Trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về phân loại và phân bố các loài tre trúc trên thế giới
Tre là một tài nguyên Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) quý giá, liên quan đến hơn một nửa dân số thế giới Thuộc phân họ Tre (Bambusoideae) trong họ Cỏ (Poaceae), tre có khoảng 1300 loài thuộc 70 chi, phân bố toàn cầu Hiện có hơn 14 triệu ha rừng tre nứa trải dài từ 51 độ vĩ Bắc đến 47 độ vĩ Nam Trung Quốc là quốc gia có nhiều tre nhất với khoảng 50 chi và 500 loài, chiếm 7 triệu ha rừng tre Nhật Bản đứng thứ hai với 13 chi, hơn 230 loài và 0,1 triệu ha rừng tre, tiếp theo là Ấn Độ và các nước Nam, Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu về tre trúc như sau:
Năm 1868 nghiên cứu của các tác giả Munro với tựa đề “Nghiên cứu về
Bambusaceae” sau đó tác giả Gamble viết về “Các loài tre trúc ở Ấn Độ” năm
Năm 1896, tác giả đã mô tả chi tiết đặc điểm hình thái của 151 loài tre trúc, phân bố chủ yếu tại Ấn Độ và một số khu vực khác như Myanma, Malaysia, Indonesia, Sri Lanka và Pakistan.
Tổ chức PAO đã công bố danh mục 192 loài tre trúc cùng với đặc điểm phân bố theo độ cao của một số loài trong khu vực châu Á và Thái Bình Dương vào các năm 1992 và 2007.
Hsueh, C.J & D.Z (1988), (1996) đã nghiên cứu về chi Dendrocalamus làm cơ sở phân loại một số loài trong chi ở Trung Quốc và khu vực Đông
Nam Á, S.DransField và E.A Widjaja (1995) đã giới thiệu tài liệu về tre trúc Đông Nam Á, bao gồm thông tin về tên khoa học, tên địa phương, phân bố địa lý, giá trị sử dụng và đặc điểm nhận biết qua hình thái của một số loài.
D.N.Tewari đã công bố số liệu cho biết trên thế giới hiện nay 80% rừng tre trúc phân bố châu Á, tất cả các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới của thế giới đều có tre trúc xuất hiện Độ cao phân bố từ sát mặt biển lên cao trên 4000m Tác giả xây dựng đƣợc vùng phân bố chung cho tre nứa và bản đồ phân bố của một số chi tre trúc quan trọng của thế giới Nhìn vào bản đồ phân bố này ta có thể thấy đƣợc trung tâm phân bố của tre trúc tập trung vào giải nhiệt đới thuộc Châu Á trong đó chủ yếu là ở Trung Quốc, Ấn độ, Việt Nam, Nhật Bản, Malaisya, Trung Phi, Nam Mỹ, và một phần nhỏ ở Bắc Mỹ
Tre trúc, thuộc họ Hòa thảo (Poaceae), là nhóm thực vật có số lượng loài phong phú nhất với khoảng 1250 loài thuộc 75 chi trên toàn thế giới Châu Á là khu vực có sự đa dạng loài lớn nhất, với khoảng 900 loài thuộc 65 chi Trong đó, Trung Quốc dẫn đầu với 500 loài và 39 chi, tiếp theo là Indonesia với 135 loài thuộc 21 chi, và Ấn Độ đứng thứ ba.
130 loài thuộc 18 chi Theo Dransfield đó là chi Bambusa có nhiều loài nhất với 37 loài, sau đó đến chi Schizostachyum khoảng 30 loài và chi Dendrocalamus có khoảng 29 loài
1.1.2 Nghiên cứu về phân loại và phân bố của loài Lùng (Bambusa longissima Nov )
Trên thế giới hiện nay, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về sự phân bố và đặc điểm sinh trưởng của các loài cây trong nhiều phân họ khác nhau, đặc biệt là các loài tre trúc trong họ hòa thảo và nhóm cây lấy măng, với nhiều kết quả đáng kể Tuy nhiên, vẫn còn rất ít công trình nghiên cứu đề cập đến cây Lùng (Bambusa longissima), cho thấy sự cần thiết phải khám phá và nghiên cứu sâu hơn về loài cây này.
Ở Việt Nam
1.2.1 Phân loại và phân bố các loài tre nứa ở Việt Nam
Việt Nam xếp thứ 4 toàn cầu về diện tích tre nứa, với 194 loài thuộc 26 chi được phát hiện Điều này cho thấy sự đa dạng phong phú của các loài tre trúc tại Việt Nam Tuy nhiên, hiện chỉ có 80 loài được định danh, trong khi vẫn còn nhiều loài chưa được đặt tên.
Theo Quyết định 1116/QĐ/BNN-KL, tính đến ngày 31/12/2004, tổng diện tích rừng tre nứa tự nhiên thuần loài đạt 799.130 ha, trong khi diện tích rừng tre trúc tự nhiên pha gỗ là 682.642 ha và diện tích tre trúc trồng, chủ yếu là Luồng, là 81.484 ha.
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu và bổ sung nhiều loài tre nứa mới vào danh mục thực vật của đất nước Nghiên cứu đầu tiên về tre nứa tại Việt Nam được thực hiện bởi Camus và Camus.
Tính đến năm 1923, Việt Nam đã ghi nhận 73 loài tre nứa Đến năm 1978, Phạm Văn Dũng cho biết có khoảng 50 loài, nhưng con số này đã tăng lên đáng kể với 123 loài được thống kê bởi Phạm Ngọc Hộ vào năm 1999 Trong giai đoạn 2001-2003, Nguyễn Tứ Ởng và Lê Viết Lâm, cùng với GS Xia Nianhe từ Trung Quốc, đã xác định 113 loài thuộc 22 chi ở Việt Nam, cập nhật 11 tên khoa học mới và công nhận 6 chi cùng 22 loài tre lần đầu được định danh tại Việt Nam, đồng thời đề xuất 22 loài cần được xem xét để xác nhận là loài mới.
Trong 2 năm 2004 - 2005, PGS TS Nguyễn Hoàng Nghĩa cùng 2 chuyên gia phân loại tre Trung Quốc là GS Li Dezhu, Phó Viện trưởng Viện thực vật học Côn Minh, Vân Nam ( chuyên gia chi Dendrocalamus) và GS
Xia Nianhe, một chuyên gia trong lĩnh vực phân loại tre thuộc chi Bambusa, đang hợp tác nghiên cứu với các nhà nghiên cứu tre trúc tại Việt Nam để xác định các loài tre nứa hiện có Đến nay, nhóm nghiên cứu đã công bố danh sách ban đầu gồm 194 loài tre nứa.
Việt Nam có 26 chi tre trúc, trong đó nhiều chi vẫn chưa được đặt tên Chẳng hạn, chi Tre gai (Bambusa) có 55 loài, nhưng 31 loài trong số đó chưa được xác định tên Chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài, với 5 loài chưa được đặt tên Chi Le (Gigantochloa) có 16 loài, trong đó 14 loài chưa được xác định Chi Vầu đắng (Indosasa) có 11 loài, với 8 loài chưa có tên, và chi Nứa (Schizostachyum) cũng có nhiều loài chưa được đặt tên.
14 loài thì có tới 11 loài chƣa có tên
Các nhà khoa học Việt Nam đã phát hiện nhiều chi và loài mới, trong đó nổi bật là việc công bố 7 loài nứa mới thuộc chi Nứa (Schizastachyum) vào năm 2005, bao gồm Khốp Cà Ná, Nứa Núi Dinh, Nứa đèo Lò Xo, Nứa Lá to, Nứa không tai Côn Sơn, và Nứa Bảo Lộc Các tác giả đã mô tả chi tiết về hình thái và sinh thái của từng loài Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng đã phát hiện 6 loài tre quả thịt, tạo thành chi Tre quả thịt (Melocalamus) mới cho Việt Nam, với các loài được nhận biết như Dẹ Yên Bái, Tre quả thịt Cúc Phương, và Tre quả thịt Kon Hà Nừng.
Kbangensis), Tre quả thịt Lộc Bắc (M Blaoensis), Tre quả thịt Pà Cò (M Pacoensis ) và Tre quả thịt Trường Sơn (M Truongsonensis)
Trong đợt khảo sát gần đây, nhóm nghiên cứu do Nguyễn Hoàng Nghĩa dẫn đầu đã phát hiện một loài nứa mới cho Việt Nam mang tên Nứa Sapa (Schizotsachyum chinensis) Loài này được tìm thấy trong rừng thường xanh của Vườn Quốc Gia Hoàng Liên, Lào Cai, và tác giả đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái và sinh học của loài này.
Quá trình khảo sát đã phát hiện một số chi thực vật mới tại Việt Nam, bao gồm chi Giang (Maclurochloa) với 17 loài, chi Tre quả thịt (Melocalamus) với 10 loài, và chi Tre Bidoup (Kinabaluchloa) với 1 loài Đặc biệt, loài Tre lông Bidoup (Kinabaluchloa) có ngoại hình tương tự như loài cùng chi ở Malaixia (Wong, 1995), cùng với sự phát hiện của trúc dây Bidoup.
Ampelocalamus có hình dáng tương tự như trúc dây Ba Bể, cùng với nhiều loài khác như nứa (Schizostachyum), le (Gigantochloa) và lồ ô (Bambusa) Trong số các chi thực vật, chi Tre (Bambusa) có số lượng loài phong phú nhất với 55 loài, tiếp theo là chi Luồng (Dendrocalamus) với 21 loài, chi Le (Gigantochloa) có 16 loài, chi Nứa (Schizostachyum) với 14 loài, và chi Vầu đắng (Indosasa) có 11 loài.
Qua nghiên cứu từ năm 2003 đến 2006, Trần Văn Tiến và Nguyễn Hoàng Nghĩa (2007) đã xác định rằng phân tông tre (Bambussinae) ở Việt Nam hiện có 8 chi, bao gồm: chi Tre (Bambusa), chi Le Bắc Bộ (Bonia), chi Luồng (Dendrocalamus), chi Le (Gigantochloa), chi Tre lông (Kinabaluchloa), chi Giang (Maclurochloa), chi Tre quả thịt (Melocalamus) và chi Tầm vông (Thyrsostachys) Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng các chi này có nhiều loài mới hoặc mới ghi nhận tại Việt Nam Bằng cách phân tích các đặc điểm hình thái hoa của 37 loài thuộc 5 chi, bài viết nhằm giới thiệu những đặc điểm dễ nhận biết và xây dựng khóa phân loại cho các chi thuộc phân tông tre (Bambusinae) tại Việt Nam.
1.2.2 Nghiên cứu phân loại, phân bố, đặc điểm sinh trưởng của loài Lùng (Bambusa longissima Nov ) thuộc chi Tre gai (Bambusa)
Trong giáo trình đại học Lâm nghiệp "Thực vật rừng", Lê Mộng Chân đã giới thiệu về chi Tre gai (Bambusa) với những đặc điểm nổi bật như thân ngầm hợp trục và thân khí sinh mọc thành cụm Chi tiết hơn, lóng thân khí sinh thường dài trên 50cm, có thành lóng mỏng và nháp, cùng với nhiều cành, trong đó cành chính thường không rõ ràng Ngoài ra, ngọt thẳng thường hơi cong, tai mo rõ và lá nhỏ có đuôi hình tim.
Trong tài liệu Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, của nhóm tác giả Đặng Đình Bôi, Võ Văn Thoan, Trần Ngọc Hải, Nguyễn Thanh Tân, Hoàng Thị Se,
Lê Trọng Thực đã mô tả đặc điểm nhận biết ban đầu và xác định tên loài Lùng (Bambusa longissima Nov), thuộc chi Tre gai (Bambusa), phân họ tre nứa (Bambusoidae) Loài này có hai loại lá: lá quang hợp và lá mo Lá quang hợp xếp thành hai hành trên cành mọc so le, bao gồm các bộ phận như phiến lá, bẹ lá, tai và lưỡi, với cuống lá ngắn và gân lá song song.
Cây có 8 bộ phận chính bao gồm bẹ mo, tai mo, và lưỡi mo, xếp lợp quanh măng hoặc các đốt trên thân và cành Thân cây được chia thành hai loại: thân ngầm và thân khí sinh Thân ngầm mọc thành cụm, đặc, với nhiều đốt và rễ bám sâu dưới đất, trong khi thân khí sinh có hình trụ, chia thành nhiều lóng dài trên 50 cm, với vách mỏng và các đốt cùng vòng rễ nổi rõ quanh đốt.
MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu
Tại khu BTTN Xuân Nha, xã Tân Xuân – huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La
Thời gian nghiên cứu từ 07/02/2015 đến ngày 10/05/2015.
Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm hình thái, vật hậu loài Lùng tại khu BTTN Xuân Nha
- Đặc điểm phân bố của loài Lùng tại khu BTTN Xuân Nha
- Đặc điểm cấu trúc (mật độ, cấu trúc tuổi, cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng tán) của lâm phần Lùng tại khu BTTN Xuân Nha
- Đặc điểm đất nơi có loài Lùng phân bố tại khu BTTN Xuân Nha
Quần thể Lùng tại khu BTTN Xuân Nha đang chịu ảnh hưởng từ nhiều tác động tự nhiên và con người, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của chúng Để đảm bảo sự phát triển bền vững cho loài Lùng, cần đề xuất một số giải pháp như bảo tồn môi trường sống, quản lý nguồn nước, và giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của loài này Việc thực hiện các biện pháp bảo vệ và phát triển bền vững sẽ góp phần duy trì quần thể Lùng trong khu vực.
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Sưu tầm tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu và khu vực nghiên cứu là bước quan trọng để định hướng điều tra, từ đó sử dụng thông tin một cách có chọn lọc nhằm phục vụ cho khóa luận.
2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp
- Thước dây, thước kẹp kính
- Địa bàn cầm tay, máy ảnh
- Sổ ghi chép, mẫu phiếu điều tra
2.4.2.2 Điều tra sơ bộ khu vực nghiên cứu
- Tiến hành khảo sát thực địa toàn bộ khu vực nghiên cứu, phân loại trạng thái và đánh giá tình hình phân bố của Lùng
- Xác định các tuyến điều tra trên bản đồ hiện trạng khu vực, đi qua các trạng thái, đai cao khác nhau
- Kế thừa một số tài liệu, số liệu phỏng vấn người dân, về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn, điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội
2.4.2.3 Điều tra chi tiết a) Nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Lùng theo vị trí và trạng thái rừng
Dựa trên các tuyến điều tra đã được xác định trên bản đồ hiện trạng, tiến hành khảo sát các tuyến này bằng máy định vị GPS và quan sát trực tiếp bằng mắt thường để xác định đặc điểm của tuyến đi.
Kết quả điều tra được ghi vào mẫu biểu dưới đây:
Mẫu biểu 01: Biểu điều tra theo tuyến
Số hiệu tuyến: Tọa độ điểm đầu tọa độ điểm cuối Địa danh Ngày điều tra Người điều tra
TT Loài Dạng sống Trạng thái rừng Đai cao b) Bổ sung đặc điểm hình thái của loài Lùng
Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Lùng tại khu vực nghiên cứu, bao gồm việc chọn địa điểm đại diện để mô tả các yếu tố như thân ngầm, thân khí, lá mo nang, lá quang hợp và các bộ phận khác của loài này.
Để nghiên cứu thân ngầm, chúng ta cần lấy ba mẫu thân ngầm ở các độ tuổi khác nhau Mỗi mẫu sẽ được mô tả chi tiết về kết cấu, màu sắc và quá trình phân đốt Ngoài ra, cần chú ý đến các đặc điểm của vòng rễ để có cái nhìn tổng quát về sự phát triển và đặc tính của thân ngầm.
Chọn 3 mẫu thân khí sinh và thực hiện chặt hạ để mô tả các đặc điểm quan trọng, bao gồm chiều dài lóng, số lóng, đặc điểm đốt, vòng rễ và vòng mo Những thông tin này sẽ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc và tính chất của thân khí sinh.
Chọn 15 mẫu mo nang từ một cây trung bình của bụi trung bình, đảm bảo các mẫu mo nang được lấy từ những vị trí khác nhau trên cây Sau đó, lựa chọn một mo nang trung bình để đo đếm chiều dài và chiều rộng, đồng thời mô tả các đặc điểm nổi bật của mo nang đó.
Lá quang hợp được chọn từ 3 lá trung bình của cây bụi, với các chỉ số về độ dài, rộng và đặc điểm nổi bật trên lá được mô tả chi tiết Nghiên cứu cấu trúc mật độ, tuổi, tầng tán và tổ thành tại lâm phần Lùng sẽ được thực hiện theo trạng thái và vị trí để hiểu rõ hơn về sự phát triển của hệ sinh thái.
Tiến hành lập 12 OTC: ở trạng thái Lùng thuần loài lập 9 OTC tại 3 tuyến điều tra và ở tạng thái Lùng hỗn giao gỗ lập 3 OTC với 2 tuyến điều tra Mỗi
OTC là 1000 m 2 ( 25 m x 40 m) chiều 40 m song song với đường đồng mức và 25 m vuông góc đường đồng mức, trong mỗi OTC lập 5 ô dạng bản 20 m 2
Trạng thái Lùng thuần loài
Để nghiên cứu quần thể lùng trong OTC, cần đo đếm số lượng bụi bằng cách chọn 30 bụi, ghi nhận số cây trong mỗi bụi và phân loại theo các cấp tuổi khác nhau Từ đó, chọn một cây trung bình ở cấp tuổi trung bình để đo đường kính D1.3 và chiều cao Hvn trung bình của bụi.
Kết quả của công tác điều tra thu được ghi vào mẫu biểu dưới đây:
Mẫu biểu 02: Biểu điều tra quần thể lùng OTC:………Tọa độ:……….Vị trí: ……… Diện tích:…………Độ cao tương đối:………Ngày điều tra:…
Lô, khoảnh:……… Trạng thái:……… Người điều tra: Tổng số bụi:………Độ dốc:………Hướng phơi:…
+ Đo D1.3 bằng thước kẹp kính
+ Đo Hvn bằng sào đo độ cao
Cách xác định cấp tuổi:
+ Thân cành còn mo măng
+ Thân có thể có phấn
+ Gõ nghe tiếng kêu bộp bộp
+ Thân không có mo, chỉ có mo trên cành
+ Gõ nghe bắt đầu có tiếng đanh
+ Chƣa có địa y, rêu hay mới bắt đầu có địa y, rêu, mốc
+ Mo trên thân, cành rụng hết
+ Nếu cây ở chỗ có nắng sẽ có màu hơi vàng đỏ
- Đối với cá thể lùng
Tiến hành chặt hạ 30 cây có tuổi trung bình và kích thước trung bình theo các tuyến điều tra thực địa, bao gồm đai cao và trạng thái Cắt cây tại gốc, đo đường kính ở độ cao 1.3m, chiều cao vút ngọn và chiều cao bắt đầu phân cành Đếm số đốt từ gốc đến ngọn, xác định chiều dài lóng dài nhất và số cành trên đốt, bắt đầu từ đốt phân cành thứ 3 Đồng thời, đo độ dày thành lóng của cây.
Kết quả của công tác điều tra thu được ghi vào mẫu biểu dưới đây:
Mẫu biểu 03: Biểu điều tra cá thể loài lùng Trạng thái:……… Vị trí:……… Đai cao:……… Ngày điều tra:………
Lô, khoảnh:……….Người điều tra:………
Số đốt Đốt bắt đầu phân cành
+ Đo Hvn bằng thước dây
+ Đo D1.3 bằng thước kẹp kính
+ Đo Hpc bằng thước dây
+ Đo chiều dài lóng bằng thước dây
+ Đo bề dày lóng tại vị trí 1.3 bằng thước kẹp kính
Để tiến hành điều tra cây bụi và thảm tươi, chúng tôi thực hiện đo đếm trong 5 ô hình chữ nhật, mỗi ô có diện tích 20 m² Các ô này được bố trí theo phương pháp 5 điểm, bao gồm 4 ô ở 4 góc và 1 ô ở giữa, nhằm xác định số lượng cây bụi và thảm tươi có trong khu vực nghiên cứu.
ODB, xác định tên loài, chiều cao trung bình của thảm tươi, cây bụi, độ che phủ, tình hình sinh trưởng (tốt, trung bình, xấu)
Kết quả của công tác điều tra thu được ghi vào mẫu biểu dưới đây:
Mẫu biểu 04: Biểu điều tra cây bụi, thảm tươi OTC: Tọa độ: Vị trí: Diện tích: Độ cao: Ngày điều tra: Độ dốc: Trạng thái: Người điều tra:
TT Tên Loài cây Chiều cao TB
Trạng thái Lùng xen gỗ
Tiến hành điều tra các chỉ tiêu nhƣ trạng thái thuần loài, sau đó tiếp tục điều tra các chỉ tiêu sau:
Trong quá trình điều tra cây gỗ, chúng tôi tiến hành đếm các cây gỗ có đường kính từ 6 cm trở lên trong khu vực OTC Việc xác định tên loài cây, đo đường kính ngang ngực (D1.3), chiều cao vút ngọn (HVN) và đường kính tán là các bước quan trọng nhằm đánh giá tình trạng và sự đa dạng của hệ sinh thái.
(DT ), chiều cao dưới cành (HDC).
Kết quả của công tác điều tra thu được ghi vào mẫu biểu dưới đây:
Mẫu biểu 05 là biểu điều tra cây gỗ, bao gồm các thông tin quan trọng như tọa độ, vị trí, diện tích, đai cao, ngày điều tra, độ dốc, trạng thái và người điều tra Bảng này cũng ghi lại số thứ tự và tên loài cây cùng với đường kính tại chiều cao 1.3 mét.
+ Đo H VN , HDC, HPC bằng cách dùng sào đo độ cao
+ Đo D T bằng cách dùng dây đo vuông góc với nhau theo hình chiếu của tán xuống mặt đất, đƣợc 2 chỉ số ta lấy trung bình
Trong nghiên cứu cây tái sinh, chúng tôi tiến hành đo đếm số lượng cây gỗ tái sinh trong ô hình dạng bản có diện tích 20 m² Phương pháp khảo sát được thực hiện theo cách bố trí 5 điểm, bao gồm 4 ô ở 4 góc và 1 ô ở giữa Mục tiêu của việc này là xác định các loài cây tái sinh, nguồn gốc tái sinh cũng như đánh giá chất lượng sinh trưởng của cây tái sinh.
Kết quả của công tác điều tra thu được ghi vào mẫu biểu dưới đây:
Mẫu biểu 06: Biểu điều tra cây tái sinh OTC:………Tọa độ:……….Vị trí:……… Diện tích:………….Độ cao:………Ngày điều tra:………… Độ dốc:………Trạng thái:………Người điều tra:……
Số cây theo cấp chiều cao (m)
Chất lƣợng tái sinh Tổng
+ Cây sinh trưởng tốt: Lá to có màu xanh đậm, thân mập, mọng nước, thẳng không cụt ngọn, không cong queo, không sâu bệnh hại
+ Cây sinh trưởng trung bình (TB): Lá có màu xanh nhạt hơn, không cụt ngọn, không cong queo, không sâu bệnh hại
+ Cây sinh trưởng xấu: Lá ngả vàng, khô, cụt ngọn, sâu bệnh hại
Đặc điểm sinh trưởng của loài Lùng
Điều tra được thực hiện thông qua phương pháp kế thừa số liệu nghiên cứu và các tài liệu liên quan đến loài lùng thuộc phân họ tre nứa, kết hợp với phỏng vấn cán bộ quản lý và người dân.
Điều tra các điều kiện vật hậu của loài thông qua những hiện tượng quan sát như thời điểm măng bắt đầu mọc, mùa măng mọc rộ, giai đoạn măng đã định hình, thời gian ra lá, mùa rụng lá, màu sắc hoa và quả.
Kết quả của công tác điều tra thu được ghi vào mẫu biểu dưới đây:
Mẫu biểu 07: Biểu mô tả đặc điểm vật hậu Loài: Ngày điều tra: Địa điểm: Người điều tra: Hiện tƣợng quan sát
Măng bắt đầu xuất hiện
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH, KINH TẾ, XÃ HỘI
Điều kiện tự nhiên
KBTTN Xuân Nha tọa lạc tại huyện Vân Hồ, bao gồm các xã Xuân Nha, Tân Xuân và Chiềng Xuân, với tọa độ địa lý từ 20°34’ đến 20°54’ vĩ độ Bắc và 104°28’ đến 104°50’ kinh độ Đông Khu rừng đặc dụng này giáp ranh với ba tỉnh Sơn La, Hòa Bình và Thanh Hóa, cách thành phố Sơn La khoảng 120 km.
Phía Bắc giáp xã Mường Sang, Vân Hồ, Lóng Luông huyện Vân Hồ
Phía Tây giáp nước CHDCND Lào và huyện Mộc Châu
Phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá
Phía Đông giáp Khu bảo tồn Hang Kia Pà Cò, tỉnh Hoà Bình
3.1.2 Đặc điểm địa hình, địa thế
Khu rừng đặc dụng Xuân Nha nằm ở địa hình hiểm trở với độ dốc cao và đỉnh Pha Luông cao 1.969 m, tạo nên sự đa dạng phong phú về động, thực vật Đây được xem là khu vực đặc trưng cho hệ sinh thái hoang dã tại Tây Bắc Việt Nam.
Nhiệt độ: Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9 có nhiệt độ trung bình 20-
Nhiệt độ trung bình là 25 độ C với độ ẩm không khí dao động từ 80-85% Từ tháng 10 đến tháng 04 năm sau, nhiệt độ thường giảm xuống dưới 20 độ C Trong mùa đông, nhiệt độ có thể xuống dưới 13 độ C, thậm chí có lúc giảm tới 3-5 độ C.
Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 1700 đến 2000mm, với mưa lớn chủ yếu diễn ra từ tháng 5 đến tháng 9 Trong mùa mưa, hiện tượng ngập úng cục bộ thường xảy ra trong thời gian ngắn tại các thung lũng và khe suối.
Gió: Hướng gió thịnh hành của khu bảo tồn là Đông Bắc, Đông Nam
Hàng năm và các tháng 4 - 8 đôi khi có gió Tây nam khô nóng xuất hiện hiện mỗi đợt 2 - 4 ngày với tốc độ gió 10 - 15 (m/g)
Sương mù: Sương mù thường xuất hiện vào tháng 1 – 2 hàng năm 3.1.4 Thủy văn
Khu vực có 3 hệ thống suối lớn là: Suối Quanh, Suối Con chảy ra Sông
Mã và Suối Sập chảy về Yên Châu, sau đó đổ ra sông Đà, tạo nên một hệ thống suối phong phú với nhiều suối ngầm, suối cụt, mó nước và hang nước Hệ thống suối này luôn có nước quanh năm, góp phần vào cảnh quan thiên nhiên đa dạng của khu vực.
Các nguồn tài nguyên
Trong khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha có 6 loại đất chính:
Đất Feralit màu vàng sẫm phát triển trên đá sét hoặc biến chất, tầng đất dày, thành phần cơ giới trung bình, phân bố ở độ cao 700 – 1700 m
Đất Feralit có màu vàng nâu, thường phát triển trên nền đá vôi hoặc đá vôi biến chất Loại đất này thường có tầng mỏng, với thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, và thường phân bố ở độ cao từ 700 đến 1700 mét.
Đất Feralit màu vàng nhạt phát triển trên đá sét hoặc biến chất, tầng đất dày, thành phần cơ giới trung bình phân bố ở độ cao 700 – 1700 m
Đất Feralit có màu vàng nhạt hoặc vàng xám, hình thành trên các loại đá như phiến thạch sét, phấn sa, đá cát, sa thạch và sỏi cuội kết Loại đất này thường xuất hiện ở những vùng đồi núi thấp, với độ cao từ 300 đến 1000 mét và có tầng đất dày cùng thành phần cơ giới trung bình hoặc nhẹ.
Đất Feralit màu vàng xám biến đổi do trồng lúa, có thành phần cơ giới trung bình, phân bố quanh làng bản
Đất dốc tụ phân bố ven chân núi, ven sông, suối
Dựa trên bản đồ hiện trạng rừng được xây dựng từ ảnh Spot 5 và điều tra thực địa, cùng với kết quả rà soát 3 loại rừng, khu rừng đặc dụng Xuân Nha hiện có các trạng thái rừng đa dạng.
Biểu 3.1: Hiện trạng rừng đặc dụng Xuân Nha, phân theo xã năm 2013 Đơn vị tính: ha
Tân Xuân Xuân Nha Tổng cộng 16.316,80 3.749,80 11.799,50 767,50
Rừng hỗn giao gỗ nứa 483,20 483,20
3 Đất trống có cây gỗ rải rác (IC) 364,90 364,90
(Nguồn: Số liệu TN năm 2010 và ết quả phúc tra tháng 05 năm 2013)
Đặc điểm các trạng thái rừng như sau:
Rừng giàu trong khu đặc dụng có diện tích 7821,4 ha, chiếm 52,7% tổng diện tích đất có rừng, chủ yếu tập trung tại các tiểu khu 1005, 1003B, 1016A trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Với chiều cao cây gỗ từ 18 – 25 m và đường kính bình quân 25 - 30 cm, rừng này có trữ lượng gỗ đạt 210 - 230 m³/ha và cấu trúc ổn định Đây là nguồn tài nguyên quý giá với nhiều gen đặc hữu, cần được bảo vệ để phát huy vai trò trong việc phòng hộ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và phục vụ cho nghiên cứu khoa học cũng như du lịch sinh thái.
Rừng trung bình có diện tích 944,9 ha, chiếm 6,4% tổng diện tích đất có rừng và phân bố rải rác trên tất cả các phân khu chức năng của khu đặc dụng Độ tàn che của rừng dao động từ 0,6 đến 0,8, với chiều cao trung bình của cây rừng đạt từ 16 đến 18m và đường kính trung bình từ 20 đến 25 cm Trữ lượng bình quân của rừng nằm trong khoảng 110 đến 130 m³/ha.
Rừng nghèo, với diện tích 1198,4 ha, chiếm 8,1% tổng diện tích đất có rừng của khu rừng đặc, chủ yếu tập trung tại phân khu phục hồi sinh thái gần các khu dân cư như bản Khò Hồng và Chiềng Him Sự suy giảm này là hệ quả của quá trình khai thác quá mức kéo dài Độ tàn che của rừng chỉ đạt từ 0,3 đến 0,4, với đường kính trung bình của cây rừng từ 20 đến 24 cm, và trữ lượng bình quân dưới 100 m³/ha.
Rừng phục hồi tại khu vực này có diện tích 1.723 ha, chiếm 11,6% tổng diện tích đất có rừng, chủ yếu tập trung gần các khu canh tác nông nghiệp Đây là kết quả của quá trình tái sinh sau canh tác nương rẫy và khai thác kiệt, với trữ lượng rừng thấp, chỉ đạt từ 50 - 70 m³/ha.
Rừng hỗn giao: Diện tích 483,2 ha, chiếm 3,3% diện tích đất có rừng
Rừng hỗn giao phân bố tập trung chủ yếu tại tiểu khu 1007A Rừng có độ tàn che từ 0,4-0,6
Rừng tre nứa có diện tích 2703,2 ha, chiếm 18,0% tổng diện tích đất rừng, tập trung chủ yếu tại các tiểu khu 1007A, 1017B, 1015A, 1015B, nằm dọc theo tuyến đường đi Thanh Hóa và đường vào bản Sa Lai Loài cây chủ yếu trong khu vực này là Vầu.
(Lùng), cây có đường kính 4 - 6 trong rừng có nhiều dây leo bụi rậm, mật độ dày < 8000 cây/ha
Rừng trên núi đá có diện tích 6,5 ha, chiếm 0,04% tổng diện tích rừng trong khu đặc dụng Rừng này tập trung tại tiểu khu 1003, với các loài cây chủ yếu như Kháo đá, Mạy tèo, Thị rừng, Bời lời và Hồng bì Trữ lượng rừng đạt từ 50 - 70 m³/ha.
Đất chưa có rừng tại khu rừng đặc dụng chiếm 9,6% với diện tích 1436,2 ha, trong đó đất trống Ia và Ib chiếm 74,4% Hiện trạng cho thấy diện tích đất trống này đang bị xâm canh, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của rừng.
3.3 Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội của khu BTTN Xuân Nha, tỉnh Sơn La
Theo kết quả điều tra tháng 5 năm 2013, dân số của 5 xã là 23.405 nhân khẩu với 5.309 hộ, bao gồm 6 dân tộc khác nhau: Thái, Mường, Mông, Kinh, Tày và Khơ Mú Dân tộc Thái chiếm tỷ lệ lớn nhất với 34%, tiếp theo là dân tộc Mông với 15% Tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm đạt 1,05%.
Trong khu vực, nguồn lao động chủ yếu chiếm 54% với 12,620 người, trong đó lao động trong ngành sản xuất nông lâm nghiệp chiếm hơn 90% Dữ liệu về dân số và lao động được trình bày chi tiết trong bảng dưới đây.
Bảng 3.2: Dân số, lao động, nhân khẩu KBTTN Xuân Nha
Bản/T.Khu Số hộ Nhân
(Nguồn: Theo niên giám thống ê năm 2012, có điều tra bổ sung tháng 05/2013)
Khu BTTN Xuân Nha nổi bật với 5 bản dân cư sinh sống trong khu bảo vệ nghiêm ngặt, bao gồm 532 hộ và 2542 nhân khẩu Ngoài ra, phân khu phục hồi sinh thái có 3 bản với 332 hộ và 1514 nhân khẩu Đặc biệt, hầu hết cư dân ở đây là đồng bào H’mông, những người đã gắn bó lâu dài với rừng thông qua tập quán canh tác nương rẫy trong khu vực này.
3.3.2 Cơ sở hạ tầng, giao thông, thủy lợi
3.3.2.1 Giao thông a) Đường liên huyện, xã
Khu BTTN Xuân Nha hiện có tuyến đường 43b kết nối Mộc Châu với Lóng Sập và Lào, cùng với các đường từ quốc lộ 6 vào UBND xã Xuân Nha Đặc biệt, đường từ UBND xã Chiềng Sơn nối tới các bản Co Phương và trạm kiểm lâm Chiềng Xuân đang được thi công cầu bắc qua suối Quanh, kết nối với bản Khò Hồng và các bản giáp biên giới Việt – Lào Ngoài ra, khu vực còn có nhiều đường mòn giúp giao lưu với các khu vực lân cận.
Hệ thống đường liên bản trong khu vực đã được mở rộng, nhưng vẫn chưa được cứng hóa mặt đường, dẫn đến việc di chuyển gặp khó khăn, đặc biệt trong mùa mưa.
Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế, xã hội tại khu
3.4.1 Những thuận lợi, lợi thế
Khu BTTN Xuân Nha sở hữu tài nguyên thực vật và đất đai phong phú, tạo điều kiện lý tưởng cho sự phát triển đa dạng sinh học Điều này không chỉ góp phần bảo tồn thiên nhiên mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững cho tỉnh Sơn La.
Sự phân bố của các loài có giá trị kinh tế cao không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nhân nuôi giống mà còn giúp đạt được hiệu quả kinh tế cao, từ đó góp phần ổn định đời sống của người dân địa phương.
Trong những năm gần đây, các biện pháp bảo vệ rừng như giao đất canh tác và giao rừng cho người dân quản lý đã giúp giảm đáng kể tình trạng phá rừng Điều này không chỉ tăng cường độ che phủ rừng mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bảo tồn các loài sinh vật quý hiếm tại khu BTTN Xuân Nha.
3.4.2 Những khó khăn thách thức
Các xã nằm trong khu bảo tồn thuộc vùng sâu, vùng xa và biên giới thường gặp nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế - xã hội Tỷ lệ hộ nghèo ở đây vẫn còn cao, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Hơn 40% hộ gia đình trong khu vực sống trong tình trạng nghèo khó, chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông - lâm nghiệp và tài nguyên rừng Nông nghiệp ở đây chủ yếu là làm nương rẫy, nhưng diện tích đất canh tác hạn chế và độ dốc lớn khiến cho việc sản xuất gặp nhiều khó khăn Hơn nữa, quá trình phá rừng để làm nương đã diễn ra từ lâu, dẫn đến tình trạng rửa trôi đất mạnh mẽ, làm giảm hiệu quả canh tác.
Trình độ dân trí thấp và chất lượng lao động hạn chế đã dẫn đến việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật một cách hạn chế Hầu hết các hộ gia đình vẫn duy trì phương thức canh tác truyền thống, chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên đất và rừng một cách không bền vững.
Đời sống của các dân tộc trong khu vực gặp nhiều khó khăn, điều này dẫn đến việc người dân phải vào rừng để khai thác lâm sản.
Khu vực có địa bàn rộng và địa hình phức tạp, với các cụm dân cư sống rải rác và nhiều bản làng nằm ở vị trí cao xa, gây ra những thách thức lớn cho việc đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng như hạ tầng xã hội.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm hình thái, vật hậu loài Lùng
Từ mẫu vật quan sát tại hiện trường, tôi đưa ra một số đặc điểm hình thái loài Lùng nhƣ sau:
Hình 4.1: Hình thái thân ngầm
Thân ngầm của loài Lùng phát triển ở dạng mọc cụm, các cụm mọc lan trong đất, kết cấu thân ngầm thƣa với khoảng các thân ngầm cách nhau 20 –
Cây có chiều cao từ 50 cm với đường kính trung bình từ 4 – 6 m² mỗi bụi, được trồng cách nhau 5 – 6 m Thân ngầm có đường kính lớn nhất từ 8 – 10 cm, đặc và cứng, với sự phân chia thành các đốt, mỗi thân ngầm có từ 18 – 23 đốt, chiều dài đốt từ 0,05 – 0,15 cm và được bao bọc bởi các lá mo Các mắt nổi trên thân ngầm thường rõ hơn ở thân ngầm non Chiều cao thân ngầm dao động từ 15 – 20 cm, với các vòng rễ bắt đầu từ đốt tiếp xúc với mặt đất, mọc hướng xuống đất, có nhiều rễ con với đường kính từ 0,015 – 0,02 cm, và các thân ngầm được nối với nhau.
Thân mẹ của cây có chiều dài từ 1 đến 2 cm, với cổ thân ngầm đặc và cứng Các thân ngầm này thường nối tiếp nhau, có chiều dài từ 10 đến 30 cm, và đôi khi nhô lên khỏi mặt đất Phần ngọn của thân ngầm được bao bọc bởi một lớp mo rất cứng và khỏe.
Trung bình, cây Lùng có chiều cao từ 14 đến 20 mét và được chia thành nhiều lóng, với giới hạn giữa các lóng là các đốt Vòng thân, hay còn gọi là vòng rễ, nằm giữa các đốt và vòng mo Trên các đốt của thân, các cành mọc đối nhau tại các lóng liền kề, trong khi các vòng mo nổi rõ trên thân cây.
Thân cây khí sinh thường nhẵn, rỗng và có các đốt nổi rõ, với độ dài lóng ở giữa dài nhất từ 1 – 1,2 m và ngắn lại ở hai đầu, chiều dài trung bình của thân khí sinh khoảng 60 – 70 cm Số đốt bình quân của thân lớn có đường kính 8 – 9 cm là 29 – 32 đốt, trong khi cây trung bình (đường kính 6 – 7 cm) có 24 – 28 đốt, và cây nhỏ (đường kính 4 – dưới 6 cm) có 18 – 23 đốt Đặc điểm đốt thay đổi từ gốc đến ngọn, với các đốt gốc thường to và tròn, vòng rễ nổi nằm bên dưới vòng mo, và các đốt chưa phân cành không bị lõm sâu như khi phân cành Cây non có vòng rễ nổi rõ hơn so với cây già và trung bình Độ dày lóng giảm dần từ gốc lên ngọn, với độ dày cao nhất ở gốc cây lớn từ 0,7 – 0,9 cm, cây trung bình từ 0,6 – 0,7 cm, và cây nhỏ từ 0,4 – 0,6 cm Độ dày trung bình của lóng cây khí sinh lớn nằm trong khoảng 0,4 – 0,5 cm, cây trung bình từ 0,3 – 0,4 cm, và cây non đạt 0,25 – 0,35 cm Cây già thường có bề dày tốt hơn so với cây non đang phát triển.
Các thân khí sinh thường mọc cách nhau trung bình từ 10 – 30 cm vòng với nhau tạo thành một bụi, mỗi bụi mọc cách nhau trung bình từ 4 – 6 m
Lùng thường phân cành ở độ cao từ 9 đến 14 mét tại các đốt thứ 10 đến 14, với mỗi đốt có trung bình từ 10 đến 25 cành tùy thuộc vào kích thước cây Các cành được sắp xếp theo 3 đến 4 lớp, tạo thành góc 45 đến 60 độ giữa cành và thân Lớp đầu tiên gần nhất với lóng gồm 5 đến 6 cành lớn có đường kính từ 0,2 đến 0,4 cm, với cành lớn nhất nằm ở trung tâm Các cành nhỏ hơn xếp đối xứng hai bên cành trung tâm, trong khi lớp thứ hai có từ 10 đến 15 cành nhỏ hơn xếp bên ngoài lớp đầu tiên.
4 là những cành bé xếp ngoài cùng có số lượng thường nhiều hơn 2 đốt trên, ở
2 đốt này các cành nhỏ thường dễ bị khô và chết so với 2 lớp trong
Màu sắc của thân cây sinh trưởng thay đổi theo độ tuổi, với cây non có màu xanh nhạt và bóng, phủ lớp phấn trắng Cây trưởng thành có màu xanh đậm hơn, trong khi cây già thường xuất hiện nhiều địa y và mốc trên thân.
Sau đây một số bảng giải phẫu cây theo từng vị trí:
Bảng 4.1a: Kết quả giải phẫu cây ở vị trí chân
Bề dày lóng trung bình (cm) Đốt phân cành
Bảng 4.1b: Kết quả giải phẫu cây ở vị trí sườn
Bề dày lóng trung bình (m) Đốt phân cành
Bảng 4.1c: Kết quả giải phẫu cây ở vị trí đỉnh
D L (cm) Bề dày lóng trung bình (cm) Đốt phân cành
Hình 4.2: So sánh đốt mang cành và đốt chƣa phân cành
Hình 4.3: Màu sắc của cây Hình 4.4: Độ dày lóng
Hình 4.5: Đặc điểm lóng và đốt loài Lùng
Khác với những loài cây khác, tre nứa nói chung và loài Lùng nói riêng đều có 2 loại lá: lá quang hợp và lá mo
Phiến lá Lùng có hình ngọn giáo, dài từ 15 – 30 cm và rộng 2,5 – 4,5 cm, với đầu nhọn và đuôi lá hình nêm hơi lệch Mặt trước lá có màu xanh đậm hơn mặt sau, thường có lớp phấn trắng, trong khi mặt sau nhạt hơn Lá có một gân chính nổi rõ và 8 – 12 đôi gân bên song song Mỗi cành phụ mang từ 7 – 15 lá, mép lá có răng cưa nhỏ sắc và cứng Lá non có màu xanh lá mạ, lá già chuyển sang màu xanh đậm, trước khi rụng lá sẽ có màu vàng nhạt, và khi khô sẽ có màu nâu xám Lá Lùng mọc cách trên cành, xếp thành một mặt phẳng.
Bẹ lá hình trụ không kín, với phần dưới bó sát cành phình to hơn và phần trên gắn với cuống lá Bẹ có chiều dài từ 8 – 15 cm, có thìa lìa và 2 tai mỏng dài từ 1,5 – 3,5 cm, mỗi tai có từ 5 – 10 lông hình sợi.
Lùng là loài thay lá hàng năm vào mùa khô, phiến lá thường rụng trước sau đến bẹ lá
Lá mo là loại lá có nhiệm vụ bảo vệ thân cây nhằm giảm bớt các tác hại bên ngoài tác động đến cây
Lá mo thường ôm lấy cây với tỷ lệ 100% ở gốc và hơn 50% khi tiến về đầu lá Cấu tạo của lá mo bao gồm nhiều bộ phận như bẹ lá, tai mo, bẹ mo và thìa lìa.
Bẹ mo có hình chuông với kích thước dài từ 22 đến 30 cm và rộng từ 25 đến 30 cm Bề mặt bên ngoài của bẹ mo cứng, màu nâu xám và được phủ một lớp phấn trắng, có các sọc nhỏ dọc theo thân Mặt trong của bẹ mo có màu nâu sáng bóng, với hai bên mép mỏng và dễ bị rách.
Lá mo hình ngọn giáo, dài 10 – 14 cm, rộng 4 – 6 cm, đầu lá nhọn, mép bóng, có sợi chạy dọc lá
Tai mo có lông màu nâu dài từ 1 đến 3 cm, với mỗi tai chứa từ 8 đến 12 lông Khi lá mo rụng, lông thường rụng theo và để lại dấu vết trên tai mo.
Sau khi rụng đi lá mo sẽ để lại sẹo cho thân khí sinh gọi là vòng mo
Hình 4.6: Hình thái lá quang hợp
Hình 4.7: Hình thái lá mo
4.1.3 Đặc điểm vật hậu loài Lùng
Bảng 4.2: Điều kiện vật hậu của loài Lùng tại khu BTTN Xuân Nha
Măng bắt đầu xuất hiện
Qua quá trình thu thập tài liệu và phỏng vấn người dân địa phương, bài viết đã tổng hợp được những kinh nghiệm quý báu về cây Lùng và loài tre nứa Bảng 4.2 cung cấp các đặc điểm vật hậu của cây, giúp hiểu rõ hơn về sự sinh trưởng của cây qua các giai đoạn khác nhau.
Theo bảng 4.2, loài Lùng có chu kỳ sinh trưởng gần như liên tục trong năm, với sự biến đổi rõ rệt Tháng 4 và tháng 5 là giai đoạn ít có sự thay đổi nhất Mùa măng bắt đầu từ tháng 6.
Lùng thường mọc rộ vào tháng 8 và tháng 9, sau đó định hình trong các tháng 10, 11 và 12, với một ít vào tháng 1 Lá của loài này phát triển vào mùa xuân, từ tháng 1 đến tháng 3, và rụng vào mùa đông vào tháng 11 và tháng 12 Điều này cho thấy loài Lùng chịu ảnh hưởng mạnh từ khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, sinh trưởng tốt trong mùa mưa và chậm lại trong mùa khô, với điều kiện khí hậu khu vực đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của loài.
Đặc điểm phân bố của loài Lùng tại khu vực nghiên cứu
Bản đồ hiện trạng rừng cho thấy loài Lùng tập trung chủ yếu ở bản Bướt và các rìa xung quanh như bản Sa Lai, bản Tây Tà Lào, và một phần ranh giới tỉnh Thanh Hóa Khu vực điều tra được chọn là bản Bướt với 5 tuyến điều tra qua các dạng địa hình khác nhau, kết quả thể hiện trong bảng 4.3 cho thấy loài Lùng chủ yếu phân bố ở trạng thái thuần loài trong khu vực diện tích tương đối hẹp, từ chân đến đỉnh núi với độ cao từ 200 m đến 600 m Ở tuyến điều tra trạng thái hỗn giao, diện tích hỗn giao rất thấp, chủ yếu là hỗn giao TN – G với loài cây chính là nứa; loài Lùng chỉ xuất hiện ở trạng thái này khi độ cao trên 400 m với số lượng ít, cùng một số loài cây hỗn giao như vả, sung, ngát, mán đỉa, ngái.
Theo thông tin từ bản đồ hiện trạng và phỏng vấn cán bộ quản lý khu BTTN Xuân Nha cùng xã Tân Xuân, loài Lùng tập trung chủ yếu tại bản Bướt – xã Tân Xuân, với tổng diện tích phân bố lên tới 2023,4 ha Các tiểu khu 1015A, 1015B, 1017A, 1017B và một phần tiểu khu 1007A chiếm hơn 91,76% diện tích có sự hiện diện của loài Lùng Trong khi đó, trạng thái Lùng xen gỗ chỉ được ghi nhận tại tiểu khu 1007A, chiếm khoảng 8,24% diện tích phân bố của loài này trong khu vực.
Bảng 4.3: Bảng phân bố của loài Lùng tại khu BTTN Xuân Nha
TT Trạng thái rừng Tiểu khu Khoảnh Diện tích
Đặc điểm cấu trúc lâm phần Lùng
4.3.1.1 Cấu trúc mật độ rừng Lùng ở trạng thái thuần loài
Bảng 4.4: Cấu trúc mật độ rừng lùng thuần loài
Khu vực nghiên cứu đã điều tra 9 OTC với tổng số 270 bụi, trung bình 37,66 bụi/OTC và 36,79 cây/bụi Chiều cao trung bình đạt 17,758 m và đường kính 6,65 cm, với tổng số cây bình quân 13.858 cây/ha Suy ra tổng số bụi/ha là 376,66 bụi/ha, cho thấy mật độ tương đối cao trong trạng thái thuần loài Điều này được giải thích bởi sự tác động ít của con người trong rừng tự nhiên, tạo điều kiện phát triển tốt cho loài, giúp bảo vệ tài nguyên đất, ngăn ngừa xói mòn và rửa trôi, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững trong khu vực nghiên cứu.
Nghiên cứu thực địa cho thấy độ tàn che của khu vực là 0,78, cho thấy sự phát triển hợp lý của loài cây trong trạng thái Lùng thuần loài Độ tàn che này nằm ở mức trên trung bình, điều này có thể được giải thích bởi việc tầng tán cây phân nhánh muộn, dẫn đến độ tàn che không cao như những loài cây khác.
Trong trạng thái rừng Lùng thuần loài, việc xét nghiệm được thực hiện cho từng vị trí khác nhau, cho ra kết quả cụ thể Tại mỗi đai cao, ba mẫu OTC được đo ở ba tuyến khác nhau, và các chỉ số trung bình được sử dụng để đưa ra nhận xét.
Bảng 4.5: Cấu trúc mật độ rừng Lùng theo vị trí
(Nbụi/ OTC) (Nbụi/ ha) (Ncây/ ha)
Kết quả từ bảng 4.5 cho thấy sự biến đổi rõ rệt về mật độ, kích cỡ và chiều cao của quần thể theo vị trí trạng thái Cụ thể, khi độ cao tăng, số lượng bụi trong một OTC giảm, với vị trí chân có số lượng bụi tương đối cao.
Số lượng cây trong các bụi tăng dần theo độ cao, với 13.153 cây/ha ở chân đồi, 13.779 cây/ha ở sườn và 14.637 cây/ha ở đỉnh Tuy nhiên, đường kính D 1.3 và chiều cao H vn của cây lại giảm theo độ cao, cụ thể là ở chân đồi D 1.3 là 6,77 cm và H vn là 18,08 m, trong khi ở sườn lần lượt là 6,66 cm và 17,73 m, và ở đỉnh chỉ còn 6,51 cm và 17,46 m Điều này cho thấy loài Lùng có sự biến đổi về mật độ, kích thước và chiều cao khi phân bố ở các vị trí theo đai cao khác nhau Khi lên cao, điều kiện khí hậu và tác động từ con người giảm, khiến số lượng cây tăng nhưng số bụi lại giảm do cây chiếm diện tích lớn hơn Tuy nhiên, độ dốc cao và điều kiện đất kém dinh dưỡng làm cho cây phát triển kém về kích thước và chiều cao.
4.3.1.2 Cấu trúc mật độ rừng Lùng xen gỗ
Trạng thái Lùng xen gỗ có phạm vi phân bố hẹp và điều kiện nghiên cứu theo đai cao không phù hợp, vì vậy đề tài tiến hành nghiên cứu theo trạng thái Trong nghiên cứu, chúng tôi đã thực hiện đo đếm trong 3 OTC và thu được những kết quả đáng chú ý.
Bảng 4.6: Cấu trúc mật độ rừng Lùng xen gỗ
Tại khu vực nghiên cứu, ba OTC được điều tra với tổng số 73 bụi, trung bình có 24,3 bụi mỗi OTC và 243 bụi mỗi hecta Số cây trung bình trên mỗi bụi đạt 28,35 cây, trong khi chiều cao trung bình của cây lên tới 17,14 mét và đường kính cũng được ghi nhận.
Chiều cao trung bình của cây ở trạng thái Lùng xen gỗ chỉ đạt 6,26 cm với tổng số cây bình quân là 6890 cây/ha, cho thấy số bụi trong một OTC tương đối thấp và số cây phân bố hạn chế Sự cạnh tranh sinh trưởng từ các loài cây gỗ khác có thể là nguyên nhân chính làm giảm diện tích phân bố và số lượng cây trong từng bụi, từ đó hạn chế sự tăng trưởng về kích thước và chiều cao của cây.
4.3.2.1 Cấu trúc tuổi rừng Lùng thuần loài
Bảng 4.7: Cấu trúc tuổi của rừng Lùng thuần loài
Tuổi non Tuổi TB Tuổi già
Kết quả cho thấy cấu trúc tuổi của rừng Lùng ở trạng thái thuần loài có sự phân biệt rõ rệt giữa các nhóm tuổi non.
Tuổi trung bình và tuổi già có sự chênh lệch không lớn, với tỷ lệ cây ở tuổi non chiếm 20,34% Tuổi trung bình là nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số cây.
Cấu trúc tuổi của rừng đang phát triển ở mức trung bình, với tỷ lệ cây ở độ tuổi 41 là 72% và độ tuổi già là 37,94% Sự chênh lệch này cho thấy giai đoạn chậm phát triển của lô rừng, phần nào bị ảnh hưởng bởi tác động của con người và động vật trong rừng, làm thay đổi phân bố cấu trúc theo tuổi của loài cây Ngoài ra, chu kỳ phát triển của cây trong một khoảng thời gian nhất định cũng ảnh hưởng đáng kể đến số lượng cây theo từng cấp tuổi.
Ngoài điều tra theo trạng thái còn tiến hành điều tra theo từng vị trí, nên ta có kết quả sau:
Bảng 4.8: Cấu trúc tuổi của rừng Lùng theo vị trí
Tuổi non Tuổi TB Tuổi già Tổng
Theo bảng 4.8, số lượng cây phân bố theo địa hình cho thấy tổng số cây tăng dần từ chân đến đỉnh đồi, với số cây ở vị trí chân là
Tại khu vực nghiên cứu, số lượng cây phân bố ở vị trí chân là 1012 cây/OTC, ở sườn là 1086 cây/OTC, và tại đỉnh đạt tối đa 1238 cây/OTC Sự phân bố cây theo cấp tuổi từ non đến già thể hiện xu hướng tăng dần, đặc biệt ở vị trí đỉnh với tỷ lệ cây non, trung bình và già lần lượt là 19,44%, 38,89% và 41,67% Ở hai vị trí chân và sườn, tuổi trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo là tuổi già và cuối cùng là tuổi non Điều này cho thấy lâm phân Lùng trong khu vực đang trong giai đoạn chậm phát triển và có xu hướng phát triển không bền vững.
4.3.2.2 Cấu trúc tuổi của rừng Lùng xen gỗ
Bảng 4.9: Cấu trúc tuổi của rừng Lùng xen gỗ
Tuổi non Tuổi TB Tuổi già Tổng
Kết quả từ bảng 4.9 cho thấy sự phân bố phần trăm số cây theo các cấp tuổi ở các OTC là tương đối đồng đều, cho thấy trạng thái Lùng xen gỗ có sự phân bố tuổi cây khá đồng nhất Cụ thể, tỷ lệ cây non chiếm 21,51%, trong khi hai cấp tuổi trung bình và già có tỷ lệ gần như bằng nhau, lần lượt là 38,99% và 39,5% Những kết quả này chỉ ra rằng lâm phần Lùng xen gỗ đang ở giai đoạn phát triển trung bình, một phần do sự cạnh tranh về dinh dưỡng, ánh sáng và nguồn nước với các loài cây khác, dẫn đến sự phát triển kém và tỷ lệ chết cao ở cây non, ảnh hưởng đến số lượng cây ở cấp tuổi này.
4.3.3.1 Cấu trúc tầng thứ rừng Lùng thuần loài
Cấu trúc tầng thứ trong rừng đề cập đến cách sắp xếp không gian của các thành phần sinh vật, bao gồm cả mặt bằng và chiều cao của lâm phần.
Đặc điểm đất nơi có sự phân bố của loài Lùng tại khu BTTN Xuân Nha
Tiến hành đào phẫu diện với 4 mẫu đất tại khu vực có loài Lùng phân bố ở xã Tân Xuân, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, thuộc khu BTTN Xuân Nha Các mẫu đất được bảo quản và phân tích tại Bộ môn Đất, Trường Đại học Lâm nghiệp, cho kết quả như sau:
Bảng 4.11: Đặc điểm đất khu vực có loài Lùng phân bố tại khu BTTN Xuân Nha
Chỉ tiêu hình thái đất Chỉ tiêu vật lý Chỉ tiêu hóa học đất Độ dày tầng đất
(cm) Đá lộ đầu (%) Đá lẫn (%)
Thành phần cơ giới Độ xốp
(Quá trình nhận xét số liệu được thảm khảo tại giáo trình Thổ nhưỡng
I, Bộ môn Khoa học đất, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam)
Theo số liệu tại bảng 4.11, đặc điểm đất cho thấy các tính chất phù hợp cho sự phát triển của loài Lùng, với độ dày tầng đất trung bình đạt 68,375 cm, đá lộ đầu chiếm 35% và đá lẫn đạt 30%.
Tỷ trọng đất trong khu vực nghiên cứu đạt 2,38 g/cm³, cho thấy đây là loại đất có hàm lượng mùn cao Thành phần cơ giới của đất dao động từ 44,44% đến 54,198%, thuộc loại đất thịt trung bình Ngoài ra, độ xốp của đất đạt 57,5%, cho thấy đây là loại đất có độ xốp cao.
Đất có pH đạt 6 được xem là đất trung tính, trong khi hàm lượng mùn đạt 4,08% cho thấy đây là loại đất giàu mùn.
Hàm lượng N dễ tiêu đạt 3,66 mg/100g đất, cho thấy mức độ nghèo về đạm P dễ tiêu chỉ đạt 0,215 mg/100g đất, thuộc mức rất nghèo về lân Trong khi đó, hàm lượng K dễ tiêu đạt 11,6 mg/100g đất, cho thấy mức độ trung bình về Kali.
Kết quả phân tích đất cho thấy khu vực phân bố của loài Lùng tại khu BTTN Xuân Nha thuộc nhóm đất Feralit, với loại đất Feralit vàng xám phát triển trên phiến thạch sét, phấn sa, đá cát, sa thạch và sỏi cuội kết Đặc điểm nổi bật của khu vực này là tầng đất trung bình, có thành phần cơ giới đất thịt trung bình hoặc nhẹ và hàm lượng mùn cao.
Một số tác động, ảnh hưởng và đề xuất giải pháp góp phần phát triển bền vững loài Lùng tại khu BTTN Xuân Nha
4.5.1 Tác động của tự nhiên
Sự thay đổi môi trường sống đã tạo điều kiện cho các loài động, thực vật ngoại lai xâm nhập và phát triển Hoạt động buôn bán và sự xâm nhập của các loài động vật này đang đe dọa tính ổn định và đa dạng của hệ sinh thái Các loại cây ngoại lai xâm nhập có thể gây giảm sút diện tích và chất lượng khu vực sinh thái.
Sự phân bố của loài và tranh chấp về chất dinh dưỡng từ đất đang gia tăng, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng sinh trưởng Lâm phần Lùng phải đối mặt với nhiều tác động từ điều kiện tự nhiên như mưa bão và sói mòn, dẫn đến mất sinh cảnh sống và ảnh hưởng đến cây tái sinh Ngoài ra, điều kiện tự nhiên cũng tạo điều kiện cho sự phát triển của sâu bệnh, làm giảm số lượng sinh trưởng trung bình hàng năm và ảnh hưởng lớn đến chất lượng sinh trưởng của loài.
4.5.2 Tác động của con người
Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha là nơi sinh sống chủ yếu của cộng đồng người Mông, Thái, Mường Hàng năm, do nhu cầu cuộc sống và điều kiện kinh tế khó khăn, việc tác động vào tự nhiên tại đây là khó tránh khỏi Điều này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn tài nguyên đất và rừng, cũng như đa dạng sinh học trong khu bảo tồn.
Hành động khai thác bừa bãi loài Lùng tại khu BTTN Xuân Nha vẫn tiếp diễn, đặc biệt ở khu vực giáp danh tỉnh Thanh Hóa, gây ra xu hướng lấn chiếm diện tích rừng của khu bảo tồn Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của loài Lùng Bên cạnh đó, việc người dân khai thác nhỏ lẻ trong khu vực để phục vụ nhu cầu gia đình như làm hàng rào và đan lát cũng đang rất phổ biến.
Gần đây, các vụ cháy rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha và khu vực xung quanh chủ yếu do hoạt động của con người gây ra, bao gồm việc phát đốt nương rẫy, đốt lửa để lấy mật ong và sử dụng lửa tự do trong rừng.
Phát rừng để làm nương rẫy và phá rừng cho sản xuất cây lương thực đã dẫn đến mất mát diện tích rừng lớn, làm cạn kiệt nguồn thức ăn cho nhiều loài động vật, gây thiếu hụt nguồn nước và thiêu hủy một số loài thực vật Hậu quả là môi trường sống bị thu hẹp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái.
56 trường sống của một số loài động thực vật, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học
4.5.3 Đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển bền vững loài Lùng tại khu BTTN Xuân Nha
Loài Lùng có giá trị kinh tế và đa dạng sinh học cao trong rừng đặc dụng của khu BTTN Xuân Nha, vì vậy cần thiết phải quản lý và bảo vệ hợp lý để phát triển bền vững Dựa trên quá trình thu thập tài liệu, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần vào sự phát triển bền vững của loài Lùng tại khu vực nghiên cứu.
4.5.3.1 Nhóm biện pháp kỹ thuật
Nghiên cứu đặc tính sinh thái và sinh học của sinh vật ngoại lai là cần thiết trước khi chúng xâm nhập vào khu bảo tồn Việc áp dụng các biện pháp kiểm soát và phòng trừ phù hợp sẽ giúp tránh tác động tiêu cực đến sự phát triển của loài Lùng.
Nghiên cứu đặc điểm đất và sinh trưởng của loài là cần thiết để nhân nuôi và trồng thử tại các khu vực trong khu bảo tồn, cũng như trong từng hộ dân Điều này nhằm hạn chế việc khai thác tài nguyên tự nhiên.
Nắm rõ cấu trúc sinh trưởng của loài giúp tạo ra nguồn giống chất lượng, phát triển chiều dài lóng cao và nâng cao hiệu quả sử dụng trong việc trồng loài Lùng cho các hộ gia đình.
4.5.3.2 Nhóm biện pháp quy hoạch
Quy hoạch đất sản xuất nương rẫy và đất nông nghiệp cho các hộ gia đình trong vùng lõi và khu vực giáp rừng là cần thiết để hạn chế khai thác rừng Việc này giúp bảo vệ môi trường và kiểm soát sự phân bố của các loài sinh vật, đồng thời đảm bảo phát triển bền vững cho cộng đồng địa phương.
Xây dựng các trạm, chốt quản ý tài nguyên rừng tại các khu vực có nguy cơ khai thác cao
Xây dựng chương trình phối hợp phòng chống cháy rừng giữa Khu bảo tồn, các chủ rừng lân cận và các xã vùng đệm
Tăng cường lực lượng quản lý tại các khu bảo tồn và hạn chế diện tích quản lý cho từng cá nhân sẽ nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý.
Nhiều chương trình hỗ trợ kinh tế đã được triển khai nhằm cải thiện đời sống người dân địa phương, từ đó góp phần bảo vệ tài nguyên rừng khỏi những tác động tiêu cực.
4.5.3.3 Nhóm biện pháp thực thi pháp luật
Để bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển bền vững cho loài Lùng, cần tăng cường công tác kiểm tra và áp dụng các quy định xử phạt hành chính nghiêm ngặt đối với những hành vi khai thác trái phép.
Tổ chức tuyên truyền hiệu quả về phòng cháy, chữa cháy rừng là rất quan trọng để nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của cháy rừng Cần hướng dẫn các biện pháp cụ thể nhằm quản lý và bảo vệ rừng, từ đó khuyến khích cộng đồng có trách nhiệm hơn trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Kết luận
Từ kết quả nghiên cứu trên tôi xin đƣa ra các kết luận sau:
Hình thái Lùng có 2 dạng lá: lá quang hợp và lá mo Thân có 2 dạng là thân ngầm và thân khí sinh:
Thân ngầm phát triển thành cụm, với khoảng cách giữa các thân ngầm từ 20 – 50 cm và đường kính trung bình 4 – 6 m² mỗi bụi Mỗi bụi cách nhau 5 – 6 m, trong khi thân ngầm lớn nhất có đường kính từ 8 – 10 cm, đặc và cứng Thân ngầm có sự phân chia thành các đốt, với số lượng từ 18 – 23 đốt, mỗi đốt dài từ 0,05 – 0,15 cm và được bao bọc bởi các lá mo cứng khỏe Các mắt nổi trên thân ngầm thường rõ hơn ở thân ngầm non.
Thân khí sinh có chiều cao từ 14 đến 20 m, được chia thành nhiều lóng với các đốt rõ ràng Vòng thân (hay vòng rễ) nằm giữa các đốt và vòng mo, trong khi các cành mọc đối nhau ở các lóng liền kề Thân thường nhẵn, rỗng, với độ dài lóng biến đổi từ gốc đến ngọn, dài nhất ở giữa và độ dày giảm dần từ gốc lên Phân cành thường xảy ra ở độ cao 9 đến 14 m, tại các đốt thứ 10 đến 14 Màu sắc của thân cũng thay đổi theo độ tuổi của cây: cây non có màu xanh nhạt và bóng, phủ lớp phấn trắng; cây trung bình có màu xanh đậm; trong khi cây già thường có địa y và mốc bám trên thân.
Lá quang hợp có hình dạng phiến lá giống ngọn giáo, dài từ 15 – 30 cm và rộng từ 2,5 – 4,5 cm, với đầu nhọn và đuôi lá hình nêm hơi lệch Mặt trước của lá có màu xanh đậm hơn mặt sau, trong khi mặt sau thường nhạt hơn và có lớp phấn trắng phủ Lá cũng có một gân chính nổi rõ, tạo nên đặc điểm nhận diện dễ dàng.
Cây có từ 8 đến 12 đôi gân bên song song, với mỗi cành phụ mang từ 7 đến 15 lá Mép lá có răng cưa nhỏ sắc và cứng, lá non có màu xanh lá mạ, trong khi lá già chuyển sang màu xanh đậm Khi gần rụng, lá có màu vàng nhạt và khi khô, chúng trở thành màu nâu xám Lá Lùng mọc cách trên cành, xếp thành một mặt phẳng, với cuống lá ngắn từ 0,4 đến 0,6 cm và bẹ lá hình trụ.
Lùng là loài cây có lá không kín, với phần dưới bó sát cành phình to hơn Phần trên của lá gắn với cuống, có thìa lìa và 2 tai mỏng có lông dài từ 1,5 đến 3,5 cm, mỗi tai có từ 5 đến 10 lông hình sợi Bẹ lá dài từ 8 đến 15 cm Đây là loài cây thay lá hàng năm vào mùa khô, phiến lá thường rụng trước, sau đó đến bẹ lá.
Lá mo có cấu trúc đặc trưng, ôm lấy cây 100% ở gốc và hơn 50% khi tiến về đầu lá Cấu tạo của lá mo bao gồm bẹ lá, tai mo, bẹ mo và thìa lìa Bẹ mo có hình chuông, dài từ 22 – 30 cm và rộng 25 – 30 cm, với bề mặt ngoài màu nâu xám phủ lớp phấn trắng và có sọc nhỏ dọc theo Mặt trong bẹ mo có màu nâu sáng bóng, với mép mỏng dễ rách Lá mo có hình ngọn giáo, kích thước dài từ 10 – 14 cm và rộng từ 4 – 6 cm, đầu lá nhọn và mép bóng với sợi chạy dọc Tai mo có lông màu nâu dài từ 1 – 3 cm, mỗi tai chứa từ 8 – 12 lông Khi lá mo rụng, lông thường rơi khỏi lá và để lại dấu vết trên tai mo, gây ra sẹo cho thân khí sinh, được gọi là vòng mo.
Loài Lùng tại khu vực nghiên cứu có tổng diện tích 2205,1 ha, trong đó trạng thái Lùng thuần loài chiếm 91,76% tương đương 2023,4 ha Loài này phân bố chủ yếu ở độ cao từ 200 đến 600 m, tập trung tại các tiểu khu.
1007, 1015 và 1017 Trạng thái Lùng xen gỗ chỉ chiếm 8,24 % tương ứng 181,7 (ha), phân bố chủ yếu tại tiểu khu 1007 với độ cao từ 400 m trở lên
Đặc điểm cấu trúc lâm phần Lùng:
Trạng thái Lùng thuần loài có mật độ 37,6 bụi/OTC, tương đương 376 bụi/ha và 13.856 cây/ha Cụ thể, ở vị trí chân, mật độ là 39,3 bụi/OTC (393 bụi/ha) với 13.153 cây/ha; tại vị trí sườn, mật độ đạt 38 bụi/OTC (380 bụi/ha) với 13.779 cây/ha Chiều cao trung bình của cây là 17,76 m và đường kính trung bình là 6,6 cm, trong đó cây lớn nhất có đường kính đáng kể.
Chiều cao trung bình của cây đạt 20 m với đường kính từ 9 đến 9,5 cm Trạng thái Lùng xen gỗ ghi nhận 24,3 bụi/OTC, tương đương 243 bụi/ha và số lượng cây là 6890 cây/ha Cây có chiều cao trung bình 17,14 m và đường kính trung bình 6,3 cm, trong đó cây lớn nhất có đường kính 7,6 cm và chiều cao 19 m.
Cấu trúc tuổi của cây Lùng thuần loài cho thấy tuổi trung bình chiếm tỉ lệ cao nhất với 41,72%, tiếp theo là tuổi già 37,94% và tuổi non 20,34% Ở vị trí chân, cây non chiếm 19,83%, cây trung bình 44,53% và cây già 35,64% Tại vị trí sườn, cây non đạt 21,30%, cây trung bình 43,29% và cây già 35,41% Ở vị trí đỉnh, cây non chiếm 19,44%, cây trung bình 38,89% và cây già 41,67% Trong trạng thái Lùng xen gỗ, cây già chiếm tỉ lệ cao nhất với 39,5%, tiếp theo là cây trung bình 38,99% và cây non 21,51%.
Trạng thái Lùng thuần loài có cấu trúc tầng thứ với 2 tầng tán chính, bao gồm tầng A2 (tầng tán cây Lùng) và tầng cây bụi thảm tươi, chủ yếu là các loài như dương xỉ, ráy, trầu rừng, và lá dong Trong khi đó, trạng thái Lùng xen gỗ có cấu trúc phức tạp hơn với 5 tầng, bao gồm A1, A2, A3, tầng cây tái sinh và tầng cây bụi thảm tươi.
Cấu trúc tổ thành của trạng thái Lùng thuần loài bao gồm cây bụi và thảm tươi với 6 loài chính là dương xỉ, ráy, guột, lau, chít, cỏ lào, trong đó dương xỉ chiếm tỉ lệ cao nhất Trạng thái Lùng xen gỗ có mật độ 220 cây/ha với 20 loài cây chủ yếu như vả, sung rừng, ngát, mán đỉa Còn trong CTTT cây tái sinh, có 20 loài với mật độ 1060 cây/ha, bao gồm các loại cây chính như mán đỉa, ngát, vạng trứng, hu đay Cuối cùng, CTTT cây bụi thảm tươi gồm các loài như guột, dương xỉ, ráy, lau, xa nhân và trầu rừng.
Khu vực nghiên cứu tại BTTN Xuân Nha có sự phân bố của loài Lùng, với đặc điểm đất thuộc nhóm Feralit Loại đất Feralit vàng xám phát triển trên nền phiến thạch sét, phấn sa, đá cát, sa thạch và sỏi cuội kết Đất tại đây có tầng đất trung bình, thành phần cơ giới trung bình hoặc nhẹ, cùng với hàm lượng mùn cao.
Tác động đến sự sinh trưởng của loài Lùng trong khu vực nghiên cứu bao gồm cả yếu tố tự nhiên và tác động từ con người Để phát triển bền vững loài Lùng, cần áp dụng một số giải pháp như: nhóm biện pháp kỹ thuật, nhóm biện pháp quy hoạch và nhóm biện pháp thực thi pháp luật.
Tồn tại
Quá trình khai thác tài nguyên bừa bãi và thiếu kiểm soát tại khu vực giáp ranh giữa tỉnh Sơn La và tỉnh Thanh Hóa đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển của các loài sinh vật.
Người dân ý thức chưa cao trong công tác bảo vệ loài Lùng, sử dụng không có kiểm soát tài nguyên Lùng tại khu vực nghiên cứu
Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu còn nhiều hạn chế
Điều kiện an ninh tại khu vực còn nhiều tệ nạn chƣa đƣợc đảm bảo dẫn đến quá trình quản lý, bảo tồn loài còn nhiều vướng mắc.
Kiến nghị 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cần tăng cường lực lượng quản lý và công tác tuần tra nhằm xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ tài nguyên rừng, đặc biệt là loài Lùng.
Tổ chức tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân về quản lý tài nguyên rừng
Có kế hoạch phát triển, trồng thử tại địa phương và các hộ dân xung quanh khu vực phân bố của loài
Cần mở rộng điều tra để xác định phạm vi phân bố và các đặc điểm liên quan đến sự sinh trưởng và phát triển của loài, từ đó đánh giá một cách chính xác nhất.
Cần có thêm nhiều nghiên cứu phát triển nguồn giống nhằm phát triển tại một số địa phương khác nhau trên tỉnh và trên toàn quốc
1 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011), Hiện trạng rừng toàn quốc, Hà Nội
2 Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000), Thực vật rừng, Giáo trình Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội
3 Bế Minh Châu (2012), Giáo trình Quản lý lửa rừng, Nxb Nông nghiệp,
4 Võ Văn Chí (2003), Từ điển thực vật thông dụng tập 1 Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội
5 Trần Văn Chính (2006), Giáo trình Thổ nhưỡng học, Nxb Nông nghiệp,
6 Phạm Văn Dũng, 1978, Thống kê tre nứa Việt Nam
7 Ngô Quang Đê, Lê Xuân Trường (2003), Tre trúc gây trồng và sử dụng, Nxb Nghệ An, Nghệ An
8 Phạm Văn Điển, Trần Ngọc Hải (2006), Bảo tồn và phát triển thực vật cho LSNG, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 81, 82, 159-161
9 Trần Ngọc Hải (1996), Tài nghuyên tre nứa trên thế giới và ở Việt Nam,
Thông tin khoa học lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội, tr.60
10 Trần Ngọc Hải (2006), Nghiên cứu giải pháp phát triển tài nguyên tre nứa ở khu vực vùng núi cao tỉnh Hòa Bình, Đề tài nghiên cứu – Dự án Lâm sản ngoài gỗ, giai đoạn 2, Hà Nội
11 Phạm Ngọc Hộ, 1999, Thống kê tre nứa Việt Nam
12 Hà Quang Khải, Đỗ Đình Sâm (2002), Đất lâm nghiệp, Giáo trình
Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội
13 Khu BTTN Xuân nha (2012), Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội, tài nguyên rừng, Sơn La
14 Lê Viết Lâm (2005), Nghiên cứu phân họ phụ tre (Bambusoideae) ở Việt
Nam, Tài liệu hội nghị KHCN Lâm nghiệp, 20 năm đổi mới (1986 – 2005) –
Phần lâm sinh, tr 312 – 321, Hà Nội
15 Mạng lưới lâm sản gỗ Việt Nam (2007), Lâm sản ngoài gỗ việt nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
16 Trần Văn Mão, Nhóm tác giả, 2006, Hỏi đáp hỹ thuật trồng, chăm sóc, chế biến tre, Nxb Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
17 Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005), Tre trúc Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà
18 Nhóm tác giả: Đặng Đình Bôi, Võ Văn Thoan, Trần Ngọc Hải, Nguyễn Thanh Tân, Hoàng Thị Sen, Lê Trọng Thực (2009), Lâm sản ngoài gỗ, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội
19 Nguyễn Văn Thắng (2001), Nghiên cứu thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của thực vật phân họ Tre nứa (Babusoidace) tại xã Nà Ớt, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, Luận án tốt nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội
20 Thái Văn Trừng (1978), Thảm thực vật rừng Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nôi
21 Theo QĐ 1116/QĐ/BNN-KL (2004), Tổng diện tích tre nứa Việt Nam
22 Tổ chức PAO (1992), (2007), danh lục 192 loài cũng như đặc điểm phân bố theo đai cao của một số loài tre trúc thuộc khu vực châu Á và Thái Bình Dương
23 Nguyễn Tử Ƣởng (2001), Tài nguyên tre Việt Nam, Thông tin KHKT
Lâm nghiệp, số 6, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
24 Viện Nghiên cứu và Phát triển nông thôn Việt Nam (VII) (10/2010), Kỹ thuật ương và trồng lùng thuộc Dự án sản xuất và thương mại xanh để tăng thu nhập và có cơ hội việc làm cho người nghèo nông thôn
25 China National Bambo Reaserch Center (2008), Utilization of Bambo
26 Fu Maoy et al (2000), Cutivaltion and Utilization Bamboos, China
28 S Dranfield and E A Widjaja (Editors) (1995), PROSEA – Plant Resoures of South – East Asia, 7 – Bamboos Bogor, Indonesia
29 Tewari D N (2001), Amonograph on Bamboo, International book distributors, Dhra Dun, India
30 Chu Văn Dũng (2012), Giải pháp bảo vệ và phát triển rừng lùng ở Nghệ
An,trang webb: http://www.ngheandost.gov.vn/JournalDetail/ar1331_Giai_phap_bao_ve_va_ phat_trien_rung_lung_o_Nghe_An.aspx, truy cập ngày 04 / 05 / 2015
MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 1
TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.1.Nghiên cứu về phân loại và phân bố các loài tre trúc trên thế giới 3
1.1.2.Nghiên cứu về phân loại và phân bố của loài Lùng (Bambusa longissima Nov) 4
1.2.1.Phân loại và phân bố các loài tre nứa ở Việt Nam 5
1.2.2.Nghiên cứu phân loại, phân bố, đặc điểm sinh trưởng của loài Lùng (Bambusa longissima Nov) thuộc chi Tre gai (Bambusa) 7
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
2.4.1.Phương pháp kế thừa tài liệu 10
2.4.2.Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp 10
Mẫu biểu 01: Biểu điều tra theo tuyến 11
Mẫu biểu 04: Biểu điều tra cây bụi, thảm tươi 14
Mẫu biểu 05: Biểu điều tra cây gỗ 15
Mẫu biểu 06: Biểu điều tra cây tái sinh 15
Mẫu biểu 07: Biểu mô tả đặc điểm vật hậu 16
CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH, KINH TẾ, XÃ HỘI
KHU BTTN XUÂN NHA, TỈNH SƠN LA 21
3.1.2 Đặc điểm địa hình, địa thế 21
3.4.Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế, xã hội tại khu
BTTN Xuân Nha, tỉnh Sơn La 29
3.4.1.Những thuận lợi, lợi thế 29
3.4.2.Những khó khăn thách thức 29
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1.Đặc điểm hình thái, vật hậu loài Lùng 31
4.2.Đặc điểm phân bố của loài Lùng tại khu vực nghiên cứu 39
4.3.Đặc điểm cấu trúc lâm phần Lùng 40
4.4 Đặc điểm đất nơi có sự phân bố của loài Lùng tại khu BTTN Xuân Nha 53
4.5.Một số tác động, ảnh hưởng và đề xuất giải pháp góp phần phát triển bền vững loài Lùng tại khu BTTN Xuân Nha 54
4.5.1.Tác động của tự nhiên 54
4.5.2 Tác động của con người 55
4.5.3 Đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển bền vững loài Lùng tại khu BTTN Xuân Nha 56
KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ 58
3.Kiến nghị 61TÀI LIỆU THAM KHẢO
Mẫu biểu 01: Biểu điều tra theo tuyến 11
Mẫu biểu 02: Biểu điều tra quần thể lùng 12
Mẫu biểu 03: Biểu điều tra cá thể loài lùng 13
Mẫu biểu 04: Biểu điều tra cây bụi, thảm tươi 14
Mẫu biểu 05: Biểu điều tra cây gỗ 15
Mẫu biểu 06: Biểu điều tra cây tái sinh 15
Mẫu biểu 07: Biểu mô tả đặc điểm vật hậu 16
Mẫu biểu 08: Đặc điểm phẫu diện đất 18
Phụ lục 01: Một số hình ảnh thực tập tại khu BTTN Xuân Nha
Phụ lục 02: Phân bố loài Lùng theo tuyến điều tra
Tọa độ Trạng thái bắt gặp Loài cây Đai cao
Lô, khoảnh Điểm đầu Điểm cuối
Phụ lục 03: Thành phần cây bụi thảm tươi trạng thái Lùng thuần loài
STT Tên cây Số lƣợng
Phụ lục 04: Thành phần cây gỗ trạng thái Lùng xen gỗ
STT Tên cây Tên khoa học Số lƣợng cây (N)
3 Phay sừng Duabanga sonneratioides Ham
9 Màu cau trắng Goniothalamus macrocalyx Ban
16 Mé cò ke Grewia paniculata
20 Trúc tiết Homalocladium platycladum (F Muelle ex Hook.) Bailey (Muehlenbeckia platyclada (F Muell ex Hook.) Meisn)
Phụ lục 05: Thành phần cây tái sinh trạng thái Lùng xen gỗ
TT Loài cây Số lƣợng (cây)
N % Cấp chiều cao (m) Sinh trưởng
Phụ lục 06: Thành phần cây bụi thảm tươi trạng thái Lùng xen gỗ
STT Loài cây Số lƣợng
Phụ lục 07: Danh sách các hộ phỏng vấn tại địa phương
TT Họ và Tên Tuổi Nghề nghiệp Địa chỉ
1 Vi Văn Thiệp 34 Kiểm lâm xã xã Tân Xuân
2 Lò Văn Cui 57 Làm ruộng xã Tân Xuân
3 Vi Văn Căm 43 Làm ruộng xã Tân Xuân
4 Vi Thị Vang 53 Làm ruộng xã Tân Xuân
5 Vi Thị Phiện 52 Làm ruộng xã Tân Xuân
6 Lò Văn Trung 46 Làm ruộng xã Tân Xuân
8 Lò Văn Quang 58 Làm ruộng xã Tân Xuân
9 Vi Văn Sáng 43 Buôn bán xã Tân Xuân
10 Hà Văn Thu 53 Làm ruộng xã Tân Xuân