Để đánh giá kết quả học tập của sinh viên trước khi ra trường và được sự nhất trí của trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, tôi tiến hành thực h
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại học lâm nghiệp Việt Nam
từ năm 2013 đến nay, chương trình học của tôi đã kết thúc Để đánh giá kết quả học tập của sinh viên trước khi ra trường và được sự nhất trí của trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, tôi tiến hành thực
hiện đề tài tốt nghiệp “Nghiên cứu đặc điểm hệ thực vật tại khu vực xã Minh Sơn – Vườn quốc gia Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang” tại xã Minh
Sơn, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Vương Duy Hưng, người đã hướng dẫn tận tình, giúp đỡ tôi trong quá trình làm đề tài và giám định mẫu Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ kiểm lâm tại xã Minh Sơn, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang đã giúp đỡ, cung cấp những thông tin hữu ích trong quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do bản thân còn hạn chế nhất định về mặt chuyên môn và kiến thức thực tế, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu điều tra nên đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Hội đồng khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để bài luận văn được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 5 tháng 6 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hoài Linh
Trang 2TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 1.Tên đề tài
“Nghiên cứu đặc điểm hệ thực vật tại khu vực xã Minh Sơn – Vườn quốc gia Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang”
2 Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hoài Linh
Mã sinh viên: 1353020894
Lớp 58A-QLTNR
3 Giáo viên hướng dẫn: TS Vương Duy Hưng
4 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định các đặc điểm đặc trưng của hệ thực vật tại khu vực xã Minh Sơn – Vườn quốc gia Du Già – cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang từ đó xây dựng được danh lục thực vật và đưa ra các giải pháp quản lý tài nguyên thực vật
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật bậc cao có mạch phân bố tự
nhiên tại khu vực xã Minh Sơn – Vườn quốc gia Du Già – cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang
- Phạm vi nghiên cứu: Được thực hiện hiện trên các tuyến điều tra đại diện
tại xã Minh Sơn huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang trong thời gian từ ngày 17 tháng 02 năm 2017 đến ngày 10 tháng 05 năm 2017
6 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các đặc điểm về hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên thực vật cho khu vực nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu
Chuẩn bị: Trước khi tiến hành điều tra trực tiếp cần chuẩn bị các tài liệu có
liên quan cũng như chuẩn bị các dụng cụ điều tra cần thiết trong quá trình làm việc
Trang 37.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
- Kế thừa những tài liệu về điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn), đặc điểm kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu; những quy định của VQG Du Già
- Những kết quả nghiên cứu, các tài liệu khác liên quan đến quá trình nghiên cứu như sách, giáo trình, luận văn tốt nghiệp …
7.2 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn người dân có kinh nghiệm đi rừng, các cơ quan quản lý tài nguyên (hạt kiểm lâm, các tổ kiểm lâm cơ động) … để nắm được các điều kiện tự nhiên ở khu vực nghiên cứu, tên các loài thực vật (tên địa phương), những tác động của con người và động vật đến hệ thực vật rừng
7.3 Phương pháp ngoại nghiệp
Để điều tra về đặc điểm của hệ thực vật và thành phần loài tại xã Minh Sơn, tôi sử dụng các phương pháp điều tra sau đây:
7.3.1 Điều tra sơ thám
Điều tra toàn bộ khu vưc nghiên cứu để xác định các tuyến điều tra chính sao cho các tuyến điều tra vừa đại diện, điển hình vừa phù hợp thuận tiện cho công tác điều tra
7.3.2 Điều tra theo tuyến
- Dựa vào bản đồ khu vực của xã Minh Sơn xác định các sinh cảnh chính cần giám sát, đánh giá và thu mẫu sau đó tiến hành điều tra tỉ mỉ
Trang 4- Trên tuyến điều tra, thống kê toàn bộ thành phần các loài thực vật bậc cao
có mạch xuất hiện từ cây gỗ, cây bụi, dây leo, cây phụ sinh và cây thân thảo ở hai bên tuyến điều tra
- Quan sát ghi nhận các yếu tố tác động tới tài nguyên thực vật và mức độ ảnh hưởng của chúng ngoài hiện trường (hoạt động khai thác lâm sản, hoạt động du lịch, công tác quản lý quy hoạch, )
- Phương pháp thu mẫu: chụp ảnh mẫu tại hiện trường, quan sát, ghi chép đầy đủ thông tin về mẫu (số hiệu mẫu, ngày lấy mẫu, người lấy mẫu, địa điểm lấy mẫu, sinh cảnh nơi lấy mẫu, thông tin cây lấy mẫu mà mẫu khô không thể hiện được)
7.4 Phương pháp nội nghiệp
7.4.1 Giám định mẫu
Giám định mẫu theo phương pháp hình thái so sánh Tham khảo các tài liệu
về thực vật để xác định được tên sơ bộ ban đầu của các mẫu Những mẫu chưa biết tên tiếp tục tiến hành tra cứu các tài liệu chuyên khảo và hỏi ý kiến chuyên gia Khi
đã xác định được tên các loài thì tiến hành kiểm tra lại tên khoa học bằng các tài liệu khoa học để hạn chế mức tối đa sự nhầm lẫn, sai sót
7.4.2 Xây dựng bảng danh lục các loài thực vật
Xây dựng bảng danh lục theo hệ thống phân loại của Brummit (1992) [31], các loài được sắp xếp theo mẫu biểu 01
Mẫu biểu 01 Danh lục thực vật xã Minh Sơn, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang
TT Tên Việt
Nam
Tên khoa học
Dạng sống
Công dụng
Mức độ quý hiếm
Trang 5Cột 2: Ghi tên phổ thông của các taxon (ngành, lớp, họ, loài)
Cột 3: Ghi tên khoa học của các ngành, lớp, họ và loài, xếp theo các ngành thực vật từ thấp đến cao Các họ trong ngành (lớp) và các loài trong họ được xếp theo thứ tự trong bảng chữ cái abc
Cột 4: Dạng sống theo cách phân loại của Raunkiaer (1934) Gồm các nhóm sau: Cây chồi trên (Ph); Cây chồi trên to (Mg); Cây chồi trên nhỡ (Me); Cây chồi trên nhỏ (Mi); Cây chồi trên lùn (Na); Cây bì sinh (Ep); Dây leo gỗ (Lp); Cây chồi sát đất (Ch); Cây chồi nửa ẩn (Hm); Cây chồi ẩn (Cr); Cây một năm (T)
Cột 5: Giá trị sử dụng của loài thưc vật đó trên theo cách phân chia nhóm công dụng của Trần Minh Hợi (2013) như sau: Cây lấy gỗ (A); Cây trồng rừng và phụ trợ trong nông lâm nghiệp (B); Các loài tre trúc (C); Cây có hoa, làm cảnh và bóng mát (D); Cây song mây (E); Cây có dầu béo (F); Cây dùng làm thức ăn cho người và gia súc (G); Cây cho tannin và chất tạo màu (H); Cây làm thuốc (I); Cây cho tinh dầu (K)
Cột 6: Mức độ quý hiếm ghi theo phân hạng của IUCN (2016), Sách Đỏ Việt Nam 2007, Nghị định 32 của Chính phủ năm 2006
Cột 7, 8: Các thông tin về số hiệu mẫu và ảnh mẫu đã thu được tại khu vực nghiên cứu
7.4.3 Đánh giá bản chất hệ thực vật
Từ danh lục các loài thực vật tại khu vực nghiên cứu tiến hành đánh giá mức
độ đa dạng loài của các họ, loài của các chi, nghiên cứu những loài quý hiếm và có
nguy cơ tuyệt chủng, nghiên cứu những loài có ích
7.4.4 Nghiên cứu bản chất sinh thái của hệ thực vật
Dạng sống được coi là một chuẩn trong nghiên cứu thực vật học, hình thái học thực vật nói chung và đa dạng thực vật nói riêng Dạng sống có liên quan mật thiết đến môi trường sinh thái và sự tác động của môi trường lên khu hệ thực vật Chính vì vậy sự đa dạng về phổ dạng sống nói lên tính chất nguyên sinh của một hệ thực vật và phản ánh sự tác động của các nhân tố sinh thái lên hệ thực vật đó Để
Trang 6nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật, tôi sử dụng phương pháp của Raunkiaer (1934) [36] đã được Thái Văn Trừng (1999) xây dựng theo sơ đồ theo hai mùa: thuận lợi và khó khăn
1 Cây chồi trên (Phanerophytes) – Ph: bao gồm những cây có chồi trong
mùa khó khăn nằm cách mặt đất từ 25cm trở lên Ví dụ: Sâng, Chò chỉ,…
Nhóm này được chia thành những nhóm nhỏ:
1.1 Cây chồi trên to (Megaphanerophytes) – Mg: là cây gỗ hay dây leo gỗ
cao từ 25m trở lên: Sâng, Chò chỉ, Chò xanh, Lim
1.2 Cây chồi trên nhỡ (Mesophanerophytes) – Me: gồm những cây gỗ hay
dây leo gỗ từ 8-25m: Gội, Sung, Máu chó, Trường Có thể gồm một số loài cây thân thảo hóa gỗ như Tre, Nứa
1.3 Cây chồi trên nhỏ (Microphanerophytes) – Mi: là cây gỗ nhỏ, cây
bụi, dây leo gỗ có thân cây hóa gỗ, cao từ 2-8m: Chòi mòi, Dâu da, Ngái, Mận, Đào
1.4 Cây chồi trên lùn (Nanophanerophytes) – Na: gồm cây gỗ lùn, cây bụi
hay nửa bụi, dây leo gỗ nhỏ, có thân hóa gỗ, cao từ 25-200 cm: các loài thuộc họ
Cà phê, Thầu dầu, Ô rô, Gai dưới tán rừng hay các loài như Bồng bồng, Dứa mỹ, Hoa hồng, Nhài
1.5 Cây bì sinh (Ebiphytes-phanerophytes) – Ep gồm những cây bì sinh
sống lâu năm trên thân, cành cây gỗ, trên vách đá… như các loài Dương xỉ, Phong lan
1.6 Cây mọng nước (Suculentes) – Suc bao gồm những cây mọng nước như
Xương rồng, Thuốc bỏng…
1.7 Dây leo gỗ (Lianophanerophytes) – Lp: Kim ngân, Bàm bàm, Mã tiền,
Vằng
1.8 Cây ký sinh hay bán ký sinh (Parasite-hemiparasit phanerophytes) – Pp
gồm những cây sống ký sinh hay bán ký sinh
Trang 72 Cây chồi sát đất (Chamaephytes) – Ch: gồm những cây có chồi trong mùa
khó khăn cách mặt đất dưới 25 cm, mùa đông được lớp tuyết hay lá khô bao phủ chống lạnh hay chống khô: Cao cẳng, Mạch môn
3 Cây chồi nửa ẩn (Hermicryptophytes) – Hm: gồm những cây có chồi
trong mùa khó khăn nằm sát mặt đất (ngang mặt) được lá khô che phủ, bảo vệ, thường các loài này có thân nửa nằm dưới đất, nửa nằm trên mặt đất: nhiều loài thuộc Dương xỉ, Náng
4 Cây chồi ẩn (Cryptophytes) – Cr: gồm những cây có chồi trong mùa khó
khăn nằm dưới đất hay dưới nước: Cỏ tranh, Gừng, Củ ấu, Khoai tây
5 Cây thủy sinh (Hydrophytes) – Hy: gồm những cây có chồi nằm trong
nước hay trong đất dưới nước: Rong tóc tiên, Rong mái chèo, Sen, Súng
6 Cây một năm (Therophytes) – Th: gồm những cây trong thời kỳ khó khăn
toàn bộ cây bị chết đi, chỉ còn duy trì nòi giống dưới dạng hạt Đó là toàn bộ cây có đời sống ngắn hơn một năm, sống ở bất cứ môi trường nào: các loài cỏ, rau Tàu bay, Cải cúc, Cỏ mực
Lần lượt xem từng loài của hệ thực vật thuộc nhóm dạng sống nào, sau đó xem từng nhóm dạng sống gồm bao nhiêu loài, sau đó tính tỷ số phần trăm của từng nhóm dạng sống và cuối cùng lập phổ các dạng sống của hệ thực vật
7.4.6 Phân tích quan hệ với các hệ thực vật khác
Để đánh giá mức độ giống nhau hay khác nhau của các hệ thực vật, căn cứ vào các chỉ số giống nhau theo Sorenson (theo Ane E Magurran, 1983):
S = 2c
a + b Trong đó: S là chỉ số Sorenson nhận giá trị thực từ 0 đến 1
a là số loài của hệ thực vật A
b là số loài của hệ thực vật B
c là số loài mà cả hệ thực vật A và B đều có
Theo công thức, ta có:
Trang 8S = 1 chỉ xảy ra khi hai hệ thực vật có các loài hoàn toàn giống nhau
S = 0 xảy ra khi hai hệ thực vật không có loài nào giống nhau chung
S đạt giá trị càng gần 1 tương ứng với mối quan hệ giữa hai hệ thực vật càng chặt chẽ
S có giá trị càng gần 0 chứng tỏ mối quan hệ giữa hai hệ thực vật càng cách
xa nhau
Từ những nội dung nghiên cứu, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển
hệ thực vật tại xã Minh Sơn
8 Một số kết quả đạt được
Hệ thực vật xã Minh Sơn gồm 208 loài thuộc 156 chi, 82 họ thuộc 4 ngành: Thông đất, Thông, Dương Xỉ và Ngọc Lan Ngành Ngọc lan là ngành đa dạng nhất với 200 loài, 148 chi của 75 họ Các ngành còn lại là Dương xỉ - Polypodiophyta với 4 loài, 4 chi, 3 họ; Ngành Thông với 3 loài, 3 chi, 3 họ; ngành Thông đất với 1
loài, 1 chi, 1 họ
Lớp Ngọc lan – Magnoliopsida chiếm ưu thế so với lớp Hoa loa kèn với tỷ lệ
ở các bậc họ, chi và loài tương ứng là 65/10 họ; 132/16 chi và 184/16 loài 10 họ đa dạng nhất chiếm 12.2% tổng số họ, 57 chi chiếm 36.54%(57/156) số chi của hệ và
83 loài chiếm 39.9% (83/208) số loài của toàn hệ Điển hình là họ Dâu tằm – Moraceae có 5 chi, 13 loài; họ Thầu dầu - Euphorbiaceae có 8 chi, 11 loài; họ Cà phê – Rubiaceae có 7 chi, 9 loài; họ Na – Annonaceae có 6 chi, 8 loài;… và thấp nhất về số loài là họ Ráy – Araceae với 4 loài phân bố tại khu vực 10 chi đa dạng nhất với 38 loài thuộc 10 họ, chiếm 6.41% tổng số chi của hệ, 18.27% tổng số loài của hệ Số loài trung bình trên một chi của một chi đa dạng nhất là 3.8 loài (38 loài/10 chi), so với số loài trung bình trên một chi của toàn hệ là 1.33 loài (208
loài/156 chi)Trong đó, chi Sung – Ficus (họ Dâu tằm – Moraceae) nhiều loài nhất với 8 loài, các chi Begonia (họ Thu hải đường), chi Capparis (họ Bạch hoa), chi Cinnamomum (họ Long não), chi Glochidion (họ Thầu dầu) mỗi chi có 4 loài, các chi khác mỗi chi có 3 loài, riêng chi Aglaia (Họ Xoan) có 2 loài
Trang 9Phổ dạng sống cho hệ thực vật xã Minh Sơn nhƣ sau:
SB = 87.02Ph + 5.29Ch + 3.85Hm + 2.4Cr + 1.44T
Phổ dạng sống của nhóm cây có chồi trên đất:
SB = 10.58Mg + 14.90Me + 19.23Mi + 27.40Na + 2.88Ep + 12.02Lp
Hệ thực vật xã Minh Sơn có 283 lƣợt loài cây có ích đƣợc sử dụng Trong
đó, có 124 loài đƣợc sử dụng làm thuốc chiếm 43.82% tổng số loài của hệ; số loài cây có thể dùng làm thức ăn, gia vị và làm thức ăn cho gia súc là 37 loài, chiếm 13.08% tổng số loài; cây lấy gỗ có 61 loài, chiếm 21.55% tổng số loài nhiều loài gỗ
có giá trị; các nhóm giá trị sử dụng khác có tỷ lệ thấp hơn
Hệ thực vật núi khu vực nghiên cứu có 12 loài nguy cấp có trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 chiếm 5.78% tổng số loài của hệ cần đƣợc ƣu tiên bảo tồn và phát triển
Hà Nội, ngày … tháng…năm 2017
Sinh viên thực hiện
Trang 10MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU
ĐẶT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2
1.1.Trên thế giới 2
1.2.Ở Việt Nam 3
1.3.Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Hà Giang và VQG Du Già 11
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 14
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
2.3 Nội dung nghiên cứu 14
2.4 Phương pháp nghiên cứu 14
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 14
2.4.2 Phương pháp phỏng vấn 15
2.4.3 Phương pháp ngoại nghiệp 15
2.4.4 Phương pháp nội nghiệp 16
CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 21
3.1 Điều kiện tự nhiên 21
3.1.1 Vị trí địa lý 21
3.1.2 Đặc điểm địa hình, khí hậu, thủy văn 21
3.1.3 Nguồn tài nguyên 22
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 23
3.2.1 Dân số, lao động, tình hình phân bố dân cư 23
3.2.2 Tình hình kinh tế 24
Trang 113.2.3 Tình hình văn hóa - xã hội 25
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Đặc điểm hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu 27
4.1.1 Danh lục các loài thực vật tại khu vực xã Minh Sơn 27
4.1.2 Đa dạng các taxon thực vật tại khu vực nghiên cứu 27
4.1.3 Các loài quý hiếm và có nguy cơ bị tiêu diệt tại khu vực nghiên cứu 34
4.1.4 Các loài có ích tại khu vực nghiên cứu 36
4.1.5 Phân tích bản chất sinh thái của hệ thực vật 37
4.1.6 Phân tích các mối quan hệ với hệ thực vật khác 42
4.2 Các yếu tố tác động đến hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu 42
4.2.1 Do con người 43
4.2.2 Do tự nhiên 43
4.3 Đề xuất giải pháp bảo tồn 43
4.3.1 Giải pháp về kỹ thuật 43
4.3.2 Giải pháp tuyên truyền 44
4.3.3 Giải pháp kinh tế 45
4.3.4 Tăng cường hiệu quả các hoạt động quản lý 45
KẾT LUẬN – TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 46
Kết luận 46
Tồn tại 47
Kiến nghị 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Sự phân bố các taxon trong các ngành thực vật ở khu vực nghiên cứu 27
Bảng 4.2 Tỷ trọng của lớp Ngọc lan so với lớp Loa kèn 28
Bảng 4.3: Danh sách các họ nhiều chi, nhiều loài tại khu vực nghiên cứu 30
Bảng 4.4: Danh sách các chi nhiều loài tại khu vực nghiên cứu 31
Bảng 4.5: Danh sách các họ đơn loài tại khu vực nghiên cứu 33
Bảng 4.6: Danh sách các loài quý hiếm tại khu vực nghiên cứu 35
Bảng 4.7: Tỷ lệ các nhóm công dụng của thực vật tại khu vực nghiên cứu 36
Bảng 4.8: Tỷ lệ phổ dạng sống của hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu 38
Biểu 4.5 Biểu đồ các dạng sống chính của hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu 38
Bảng 4.9: Phổ sinh học các quần xã thực vật trên núi đá vôi 40
Bảng 4.10: So sánh các chỉ số đa dạng của HTV xã Minh Sơn với các HTV 42
Trang 13DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu 4.1 Biểu đồ so sánh số lƣợng các bậc taxon giữa các ngành 28 Biểu 4.2 Biểu đồ tỉ trọng hai lớp Ngọc lan và Loa kèn tại khu vực nghiên cứu 29 Biểu 4.3 Biểu đồ tỷ trọng của 10 họ đa dạng nhất của hệ thực vật xã Minh Sơn 31 Biểu 4.4 Biểu đồ các chi đa dạng nhất của hệ thực vật xã Minh Sơn 32
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Thực vật nói chung, thực vật rừng nói riêng giữ vai trò quan trọng trong đời sống loài người Nó không chỉ cung cấp thức ăn, vật liệu xây dựng, thuốc chữa bệnh cho con người mà còn tham gia vào quá trình giữ đất, giữ nước, điều hoà khí hậu cải thiện môi trường sinh thái
Việt Nam là một quốc gia có vị trí đặc biệt, với khí hậu gió mùa và có điều kiện tự nhiên đa dạng, kéo dài trên 15 độ vĩ Các dãy núi trải dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và hướng Bắc – Nam tạo ra khí hậu rất đa dạng, trong đó có sự khác biệt giữa phía Tây và phía Đông cùng với sự đa dạng về địa hình và địa mạo
đã tạo ra sự đa dạng của thực vật cũng như động vật hay nhiều sinh vật khác
Nhưng dưới sức ép ngày một to lớn của loài người, rừng tự nhiên trên cũng ngày một thu hẹp, khiến môi trường sinh thái bị thay đổi theo chiều hướng bất lợi
và nhiều loài động thực vật hoang dã có nguy cơ bị tiêu diệt Để giảm thiểu những tổn thất trên, những giải pháp đã được đặt ra trong đó có giải pháp tăng cường Bảo tồn đa dạng sinh vật Ở nước ta, từ chỗ chỉ có duy nhất một Vườn quốc gia Cúc Phương vào năm 1962, đến nay đã có trên 145 khu rừng đặc dụng trong đó có Vườn quốc gia Du Già – cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang
Để đánh giá được tính đa dạng thực vật, sự biến đổi của thực vật theo đai cao, xác định các nguyên nhân gây suy giảm từ đó đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn
đa dạng thực vật ở Vườn quốc gia Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn, tôi đã chọn
đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hệ thực vật tại khu vực xã Minh Sơn – Vườn Quốc gia Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang”
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
Nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen sinh vật trên thế giới được bắt đầu từ rất sớm bằng những công trình phân loại về thực vật và động vật Vấn đề này ngày nay đã trở thành một chiến lược trên thế giới Nhiều tổ chức quốc
tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển
đa dạng sinh học trên phạm vi toàn cầu
Người ta đã tìm thấy các tài liệu có mô tả về thực vật xuất hiện ở Ai Cập khoảng 3000 năm trước Công nguyên và ở Trung Quốc 2000 năm trước Công nguyên
Kiến thức về cây cỏ được loài người ghi chép và lưu lại từ rất sớm Sớm nhất có lẽ là tác phẩm của Aristote (384-322 trước Công nguyên) Tiếp đó là tác phẩm lịch sử thực vật của Theophraste (khoảng 349 trước Công nguyên) Trong
đó, ông đã mô tả, giới thiệu gần 500 loài cây cỏ với các chỉ dẫn về nơi mọc và công dụng.[8]
Trong lĩnh vực nghiên cứu về đa dạng của hệ thực vật và thảm thực vật đã
có nhiều tác giả trên thế giới quan tâm và có các công trình công bố như [30]:
- Lecomte, H, 1907-1952, Flora generale de I’ Indochine Tom I-VII, Pari.[33]
- Phedorov A.A, 1965 Vai trò của tài nguyên thực vật đối với kinh tế quốc dân, Tạp chí Tài nguyên thực vật, tập 1 số 1, Tiếng Nga
- Plant Resources of South - East – Asia -7, 1995 Bamboo – Bogor Indonesia
- IUCN, 1998 The world list of Threatened trees World Conservasion Press
- IUCN, 2001, Red list of Threatened Plants.[26]
Ở Nga, từ năm 1928-1932 được xem là giai đoạn mở đầu cho thời kỳ nghiên
cứu hệ thực vật Tolmachop A.I cho rằng “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý” Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể Tolmachop A.I đã đưa ra một
nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường xanh là 1500-2000 loài.[29]
Trang 16Brummit (1992) [32] chuyên gia của Phòng Bảo Tàng Thực Vật Hoàng Gia
Anh, trong cuốn “Vascular plant families and genera” đã thống kê tiêu bản thực
vật cao có mạch trên thế giới vào 511 họ, 13.884 chi, 6 ngành là: Khuyết lá thông
(Plilotophyta), Thông đá (Lycopodiophyta), Cỏ tháp bút (Equisetophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Hạt trần (Gymnospermae) và Hạt kín (Angiospermae) Trong đó ngành Hạt kín (Angiospermae) có 13.477 họ, 454 chi và được chia ra hai lớp là: Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) bao gồm 10.715 chi, 357 họ và Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) bao gồm 2.762 chi, 97 họ.[6]
Takhtajan [37] Viện sỹ thực vật, Acmenia đã có những đóng góp lớn cho
khoa học phân loại thực vật Trong cuốn “Diversity and Classifcation of Flowering Plant” (1977), đã thống kê và phân chia toàn bộ thực vật Hạt kín trên thế giới
khoảng 260.000 loài, vào khoảng 13.500 chi, 591 họ, 232 bộ thuộc 16 phân lớp và
2 lớp Trong đó Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) gồm 11 phân lớp, 175 bộ, 458
họ, 10.500 chi; không dưới 195.000 loài vào Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae)
gồm 6 phân lớp, 57 bộ, 133 họ, trên 3000 chi và khoảng 65.000 loài
1.2 Ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới, rừng Việt Nam mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản nhất của rừng nhiết đới, nó có cấu trúc phức tạp, phong phú và đa dạng về loài Rừng nước ta chiếm ¾ diện tích đất đai toàn quốc, trong đó có nhiều gỗ và đặc sản quý hiếm, nhiều dược liệu có giá trị phân bố hầu hết ở các vùng trung du và miền núi Việc nghiên cứu về tài nguyên rừng Việt Nam đã được tác giả trong và ngoài nước tiến hành nghiên cứu
Một số danh y đã được biết đến nhờ việc nghiên cứu về thực vật và tìm ra những phương thuốc chữa bệnh như Tuệ Tĩnh, Hải thượng Lãn Ông,… Việc nghiên cứu thực vật theo hướng khoa học mới được biết đến khi Pháp xâm chiếm Việt Nam Công trình thống kê mô tả thực vật như “Thực vật rừng Nam Bộ” của Pierre (1879-1899), ông đã tìm ra và đặt tên cho nhiều loài mới ở Việt Nam.[8]
Cuối thế kỷ XIX A.Chevalier (1919) đã có những nghiên cứu về các hệ sinh thái rừng Bắc Bộ
Trang 17P Maurand 1943, đã nghiên cứu “các kiểu quần thể” của ba vùng sinh thái Bắc Đông Dương Nam Đông Dương và vùng trung gian Dương Hàm Y 1956, công bố nghiên cứu về “Tài nguyên rừng rú ở Việt Nam” Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác như Loeschau 1960, Thái Văn Trừng 1970, 1978, Trần Ngũ Phương 1970, 2000,… đã nghiên cứu về rừng Bắc Bộ Việt Nam P.W.Richards 1952, đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái, tác giả này đã mô tả một số đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ, rừng có nhiều tầng (thường có 3 tầng, ngoại trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ), nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng nhiêu thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây G.N.Baur 1962, nghiên cứu các vấn đề cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó ông đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Theo tác giả, các phương thức xử lý lâm sinh bao gồm: mục tiêu thứ nhất là nhằm cải thiện rừng nguyên sinh vốn thường hỗn loài và không đồng tuổi bằng cách đào thải những cây quá thành thục và vô dụng để tạo không gian thích hợp cho các cây còn lại sinh trưởng Mục tiêu thứ hai
là tạo lập tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái sinh nhân tạo không giải phóng lớp cây tái sinh có sẵn có ở trong trạng thái ngủ để thay thế cho những cây
đã lấy ra khỏi rừng trong khai thác hoặc chăm sóc và nuôi dưỡng rừng sau đó Cuối cùng tác giả đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử
lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa.[9]
Công trình Thực vật chí Đông Dương gồm 7 tập chính và 1 tập bổ sung, đã được công bố từ năm 1907 – 1952 bởi nhà thực vật người Pháp H Lecomte chủ biên Trong công trình này, tác giả đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả cho
7004 loài thực vật bậc cao có mạch ở Đông Dương Trên cơ sở bộ Thực vật chí Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978) trong công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã thống kê ở khu hệ thực vật nước ta có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch
Trang 18thuộc 1850 chi và 289 họ Thái Văn Trừng đã khẳng định ưu thế của ngành Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài (chiếm 90,9%), 1727 chi (chiếm 93,4%)
và 239 họ (chiếm 82,7%).[6]
Công trình nghiên cứu của Thái Văn Trừng (1963-1978) [24], Trần Ngũ Phương [14] về thảm thực vật rừng Việt Nam Các tác giả đã phân chia thảm thực vật rừng nước ta thành các kiểu rừng, kiểu phụ và các ưu hợp, quần hợp thực vật phổ biến.[13]
Trong tác phẩm “Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam” 1978, tác giả Thái Văn Trừng đã tiếp tục hoàn thiện quan điểm “Sinh thái phát sinh quần thể trong các kiểu thảm thực vật” rừng ở Việt Nam, mô tả - phân tích cấu trúc và đề xuất những định hướng nhằm phục hồi và bảo vệ các hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam.[18]
Aubresville chủ biên, đã công bố bộ Thực vật chí Camphuchia, Lào và Việt Nam do 29 tập nhỏ gồm 74 họ thực vật có mạch
Viện điều tra quy hoạch rừng công bố Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988) gồm 7 tập và cuốn Những loài thực vật rừng quý hiếm cần bảo vệ ở Việt Nam
Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), (1999 – 2000) có bộ Cây cỏ Việt Nam tác giả
đã thống kê có mô tả và kèm theo hình vẽ của hơn 11.600 loài thực vật Việt Nam.[5]
Tập thể các Nhà thực vật học Việt Nam (2001, 2003, 2005) biên soạn cuốn Danh lục các loài thực vật Việt Nam và bộ Thực vật chí Việt Nam Hiện nay đã xuất bản được 11 tập Đây là các tài liệu rất hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo
về tài nguyên thực vật Việt Nam
Năm 1969, Phan Kế Lộc đã thống kê và bổ sung số loài ở miền Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi, 140 họ Trong đó có 5.069 loài thực vật Hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại.[6]
Thái Văn Trừng đã thống kê thực vật Việt Nam, gồm 7.004 loài, 1850 chi,
289 họ
Trang 19Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [20] đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2.582 chi, 395 họ
Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ, 733 loài
Lê Trần Chấn nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận 10.192 loài của 2.298 chi, 285 họ của 6 ngành thực vật
Nguyễn Tiến Bân (2005) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.603 loài, trong đó ngành Ngọc lan với 10.775 loài
Trần Đình Lý và cộng sự, (1993) 1900 cây có ích ở Việt Nam
Võ Văn Chi, 1997, (2012) Từ điển cây thuốc Việt Nam
Võ Văn Chi và Trần Hợp, (1999) Cây cỏ có ích ở Việt Nam
Nguyễn Thiện Tịch (2001), Lan Việt Nam
Trần Hợp (2002), Tài nguyên cây gỗ Việt Nam.[11]
Đỗ Tất Lợi, (1977) Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam [12]
Nghiên cứu về yếu tố địa lý thực vật
Pocs Tamas (1965) [34] đã phân tích và sắp xếp các loài thực vật ở Bắc Việt Nam có 5.190 loài Tác giả đã xây dựng phổ các yếu tố địa lý cho hệ thực vật ở miền Bắc Việt Nam, trong đó các yếu tố cũng nhƣ thành phần của chúng đều có sự thay đổi so với những kết quả nghiên cứu của Gagnepain, cụ thể nhƣ sau:
*Nhân tố bản địa đặc hữu: 39,90%
Trang 20và nhân tố bản địa đặc hữu Việt Nam làm một (45,7% cộng theo Gagnepain và 52,79% cộng theo Pocs Tamas) và căn cứ theo khu phân bố hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã nâng tỷ lệ các loài đặc hữu bản địa lên 50%, yếu tố di cư chiếm tỷ lệ 39% (trong đó từ Malaysia – Indonesia là 15%, từ Hymalaya – Vân Nam – Quí Châu là 10% và từ Ấn Độ - Miến Điện là 14%), các nhân tố khác theo tác giả chỉ chiếm 11% (7% nhiệt đới, 3% ôn đới và 1% thế giới), nhân tố nhập nội vẫn là 3,08%.[18]
Trên cơ sở phân tích các yếu tố địa lý thực vật của nhiều địa phương trên toàn quốc, kết hợp với những đánh giá, nhận xét về địa lý thực vật Việt Nam, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [20] đã tổng hợp và kết luận hệ thực vật Việt Nam được cấu thành bởi các yếu tố:
1.Yếu tố đặc hữu Việt Nam: là những loài chỉ phân bố trong phạm vi của Việt
Nam
2 Yếu tố Đông Dương: bao gồm Đông Dương hẹp là các loài chỉ phân bố trong
phạm vi ba nước Đông Dương và Đông Dương rộng là những loài phân bố trong phạm vi ba nước Đông Dương đến Vân Nam (Trung Quốc), Thái Lan, Miến Điện về phía tây bắc và bán đảo Mã Lai về phía nam
3 Yếu tố Đông và Đông Nam Á: gồm những loài phân bố trong phạm vi ba nước
Đông dương về phía bắc đến các tỉnh phía nam sông Hoàng Hà (Trung Quốc)
và về phía nam đến bán đảo Mã Lai
4 Yếu tố Đông Dương – Himalaya: gồm những loài phân bố từ vùng Đông Dương
đến Vân Nam về phía bắc và Ấn Độ và Miến Điện về phía tây có nghĩa là những loài phân bố theo sự kéo dài của dãy Himalaya
Trang 215 Yếu tố nhiệt đới châu Á hay là yếu tố Ấn Độ - Malezia: bao gồm những loài
phân bố từ cực nam Trung Quốc đến các đảo của Indonesia, Malaixia, Philippin, Niu Ghinê, giới hạn đông đến đảo Fiji và các đảo Nam Thái Bình Dương nhưng không tới châu Úc
6 Yếu tố nhiệt đới Á – Úc: là những loài phân bố từ nam Trung Quốc đến Ấn Độ,
Miến Điện, đến bắc Úc và các đảo Thái Bình Dương
7 Yếu tố ôn đới: gồm các loài phân bố từ Việt Nam đến các nước ôn đới như Nga,
Mông Cổ, Triều Tiên, Nhật Bản,
8 Yếu tố cổ nhiệt đới: là các loài phân bố khắp các vùng nhiệt đới châu Á, châu
Phi và Châu Úc
9 Yếu tố liên nhiệt đới: là các loài phân bố cả vùng cổ nhiệt đới và tân nhiệt đới
tức là các loài có cả ở vùng nhiệt đới châu Phi, châu Mỹ, châu Á và châu Úc
9.1 Yếu tố châu Á và châu Mỹ nhiệt đới: bao gồm các loài chỉ gặp ở châu Á
và vùng nhiệt đới châu Mỹ, chúng có thể mở rộng tới bắc Úc và các đảo Thái Bình Dương
9.2 Yếu tố nhệt đới châu Á và châu Phi: bao gồm những loài phân bố ở vùng
hiệt đới châu Á và châu Phi Một số có thể mở rộng tới các vùng đảo Thái Bình Dương
10.Yếu tố toàn cầu: đó là các loài phân bố gần khắp thế giới từ vùng nhiệt đới đến
vùng ôn đới, từ cổ nhiệt đới đến vùng tân nhiệt đới
11.Yếu tố cây trồng: bao gồm những loài cây trồng và cây được trồng
Nghiên cứu phổ dạng sống của hệ thực vật
Pocs Tamas (1965) [34] trong công trình nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam đã phân tích một số thành phần phổ dạng sống của hệ thực vật Bắc Việt Nam như sau:
- Cây gỗ lớn cao trên 30m (Meg): 4,85%
- Cây có chồi vừa trên đất cao 8-30m (Mes) và cây có chồi nhỏ trên đất cao 2- 8m (Mi): 13,80%
Trang 22- Cây có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na): 18,02%
- Cây có chồi trên đất leo cuốn (Lp): 9,08%
- Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep): 6,45%
- Cây chồi sát đất (Ch); cây chồi nửa ẩn (H), cây chồi ẩn (Cr): 40,68%
- Cây chồi một năm (Th): 7,12%
Và phổ dạng sống như sau:
SB = 52,20 Ph + 40,68 (Ch,H,Cr) + 7,12 Th Ngoài ra nhiều tác giả khác đã vận dụng thang phân loại của Raunkiaer để lập phổ dạng sống cho nhiều hệ thực vật khác nhau
Năm 1987 – 1990, trong công trình “Góp phần nghiên cứu một số đặc điểm
cơ bản của hệ thực vật Lâm Sơn, tỉnh Hòa Bình” Lê Trần Chấn và tập thể đã phân tích lập phổ dạng sống cho vùng này như sau [13]:
SB = 57,78 Ph + 10,46 Ch + 12,38 Hm + 8,37 Cr + 11,01 Th
Năm 2001, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn có nghiên cứu đầu về
đa dạng hệ thực vật ở Vườn quốc gia Pù Mát trong đó có phổ dạng sống.[13]
Thái Văn Trừng (1978) [24] còn áp dụng các ký hiệu khác cho chồi và lá theo các trạng mùa, ký hiệu về hình dạng tán, chất liệu dây leo… [25]
Nghiên cứu giá trị sử dụng của hệ thực vật
Trang 23Những giá trị sử dụng của thực vật được các tác giả mô tả trong các tài liệu như:
Thực vật Nam Bộ (Loureiro, 1790)
Thực vật rừng Nam Bộ (Pierre, 1879)
Thực vật chí Đông Dương (Lecomte chủ biên, 1907 - 1952)
Cây cỏ thường thấy (Lê Khả Kế và cộng sự, 6 tập, 1969-1975)
Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1999-2000)
Cây gỗ rừng Việt Nam (Viện điều tra quy hoạch rừng, 1971-1988)
Vietnam Forest Tree (Vũ Văn Dũng và cộng sự, 1996)
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, tái bản 2003)
1900 cây có ích ở Việt Nam (Trần Đình Lý và cộng sự, 1995)
Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi, Trần Hợp, 1999-2002)
Tài nguyên thực vật Việt Nam (Trần Minh Hợi và cộng sự, 2013)
Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu ở các khu hệ thực vật địa phương khác nhau đều căn cứ trên các tài liệu khác nhau để đánh giá giá trị tài nguyên thực vật.[25]
Nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam
Việt Nam có gần 20% diện tích lãnh thổ phần đất liền là đá vôi (khoảng
60.000km2) Đá vôi chủ yếu tập trung ở các vùng núi phía Bắc, có nơi chiếm diện tích rất lớn của toàn tỉnh như Hòa Bình (54%), Cao Bằng (49,47%), Tuyên Quang (49,92%), Hà Giang (38,01%) Nhiều thị xã, thị trấn nằm trọn trên các vùng núi đá vôi như Mai Châu (Hòa Bình), Mộc Châu, Yên Châu (Sơn La), Tủa Chùa, Tam Đường (Lai Châu), Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang),…[3]
Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản Việt Nam [3] thì
cả nước có 1.147.100 ha núi đá mà chủ yếu là núi đá vôi Trong đó diện tích núi đá vôi có rừng là 396.200 ha
Hệ sinh thái rừng núi đá vôi đã và đang đóng một vai trò rất quan trọng đối với nghiên cứu khoa học cũng như kinh tế, môi trường, cảnh quan Tuy hệ sinh thái
Trang 24rừng núi đá vôi đã có nhiều tác giả đề cập theo từng chuyên đề riêng lẻ nhưng việc nghiên cứu đa dạng sinh học vùng núi đá vôi một cách có hệ thống thì chưa nhiều
Về thực vât, ngoài các luận chứng kinh tế kỹ thuật để xây dựng các Vườn quốc gia
và Khu bảo tồn thiên nhiên đã có một số công trình của Nguyễn Nghĩa Thìn (1995- 2000), Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ, Trần Văn Thụy (1995); Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ (1996) [20]; Phan Kế Lộc và cộng sự
(1999-2001)
1.3 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Hà Giang và VQG Du Già
Các công trình nghiên cứu về đa dạng hệ thực vật ở tỉnh Hà Giang bước đầu
là những dẫn liệu báo cáo về sự có mặt của các nhóm loài quý hiếm, những loài Hạt trần hoặc những loài mới phát hiện hoặc tính đa dạng của hệ thực vật tại các khu bảo tồn thiên nhiên Đáng chú ý, có 69 loài thuộc thuộc Sách đỏ Việt Nam (2007), 22 loài mới và 48 loài thực vật ghi nhận mới cho Việt Nam.[16]
Thảm thực vật ở Hà Giang được mô tả ít nhiều bởi Thái Văn Trừng và Trần Ngũ Phương hoặc được sơ lược trong tài nguyên thực vật khu vực Lô Gâm Chảy được thực hiện bởi tập thể cán bộ Viện Địa lý (2003) Ngoài ra còn có các báo cáo nội bộ của các đơn vị quản lý rừng đặc dụng.[16]
Bên cạnh những nghiên cứu về đa dạng loài và hệ thực vật còn có những nghiên cứu khác liên quan đến giá trị sử dụng tài nguyên thực vật và ứng dụng triển khai các mô hình lâm đặc sản, mô hình lâm nghiệp tại Hà Giang.[16]
Trong tạp chí sinh học (2014), Vũ Anh Tài, Nguyễn Ngĩa Thìn, với bài viết
“Kết quả điều tra và thống kê các loài thực vật bị đe dọa ở tỉnh Hà Giang, Việt Nam” tóm tắt: “Bài báo này trình bày kết quả điều tra, thống kê và đánh giá các loài thực vật có giá trị bảo tồn ở Hà Giang theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) [1] Theo đó, kết quả nghiên cứu dựa trên tất cả các loài thực vật bậc cao có mạch phân
bố ở địa phương và các loài thực vật được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) Chúng tôi đã xác định ở Hà Giang có có 156 loài, chiếm 36,6% tổng số loài thực vật bị đe dọa của cả nước, 1 loài có khả năng tuyệt chủng ngoài thiên nhiên, 13 loài
Trang 25rất nguy cấp, 61 loài nguy cấp và 81 loài và một thứ sẽ nguy cấp; đồng thời kết quả nghiên cứu đã bổ sung 88 loài thực vật quý hiếm cho địa phương Kết quả cho thấy,
hệ thực vật tỉnh Hà Giang còn rất đa dạng, đây là cơ sở khoa học giúp cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học của địa phương”.[17]
Đỗ Khắc Hùng (2014), với luận án tiến sĩ sinh học, tác giả đã nghiên cứu về hiện trạng thảm thực vật và quá trình phục hồi rừng tự nhiên ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Tác giả đã nghiên cứu về hiện trạng thảm thực vật; những thay đổi các yếu tố chủ yếu trong quá trình diễn thế đi lên từ thảm cỏ đến thảm cây bụi thấp, thảm cây bụi cao và đến rừng thứ sinh Qua đó, tác giả đánh giá khả năng và
đề xuất một số giải pháp phục hồi rừng tự nhiên ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.[28]
Nguyễn Việt Bách (2011), với luận án thạc sỹ khoa học lâm nghiệp “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Quang, tỉnh Hà Giang”, tác giả đã nghiên cứu về đa dạng hệ thực vật, đa dạng thảm thực vật, nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học tại khu vực và đưa ra giải pháp bảo tồn.[29]
Vũ Anh Tài (2014) có nghiên cứu về đa dạng hệ thực vật, thảm thực vật tỉnh
Hà Giang Tác giả đã xây dựng được danh lục các loài thực vật có mạch cho tỉnh
Hà Giang gồm 2.890 loài, trong đó 297 loài được thu mẫu, 265 loài được quan sát
và bổ sung vùng phân bố là tỉnh Hà Giang.[16]
Ngoài ra còn có những nghiên cứu về thực vật tại các Khu bảo tồn thiên nhiên và một số vùng khác trong tỉnh Hà giang, tuy nhiên còn rất nhiều vùng trong tỉnh chưa có nghiên cứu nào đề cập đến
- Tại Vườn quốc gia Du Già đã có 2 lần điều tra đa dạng sinh vật vào các năm 1994 và 2014
Tháng 11 năm 2015, Trung tâm Tài nguyên Môi trường - Viện Điều tra, Quy hoạch Rừng phối hợp với Ban quản lý VQG Du Già tiếp tục tổ chức đợt điều tra bổ sung về đa dạng sinh vật và kinh tế - xã hội với kết luận “Nhìn chung hệ thực vật
Trang 26VQG Du Già và cao nguyên đá Đồng Văn phong phú đa dạng, có giá trị cao về khoa học và kinh tế Kết quả khảo sát bước đầu đã thống kê được 1.061 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 619 chi và 202 họ thuộc 6 ngành thực vật, đồng thời ghi nhận được 29 họ thực vật đa dạng nhất”
Trang 27CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định các đặc điểm đặc trưng của hệ thực vật tại khu vực xã Minh Sơn – Vườn quốc gia Du Già – cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang từ đó xây dựng được danh lục thực vật và đưa ra các giải pháp quản lý tài nguyên thực vật
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật bậc cao có mạch phân bố tự
nhiên tại khu vực xã Minh Sơn – Vườn quốc gia Du Già – cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang
- Phạm vi nghiên cứu: Được thực hiện hiện trên các tuyến điều tra đại diện
tại xã Minh Sơn huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang trong thời gian từ ngày 17 tháng 02 năm 2017 đến ngày 10 tháng 05 năm 2017
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các đặc điểm về hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu
- Các yếu tố tác động đến hệ thực vật
- Đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên thực vật cho khu vực nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Chuẩn bị: Trước khi tiến hành điều tra trực tiếp cần chuẩn bị các tài liệu có
liên quan cũng như chuẩn bị các dụng cụ điều tra cần thiết trong quá trình làm việc
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
- Kế thừa những tài liệu về điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn), đặc điểm kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu; những quy định của VQG Du Già
Trang 28- Những kết quả nghiên cứu, các tài liệu khác liên quan đến quá trình nghiên cứu như sách, giáo trình, luận văn tốt nghiệp …
2.4.2 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn người dân có kinh nghiệm đi rừng, các cơ quan quản lý tài nguyên (hạt kiểm lâm, các tổ kiểm lâm cơ động) … để nắm được các điều kiện tự nhiên ở khu vực nghiên cứu, tên các loài thực vật (tên địa phương), những tác động của con người và động vật đến hệ thực vật rừng
2.4.3 Phương pháp ngoại nghiệp
Để điều tra về đặc điểm của hệ thực vật và thành phần loài tại xã Minh Sơn, tôi sử dụng các phương pháp điều tra sau đây:
2.4.3.1 Điều tra sơ thám
Điều tra toàn bộ khu vưc nghiên cứu để xác định các tuyến điều tra chính sao cho các tuyến điều tra vừa đại diện, điển hình vừa phù hợp thuận tiện cho công tác điều tra
2.4.3.2 Điều tra theo tuyến
- Dựa vào bản đồ khu vực của xã Minh Sơn xác định các sinh cảnh chính cần giám sát, đánh giá và thu mẫu sau đó tiến hành điều tra tỉ mỉ
- Trên tuyến điều tra, thống kê toàn bộ thành phần các loài thực vật bậc cao
có mạch xuất hiện từ cây gỗ, cây bụi, dây leo, cây phụ sinh và cây thân thảo ở hai bên tuyến điều tra
- Quan sát ghi nhận các yếu tố tác động tới tài nguyên thực vật và mức độ ảnh hưởng của chúng ngoài hiện trường (hoạt động khai thác lâm sản, hoạt động du lịch, công tác quản lý quy hoạch, )
- Phương pháp thu mẫu: chụp ảnh mẫu tại hiện trường, quan sát, ghi chép đầy đủ thông tin về mẫu (số hiệu mẫu, ngày lấy mẫu, người lấy mẫu, địa điểm lấy mẫu, sinh cảnh nơi lấy mẫu, thông tin cây lấy mẫu mà mẫu khô không thể hiện được)
Trang 292.4.4 Phương pháp nội nghiệp
2.4.4.1 Giám định mẫu
Giám định mẫu theo phương pháp hình thái so sánh Tham khảo các tài liệu
về thực vật để xác định được tên sơ bộ ban đầu của các mẫu Những mẫu chưa biết tên tiếp tục tiến hành tra cứu các tài liệu chuyên khảo và hỏi ý kiến chuyên gia Khi
đã xác định được tên các loài thì tiến hành kiểm tra lại tên khoa học bằng các tài liệu khoa học để hạn chế mức tối đa sự nhầm lẫn, sai sót
2.4.4.2 Xây dựng bảng danh lục các loài thực vật
Xây dựng bảng danh lục theo hệ thống phân loại của Brummit (1992) [31], các loài được sắp xếp theo mẫu biểu 01
Mẫu biểu 01 Danh lục thực vật xã Minh Sơn, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang
TT Tên Việt Nam
Tên khoa học
Dạng sống
Công dụng
Mức độ quý hiếm
Số hiệu mẫu
Ảnh
Ghi chú:
Cột 1: Thứ tự của taxon trong danh lục
Cột 2: Ghi tên phổ thông của các taxon (ngành, lớp, họ, loài)
Cột 3: Ghi tên khoa học của các ngành, lớp, họ và loài, xếp theo các ngành thực vật từ thấp đến cao Các họ trong ngành (lớp) và các loài trong họ được xếp theo thứ tự trong bảng chữ cái abc
Cột 4: Dạng sống theo cách phân loại của Raunkiaer (1934) Gồm các nhóm sau: Cây chồi trên (Ph); Cây chồi trên to (Mg); Cây chồi trên nhỡ (Me); Cây chồi trên nhỏ (Mi); Cây chồi trên lùn (Na); Cây bì sinh (Ep); Dây leo gỗ (Lp); Cây chồi sát đất (Ch); Cây chồi nửa ẩn (Hm); Cây chồi ẩn (Cr); Cây một năm (T)
Cột 5: Giá trị sử dụng của loài thưc vật đó trên theo cách phân chia nhóm công dụng của Trần Minh Hợi (2013) như sau: Cây lấy gỗ (A); Cây trồng rừng và
Trang 30phụ trợ trong nông lâm nghiệp (B); Các loài tre trúc (C); Cây có hoa, làm cảnh và bóng mát (D); Cây song mây (E); Cây có dầu béo (F); Cây dùng làm thức ăn cho người và gia súc (G); Cây cho tannin và chất tạo màu (H); Cây làm thuốc (I); Cây cho tinh dầu (K)
Cột 6: Mức độ quý hiếm ghi theo phân hạng của IUCN (2016), Sách Đỏ Việt Nam 2007, Nghị định 32 của Chính phủ năm 2006
Cột 7, 8: Các thông tin về số hiệu mẫu và ảnh mẫu đã thu được tại khu vực nghiên cứu
2.4.4.3 Đánh giá bản chất hệ thực vật
Đánh giá
Xây dựng và hoàn thiện danh lục thực vật tại khu vực xã Minh Sơn xong tôi tiến hành thống kê số loài trong các chi, số chi trong các họ, số họ trong các ngành thực vật khác nhau rồi tính tỉ lệ phần trăm của các bậc taxon, từ đó ta có thể đánh giá tính đa dạng của các bậc taxon
Thống kê các họ và các chi nhiều loài, tính tỉ lệ phần trăm số loài của các chi
và các họ nhiều loài so với toàn bộ số loài trong khu hệ thực vật Từ đó, ta đánh giá các chi và các họ đa dạng nhất tại xã Minh Sơn
Nghiên cứu những loài quý hiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng
Các loài hiếm và có nguy cơ bị tiêu diệt theo các căn cứ sau:
Nghị định Chính phủ 32/2006/ NĐ-CP, ngày 30/3/2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quí hiếm
Sách đỏ Việt Nam (2007) – Phần thực vật
Nghiên cứu các loài có ích
Phỏng vấn người dân, tham khảo các tài liệu đã công bố để ghi nhận công dụng của các loài thực vật tại xã Minh Sơn như: Sách Đỏ Việt Nam phần thực vật (2007);
1900 cây có ích (Trần Đình Lý, 1993); Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997); Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2001); Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi - Trần Hợp, tập I – 1999, tập II- 2002),…
Trang 312.4.4.4 Nghiên cứu yếu tố hệ thực vật địa lý
Mỗi một khu hệ thực vật được hình thành ngoài mối tương quan của các sinh vật với các yếu tố sinh thái như khí hậu, đất đai, địa hình, địa mạo chúng còn phụ thuộc vào các điều kiện địa lý, địa chất xa xưa ít khi thấy được một cách trực tiếp Chính các yếu tố này đã tạo nên sự đa dạng về thành phần loài của từng khu vực
Vì vậy, trong khi xem xét sự đa dạng về thành phần loài, cần xem xét bản chất cấu thành nên hệ thực vật của mỗi vùng và các yếu tố địa lý thực vật của xã Minh Sơn Việc thiết lập phổ các yếu tố địa lý, tôi áp dụng sự phân chia của Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) Sau đó, tôi tiến hành lập phổ các yếu tố địa lý để dễ dàng so sánh và xem xét cấu trúc các yếu tố địa lý thực vật giữa các vùng với nhau
2.4.4.5 Nghiên cứu bản chất sinh thái của hệ thực vật
Dạng sống được coi là một chuẩn trong nghiên cứu thực vật học, hình thái học thực vật nói chung và đa dạng thực vật nói riêng Dạng sống có liên quan mật thiết đến môi trường sinh thái và sự tác động của môi trường lên khu hệ thực vật Chính vì vậy sự đa dạng về phổ dạng sống nói lên tính chất nguyên sinh của một hệ thực vật và phản ánh sự tác động của các nhân tố sinh thái lên hệ thực vật đó Để nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật, tôi sử dụng phương pháp của Raunkiaer (1934) [36] đã được Thái Văn Trừng (1999) xây dựng theo sơ đồ theo hai mùa: thuận lợi và khó khăn
1 Cây chồi trên (Phanerophytes) – Ph: bao gồm những cây có chồi trong
mùa khó khăn nằm cách mặt đất từ 25cm trở lên Ví dụ: Sâng, Chò chỉ,…
Nhóm này được chia thành những nhóm nhỏ:
1.1 Cây chồi trên to (Megaphanerophytes) – Mg: là cây gỗ hay dây leo gỗ
cao từ 25m trở lên: Sâng, Chò chỉ, Chò xanh, Lim
1.2 Cây chồi trên nhỡ (Mesophanerophytes) – Me: gồm những cây gỗ hay
dây leo gỗ từ 8-25m: Gội, Sung, Máu chó, Trường Có thể gồm một số loài cây thân thảo hóa gỗ như Tre, Nứa
1.3 Cây chồi trên nhỏ (Microphanerophytes) – Mi: là cây gỗ nhỏ, cây bụi,
dây leo gỗ có thân cây hóa gỗ, cao từ 2-8m: Chòi mòi, Dâu da, Ngái, Mận, Đào
Trang 321.4 Cây chồi trên lùn (Nanophanerophytes) – Na: gồm cây gỗ lùn, cây bụi
hay nửa bụi, dây leo gỗ nhỏ, có thân hóa gỗ, cao từ 25-200 cm: các loài thuộc họ
Cà phê, Thầu dầu, Ô rô, Gai dưới tán rừng hay các loài như Bồng bồng, Dứa mỹ, Hoa hồng, Nhài
1.5 Cây bì sinh (Ebiphytes-phanerophytes) – Ep gồm những cây bì sinh
sống lâu năm trên thân, cành cây gỗ, trên vách đá… như các loài Dương xỉ, Phong lan
1.6 Cây mọng nước (Suculentes) – Suc bao gồm những cây mọng nước như
Xương rồng, Thuốc bỏng…
1.7 Dây leo gỗ (Lianophanerophytes) – Lp: Kim ngân, Bàm bàm, Mã
tiền, Vằng
1.8 Cây ký sinh hay bán ký sinh (Parasite-hemiparasit phanerophytes) – Pp
gồm những cây sống ký sinh hay bán ký sinh
2 Cây chồi sát đất (Chamaephytes) – Ch: gồm những cây có chồi trong mùa
khó khăn cách mặt đất dưới 25 cm, mùa đông được lớp tuyết hay lá khô bao phủ chống lạnh hay chống khô: Cao cẳng, Mạch môn
3 Cây chồi nửa ẩn (Hermicryptophytes) – Hm: gồm những cây có chồi
trong mùa khó khăn nằm sát mặt đất (ngang mặt) được lá khô che phủ, bảo vệ, thường các loài này có thân nửa nằm dưới đất, nửa nằm trên mặt đất: nhiều loài thuộc Dương xỉ, Náng
4 Cây chồi ẩn (Cryptophytes) – Cr: gồm những cây có chồi trong mùa khó
khăn nằm dưới đất hay dưới nước: Cỏ tranh, Gừng, Củ ấu, Khoai tây
5 Cây thủy sinh (Hydrophytes) – Hy: gồm những cây có chồi nằm trong
nước hay trong đất dưới nước: Rong tóc tiên, Rong mái chèo, Sen, Súng
6 Cây một năm (Therophytes) – Th: gồm những cây trong thời kỳ khó khăn
toàn bộ cây bị chết đi, chỉ còn duy trì nòi giống dưới dạng hạt Đó là toàn bộ cây có đời sống ngắn hơn một năm, sống ở bất cứ môi trường nào: các loài cỏ, rau Tàu bay, Cải cúc, Cỏ mực
Trang 33Lần lượt xem từng loài của hệ thực vật thuộc nhóm dạng sống nào, sau đó xem từng nhóm dạng sống gồm bao nhiêu loài, sau đó tính tỷ số phần trăm của từng nhóm dạng sống và cuối cùng lập phổ các dạng sống của hệ thực vật
2.4.4.6 Phân tích quan hệ với các hệ thực vật khác
Để đánh giá mức độ giống nhau hay khác nhau của các hệ thực vật, căn cứ vào các chỉ số giống nhau theo Sorenson (theo Ane E Magurran, 1983):
S = a + b2c Trong đó: S là chỉ số Sorenson nhận giá trị thực từ 0 đến 1
a là số loài của hệ thực vật A
b là số loài của hệ thực vật B
c là số loài mà cả hệ thực vật A và B đều có
Theo công thức, ta có:
S = 1 chỉ xảy ra khi hai hệ thực vật có các loài hoàn toàn giống nhau
S = 0 xảy ra khi hai hệ thực vật không có loài nào giống nhau chung
S đạt giá trị càng gần 1 tương ứng với mối quan hệ giữa hai hệ thực vật càng chặt chẽ
S có giá trị càng gần 0 chứng tỏ mối quan hệ giữa hai hệ thực vật càng cách
xa nhau
Từ những nội dung nghiên cứu, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển
hệ thực vật tại xã Minh Sơn
Trang 34CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Xã Minh Sơn nằm phía Tây Bắc của huyện Bắc Mê, cách thị trấn Yên Phú
30 km, là xã vùng cao có đường tỉnh lộ 176 chạy qua, có vị trí địa lý tiếp giáp với các đơn vị hành chính sau:
Phía Bắc giáp huyện Yên Minh
Phía Đông giáp xã Giáp Trung
Phía Tây giáp xã Yên Định và huyện Vị Xuyên
Phía Nam giáp xã Minh Ngọc
Minh Sơn có tổng diện tích đất tự nhiên là 14.711,56 ha
3.1.2 Đặc điểm địa hình, khí hậu, thủy văn
3.1.2.1 Địa hình
Địa hình cao được phân bố ở phía Đông và phía Đông Nam Địa hình chia cắt mạnh, độ dốc phần lớn trên 250 Tập trung tại các thôn: Lùng Thóa, Khuổi Lòa, Kẹp B, Suối Thầu, Phia Đeng, Kho Thum, Kẹp A, Lùng Quốc, Kho Là
Địa hình núi thấp được phân bố chủ yếu ở phía Bắc và phía Tây Bắc của xã với độ cao từ 700 m – 1200 m Đây là nơi tập trung đông dân cư của xã, bao gồm các thôn: Nà Ngoòng, Pó Pèng, Lũng Vầy, Ngọc Trì, Bình Ba, Nà Sáng, Bản Vàn, Khuổi Kẹn
3.1.2.2 Khí hậu
Minh Sơn nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới Thời tiết trong năm chia thành
2 mùa rõ rệt: Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng
5 đến tháng 10 Lượng mưa trung bình hàng năm 1.616 mm Nhiệt độ trung bình năm 22,3°C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 32,4°C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 12,6°C, sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 19,8°C
Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1.437 giờ, trong đó tháng có nhiều nắng trong năm là tháng 8, tháng có giờ nắng ít nhất là tháng 2
Trang 35- Chế độ gió: Có 2 mùa gió chính, gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, các thôn ở vùng cao có khí hậu lạnh hơn so với các thôn ở vùng thấp
3.1.2.3 Thủy văn
Trên địa bàn xã có 3 suối lớn chảy qua: Suối Nậm Trì, suối Nậm Lĩnh, suối Bản Vàn Ngoài ra, xã còn 1 hệ thống các suối lớn nhỏ khác nhau phân bố rải rác trong xã Nhìn chung, do địa hình phức tạp và lượng mưa phân bố không đều, vào mùa mưa thường xảy ra lũ lụt gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp
và sinh hoạt của nhân dân
3.1.3 Nguồn tài nguyên
cơ và đạm khá; lân ở mức trung bình và nghèo (P2O5: 0,02 - 0,07%); kali tổng số khá, song kali trao đổi thấp
Trang 363.1.3.2 Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: nguồn nước mặt chủ yếu của xã được lấy từ 3 suối lớn: suối Nậm Trì, suối Nậm Lĩnh, suối Bản Vàn Ngoài ra còn có một hệ thống sông suối lớn nhỏ phân bố rải rác trong xã, do địa hình phức tạp và lượng mưa phân bố không đều vì vậy mùa mưa thường gây ra lũ lụt gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
- Nguồn nước ngầm: Trữ lượng nước ngầm theo các nghiên cứu cho thấy mực nước ngầm rất sâu, trữ lượng thấp, rất khó khăn cho việc khai thác nguồn nước này để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt
3.1.3.3 Tài nguyên rừng
Minh Sơn là có tiềm năng rừng khá lớn Tổng diện tích đất rừng năm 2011 là 12.620,04 ha, chiếm khoảng 85,78 % tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó diện tích đất rừng sản xuất là 4.961,53 ha, chiếm 39,31 % diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng đặc dụng là 3.757,94 ha, chiếm tỷ lệ 29,78 % diện tích đất lâm nghiệp; đất rừng phòng hộ là 3.900,57 ha, chiếm 30,91 % diện tích đất lâm nghiệp
Các kiểu hệ sinh thái trên khu vực xã bao gồm:
- Hệ sinh thái rừng tự nhiên trên núi cao trên 1.600 m Đây là hệ sinh thái rừng hỗn giao lá rộng, lá kim thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Du Già phân bố ở phía Bắc của xã Thực vật điển hình tại khu bảo tồn Du Già là những cây Sa mộc dầu,
Pơ mu, Kim giao núi đất
- Hệ sinh thái rừng kín thường xanh hỗn giao lá rộng, lá kim á nhiệt đới ở độ cao 600-1.600 m: Hệ sinh thái chủ yếu gồm một số loài cây lá rộng á nhiệt đới như
dẻ, long não, xoan, những cây nhỏ và dây leo
- Hệ sinh thái nông nghiệp
- Hệ sinh thái khu dân cư
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số, lao động, tình hình phân bố dân cư
Tổng toàn xã có 1.050 hộ với 5.824 khẩu; trong đó có 127 hộ giàu + khá,
532 hộ trung bình, 391 hộ là hộ nghèo Trên địa bàn xã có khoảng 6 dân tộc sinh
Trang 37sống, trong đó: Kinh 31 người, Tày 1.296 người, H’Mông 2.803 người, Dao 1.689 người, Nùng 4 người, dân tộc khác 1 người
Số người trong độ tuổi lao động năm 2011 là 2667 lao động, trong đó: lao động nam có 1301 người, lao động nữ có 1366 người Lao động trên địa bàn xã chủ yếu là lao động nông nghiệp và tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp
Hiện trạng đất ở khu dân cư nông thôn trên địa bàn xã là 39,4 ha chiếm 0,27
% tổng diện tích tự nhiên của xã tập trung ở 17 thôn bản trong xã Khu dân cư nông thôn đã được hình thành từ lâu đời gắn liền với truyền thống văn hoá cộng đồng làng xã
Dân cư ở tương đối tập trung thành cụm dân cư thuận lợi cho việc xây dựng
cơ sở hạ tầng xã hội, kỹ thuật phục vụ cho đời sống và sản xuất, tuy nhiên có một
số điểm dân cư nhỏ lẻ nằm rải rác
3.2.2 Tình hình kinh tế
Thu nhập bình quân đầu người năm 2011 đạt 6,5 triệu đồng/người thấp hơn
so với thu nhập bình quân của tỉnh Hà Giang (7,42 triệu đồng/người) Cơ cấu kinh
tế của xã có bước chuyển dịch quan trọng, đúng hướng phù hợp với mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ tăng dần, tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp thuỷ sản trong nền kinh tế giảm dần Cụ thể
cơ cấu kinh tế năm 2011:
Tỷ trọng của ngành nông lâm nghiệp, thủy sản 60%
Tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng 25%
Tỷ trọng ngành dịch vụ tăng 15%
- Sản xuất nông lâm thủy sản đã phát triển khá Đã khai thác có hiệu quả đất đai, tăng nhanh hệ số sử dụng đất Thành tích nổi bật của ngành nông nghiệp là sản xuất lương thực vẫn ổn định và phát triển, giải quyết đủ lương thực tại chỗ và nâng cao thu nhập cho bà con nông dân Đã tập trung phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, bước đầu hình thành một số vùng chuyên canh ở các khu vực có điều kiện Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp được tăng cường một bước
Trang 38Việc ứng dụng các kỹ thuật - công nghệ mới, nhất là trong khâu giống và kỹ thuật canh tác vào sản xuất; nên năng suất, chất luợng cây trồng, vật nuôi tăng nhanh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của thị trường Ngành lâm nghiệp đã đạt những thành tựu to lớn trong bảo vệ, khoanh nuôi và phát triển rừng nên diện tích rừng tăng nhanh
- Tuy đã có những chuyển biến tích cực nhưng ngành nông nghiệp của Minh Sơn vẫn còn lạc hậu: sản xuất còn mang tính tự cung tự cấp, quy mô nhỏ lẻ, chất lượng chưa cao Tiềm năng đất đai trồng cây công nghiệp và chăn nuôi đại gia súc rất lớn nhưng chưa được đầu tư khai thác có hiệu quả; chưa tạo ra các sản phẩm mang tính chủ lực Công tác khuyến nông, khuyến lâm hướng dẫn đến người nông dân chưa kịp thời; việc thực hiện quy trình kỹ thuật không được nghiêm chỉnh, công tác thanh kiểm tra thuốc thú y, giống cây trồng chưa thực hiện thường xuyên dẫn đến năng suất, hiệu quả không cao Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ nông lâm nghiệp còn thiếu và yếu chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển
3.2.3 Tình hình văn hóa - xã hội
Về văn hóa, thông tin, thể dục thể thao:
Trong những năm qua, xã thường xuyên quan tâm, đầu tư cơ sở vật chất, vì vậy công tác văn hóa, thể dục thể thao có bước phát triển mạnh Hiện nay xã duy trì tốt các phong trào văn hóa, văn nghệ gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc
Phong trào xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa được đông đảo người dân tham gia hưởng ứng Toàn xã có 10/17 thôn văn hóa, 333 hộ gia đình văn hóa
Tỷ lệ nhân dân được phủ sóng truyền hình đạt 100%
Về giáo dục – đào tạo:
Giáo dục đào tạo trong những năm qua không ngừng được nâng cao về chất lượng: tỷ lệ chuyển lớp, chuyển cấp đạt tỷ lệ cao cụ thể: tiểu học 95%, THCS 78%,
tỷ lệ huy động trẻ từ 0 – 2 tuổi đạt 8,91%, từ 3 – 5 tuổi đạt 65,20%, trẻ 5 tuổi đạt 90,2%, tỷ lệ huy động trẻ từ 6 – 14 tuổi đến trường đạt 98% Xã duy trì tốt kết quả phổ cập THCS
Trang 39Về công tác y tế:
Xã thường xuyên tổ chức công tác tuyên truyền, vận động nhân dân làm tốt công tác vệ sinh, phòng bệnh, công tác khám chữa bệnh cho nhân dân, thực hiện tốt chương trình y tế quốc gia Do đó, trong những năm qua không có dịch bệnh xảy ra trên địa bàn Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm còn 25%
Về hệ thống chính trị, an ninh quốc phòng:
Trong năm 2011, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tiếp tục được củng cố và giữ vững đặc biệt là bảo vệ tốt các ngày lễ lớn: bầu cử Quốc hộ khóa XIII và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 Công tác phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội tiếp tục được tăng cường, năm 2011 trong xã
đã xảy ra 11 vụ gây rối trật tự công cộng, đã giải quyết được 9 vụ trong đó phạt hành chính 1 vụ, cảnh cáo 2 vụ, hòa giải 6 vụ
Về kiến trúc cảnh quan:
Hiện trạng kiến trúc cảnh quan xã (tại các khu vực tập trung xây dựng): Nhìn chung các công trình tại khu trung tâm đã xây dựng đúng theo quy hoạch khu trung tâm xã, đảm bảo về mặt cảnh quan và thẫm mỹ
- Hiện trạng xây dựng các công trình hạ tầng xã hội trên địa bàn xã: Các công trình về các lĩnh vực y tế, giáo dục, đã được xây dựng theo lối kiến trúc hiện đại, đảm bảo được yêu cầu sử dụng Ngoài ra công trình nhà văn hóa thôn bản được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống
- Hiện trạng nhà ở và kiến trúc nhà ở trong khu vực dân cư: Trên địa bàn xã
có nhiều dân tộc cùng sinh sống nên kiểu kiến trúc nhà ở rất phong phú và đa dạng
Có các kiểu nhà Sàn truyền thống của dân tộc Thái, H’Mông, kiểu nhà cấp IV của người Kinh tạo nên một sắc thái cảnh quan đa dạng
Trang 40CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu
4.1.1 Danh lục các loài thực vật tại khu vực xã Minh Sơn
Chúng tôi đã xác định được tại khu vực nghiên cứu có 208 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 156 chi, 82 họ trong 4 ngành: Ngành Thông đất, ngành Dương
xỉ, ngành Thông, ngành Dương xỉ và ngành Ngọc Lan Danh lục và hình ảnh tất cả các loài thực vật phân bố tại khu vực nghiên cứu được tổng hợp trong phụ lục 01 và
Bảng 4.1: Sự phân bố các taxon trong các ngành thực vật ở khu vực nghiên cứu