linh, Nguyễn Thị Sơn (2002), Nấm ăn – cơ sở khoa học và công nghệ nuôi trồng, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nấm ăn – cơ sở khoa học và công nghệ nuôi trồng
Tác giả: Nguyễn Hữu Đống, Đinh Xuân Linh, Nguyễn Thị Sơn
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2002
6. Vương Bá Kiệt, Tịnh Khởi Trinh (1994), Giới thiệu các loài nấm ăn làm thuốc, Viện Di Truyền Nông Nghiệp – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu các loài nấm ăn làm thuốc
Tác giả: Vương Bá Kiệt, Tịnh Khởi Trinh
Năm: 1994
7. Nguyễn Văn Dũng (2005) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển của một số giống mộc nhĩ và xây dựng quy trình trồng mộc nhĩ trên giá thể bã mía ở đồng bằng sông Hồng, Luận văn thạc sĩ Nông Nghiệp, Trường ĐHNNI – Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w