1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu và đề xuất phương án phòng trừ sâu hại cây cao su hevea brasiliensis tại xã thanh đức huyện thanh chương tỉnh nghệ an

74 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Và Đề Xuất Biện Pháp Phòng Trừ Sâu Hại Cây Cao Su (Hevea Brasiliensis) Tại Xã Thanh Đức, Huyện Thanh Chương, Tỉnh Nghệ An
Tác giả Đinh Văn Khang
Người hướng dẫn TS. Lê Bảo Thanh
Trường học Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Thể loại khóa luận
Năm xuất bản 2017
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.1. Sơ lƣợc về cây Cao su (12)
    • 1.2. Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại cây Cao su (13)
      • 1.2.1. Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại cây Cao su trên thế giới (14)
      • 1.2.2. Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại cây Cao su ở Việt Nam (16)
    • 1.3. Tình hình trồng, quản lý, chăm sóc Cao su tại nông trường 12-9, xã Thanh Đức, Huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An (21)
      • 1.3.1. Đặc tính cây Cao su (21)
      • 1.3.2. Kỹ thuật trồng cây Cao su (22)
      • 1.3.3. Trồng mới và chăm sóc cây Cao su (22)
      • 1.3.4. Tình hình phòng trừ sâu bệnh hại cây Cao su tại địa bàn nghiên cứu (23)
  • CHƯƠNG 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI (24)
    • 2.1. Điều kiện tự nhiên (24)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý (24)
      • 2.1.2. Diện tích tự nhiên (24)
      • 2.1.3. Địa hình, thổ nhƣỡng (24)
      • 2.1.4. Khí hậu (25)
      • 2.1.5. Thuỷ văn (26)
    • 2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (27)
      • 2.2.1. Kinh tế (27)
      • 2.2.2. Xã hội (27)
  • CHƯƠNG 3. MỤC TIÊU - NÔI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (30)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (30)
      • 3.1.1. Mục tiêu chung (30)
      • 3.1.2. Mục tiêu cụ thể (30)
    • 3.2. Giới hạn nghiên cứu (30)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (30)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (30)
      • 3.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu (30)
      • 3.4.2. Phương pháp điều tra thành phần sâu hại (31)
      • 3.4.3. Phương pháp điều tra thực địa (31)
      • 3.4.4. Phương pháp xử lí số liệu (39)
      • 3.4.5. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái cơ bản của các loài sâu hại chính (41)
      • 3.4.6. Phương pháp nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng trừ (42)
  • CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ (45)
    • 4.1. Tình hình sinh trưởng cây Cao su tại khu vực nghiên cứu (45)
    • 4.2. Thành phần các loài sâu loại cao su tại khu vực nghiên cứu (46)
    • 4.3. Xác định loài sâu hại chủ yếu (48)
    • 4.4. Đặc điểm hình thái và sinh vật học học của các loài sâu hại chủ yếu (51)
      • 4.4.1. Mối (Globitermes sulphureus) (51)
      • 4.4.2. Bọ hung (Holotrichia bidentata Burm) (52)
      • 4.4.3. Bọ sừng ( Xylotrupes gideon L.) (53)
    • 4.5. Biến động mật độ của các loài chủ yếu (54)
      • 4.5.1. Biến động mật độ của các loài sâu hại chủ yếu theo các đợt điều tra (54)
      • 4.5.2. Ảnh hưởng của tuổi cây chủ tới sâu hại (56)
      • 4.5.3. Ảnh hưởng của thiên địch đến sâu hại Cao su (57)
    • 4.6. Nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp quản lí loài sâu hại chính (59)
      • 4.6.1. Kết quả thử nghiệm biện pháp vật lí cơ giới (59)
      • 4.6.2. Kết quả thử nghiệm biện pháp kỹ thuật lâm sinh (60)
    • 4.7. Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại cao su (61)
      • 4.7.1. Phòng trừ tổng hợp chung cho các loài sâu hại chủ yếu (62)
      • 4.7.2. Biện pháp điều tra giám sát các loài sâu hại chính trên cây Cao su (66)
    • 1. Kết luận (70)
    • 2. Tồn tại (70)
    • 3. Khuyến nghị .................................................................................................. 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO (71)
  • PHỤ LỤC (74)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Sơ lƣợc về cây Cao su

Cao su (Hevea brasiliensis) là cây thân gỗ thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và là loài có giá trị kinh tế cao nhất trong chi Hevea Sự quan trọng này đến từ việc nhựa mủ (latex) của cây có thể được thu hoạch, trở thành nguồn nguyên liệu chủ yếu trong sản xuất cao su tự nhiên.

Cây cao su có thể đạt chiều cao lên đến hơn 30m, với nhựa mủ màu trắng hoặc vàng nằm trong các mạch nhựa mủ ở vỏ cây, chủ yếu là bên ngoài libe Các mạch này xoắn ốc quanh thân cây theo hướng tay phải, tạo thành một góc khoảng 30 độ với mặt phẳng.

Khi cây cao su đạt 5-6 tuổi, quá trình thu hoạch nhựa mủ bắt đầu bằng cách cạo các vết rạch vuông góc với mạch nhựa, đảm bảo độ sâu vừa phải để không làm hại cây Nhựa mủ chảy ra sẽ được thu thập trong các thùng nhỏ Cây cao su già hơn sẽ sản xuất nhiều nhựa mủ hơn, nhưng sẽ ngừng sản xuất khi đạt 26-30 tuổi.

Cây cao su chỉ có thể thu hoạch trong 9 tháng, trong khi 3 tháng còn lại là thời gian cây rụng lá Việc thu hoạch trong giai đoạn này sẽ gây hại cho cây, thậm chí có thể dẫn đến cái chết của nó.

Cây cao su thường cao khoảng 20 mét, có rễ sâu giúp giữ vững thân cây và hấp thu chất dinh dưỡng, đồng thời chống lại sự khô hạn Vỏ cây nhẵn màu nâu nhạt, trong khi lá là dạng lá kép và rụng một lần mỗi năm Hoa của cây cao su thuộc loại hoa đơn, trong đó hoa đực thường thụ phấn chéo với hoa cái do hoa đực chín sớm hơn Quả cao su là quả nang gồm 3 mảnh vỏ, mỗi nang chứa một hạt hình bầu dục hoặc hình cầu có đường kính khoảng 2 cm, chứa hàm lượng dầu đáng kể được sử dụng trong ngành công nghiệp sơn.

Cây cao su phát triển mạnh mẽ trong vùng nhiệt đới ẩm với nhiệt độ lý tưởng từ 26°C đến 28°C Để cây phát triển tốt, cần lượng mưa khoảng 2.000 mm, nhưng cây không chịu được ngập úng và gió mạnh Mặc dù cây có khả năng chịu hạn từ 4 đến 5 tháng, nhưng năng suất mủ sẽ bị giảm đáng kể trong thời gian này.

Cây chỉ phát triển từ hạt, và hạt có thể ươm thành cây non Sau 5 năm trồng, cây có thể khai thác mủ, quá trình này có thể kéo dài từ vài chục năm.

Cạo mủ là một công đoạn quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian và lượng mủ mà cây có thể cung cấp Thông thường, việc cạo mủ bắt đầu khi chu vi thân cây đạt khoảng

Cạo mủ cao su cần thực hiện từ trái sang phải, ngược với mạch mủ, với độ dốc của vết cạo từ 20 đến 35 độ Vết cạo không được sâu quá 1,5 cm và phải tránh chạm vào tầng sinh gỗ để cây có thể tái sinh Trước khi cạo lần sau, cần phải làm sạch mủ đã đông lại ở vết cạo trước đó Thời gian cạo mủ lý tưởng nhất là trước 7 giờ sáng.

Nhựa mủ dùng để sản xuất cao su tự nhiên là chủ yếu, bên cạnh việc sản xuất latex dạng nước

Gỗ từ cây cao su, gọi là gỗ cao su, đƣợc sử dụng trong sản xuất đồ gỗ

Gỗ này được ưa chuộng nhờ vào thớ dày, khả năng ít co ngót, màu sắc thu hút và khả năng chấp nhận nhiều kiểu hoàn thiện khác nhau Nó được xem là một trong những loại gỗ chất lượng cao.

"thân thiện môi trường", do người ta chỉ khai thác gỗ sau khi cây cao su đã kết thúc chu trình sản sinh nhựa mủ.

Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại cây Cao su

Cây cao su, xuất phát từ khu vực rừng mưa Amazon, đã được thổ dân Mainas khai thác cách đây gần 10 thế kỷ Họ sử dụng nhựa cây để tẩm vào quần áo nhằm chống ẩm ướt và tạo ra những quả bóng vui chơi trong các dịp lễ hội Chất nhựa này được gọi là Caouchouk, mang ý nghĩa trong Thổ ngữ Mainas.

"Nước mắt của cây" (cao là gỗ Uchouk là chảy ra hay khóc)

Sự gia tăng nhu cầu và phát minh công nghệ lưu hóa vào năm 1839 đã thúc đẩy sự bùng nổ trong ngành công nghiệp này, góp phần làm giàu cho các thành phố Manaus (bang Amazonas) và Belém (bang Pará) của Brasil.

Cố gắng đầu tiên trồng cây cao su ngoài Brasil diễn ra vào năm 1873 tại Vườn thực vật hoàng gia Kew, nơi 12 hạt giống nảy mầm nhưng sau đó đã chết khi được gửi tới Ấn Độ Nỗ lực thứ hai vào năm 1875 với 70.000 hạt giống đã cho kết quả khả quan hơn, khi khoảng 4% nảy mầm, dẫn đến việc gửi 2.000 cây giống tới Ceylon và 22 cây tới Singapore vào năm 1876 Sau khi thành công trong việc thiết lập sự hiện diện ở ngoài nơi bản địa, cây cao su đã được nhân giống rộng rãi tại các thuộc địa Anh, với sự có mặt tại vườn thực vật Buitenzorg, Malaysia vào năm 1883 Đến năm 1898, một đồn điền cao su đã được thành lập tại Malaya, và hiện nay, phần lớn diện tích trồng cao su tập trung ở Đông Nam Á và một số khu vực châu Phi nhiệt đới Sản lượng cao su toàn cầu đạt khoảng 11 triệu tấn và tiếp tục gia tăng hàng năm, trong đó hơn 85% diện tích do tư nhân quản lý, tuy nhiên, bệnh tật, côn trùng và cỏ dại đang làm tăng chi phí sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống người trồng cao su.

1.2.1 Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại cây Cao su trên thế giới

Cao su là một trong những loài cây ít bị sâu bệnh tấn công so với các cây khác như bạch đàn hay keo tai tượng Tuy nhiên, sau thời gian canh tác với phương pháp trồng tập trung trên diện tích lớn trong vùng có độ ẩm và nhiệt độ cao, các loại bệnh và côn trùng đã xuất hiện, gây thiệt hại đáng kể Mặc dù sản lượng cao su đã được cải thiện qua các tiến bộ trong cải tiến giống và kỹ thuật nông nghiệp trong những thập niên qua, thiệt hại do sâu bệnh cũng gia tăng do công tác tạo tuyển giống thường chỉ chú trọng vào sinh trưởng và sản lượng.

Nhu cầu thực tiễn đã thúc đẩy nhiều nhà nghiên cứu chuyên về sâu bệnh tiến hành nghiên cứu sâu hơn về tác hại của sâu bệnh đối với cây cao su.

Có các nhà nghiên cứu nhƣ : Chee (1976), Xiaoqing (1979), Liu Gongmin

Cây cao su, theo nghiên cứu của Theo Chee (1976), bị tấn công bởi hơn 550 loài vi sinh vật, trong đó có 24 loài gây thiệt hại kinh tế đáng kể Mức độ thiệt hại này phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, phương pháp canh tác và biện pháp phòng trị được áp dụng tại từng khu vực.

Năm 1979, Xiaoqing đã nghiên cứu về "Phòng trừ và phân bố các loại bệnh hại cây Cao su", thống kê 12 loại bệnh chủ yếu và đề xuất các biện pháp phòng trừ hiệu quả như sử dụng thuốc hóa học, tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, tiến hành điều tra giám sát định kỳ và duy trì vệ sinh xung quanh cây Cao su.

Theo nghiên cứu của Chee (1985), số lượng đối tượng gây hại cho cây cao su khác nhau tùy theo từng quốc gia Tại Mỹ, có 117 loài gây hại (compendium, 2004), trong khi Malaysia ghi nhận khoảng 200 loài Ở Trung Quốc, có khoảng 91 đối tượng gây hại thuộc 11 bộ, 3 lớp (Liu Gongmin, 2010), trong đó có 7 loài sâu hại, với 4 loài gây hại nghiêm trọng như rệp sáp (Parasaissetia nigra Nietner), mọt nhỏ, mối, nhện (Eotetranychus sexmaculatus Riley) Về bệnh hại, có 53 loài, trong đó 10 loại bệnh nghiêm trọng như bệnh phấn trắng, bệnh khô cành ngọn, bệnh tím rễ Dựa trên phân tích mức độ gây hại, các biện pháp phòng trừ được đề xuất bao gồm điều tra định kỳ sâu bệnh, kết hợp hợp lý việc cạo mủ và sử dụng thuốc hóa học.

Năm 2010, Pang Qihong đã nghiên cứu về các loại sâu bệnh hại cây cao su tại tỉnh Hải Nam, Trung Quốc, xác định được 5 loài sâu bệnh phổ biến: bệnh phấn trắng, bệnh đen lá, bệnh mục đỏ, bệnh rễ hồng, bệnh rễ nâu và kiến trắng Cùng năm, Liu Gongmin cũng tiến hành nghiên cứu tại Xi Suang Ban Na, đưa ra các biện pháp phòng trừ và đánh giá hiện trạng sâu bệnh hại chủ yếu.

Tình hình nghiên cứu về sâu bệnh hại cây Cao su trên thế giới hiện vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào việc xác định thành phần loài mà chưa chú trọng đến các biện pháp phòng trừ, đặc biệt là biện pháp phòng trừ tổng hợp.

1.2.2 Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại cây Cao su ở Việt Nam

Cây cao su lần đầu tiên được người Pháp đưa vào Việt Nam tại vườn thực vật Sài Gòn vào năm 1878 nhưng không sống sót Đến năm 1892, 2000 hạt cao su từ Indonesia được nhập khẩu vào Việt Nam, trong đó 1600 cây sống sót Trong số này, 1000 cây được giao cho trạm thực vật Ong Yệm ở Bến Cát, Bình Dương, và 200 cây được giao cho bác sĩ Yersin để trồng thử nghiệm tại Suối Dầu, cách Nha Trang 20 km.

Năm 1897 đánh dấu sự xuất hiện của cây cao su tại Việt Nam, với công ty cao su đầu tiên là Suzannah được thành lập vào năm 1907 tại Dầu Giây, Long Khánh, Đồng Nai Sau đó, nhiều đồn điền và công ty cao su khác, chủ yếu do người Pháp, đã ra đời ở Đông Nam Bộ như SIPH, SPTR, CEXO, và Michelin Ngoài ra, cũng có một số đồn điền cao su tư nhân của người Việt được thành lập Đến năm 1920, diện tích cao su ở miền Đông Nam Bộ đã đạt khoảng 7.000 ha với sản lượng 3.000 tấn.

Cây cao su đƣợc trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960 – 1962, trên những vùng đất cao 400 – 600 m, sau đó ngƣng vì chiến tranh

Trước năm 1975, cây cao su đã được trồng vượt vĩ tuyến 17 Bắc, bao gồm các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa và Phú Thọ, nhằm cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp miền Bắc.

Từ năm 1958 đến 1963, diện tích trồng cây cao su tại Việt Nam đã tăng lên khoảng 6.000 ha nhờ nguồn giống từ Trung Quốc Hiện tại, khu vực miền núi phía Bắc và Lai Châu được coi là thủ phủ của cây cao su Đến năm 1976, tổng diện tích cao su cả nước còn khoảng 76.000 ha, chủ yếu tập trung ở Đông Nam Bộ với khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên với khoảng 3.482 ha, và các tỉnh duyên hải miền Trung cùng khu 4 cũ với khoảng 3.636 ha.

Sau 1975, cây cao su đƣợc tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ

Từ năm 1977, Tây Nguyên bắt đầu chương trình trồng mới cao su, ban đầu do các nông trường quân đội thực hiện, sau đó chuyển sang các nông trường quốc doanh từ năm 1985 Từ năm 1992, khu vực tư nhân cũng tham gia vào việc trồng cao su Ở miền Trung, sau năm 1984, cây cao su được phát triển tại Quảng Trị và Quảng Bình thông qua các công ty quốc doanh Đến năm 1999, diện tích cao su toàn quốc đạt 394.900 ha, trong đó cao su tiểu điền chiếm khoảng 27,2% Năm 2004, diện tích cao su tăng lên 454.000 ha, với cao su tiểu điền chiếm 37% Đến năm 2005, diện tích cao su cả nước đạt 464.875 ha.

Tình hình trồng, quản lý, chăm sóc Cao su tại nông trường 12-9, xã Thanh Đức, Huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

Quá trình trồng, quản lý và chăm sóc cây cao su tại nông trường phải tuân theo quy trình nghiêm ngặt do Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam đề xuất.

1.3.1 Đặc tính cây Cao su a) Điều kiện sinh thái

- Đất đai: Do rễ trụ ăn sâu nên đòi hỏi đất phải sâu, mực nước ngầm sâu

>1m Thành phần cơ giới từ trung bình đến nhẹ Hàm lƣợng hữu cơ >2,5% rất thích hợp cho cao su

+ Vùng đất đỏ: Hàm lƣợng hữu cơ cao khoảng 2,6%

+ Vùng đất xám: Nghèo hữu cơ (khoảng 1%), do đó trồng cao su trên đất xám phải bón nhiều hữu cơ

Cao su ưa đất có độ pH hơi chua, lý tưởng nhất là từ 4,5 đến 5,5 Nếu pH vượt quá 6,5, đất sẽ có quá nhiều bazơ, có thể gây hại cho cây cao su Ngoài ra, cây cao su cũng cần một nguồn dinh dưỡng đầy đủ để phát triển khỏe mạnh.

- Cao su cần N, P, K, S, B, Cu, Zn, Fe, Mn…Tuy nhiên nhiều Cu và

Mn sẽ làm giảm chất lƣợng mủ

- Phần lớn đất trồng cao su là đất xám, qua nhiều năm bị rửa trôi, nên chất hữu cơ thấp và thường thiếu vi lượng

- Đất phải có nhiều sinh vật (nhƣ giun đất), nhiều VSV (nhƣ vi khuẩn Nitrat hóa, mùn hóa)

1.3.2 Kỹ thuật trồng cây Cao su

- Mật độ: 555 cây/ha Khoảng cách: 6 x 2 m Đào hố: 60 x 60 x 60 cm

+ 3 kg phân chuồng (hoặc 1kg phân Hữu cơ sinh học HVP-ORGANIC) + 4,5 kg Super Lân / hố

Trồng tum ghép yêu cầu sử dụng gốc rễ trần, với chiều dài rễ đuôi chuột cắt ngắn khoảng 60cm và cắt rễ bằng sát nách rễ trụ Để thúc đẩy sự phát triển của rễ, nên xử lý bằng chất kích thích ra rễ NAA, giúp rễ mọc nhanh và nhiều hơn Sử dụng tum trần có tuổi thọ 18 tháng hoặc tum cắt cao để đạt hiệu quả tốt nhất trong quá trình trồng.

30 tháng (là biện pháp rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản vài năm)

- Trồng bầu trong túi polyetylen: Dùng túi 30 x 60 cm, đất trong túi đủ sét để bầu khỏi vở khi cắt bỏ túi

- Trồng theo hướng mặt trời lặn Đông Tây để mặt ghét tránh ghép tránh bão tránh gió, nắng dọi cây đang non

1.3.3 Trồng mới và chăm sóc cây Cao su

1.3.3.1 Chăm sóc vườn Cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản a)Trồng cây họ đậu che phủ đất

Trồng sục sạc, đậu ma, cốt khí…nên trồng giữa 2 hàng cây, cách xa gốc 1,5 m b) Diệt cỏ dại

Mỗi năm 3 lần, dùng cơ giới diệt cỏ giữa 2 hàng cây vào đầu và cuối mùa mƣa Hoặc dùng thuốc diệt cỏ: Paraquat, Glyphosate, Dalapon… c)Cắt chồi, tỉa cành

Cắt bỏ chồi mọc từ gốc ghép và các chồi mọc dọc than trong phạm vi 3m để tạo than nhẵn nhụi Khi cây cao quá 3m và mọc nhiều cành, cần tỉa bớt, chừa lại 3-4 cành khoẻ Đối với cây 3 năm tuổi, nếu cành lá quá um tùm và tán quá lớn thì cũng cần tỉa bớt Bên cạnh đó, việc xới xáo và tủ gốc cũng rất quan trọng để duy trì sức khỏe cho cây.

Dùng cỏ khô, lá cây tủ gốc dày 1 lớp 10cm, cách gốc 10cm, phía trên phủ lớp đất mỏng 5cm Chú ý phát hiện mối phá hại e) Bón phân

Trong quá trình kiến thiết cơ bản, cây cao su cần phát triển thân và lá mạnh mẽ để chuẩn bị cho giai đoạn khai thác mủ Do đó, nhu cầu về phân bón là rất lớn, đặc biệt là các loại phân NPK, canxi (Ca), magie (Mg) và các vi lượng cần thiết.

- Nên chia lƣợng phân thành nhiều đợt bón / năm: 2-3 đợt vào đầu mƣa và cuối mƣa

+ Từ năm thứ 1 tới năm thứ 4: Cuốc rảnh hình vành khăn theo hình chiếu tán, bón vào

Từ năm thứ 5 trở đi, việc chăm sóc cây cao su bao gồm giao tán, làm sạch cỏ và rải phân thành băng rộng 1m giữa hai hàng cây Cần xới nhẹ để lấp phân mà không làm đứt rễ cây Ngoài ra, việc quét vôi cũng là một bước quan trọng trong quy trình chăm sóc.

Quét vôi thân cây tránh nắng dọi vào vỏ thân cây, chống rét, giữ nước cho cây

Quét từ đường kính D1.3 xuống đến gốc cây, quét xung quanh thân cây

1.3.4 Tình hình phòng trừ sâu bệnh hại cây Cao su tại địa bàn nghiên cứu

Nông trường cao su 12/9 hiện đang quản lý 378 ha cây cao su, nhưng công tác phòng trừ sâu bệnh hại chưa được chú trọng đúng mức Đến nay, nông trường vẫn chưa có đội ngũ chuyên trách cho việc này, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc kiểm soát sâu bệnh hại cho cây cao su.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI

Điều kiện tự nhiên

Xã Thanh Đức nằm ở phía Tây nam huyện Thanh Chương, Tỉnh Nghệ

An, cách thành phố Vinh 100km về phía tây bắc có toạ độ địa lý :

+ Từ 18 0 45‟ 25” đến 18 0 50‟ 49” vĩ độ Bắc

+ Từ 104 0 56‟ 42‟‟ đến 105 0 09‟ 18” kinh độ Đông

+ Phía Bắc giáp giáp xã Cao Sơn, Long Sơn - huyện Anh Sơn;

+ Phía Nam giáp xã Hạnh Lâm và Tỉnh Bolikhamxay của nước Lào; + Phía Đông giáp xã Thanh Nho và xã Hạnh Lâm;

+ Phía Tây giáp xã Phúc Sơn – Anh Sơn và Tỉnh Bolikhamxai - Lào;

Xã có vị trí địa lý nằm tiếp giáp huyện Anh Sơn, đồng thời có đường

Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu và phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, mở cửa với thế giới bên ngoài.

Xã Thanh Đức có tổng diện tích tự nhiên là: 17.117,48 ha, chiếm 15,16

Xã có tổng cộng 20 xóm, trong đó có 7 xóm nông nghiệp: Đức Dương, Đức Sơn, Đức Hà, Đức Long, Đức Hoà, Đức Lâm và Đức Thành Ngoài ra, còn có 9 xóm thuộc Xí nghiệp chế biến chè Hạnh Lâm, bao gồm: xóm Chế Biến, xóm 2, xóm 3, xóm 4, xóm 7, xóm Thành Công, xóm Tân Tiến, xóm 12/9 và xóm Sướn Cuối cùng, có 4 xóm thuộc Tổng Đội TNXP II: xóm 19/5, xóm 26/3, xóm 3/2 và xóm 15/7.

Xã Thanh Đức, nằm ở vùng cao biên giới với địa hình đồi núi phức tạp, chiếm khoảng 80% diện tích toàn xã, có nhiều dãy núi cao giáp với quốc gia Lào và huyện Anh Sơn, với độ cao giảm dần từ Tây Nam sang Đông Bắc Thổ nhưỡng tại đây được phân chia thành hai nhóm chính: Nhóm đất phù sa, bao gồm đất phù sa được bồi đắp từ hệ thống sông Giăng, đất phù sa không được bồi và có glây yếu, cùng với đất phù sa cũ và đất phù sa bị úng; và Nhóm đất đồi núi, với các loại đất Feralit biến đổi do canh tác lúa nước, phát triển trên phù sa cổ và các loại đá khác nhau, bao gồm đất Feralit đỏ vàng, vàng đỏ, và đất mùn trên núi.

Xã nằm trong khu vực Bắc Trung Bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm vào mùa hè và giá rét vào mùa đông Mùa hè thường có nhiệt độ cao, kèm theo mưa bão, lũ lụt, lốc xoáy và gió nam Lào, ảnh hưởng đến thời vụ và năng suất sản xuất nông nghiệp cũng như các hoạt động khác Trong khi đó, mùa đông với nhiệt độ xuống thấp và mưa dầm gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng và vật nuôi.

+ Mùa mƣa, nóng từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm

+ Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 2.000 mm, chủ yếu tập trung vào mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 10, chiếm đến 70% tổng lượng mưa trong năm Sự phân bố mưa không đều giữa các tháng đã ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất và đời sống của người dân.

- Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình từ 83 - 84%, tháng khô nhất 18% (tháng 1- tháng 3), tháng ẩm nhất 90% (các tháng 7,8,9)

Thanh Đức nằm ở khu vực vùng núi cao, ít chịu ảnh hưởng của bão nhờ vào vị trí tan rã của các cơn bão Vào mùa đông, gió Đông Bắc mang theo mưa phùn, trong khi mùa hè có gió Tây Nam Hàng năm, khu vực này thường xuyên phải đối mặt với sương muối, lốc xoáy và gió Lào, gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của người dân.

Thanh Đức có khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa trong năm, nhưng chủ yếu phân thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10, có thể bắt đầu sớm hoặc kết thúc muộn tùy năm, trong khi mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.

Nhiệt độ bình quân hàng năm: 23.5 0 C

- Lƣợng mƣa: Tổng lƣợng mƣa bình quân năm trên địa bàn xã phân bố không đều theo các tháng trong năm; tập trung từ các tháng 5 đến tháng 9

Mùa đông, gió Đông Bắc mang theo mưa phùn, trong khi mùa hè có gió Tây Nam và mùa mưa thường gặp lũ, nhưng lũ rút nhanh Thanh Đức, một xã vùng núi cao, ít chịu ảnh hưởng của bão nhờ vị trí tan rã của các cơn bão Tuy nhiên, hàng năm, nơi đây vẫn phải đối mặt với sương muối, gió Lào và lốc xoáy, gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của người dân.

Xã Thủy Văn, nằm ở vùng cao, sở hữu nhiều nguồn nước phong phú, với Sông Giăng là dòng sông chính Ngoài ra, xã còn có các khe suối nhỏ như khe Đá Bạc, Khe Hàn, khe Trảy, khe Sách, khe Sướn và khe Ác Hệ thống thủy văn đa dạng này cung cấp nguồn nước lớn cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động khác trong địa bàn xã.

Điều kiện kinh tế - xã hội

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Thanh Đức đã có sự chuyển biến tích cực với việc đổi mới và cơ cấu lại kinh tế theo hướng đúng đắn Nhờ vào sự đầu tư của Đảng và Nhà nước, cùng với sự chỉ đạo của Đảng ủy và Hội đồng nhân dân, tốc độ tăng trưởng kinh tế của xã không ngừng gia tăng Bình quân lương thực và thu nhập của người dân cũng tăng dần, góp phần nâng cao đời sống của cộng đồng trong xã.

Xã Thanh Đức hiện có khoảng 100 lao động chưa có việc làm, trong khi chỉ khoảng 10% lao động đã được đào tạo ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu của các xí nghiệp Để tối ưu hóa nguồn lực và phát triển xã hội, cần chú trọng vào việc đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho lực lượng lao động này.

Thanh Đức sở hữu diện tích rừng rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển ngành lâm nghiệp, bao gồm trồng cây nguyên liệu giấy, cao su, chè công nghiệp và các loại cây lấy gỗ khác Để tận dụng tiềm năng này, xã cần tiếp tục chú trọng và đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp trong thời gian tới.

Xã vùng cao này chủ yếu phụ thuộc vào nông, lâm nghiệp, không có khoáng sản và ngành nghề truyền thống chưa phát triển, gây hạn chế cho sự phát triển kinh tế - xã hội Với đặc thù là xã thuần nông, lực lượng lao động chủ yếu làm nông nghiệp, mang tính thời vụ, dẫn đến tình trạng lao động nông nhàn sau mùa vụ, chỉ một bộ phận nhỏ có thu nhập từ tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.

Số hộ: 1.461 hộ, không có hộ đồng bào dân tộc thiểu số

- Nhân khẩu: 5.965 người, gồm 3.052 nam và 2.913 nữ

- Mật độ dân số bình quân 35 người/km 2 Trong đó:

+ Khẩu nông nghiệp: 5.470 người, ứng với 1.340 hộ;

+ Khẩu phi nông nghiệp: 495 người, ứng với 121 hộ;

Dân số xã phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các xóm gần trục đường giao thông chính Nhờ thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình, kết quả công tác dân số đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ.

Trong xã Thanh Đức, có 1.340 hộ sản xuất nông nghiệp, chiếm 91,72% tổng số hộ dân Mặc dù tỷ lệ hộ sống bằng nghề nông nghiệp cao, nhưng diện tích canh tác bình quân chỉ đạt 0,68ha/lao động, cho thấy đất sản xuất nông nghiệp tại địa phương này còn nhỏ lẻ và manh mún.

Trong những năm gần đây, nhờ sự quan tâm của Đảng và các cấp ngành, hệ thống y tế và giáo dục đã có sự phát triển đáng kể, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục Hầu hết các xã trong vùng đều đã xây dựng được trường mầm non, trường tiểu học và trường trung học cơ sở.

Trình độ người dân ngày càng được nâng cao, nhận thức của người dân đối với rừng , công tác phát triển, bảo vệ rừng ngày càng đƣợc quan tâm

Tình hình an ninh quốc phòng trong khu vực đã ổn định, với sự giảm thiểu rõ rệt của các hiện tượng như cờ bạc, chích hút và lô đề so với trước đây Lực lượng công an thường xuyên tuần tra và xử lý kịp thời các đối tượng gây rối, giúp người dân yên tâm lao động và sản xuất.

2.2.3 Thực trạng công tác QLBVR Và PCCCR a Thuận lợi:

Chủ trương chính sách của Đảng luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân

- Đƣợc sự chỉ đạo sát sao của các nghành các cấp trong công tác quản lý bảo về rừng và phòng cháy chữa cháy rừng

- Trình độ dân trí đƣợc nâng cao

Những yếu tố trên rất thuận lợi cho việc QLBVR và PCCCR của chính quyền trong nông trường 12-9 b Khó khăn

Ban quản lý có địa hình rộng lớn, tiếp giáp với nhiều xã và đồi núi, nơi có độ dốc cao Khu vực này bao gồm rừng tự nhiên và rừng phòng hộ, dẫn đến việc quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) và phòng chống cháy rừng (PCCCR) gặp nhiều khó khăn.

Người dân sống gần rừng chủ yếu là các dân tộc thiểu số với phong tục tập quán còn lạc hậu và nhận thức chưa cao Nhiều hộ gia đình trong các xóm này vẫn chưa thoát nghèo, cuộc sống của họ vẫn gặp nhiều khó khăn do phụ thuộc vào rừng.

MỤC TIÊU - NÔI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

3.1.1 Mục tiêu chung Đƣa ra các giải pháp phòng trừ có hiệu quả các loài sâu hại chính trên cây Cao su nhằm nâng cao năng suất và chất lƣợng mủ, góp phần phát triển kinh tế địa phương

- Xác định đƣợc thành phần loài sâu hại Cao Su, và một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu hại chính

- Đề xuất đƣợc biện pháp quản lí loài sâu hại chính.

Giới hạn nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu từ ngày 22 tháng 2 năm 2017 đến ngày 31 tháng

- Địa điểm tại nông trường 12-9 xã Thanh Đức, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Nội dung nghiên cứu

- Xác định thành phần loài sâu hại Cao Su và loài sâu hại chính trong khu vực nghiên cứu

- Xác định một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu hại chính

- Nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp quản lí loài sâu hại chính

- Đề xuất biện pháp quản lý loài sâu hại chính.

Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

- Các tài liệu về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu của Ủy ban nhân dân xã Thanh Đức

- Các tài liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài sâu hại Các cuốn sách:

+ “Côn trùng rừng“ Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã (1997)

+ “Bảo vệ thực vật“ của Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão(2004)

Để thu thập thông tin cần thiết cho việc phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại trên cây cao su, ngoài việc điều tra trực tiếp tại thực địa, việc kế thừa tài liệu, báo cáo và nghiên cứu từ các nguồn như Nông trường cao su 12-9 và ủy ban xã Thanh Đức cũng rất quan trọng Điều này giúp cung cấp thêm thông tin về diện tích trồng, giống cây, cũng như điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của khu vực nghiên cứu.

3.4.2 Phương pháp điều tra thành phần sâu hại

Mục đích của nghiên cứu là xác định các chỉ tiêu về thành phần và mật độ sâu hại, tỷ lệ và mức độ gây hại của chúng, từ đó lập danh mục các loài sâu hại chính Quá trình này bao gồm nghiên cứu trực tiếp tình hình sâu hại, kế thừa tài liệu từ nông trường và phỏng vấn công nhân Để điều tra hiệu quả, cần lựa chọn điểm điều tra đại diện cho khu vực nghiên cứu, có thể là các ô tiêu chuẩn hoặc tuyến điển hình, tùy thuộc vào điều kiện nghiên cứu.

3.4.3 Phương pháp điều tra thực địa

Để nắm bắt tổng quát tình hình sâu bệnh trong khu vực điều tra, việc sơ thám và lựa chọn địa điểm nghiên cứu là rất quan trọng Điều này sẽ tạo cơ sở vững chắc cho các cuộc điều tra chi tiết sau này.

Chuẩn bị cho các loại dụng cụ cần thiết, vật liệu nghiên cứu nhƣ: bản đồ, cuốc, vợt bắt mẫu, thước dây, thước kẹp kính

3.4.3.2 Lập ô tiêu chuẩn a) Nguyên tắc chung

Dựa theo giáo trình “Điều tra dự tính, dự báo sâu bệnh hại trong lâm nghiệp”, ô tiêu chuẩn được xác định là diện tích rừng đại diện, bao gồm đầy đủ các đặc điểm về đất đai, địa hình, thực bì và hướng phơi, nhằm phục vụ cho công tác điều tra lâm phần.

Số lượng ô tiêu chuẩn trong rừng trồng phụ thuộc vào địa hình, tuổi cây và thảm thực bì Nếu rừng có địa hình đồng đều và cây cùng tuổi, số lượng ô sẽ ít hơn Ngược lại, với địa hình phức tạp và thực bì không đồng nhất, cần nhiều ô hơn Thông thường, mỗi 10 đến 15 ha cần có một ô tiêu chuẩn, có diện tích từ 500 đến 2500 m², với ít nhất 100 cây trong mỗi ô.

Hình dạng ô tiêu chuẩn tùy theo địa hình mà có thể là hình vuông, hình chữ nhật hay hình tròn

Vị trí ô tiêu chuẩn cần đại diện cho khu vực nghiên cứu, vì vậy cần chú ý đến các yếu tố địa hình như độ cao, hướng phơi, và đặc điểm lâm phần như loài cây, tuổi cây, mật độ trồng, độ tàn che, thực bì tàng dưới, và tình hình đất đai Dụng cụ cần thiết để lập ô tiêu chuẩn bao gồm thước dây, cọc mốc, và phấn đánh dấu Để xác định một ô tiêu chuẩn, chọn một cây làm mốc và đánh dấu bằng phấn, sau đó áp dụng định lý Pitago để xác định góc vuông với các cạnh 3, 4 và 5m Ô tiêu chuẩn được xác định khi khép góc với sai số cho phép nhỏ hơn 1/200 Phương pháp này áp dụng cho việc lập ô tiêu chuẩn tại rừng cây Cao su trong khu vực nghiên cứu.

Dựa trên các nguyên tắc lập ô tiêu chuẩn, nông trường cao su 12/9 hiện đang quản lý tập trung 378 ha cây cao su với mật độ trồng hợp lý.

Để đảm bảo tính khách quan trong nghiên cứu, diện tích lập các ô tiêu chuẩn cần chiếm từ 1 đến 3% tổng diện tích khu vực nghiên cứu Với mật độ 500 đến 571 cây/ha, tôi đã tiến hành lập 6 ô tiêu chuẩn, mỗi ô có diện tích 1000m².

Do khu vực nghiên cứu có độ dốc thấp, tôi đã lập ô tiêu chuẩn hình chữ nhật với kích thước 50m × 20m Sau khi xác định góc vuông, tôi căng dây để đo cạnh dài 50m và cạnh rộng 20m, đồng thời xác định các góc vuông tại mỗi góc theo nguyên tắc lập ô tiêu chuẩn.

Trong ô tiêu chuẩn, cần tiến hành điều tra các chỉ tiêu như đặc điểm ô tiêu chuẩn, kết hợp giữa điều tra trực tiếp và tài liệu từ xã Thanh Đức Để xác định Hvn và D1.3 bình quân, thực hiện điều tra 30 cây chọn ngẫu nhiên trong mỗi ô tiêu chuẩn Sử dụng súng bắn độ cao để đo chiều cao cây và thước kẹp kính để đo đường kính D1.3 Hướng phơi và độ dốc được xác định bằng địa bàn Các đặc điểm như loài cây, mật độ trồng, độ cao và đất đai được thu thập từ phỏng vấn cán bộ và báo cáo trồng cây Cao su của nông trường.

Các thông tin thu thập đƣợc tổng hợp vào mẫu biểu 3.1:

Mẫu Bảng 3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

Ngày điều tra: Người điều tra:

Hình 3.1 Hình ảnh các ô tiêu chuẩn

Để thực hiện điều tra cây tiêu chuẩn, cần chọn ngẫu nhiên 30 cây trong ô tiêu chuẩn, đảm bảo điều tra từ 10 – 30% tổng số cây Số lượng cành điều tra trên mỗi cây sẽ tùy thuộc vào từng loài, nhằm đảm bảo tính khách quan Đối với cây Cao su, do đây là loài cây lá rộng, mỗi cây tiêu chuẩn sẽ được điều tra 6 cành ở các vị trí khác nhau.

 Hai cành gốc theo hướng Đông - Tây

 Hai cành giữa theo hướng Nam - Bắc

 Hai cành ngọn theo hướng Đông - Tây c) Điều tra thành phần, số lƣợng và chất lƣợng sâu hại lá

 Điều tra sâu hại lá

Trên các cành đã chọn của cây tiêu chuẩn, tiến hành quan sát và đếm số lượng cá thể từng loài sâu hại theo các giai đoạn phát triển Kết quả được ghi vào mẫu biểu 02.

Mẫu bảng 3.2 Điều tra số lƣợng, chất lƣợng sâu hại lá

Số hiệu ô tiêu chuẩn: Loài cây: Ngày điều tra: Tuổi cây:

* Điều tra mức độ gây hại của sâu ăn lá

Trên mỗi cành điều tra của cây tiêu chuẩn, tôi thực hiện việc khảo sát 6 lá, được lấy từ ba vị trí khác nhau: 2 lá ở gốc cành, 2 lá ở đầu cành và 2 lá ở giữa cành.

Cách phân cấp mức độ bị hại theo tiêu chuẩn sau:

 Cấp 0: Là những lá không bị hại

 Cấp I: Là những lá bị hại dưới 25% tổng diện tích lá

 Cấp II: Là những lá bị hại từ 25 – 50% tổng diện tích lá

 Cấp III: Là những lá bị hại từ 51 – 75% tổng diện tích lá

 Cấp IV: Là những lá bị hại > 75% tổng diện tích lá

Kết quả thu đƣợc ghi vào mẫu biểu 03 sau:

Mẫu bảng 3.3 Đánh giá mức độ ăn hại của sâu ăn lá

Số hiệu ô tiêu chuẩn: Loài cây:

Ngày điều tra: ………… Người điều tra: ……

Số lá bị hại ở các cấp Chỉ số hại R%

d) Điều tra sâu hại thân và điều tra xung quanh gốc cây

Trên 6 cành điều tra sâu hại lá, dựa vào các dấu vết hoặc triệu chứng để tính tổng số cành hoặc tổng số ngọn trong cành điều tra, với sâu hại thân thì đếm tổng số cây bị hại so với tổng số cây điều tra Dùng dao cắt tất cả các cành hoặc ngọn bị hại chẻ ra để bắt các loài sâu hại hoặc xác định mức độ bị hại Kết quả thu đƣợc ghi vào mẫu biểu 04:

Mẫu bảng 3.4 Điều tra thành phần, số lƣợng và mức độ hại thân cành

Số hiệu ô tiêu chuẩn: Loài cây:

Ngày điều tra: Tuổi cây:

Ghi chú e) Phương pháp điều tra sâu hại dưới đất

Phương pháp xác định ô dạng bản bao gồm việc tiến hành điều tra 5 ô dạng bản trong mỗi ô tiêu chuẩn, với 4 ô đặt ở các góc và 1 ô ở giữa, mỗi ô có diện tích 1 m² (1m × 1m) Các ô dạng bản được bố trí dưới gốc cây Cao su Trong đợt điều tra tiếp theo, các ô dạng bản sẽ di chuyển theo đường chéo của ô tiêu chuẩn, trong khi ô ở giữa sẽ tiến dần sang hai bên song song với các cạnh của ô tiêu chuẩn, với khoảng cách giữa các ô là 1m.

Dùng thước gỗ để xác định ô dạng bản, 4 góc đóng 4 cọc tre Sau khi xác định đƣợc vị trí ô dạng bản xong, tiến hành nhƣ sau:

KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16.Viện nghiên cứu cao su Việt Nam (2012) “Quy trình kỹ thuật cây cao su”Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình kỹ thuật cây cao su
1. Nguyễn Hải Đường (1996): Phòng trừ sâu bệnh và cỏ daị trên cây cao su. NXB Nông nghiệp 1996 Khác
2. Phan Thành Dũng, 2004. Kỹ thuật bảo vệ thực vật cây cao su. Nhà xuất bản Nông nghiệp. 124 trang Khác
3. Phan Thành Dũng, 2006. Báo cáo kết quả công trình tuyển non dòng vô tính cao su kháng bệnh rụng lá Corynespora. Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam Khác
4. Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã (1997): Côn trùng rừng. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
5. Ngô Kim Khôi (1998): Giáo trình thống kê toán học trong lâm nghiệp. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
6. Phan Thành Dũng, 2000. Bệnh rụng lá Corynespora, đối tƣợng nguy hiểm lần đầu tiên trên cây cao su tại Việt Nam. Kết quả hoạt động khoa học công nghệ năm 2000. Nhà xuất bản Nông Nghiệp. Trang 135 – 149 Khác
7. Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão (2001): Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh hại trong lâm nghiệp. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
8. Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh (2002): Sử dụng côn trùng và sinh vật có ích. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
9. Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão (2004): Bảo vệ thực vật. NXB Nông nghiệp, Hà Nội.0 Khác
10. Nguyễn Thế Nhã (2008): Sâu hại măng tre trúc. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
11. Nguyễn Thế Nhã (2009 - 2011): Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái cơ bản và biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu róm 4 túm lông thuộc họ Ngài độc (Lymantriidae) hại thông tại vùng Đông Bắc. Đề tài cấp Bộ Khác
12. Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Thừa Thiên Huế (2005): Điều tra sâu bệnh hại chính trên cây cao su tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất giải pháp phòng trừ Khác
13. Tổng Công Ty Cao su Việt nam, 2005. 30 năm Tổng Công Ty Cao Su Việt nam. NXB Giao Thông Vận Tải Khác
14. Nguyễn Viết Tùng (2006): Giáo trình học đại cương. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
15. Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, 2006. Báo cáo công trình tuyển non dvt cao su kháng bệnh rụng lá Corynespora. Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam Khác
17. Xiao Xiaoqing (1979): Phòng trừ và phân bố các loại bệnh hại cây cao su, dịch từ The Planter:52 Khác
18. Zhang Xiaoyi. Sinh thái côn trùng và dự tính dự báo (Trung Văn) NXBNNTQ.Beijing.1995 Khác
19. Qiu Xuejun (2010): Khoa học về phòng trừ và khống chế sâu bệnh hại cây cao su. Tạp chí khoa học nông lâm nhiệt đới Trung Quốc, 34(4):36-37 Khác
20. Pang Qihong (2010): Phòng trừ các loài sâu bệnh hại thường gặp cây cao su. Tạp chí khoa học kỹ thuật xanh Trung Quốc,(9):79-81.Tài liệu internet Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w