1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm hệ thực vật tại khu vực xã bát mọt thường xuân thanh hóa

100 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 9,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đánh giá kết quả học tập của sinh viên trước khi ra trường và được sự nhất trí của trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, tôi tiến hành thực h

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại học lâm nghiệp Việt nam từ năm 2014 đến nay, chương trình học của tôi đã kết thúc Để đánh giá kết quả học tập của sinh viên trước khi ra trường và được sự nhất trí của trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, tôi

tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp “Nghiên cứu đặc điểm hệ thực vật tại khu

vực xã Bát Mọt – Thường Xuân – Thanh Hóa” tại xã Bát Mọt, huyện Thường

Xuân, tỉnh Thanh Hóa

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Hoàng Văn Sâm, người đã hướng dẫn tận tình, giúp đỡ tôi trong quá trình làm đề tài và giám định mẫu Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ kiểm lâm tại xã Bát Mọt Huyện Thường Xuân Thanh Hóa đã giúp đỡ, cung cấp những thông tin hữu ích trong quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do bản thân còn hạn chế nhất định

về mặt chuyên môn và kiến thức thực tế, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu điều tra nên đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Hội đồng khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để bài luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày 5 tháng 6 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Vi Thị Thúy

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 Trên thế giới 3

1.2 Ở Việt Nam 4

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 14

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

2.3 Nội dung nghiên cứu 14

2.4 Phương pháp nghiên cứu 14

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 15

2.4.2 Phương pháp phỏng vấn 15

2.4.3 Phương pháp ngoại nghiệp 15

2.4.4 Phương pháp nội nghiệp 17

CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI 23

3.1 Điều kiện tự nhiên 23

3.1.1 Vị trí 23

3.1.2 Diện tích tự nhhiên 23

3.1.3 Đặc điểm tình hình, khí hậu 23

3.2 Tài nguyên 25

3.2.1Thủy văn và nguồn nước: 25

3.2.2Tài nguyên rừng: 25

3.2.3Tài nguyên đất đai 26

Trang 3

3.3 Nhân lực: 26

3.4 Đánh giá tiềm năng của xã 26

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28

4.1 Danh lục các loài thực vật tại xã Bát Mọt 28

4.1.2 Đánh giá tính đa dạng của hệ thực vật 28

4.2 Đánh giá tính đa dạng về giá trị của hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu 37

4.2.1 Các loài quý hiếm và có nguy cơ bị tiêu diệt tại khu vực nghiên cứu 37

4.2.2Các loài có ích tại khu vực nghiên cứu 38

4.3 Phân tích về phổ dạng sống của hệ thực vật 39

4.3.1 Phân tích về phổ dạng sống tại khu vực nghiên cứu 39

4.3.2 So sánh với phổ dạng sống của các khu vực khác 42

4.4 Phân tích mối quan hệ với hệ thực vật khác 43

4.4.1 Mối quan hệ với hệ thực vật núi đá vôi tại xã Đồng Yên, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 43

4.4.2 Mối quan hệ với hệ thực vật khác 44

4.5 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển hệ thực vật 45

4.5.1 Giải pháp về kỹ thuật 45

4.5.2 Giải pháp tuyên truyền 46

4.5.3 Giải pháp kinh tế 46

4.5.4 Giải pháp quản lý 47

KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

IUCN International Union for Conservation of Nature and Natural

Resources

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BẢNG

Bảng 4.1 Sự phân bố các taxon trong các ngành thực vật khu vực nghiên cứu 28

Bảng 4.2 Tỷ trọng của lớp Ngọc lan so với lớp Loa kèn 29

Bảng 4.3 Danh sách 10 họ thực vật có số loài lớn nhất tại xã Bát Mọt 31

Bảng 4.4 Danh sách các chi nhiều loài tại xã Bát Mọt 33

Bảng 4.5 Danh sách các họ đơn loài tại xã Bát Mọt 34

Bảng 4.6 Danh sách các loài quý hiếm tại Xã Bát Mọt 37

Bảng 4.7 Tỷ lệ các nhóm công dụng của các loài thực vật tại xã Bát Mọt 38

Bảng 4.8 Tỷ lệ phổ dạng sống của hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu 40

Bảng 4.10, Tổng hợp các taxon của hai hệ thực vật ở hai khu vực 43

Bảng 4.11 So sánh các chỉ số đa dạng của hệ thực vật xã Bát Mọt với các hệ thực vật khác 44

Trang 6

DANH MỤC BIỂU

Biểu 4.1 Biểu đồ thể hiện tỉ trọng lớp Ngọc lan và lớp Loa kèn tại khu vực xã Bát Mọt 30 Biểu 4.2 Biểu đồ thể hiện số loài của 10 họ đa dạng nhất của hệ thực vật tại xã Bát Mọt 32 Biểu 4.3 Biểu đồ thể hiện số loài của 10 chi đa dạng nhất của hệ thực vật tại Bát Mọt 34 Biểu 4.4 Biểu đồ thể hiện các nhóm công dụng của hệ thực vật tại xã Bát Mọt 39 Biểu 4.5 biểu đồ các dạng sống chính của hệ thực vật xã Bát Mọt 41 Biểu 4.6 Biểu đồ các kiểu dạng sống của nhóm cây có chồi trên đất 41

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam nằm dọc trên bán đảo Đông Dương thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều, có hình dạng hẹp về chiều ngang, tổng diện tích phần đất liền là 325,360 km2, kéo dài theo hướng bắc nam từ Mũi Cà Mau- tỉnh Cà Mau đến Lũng Cú- tỉnh Hà Giang 3/4 lãnh thổ là vùng đồi núi xen kẽ là một hệ thống các sông suối chằng chịt tạo nên sự chia cắt mạnh và phức tạp của bề mặt địa hình là nhân tố quan trọng tạo nên sự đa dạng cao trong bản đồ sinh khí hậu

ở Việt Nam Một trong 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới

với nhiều loài động, thực vật hoang dã quý hiếm, các hệ sinh thái đặc trưng và là nước có nguồn tài nguyên thực vật giàu có bậc nhất Đông Nam Á

Rừng che phủ một phần ba diện tích lục địa, hiện nay sinh kế của hơn 1,6

tỷ người trên trái đất phụ thuộc vào rừng Ngoài chức năng cung cấp những lâm sản phục vụ nhu cầu của con người, rừng còn có chức năng bảo vệ môi trường sinh sống và là nơi lưu giữ các nguồn gen động thực vật phục vụ cho cho các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp Rừng có được những chức năng đó là nhờ

có tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái Một hệ sinh thái bền vững phải đảm bảo tính ổn định ở cấu trúc, trong đó yếu tố thực vật là rất quan trọng có vai trò quyết định đến sự tồn vong của hệ sinh thái Thực vật vừa là nguồn cung cấp dinh dưỡng và năng lượng, còn là lá phổi xanh của trái đất, là nơi tổ chức nhiều hoạt động sản xuất lâm nghiệp, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái…Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội, con người đã lạm dụng quá mức vào tự nhiên làm cho nhiều cánh rừng ở khu vực này bị giảm sút cả về diện tích và chất lượng Khi hệ sinh thái rừng bị tàn phá quá mức, tính điều tiết của nó mất đi, nhiều trận lũ quét, sạt lở, gió bão, hạn hán, cháy rừng, ô nhiễm môi trường sống, các căn bệnh hiểm nghèo… sẽ thường xuyên đe dọa cộng đồng dân cư địa phương, thiệt hại về nhân lực và vật chất sẽ không lường hết được Tất cả thảm họa đó là kết quả của việc phá rừng Vì vậy vấn đề cấp thiết được các nhà khoa học và nhân loại đặt ra là hãy cùng nhau bảo vệ rừng, bảo vệ tính đa dạng sinh học

Trang 8

Thực vật nói chung, thực vật rừng nói riêng giữ vai trò quan trọng trong đời sống loài người Nó không chỉ cung cấp thức ăn, vật liệu xây dựng, thuốc chữa bệnh cho con người mà còn tham gia vào quá trình giữ đất, giữ nước, điều hoà khí hậu cải thiện môi trường sinh thái

Xã Bát Mọt là một xã miền núi đặc biệt khó khăn thuộc huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên Người dân ở đây đa số là dân tộc thiểu số, đời sống sản xuất của họ chủ yếu là nông nghiệp và nghề trồng rừng Rừng tự nhiên ở khu vực này không còn nhiều nhưng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự sống còn của cộng đồng trong việc duy trì tính đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường sinh thái tại địa phương Tuy nhiên trong thực tế hiện nay nguồn tài nguyên rừng tại đây đang bị tác động mạnh bởi sức ép dân số xung quanh Thêm vào đó khu vực có nét đặc sắc trong văn hóa và kiến thức bản địa nhưng hiện tại mức độ phát triển kinh tế, xã hội chưa cao, chưa tận dụng hết cơ hội phát triển các nguồn tài nguyên tái tạo, bền vững Nhiều vụ đốt rừng thường xuyên xảy ra, đặc biệt là vẫn nạn khai thác và buôn bán tài nguyên thiên nhiên trái phép Do vậy, việc phân tích, đánh giá tài nguyên thực vật của một khu vực sẽ xác định được bản chất, tính chất, mức độ

đa dạng của hệ thực vật tại khu vực và qua đó dự báo được xu hướng biến đổi của chúng trong tương lai gần, làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên, bảo tồn nguồn gen quý hiếm Nghiên cứu đặc điểm hệ thực vật ở đây là rất cần thiết, có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn sâu sắc

Để đánh giá được tính đa dạng thực vật, sự biến đổi của thực vật theo đai cao, xác định các nguyên nhân gây suy giảm từ đó đề xuất giải pháp nhằm bảo

tồn đa dạng thực vật ở xã Bát Mọt, “Nghiên cứu đặc điểm hệ thực vật tại khu

vực xã Bát Mọt – Thường Xuân – Thanh Hóa”

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

Nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen sinh vật trên thế giới được bắt đầu từ rất sớm bằng những công trình phân loại về thực vật và động vật

Vấn đề này ngày nay đã trở thành một chiến lược trên thế giới Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn

và phát triển đa dạng sinh học trên phạm vi toàn cầu

Người ta đã tìm thấy các tài liệu có mô tả về thực vật xuất hiện ở Ai Cập khoảng 3000 năm trước Công nguyên và ở Trung Quốc 2000 năm trước Công nguyên

Kiến thức về cây cỏ được loài người ghi chép và lưu lại từ rất sớm Sớm nhất có lẽ là tác phẩm của Aristote (384-322 trước Công nguyên) Tiếp đó là tác phẩm lịch sử thực vật của Theophraste (khoảng 349 trước Công nguyên) Trong

đó, ông đã mô tả, giới thiệu gần 500 loài cây cỏ với các chỉ dẫn về nơi mọc và công dụng.[8]

Trong lĩnh vực nghiên cứu về đa dạng của hệ thực vật và thảm thực vật đã

có nhiều tác giả trên thế giới quan tâm và có các công trình công bố như [30]:

- Lecomte, H, 1907-1952, Flora generale de I’ Indochine Tom I-VII, Pari.[33]

- Phedorov A.A, 1965 Vai trò của tài nguyên thực vật đối với kinh tế quốc dân, Tạp chí Tài nguyên thực vật, tập 1 số 1, Tiếng Nga

- Plant Resources of South - East – Asia -7, 1995 Bamboo – Bogor Indonesia

- IUCN, 1998 The world list of Threatened trees World Conservasion Press

- IUCN, 2001, Red list of Threatened Plants.[26]

Ở Nga, từ năm 1928-1932 được xem là giai đoạn mở đầu cho thời kỳ

nghiên cứu hệ thực vật Tolmachop A.I cho rằng “Chỉ cần điều tra trên một

Trang 10

diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý” Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể

Tolmachop A.I đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường xanh là 1500-2000 loài.[29]

Brummit (1992) [32] chuyên gia của Phòng Bảo Tàng Thực Vật Hoàng

Gia Anh, trong cuốn “Vascular plant families and genera” đã thống kê tiêu bản

thực vật cao có mạch trên thế giới vào 511 họ, 13.884 chi, 6 ngành là: Khuyết lá

thông (Plilotophyta), Thông đá (Lycopodiophyta), Cỏ tháp bút (Equisetophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Hạt trần (Gymnospermae) và Hạt kín (Angiospermae) Trong đó ngành Hạt kín (Angiospermae) có 13.477 họ, 454

chi và được chia ra hai lớp là:

Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) bao gồm 10.715 chi, 357 họ và Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) bao gồm 2.762 chi, 97 họ.[6]

Takhtajan [37] Viện sỹ thực vật, Acmenia đã có những đóng góp lớn cho

khoa học phân loại thực vật Trong cuốn “Diversity and Classifcation of

Flowering Plant” (1977), đã thống kê và phân chia toàn bộ thực vật Hạt kín trên

thế giới khoảng 260.000 loài, vào khoảng 13.500 chi, 591 họ, 232 bộ thuộc 16

phân lớp và 2 lớp Trong đó Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) gồm 11 phân

lớp, 175 bộ, 458 họ, 10.500 chi; không dưới 195.000 loài vào Lớp Một lá mầm

(Monocotyledoneae) gồm 6 phân lớp, 57 bộ, 133 họ, trên 3000 chi và khoảng

về tài nguyên rừng Việt Nam đã được tác giả trong và ngoài nước tiến hành nghiên cứu

Trang 11

Một số danh y đã được biết đến nhờ việc nghiên cứu về thực vật và tìm ra những phương thuốc chữa bệnh như Tuệ Tĩnh, Hải thượng Lãn Ông… Việc nghiên cứu thực vật theo hướng khoa học mới được biết đến khi Pháp xâm chiếm Việt Nam Công trình thống kê mô tả thực vật như “Thực vật rừng Nam Bộ” của Pierre (1879-1899), ông đã tìm ra và đặt tên cho nhiều loài mới ở Việt Nam.[8]

Cuối thế kỷ XIX A.Chevalier (1919) đã có những nghiên cứu về các hệ sinh thái rừng Bắc Bộ

P Maurand 1943, đã nghiên cứu “các kiểu quần thể” của ba vùng sinh thái Bắc Đông Dương Nam Đông Dương và vùng trung gian Dương Hàm Y

1956, công bố nghiên cứu về “Tài nguyên rừng rú ở Việt Nam” Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác như Loeschau 1960, Thái Văn Trừng 1970,

1978, Trần Ngũ Phương 1970, 2000,… đã nghiên cứu về rừng Bắc Bộ Việt Nam P.W.Richards 1952, đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái, tác giả này đã mô tả một số đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới

là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ, rừng có nhiều tầng (thường có 3 tầng, ngoại trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ), nhiều loài cây leo đủ hình dáng

và kích thước, cùng nhiêu thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây G.N.Baur

1962, nghiên cứu các vấn đề cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó ông đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử

lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Theo tác giả, các phương thức xử lý lâm sinh bao gồm: mục tiêu thứ nhất là nhằm cải thiện rừng nguyên sinh vốn thường hỗn loài và không đồng tuổi bằng cách đào thải những cây quá thành thục và vô dụng để tạo không gian thích hợp cho các cây còn lại sinh trưởng Mục tiêu thứ hai là tạo lập tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái sinh nhân tạo không giải phóng lớp cây tái sinh có sẵn có ở trong trạng thái ngủ để thay thế cho những cây đã lấy ra khỏi rừng trong khai thác hoặc chăm sóc và nuôi dưỡng rừng sau đó Cuối cùng tác giả đưa ra những tổng kết hết sức

Trang 12

phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa.[9]

Công trình Thực vật chí Đông Dương gồm 7 tập chính và 1 tập bổ sung,

đã được công bố từ năm 1907 – 1952 bởi nhà thực vật người Pháp H Lecomte chủ biên Trong công trình này, tác giả đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả cho 7004 loài thực vật bậc cao có mạch ở Đông Dương Trên cơ sở bộ Thực vật chí Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978) trong công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã thống kê ở khu hệ thực vật nước ta có 7004 loài thực vật bậc cao

có mạch thuộc 1850 chi và 289 họ Thái Văn Trừng đã khẳng định ưu thế của ngành Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài (chiếm 90,9%), 1727 chi (chiếm 93,4%) và 239 họ (chiếm 82,7%).[6]

Công trình nghiên cứu của Thái Văn Trừng (1963-1978) [24], Trần Ngũ Phương [14] về thảm thực vật rừng Việt Nam Các tác giả đã phân chia thảm thực vật rừng nước ta thành các kiểu rừng, kiểu phụ và các ưu hợp, quần hợp thực vật phổ biến.[13]

Trong tác phẩm “Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam” 1978, tác giả Thái Văn Trừng đã tiếp tục hoàn thiện quan điểm “Sinh thái phát sinh quần thể trong các kiểu thảm thực vật” rừng ở Việt Nam, mô tả - phân tích cấu trúc và

đề xuất những định hướng nhằm phục hồi và bảo vệ các hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam.[18]

Aubresville chủ biên, đã công bố bộ Thực vật chí Camphuchia, Lào và Việt Nam do 29 tập nhỏ gồm 74 họ thực vật có mạch

Viện điều tra quy hoạch rừng công bố Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988) gồm 7 tập và cuốn Những loài thực vật rừng quý hiếm cần bảo vệ ở Việt Nam

Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), (1999 – 2000) có bộ Cây cỏ Việt Nam tác giả đã thống kê có mô tả và kèm theo hình vẽ của hơn 11.600 loài thực vật Việt Nam.[5]

Trang 13

Tập thể các Nhà thực vật học Việt Nam (2001, 2003, 2005) biên soạn cuốn

Danh lục các loài thực vật Việt Nam và bộ Thực vật chí Việt Nam Hiện nay đã xuất bản đƣợc 11 tập Đây là các tài liệu rất hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo về tài nguyên thực vật Việt Nam

Năm 1969, Phan Kế Lộc đã thống kê và bổ sung số loài ở miền Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi, 140 họ Trong đó có 5.069 loài thực vật Hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại.[6]

Thái Văn Trừng đã thống kê thực vật Việt Nam, gồm 7.004 loài, 1850 chi,

289 họ Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [20] đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2.582 chi, 395 họ

Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ, 733 loài Lê Trần Chấn nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận 10.192 loài của 2.298 chi, 285 họ của 6 ngành thực vật

Nguyễn Tiến Bân (2005) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.603 loài, trong đó ngành Ngọc lan với 10.775 loài Trần Đình Lý và cộng sự, (1993) 1900 cây có ích ở Việt Nam Võ Văn Chi, 1997, (2012) Từ điển cây thuốc Việt Nam Võ Văn Chi và Trần Hợp, (1999) Cây cỏ có ích ở Việt Nam Nguyễn Thiện Tịch (2001), Lan Việt Nam Trần Hợp (2002), Tài nguyên cây gỗ Việt Nam.[11] Đỗ Tất Lợi, (1977) Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam [12]

Nghiên cứu về yếu tố địa lý thực vật

Pocs Tamas (1965) [34] đã phân tích và sắp xếp các loài thực vật ở Bắc Việt Nam có 5.190 loài Tác giả đã xây dựng phổ các yếu tố địa lý cho hệ thực vật ở miền Bắc Việt Nam, trong đó các yếu tố cũng nhƣ thành phần của chúng đều có sự thay đổi so với những kết quả nghiên cứu của Gagnepain

Năm 1978, Thái Văn Trừng [24] căn cứ vào bảng thống kê các loài của hệ thực vật Bắc Việt Nam đã cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài đặc hữu Tuy nhiên, khi thảo luận tác giả đã gộp các nhân tố di cƣ từ Nam Trung

Trang 14

Hoa và nhân tố bản địa đặc hữu Việt Nam làm một (45,7% cộng theo Gagnepain

và 52,79% cộng theo Pocs Tamas) và căn cứ theo khu phân bố hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã nâng tỷ lệ các loài đặc hữu bản địa lên 50%, yếu tố

di cư chiếm tỷ lệ 39% (trong đó từ Malaysia – Indonesia là 15%, từ Hymalaya – Vân Nam – Quí Châu là 10% và từ Ấn Độ - Miến Điện là 14%), các nhân tố khác theo tác giả chỉ chiếm 11% (7% nhiệt đới, 3% ôn đới và 1% thế giới), nhân

tố nhập nội vẫn là 3,08%.[18]

Trên cơ sở phân tích các yếu tố địa lý thực vật của nhiều địa phương trên toàn quốc, kết hợp với những đánh giá, nhận xét về địa lý thực vật Việt Nam, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [20] đã tổng hợp và kết luận hệ thực vật Việt Nam được cấu thành bởi các yếu tố:

1.Yếu tố đặc hữu Việt Nam: là những loài chỉ phân bố trong phạm vi của

Việt Nam

2 Yếu tố Đông Dương: bao gồm Đông Dương hẹp là các loài chỉ phân bố

trong phạm vi ba nước Đông Dương và Đông Dương rộng là những loài phân bố trong phạm vi ba nước Đông Dương đến Vân Nam (Trung Quốc), Thái Lan, Miến Điện về phía tây bắc và bán đảo Mã Lai về phía nam

3 Yếu tố Đông và Đông Nam Á: gồm những loài phân bố trong phạm vi

ba nước Đông dương về phía bắc đến các tỉnh phía nam sông Hoàng Hà (Trung Quốc) và về phía nam đến bán đảo Mã Lai

4 Yếu tố Đông Dương – Himalaya: gồm những loài phân bố từ vùng

Đông Dương đến Vân Nam về phía bắc và Ấn Độ và Miến Điện về phía tây có nghĩa là những loài phân bố theo sự kéo dài của dãy Himalaya

5 Yếu tố nhiệt đới châu Á hay là yếu tố Ấn Độ - Malezia: bao gồm những

loài phân bố từ cực nam Trung Quốc đến các đảo của Indonesia, Malaixia, Philippin, Niu Ghinê, giới hạn đông đến đảo Fiji và các đảo Nam Thái Bình Dương nhưng không tới châu Úc

6 Yếu tố nhiệt đới Á – Úc: là những loài phân bố từ nam Trung Quốc đến

Ấn Độ, Miến Điện, đến bắc Úc và các đảo Thái Bình Dương

Trang 15

7 Yếu tố ôn đới: gồm các loài phân bố từ Việt Nam đến các nước ôn đới

như Nga, Mông Cổ, Triều Tiên, Nhật Bản,

8 Yếu tố cổ nhiệt đới: là các loài phân bố khắp các vùng nhiệt đới châu Á,

châu Phi và Châu Úc

9 Yếu tố liên nhiệt đới: là các loài phân bố cả vùng cổ nhiệt đới và tân

nhiệt đới tức là các loài có cả ở vùng nhiệt đới châu Phi, châu Mỹ, châu Á và châu Úc

9.1 Yếu tố châu Á và châu Mỹ nhiệt đới: bao gồm các loài chỉ gặp ở châu

Á và vùng nhiệt đới châu Mỹ, chúng có thể mở rộng tới bắc Úc và các đảo Thái Bình Dương

9.2 Yếu tố nhệt đới châu Á và châu Phi: bao gồm những loài phân bố ở

vùng hiệt đới châu Á và châu Phi Một số có thể mở rộng tới các vùng đảo Thái Bình Dương

10.Yếu tố toàn cầu: đó là các loài phân bố gần khắp thế giới từ vùng nhiệt

đới đến vùng ôn đới, từ cổ nhiệt đới đến vùng tân nhiệt đới

11.Yếu tố cây trồng: bao gồm những loài cây trồng và cây được trồng

Nghiên cứu phổ dạng sống của hệ thực vật

Pocs Tamas (1965) [34] trong công trình nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam đã phân tích một số thành phần phổ dạng sống của hệ thực vật Bắc Việt Nam như sau:

- Cây gỗ lớn cao trên 30m (Meg): 4,85%

- Cây có chồi vừa trên đất cao 8-30m (Mes) và cây có chồi nhỏ trên đất cao 2-8m (Mi): 13,80%

- Cây có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na): 18,02%

- Cây có chồi trên đất leo cuốn (Lp): 9,08%

- Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep): 6,45%

- Cây chồi sát đất (Ch); cây chồi nửa ẩn (H), cây chồi ẩn (Cr): 40,68%

- Cây chồi một năm (Th): 7,12%

Và phổ dạng sống như sau:

Trang 16

SB = 57,78 Ph + 10,46 Ch + 12,38 Hm + 8,37 Cr + 11,01 Th

Năm 2001, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn có nghiên cứu đầu

về đa dạng hệ thực vật ở Vườn quốc gia Pù Mát trong đó có phổ dạng sống.[13]

Thái Văn Trừng (1978) [24] còn áp dụng các ký hiệu khác cho chồi và lá theo các trạng mùa, ký hiệu về hình dạng tán, chất liệu dây leo… [25]

Nghiên cứu giá trị sử dụng của hệ thực vật

Những giá trị sử dụng của thực vật được các tác giả mô tả trong các tài liệu như:

-Thực vật Nam Bộ (Loureiro, 1790)

-Thực vật rừng Nam Bộ (Pierre, 1879)

-Thực vật chí Đông Dương (Lecomte chủ biên, 1907 - 1952)

-Cây cỏ thường thấy (Lê Khả Kế và cộng sự, 6 tập, 1969-1975)

-Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1999-2000)

-Cây gỗ rừng Việt Nam (Viện điều tra quy hoạch rừng, 1971-1988)

-Vietnam Forest Tree (Vũ Văn Dũng và cộng sự, 1996)

-Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, tái bản 2003)

-1900 cây có ích ở Việt Nam (Trần Đình Lý và cộng sự, 1995)

-Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi, Trần Hợp, 1999-2002)

Trang 17

-Tài nguyên thực vật Việt Nam (Trần Minh Hợi và cộng sự, 2013)

Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu ở các khu hệ

thực vật địa phương khác nhau đều căn cứ trên các tài liệu khác nhau để đánh

giá giá trị tài nguyên thực vật.[25]

Nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam

Việt Nam có gần 20% diện tích lãnh thổ phần đất liền là đá vôi (khoảng

60.000km2) Đá vôi chủ yếu tập trung ở các vùng núi phía Bắc, có nơi chiếm

diện tích rất lớn của toàn tỉnh như Hòa Bình (54%), Cao Bằng (49,47%), Tuyên

Quang (49,92%), Hà Giang (38,01%) Nhiều thị xã, thị trấn nằm trọn trên các

vùng núi đá vôi như Mai Châu (Hòa Bình), Mộc Châu, Yên Châu (Sơn La), Tủa

Chùa, Tam Đường (Lai Châu), Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang),…[3] Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản Việt Nam [3] thì cả

nước có 1.147.100 ha núi đá mà chủ yếu là núi đá vôi Trong đó diện tích núi đá

vôi có rừng là 396.200 ha

Hệ sinh thái rừng núi đá vôi đã và đang đóng một vai trò rất quan trọng

đối với nghiên cứu khoa học cũng như kinh tế, môi trường, cảnh quan Tuy hệ

sinh thái rừng núi đá vôi đã có nhiều tác giả đề cập theo từng chuyên đề riêng lẻ

nhưng việc nghiên cứu đa dạng sinh học vùng núi đá vôi một cách có hệ thống

thì chưa nhiều Về thực vât, ngoài các luận chứng kinh tế kỹ thuật để xây dựng

các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên đã có một số công trình của

Nguyễn Nghĩa Thìn (1995-2000), Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ, Trần

Văn Thụy (1995); Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ

(1996) [20]; Phan Kế Lộc và cộng sự

Nghiên cứu hệ thực vật tại khu bảo tồn TNXL

Các công trình nghiên cứu về thảm thực vật tại khu BTTN Xuân Liên là

rất ít Năm 1998, Viện Điều tra Quy hoạch Rừng và Chương trình BirdLife

Quốc tế tại Việt Nam hợp tác với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa đã tiến

hành xây dựng nghiên cứu khả thi thành lập Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân

Liên (Lê Trọng Trải et al 1999) Dựa trên cơ sở những nguyên tắc sinh thái của

Trang 18

Thái Văn Trừng nhóm điều tra đã đưa ra kết luận Thảm thực vật rừng tại Xuân

Liên có các kiểu sau:

- Rừng lá kim hỗn giao và rừng lá rộng thường xanh trên núi thấp chiếm khoảng 18% tổng diện tích khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên ở các đai cao trên

800 m Kiểu rừng này ưu thế bởi các loài cây gỗ lá rộng của các họ Dẻ Fagaceae, Long não Lauraceae và Dầu Dipterocarpaceae, ngoài ra một số loài

hạt trần như Thông nàng Podocarpus imbricatus, Sa mu Cunninghamia konishii

và Pơ mu Fokienia hodginsii cũng xuất hiện rải rác trên các đai cao trên 1000m

trong kiểu rừng này Trên một vài dãy núi nổi lên đến độ cao hơn 1.400 m, xuất hiện kiểu rừng lùn

- Kiểu rừng chính thứ hai là rừng thường xanh trên đất thấp xuất hiện ở độ cao dưới 800 m Kiểu rừng này đã bị chặt phá và suy thoái nghiêm trọng và chỉ chiếm 3% tổng diện tích tự nhiên của vùng

- Các kiểu rừng thứ sinh có rừng hỗn giao tre nứa, cây gỗ và rừng thường xanh phục hồi, cả hai đều là dạng thảm thực vật thứ sinh phát triển từ rừng sau khai thác hoặc sau nương rẫy

- Các kiểu thảm thực vật còn lại là rừng tre nứa thuần loại, trảng cỏ và

trảng cây bụi (Lê Trọng Trải et al 1999)

Trong tháng 10 và 11 năm 1998, BirdLife và Viện ĐTQHR đã tiến hành điều tra thực địa tại Khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên Trong chuyến điều tra này, 752 loài thực vật bậc cao có mạch đã được ghi nhận Hệ thực vật ở khu vực Xuân Liên đặc trưng bởi các taxon bản địa Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc Hai yếu tố địa lý thực vật chính của khu hệ thực vật ở đây là

Ấn Độ - Malayan và Trung Quốc - Himalayan với những đại diện đặc trưng của thực vật của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và chân núi Himalaya, bao gồm một

số loài hạt trần và cây gỗ rụng lá Trong số 560 loài ghi nhận tại Xuân Liên, 4

loài là các loài đặc hữu Việt Nam (Cinnamomum balansae, Colona poilanei,

Croton boniana và Macaranga balansae) (Lê Trọng Trải et al 1999)

Trang 19

Năm 2008, Bộ tài nguyên môi trường - Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật tổng hợp thông tin ĐDSH khu bảo tồn gồm 65 loài thú, 215 loài chim,

88 loài bò sát ếch nhái, 6 loài côn trùng, 61 loài động vật thuỷ sinh và cá, và Khu hệ thực vật là 130 họ, 752 loài

Năm 2011, Uỷ Ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá phê duyệt dự án "Điều tra, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng Khu bảo tồn Xuân Liên, tỉnh Thanh Hoá" với thời gian thực hiện 3 năm ( 2011- 2013) do Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật – Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam; đến nay bước đầu dự án được thực hiện

`Công tác nghiên cứu thực vật luôn là mục tiêu hàng đầu trong công tác bảo tồn thiên nhiên, tuy nhiên kết quả chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có Hoạt động nghiên cứu mới dừng lại ở một số nội dung như: thu thập được 100 mẫu thực vật; liên kết với Trung tâm nghiên cứu lâm đặc sản (Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) quy hoạch, điều tra bảo tồn 120 cá thể Giổi xanh gắn với phát triển nguồn giống; nghiên cứu, chuyển hoá 10 ha rừng giống Keo lai phục vụ trồng rừng tập trung và phân tán trên địa bàn Trên thực tế cho thấy các nghiên cứu mới dừng lại ở mức phát hiện loài, hiện chưa có công trình cụ thể nào đi sâu nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh thái và tình trạng bảo tồn các loài cây quý hiếm này tại khu BTTN Xuân Liên, để từ đó có một hành động cụ thể bảo tồn chúng

Trang 20

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được đặc điểm đặc trưng của hệ thực vật tại khu vực xã Bát Mọt – Thường Xuân – Thanh Hóa từ đó đề xuất được các giải pháp quản lý tài nguyên thực vật tại khu vực nghiên cứu

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật bậc cao có mạch phân bố tự

nhiên tại khu vực xã Bát Mọt – Thường Xuân – Thanh Hóa

- Phạm vi nghiên cứu: Được thực hiện hiện trên các tuyến điều tra đại

diện tại xã Bát Mọt – Thường Xuân – Thanh Hóa trong thời gian từ ngày 29 tháng 02 năm 2018 đến ngày 10 tháng 05 năm 2018

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá tính đa dạng thành phần loài hệ thực vật tại xã Bát Mọt – Thường Xuân – Thanh Hóa

- Đánh gía tính đa dạng về giá trị bảo tồn của hệ thực vật tại xã Bát Mọt – Thường Xuân – Thanh Hóa

-Phân tích về phổ dạng sống hệ thực vật xã Bát Mọt – Thường Xuân – Thanh Hóa

- Đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên thực vật cho khu vực nghiên cứu

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Chuẩn bị: Trước khi tiến hành điều tra trực tiếp cần chuẩn bị các tài liệu

có liên quan cũng như chuẩn bị các dụng cụ điều tra cần thiết trong quá trình làm việc

Trang 21

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

- Kế thừa những tài liệu về điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn), đặc điểm kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu; những quy định của bộ quốc phòng

- Những kết quả nghiên cứu, các tài liệu khác liên quan đến quá trình nghiên cứu như sách, giáo trình, luận văn tốt nghiệp …

2.4.3 Phương pháp ngoại nghiệp

Để điều tra về đặc điểm của hệ thực vật và thành phần loài tại xã Bát Mọt, tôi sử dụng các phương pháp điều tra sau đây:

2.4.3.1 Điều tra sơ thám

Điều tra toàn bộ khu vưc nghiên cứu để xác định các tuyến điều tra chính sao cho các tuyến điều tra vừa đại diện, điển hình vừa phù hợp thuận tiện cho công tác điều tra

2.4.3.2 Điều tra theo tuyến

- Dựa vào bản đồ khu vực của xã Bát Mọt xác định các sinh cảnh chính cần giám sát, đánh giá và thu mẫu sau đó tiến hành điều tra tỉ mỉ ta chia tành các tuyến như sau:

+ Tuyến số 1 ngày 1/2/2018: trạm kiểm lâm Vịn -Huối Cò – Thắm Pòng- Huối Pà –Pát Sa Voi – Hang Ong xã Bát Mọt –Thường Xuân – Thanh Hóa

+ Tuyến số 2 ngày 2/2/2018 : trạm bảo vệ Hón Cạn – suối Hón – làng Khẹo- Pu Mác- trạm khẹo xã Bát Mọt –Thường Xuân – Thanh Hóa

+ Tuyến số 3 ngày 8/2/2018 : núi đá vôi Làng Dưn – núi đá vôi làng chiềng xã Bát Mọt –Thường Xuân – Thanh Hóa

Trang 22

+ Tuyến số 4 ngày 26/2/2018 : pu Buột Pạt - suối Mương – Hón Chao Chiềng xã Bát Mọt –Thường Xuân – Thanh Hóa

+ Tuyến số 5 ngày 3/3/2018 : Pu Nơ ( Dưn) – suối làng Phống – suối Nặm Khèn xã Bát Mọt –Thường Xuân – Thanh Hóa

+ Tuyến số 6 ngày 10/3/2018 : từ Pu Hủng- suối Ké- suối Hương – Hón Chao (Dưn) xã Bát Mọt –Thường Xuân – Thanh Hóa

- Trên tuyến điều tra, thống kê toàn bộ thành phần các loài thực vật bậc cao có mạch xuất hiện từ cây gỗ, cây bụi, dây leo, cây phụ sinh và cây thân thảo

ở hai bên tuyến điều tra

- Quan sát ghi nhận các yếu tố tác động tới tài nguyên thực vật và mức độ ảnh hưởng của chúng ngoài hiện trường (hoạt động khai thác lâm sản, hoạt động

du lịch, công tác quản lý quy hoạch, )

- Phương pháp thu mẫu: chụp ảnh mẫu tại hiện trường, quan sát, ghi chép đầy đủ thông tin về mẫu (số hiệu mẫu, ngày lấy mẫu, người lấy mẫu, địa điểm lấy mẫu, sinh cảnh nơi lấy mẫu, thông tin cây lấy mẫu mà mẫu khô không thể hiện được)

Phương pháp thu mẫu: mô tả các đặc điểm của loài và ghi vào phần lý

lịch mẫu, thu mẫu, ghi số hiệu mẫu vào etiket, treo số hiệu mẫu lên mẫu vật thu

và chụp ảnh

Nguyên tắc thu mẫu,

- Mẫu thu phải là mẫu đại diện nhất của cây, thể hiện được các đặc điểm của loài

- Mẫu thu phải có đầy đủ các bộ phận cành, lá và hoa đối với cây lớn; thu mẫu cả cây đối với cây thân thảo và có quả càng tốt

- Mỗi cây nên thu từ 3- 5 mẫu, còn mẫu cây thân thảo nên tìm các mẫu giống nhau và cũng thu số lượng trên để vừa nghiên cứu tính biến dạng của loài vừa để trao đổi

- Cách đánh số hiệu mẫu, các mẫu thu trên cùng một cây thì đánh cùng một số hiệu mẫu Có hai cách đánh số từ 1 trở đi kể từ khi thu mẫu đầu tiên cho đến hết đời làm nghiên cứu khoa học hoặc đánh số theo năm tháng không phụ

Trang 23

thuộc vào các đợt thu trước đó Ghi số hiệu mẫu theo năm- tháng- ngày- số thứ

tự mẫu Ví dụ, thu mẫu vào ngày 23 tháng 3 năm 2017 ta có thể đánh số là

170323 là gốc và sau đó lần lượt ghi tiếp từ số 01 trở đi Cách đánh số hiệu này giúp ta nhận biết được thời gian thu mẫu nhưng có nhược điểm là không thể biết

cả cuộc đời của nhà thực vật đã thu được bao nhiêu mẫu

- Khi thu mẫu phải ghi chép ngay những đặc điểm mà mẫu không thể hiện được như đặc điểm vỏ cây, kích thước cây, màu sắc của hoa, quả, nhựa mủ, mùi vị,… Khi ghi chép phải ghi bằng bút chì nén, không nên dùng bút bi, bút mực để tránh bị mất khi bị dính nước Sau khi thu mẫu và ghi số hiệu mẫu, treo etiket lên mẫu, đặt mẫu lên tấm bìa phẳng, màu đồng nhất và chụp ảnh Chụp cả mặt trước, mặt sau lá, cuống lá, mép lá, gân lá, hoa, quả (nếu có) hoặc một số đặc điểm đặc biệt đặc trưng của loài

2.4.4 Phương pháp nội nghiệp

2.4.4.1 Giám định mẫu

Giám định mẫu theo phương pháp hình thái so sánh Tham khảo các tài liệu

về thực vật để xác định được tên sơ bộ ban đầu của các mẫu Những mẫu chưa biết tên tiếp tục tiến hành tra cứu các tài liệu chuyên khảo và hỏi ý kiến chuyên gia Khi đã xác định được tên các loài thì tiến hành kiểm tra lại tên khoa học bằng các tài liệu khoa học để hạn chế mức tối đa sự nhầm lẫn, sai sót

2.4.4.2 Xây dựng bảng danh lục các loài thực vật

Xây dựng bảng danh lục theo hệ thống phân loại của Brummit (1992) [31], các loài được sắp xếp theo mẫu biểu 01

Mẫu biểu 01 Da lục thựcật xã Bát Mọt, huyện Thưn Xu, tỉnh Th Hó

Việt

Nam

Tên khoa học

Dạng sống

Công dụng

Mức độ quý hiếm

Số hiệu mẫu

Anh

Trang 24

Ghi chú:

Cột 1: Thứ tự của taxon trong danh lục

Cột 2: Ghi tên phổ thông của các taxon (ngành, lớp, họ, loài)

Cột 3: Ghi tên khoa học của các ngành, lớp, họ và loài, xếp theo các ngành thực vật từ thấp đến cao Các họ trong ngành (lớp) và các loài trong họ được xếp theo thứ tự trong bảng chữ cái abc

Cột 4: Dạng sống theo cách phân loại của Raunkiaer (1934) Gồm các nhóm sau: Cây chồi trên (Ph); Cây chồi trên to (Mg); Cây chồi trên nhỡ (Me); Cây chồi trên nhỏ (Mi); Cây chồi trên lùn (Na); Cây bì sinh (Ep); Dây leo gỗ (Lp); Cây chồi sát đất (Ch); Cây chồi nửa ẩn (Hm); Cây chồi ẩn (Cr); Cây một năm (T)

Cột 5: Giá trị sử dụng của loài thưc vật đó trên theo cách phân chia nhóm công dụng của Trần Minh Hợi (2013) như sau: Cây lấy gỗ (A); Cây trồng rừng và phụ trợ trong nông lâm nghiệp (B); Các loài tre trúc (C); Cây có hoa, làm cảnh và bóng mát (D); Cây song mây (E); Cây có dầu béo (F); Cây dùng làm thức ăn cho người và gia súc (G); Cây cho tannin và chất tạo màu (H); Cây làm thuốc (I); Cây cho tinh dầu (K)

Cột 6: Mức độ quý hiếm ghi theo phân hạng của IUCN (2016), Sách Đỏ Việt Nam 2007, Nghị định 32 của Chính phủ năm 2006

Cột 7, 8: Các thông tin về số hiệu mẫu và ảnh mẫu đã thu được tại khu vực nghiên cứu

2.4.4.3 Đánh giá bản chất hệ thực vật

Đánh giá

Xây dựng và hoàn thiện danh lục thực vật tại khu vực xã Bát Mọt xong tôi tiến hành thống kê số loài trong các chi, số chi trong các họ, số họ trong các ngành thực vật khác nhau rồi tính tỉ lệ phần trăm của các bậc taxon, từ đó ta có thể đánh giá tính đa dạng của các bậc taxon

Trang 25

Thống kê các họ và các chi nhiều loài, tính tỉ lệ phần trăm số loài của các chi

và các họ nhiều loài so với toàn bộ số loài trong khu hệ thực vật Từ đó, ta đánh giá các chi và các họ đa dạng nhất tại xã Bát Mọt

Nghiên cứu những loài quý hiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng

Các loài hiếm và có nguy cơ bị tiêu diệt theo các căn cứ sau:

 Nghị định Chính phủ 32/2006/ NĐ-CP, ngày 30/3/2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm

 Sách đỏ Việt Nam (2007) – Phần thực vật

Nghiên cứu các loài có ích

Phỏng vấn người dân, tham khảo các tài liệu đã công bố để ghi nhận công dụng của các loài thực vật tại xã Bát Mọt như: Sách Đỏ Việt Nam phần thực vật (2007);

1900 cây có ích (Trần Đình Lý, 1993); Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997); Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2001); Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi - Trần Hợp, tập I – 1999, tập II- 2002),…

2.4.4.4 Nghiên cứu yếu tố hệ thực vật địa lý

Mỗi một khu hệ thực vật được hình thành ngoài mối tương quan của các sinh vật với các yếu tố sinh thái như khí hậu, đất đai, địa hình, địa mạo chúng còn phụ thuộc vào các điều kiện địa lý, địa chất xa xưa ít khi thấy được một cách trực tiếp Chính các yếu tố này đã tạo nên sự đa dạng về thành phần loài của từng khu vực

Vì vậy, trong khi xem xét sự đa dạng về thành phần loài, cần xem xét bản chất cấu thành nên hệ thực vật của mỗi vùng và các yếu tố địa lý thực vật của xã Bát Mọt Việc thiết lập phổ các yếu tố địa lý, tôi áp dụng sự phân chia của Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) Sau đó, tôi tiến hành lập phổ các yếu tố địa lý để dễ dàng so sánh và xem xét cấu trúc các yếu tố địa lý thực vật giữa các vùng với nhau

2.4.4.5 Nghiên cứu bản chất sinh thái của hệ thực vật

Dạng sống được coi là một chuẩn trong nghiên cứu thực vật học, hình thái học thực vật nói chung và đa dạng thực vật nói riêng Dạng sống có liên quan mật thiết

Trang 26

đến môi trường sinh thái và sự tác động của môi trường lên khu hệ thực vật Chính

vì vậy sự đa dạng về phổ dạng sống nói lên tính chất nguyên sinh của một hệ thực vật và phản ánh sự tác động của các nhân tố sinh thái lên hệ thực vật đó Để nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật, tôi sử dụng phương pháp của Raunkiaer (1934) [36] đã được Thái Văn Trừng (1999) xây dựng theo sơ đồ theo hai mùa: thuận lợi và khó khăn

1 Cây chồi trên (Phanerophytes) – Ph: bao gồm những cây có chồi trong mùa khó

khăn nằm cách mặt đất từ 25cm trở lên Ví dụ: Sâng, Chò chỉ,…

Nhóm này được chia thành những nhóm nhỏ:

1.1 Cây chồi trên to (Megaphanerophytes) – Mg: là cây gỗ hay dây leo gỗ cao từ

25m trở lên: Sâng, Chò chỉ, Chò xanh, Lim

1.2 Cây chồi trên nhỡ (Mesophanerophytes) – Me: gồm những cây gỗ hay dây leo

gỗ từ 8-25m: Gội, Sung, Máu chó, Trường Có thể gồm một số loài cây thân thảo hóa gỗ như Tre, Nứa

1.3 Cây chồi trên nhỏ (Microphanerophytes) – Mi: là cây gỗ nhỏ, cây bụi, dây leo

gỗ có thân cây hóa gỗ, cao từ 2-8m: Chòi mòi, Dâu da, Ngái, Mận, Đào

1.4 Cây chồi trên lùn (Nanophanerophytes) – Na: gồm cây gỗ lùn, cây bụi hay nửa

bụi, dây leo gỗ nhỏ, có thân hóa gỗ, cao từ 25-200 cm: các loài thuộc họ Cà phê, Thầu dầu, Ô rô, Gai dưới tán rừng hay các loài như Bồng bồng, Dứa mỹ, Hoa hồng, Nhài

1.5 Cây bì sinh (Ebiphytes-phanerophytes) – Ep gồm những cây bì sinh sống lâu

năm trên thân, cành cây gỗ, trên vách đá… như các loài Dương xỉ, Phong lan

1.6 Cây mọng nước (Suculentes) – Suc bao gồm những cây mọng nước như

Trang 27

2 Cây chồi sát đất (Chamaephytes) – Ch: gồm những cây có chồi trong mùa khó

khăn cách mặt đất dưới 25 cm, mùa đông được lớp tuyết hay lá khô bao phủ chống lạnh hay chống khô: Cao cẳng, Mạch môn

3 Cây chồi nửa ẩn (Hermicryptophytes) – Hm: gồm những cây có chồi trong mùa

khó khăn nằm sát mặt đất (ngang mặt) được lá khô che phủ, bảo vệ, thường các loài này có thân nửa nằm dưới đất, nửa nằm trên mặt đất: nhiều loài thuộc Dương xỉ, Náng

4 Cây chồi ẩn (Cryptophytes) – Cr: gồm những cây có chồi trong mùa khó khăn

nằm dưới đất hay dưới nước: Cỏ tranh, Gừng, Củ ấu, Khoai tây

5 Cây thủy sinh (Hydrophytes) – Hy: gồm những cây có chồi nằm trong nước hay

trong đất dưới nước: Rong tóc tiên, Rong mái chèo, Sen, Súng

6 Cây một năm (Therophytes) – Th: gồm những cây trong thời kỳ khó khăn toàn

bộ cây bị chết đi, chỉ còn duy trì nòi giống dưới dạng hạt Đó là toàn bộ cây có đời sống ngắn hơn một năm, sống ở bất cứ môi trường nào: các loài cỏ, rau Tàu bay, Cải cúc, Cỏ mực

Lần lượt xem từng loài của hệ thực vật thuộc nhóm dạng sống nào, sau đó xem từng nhóm dạng sống gồm bao nhiêu loài, sau đó tính tỷ số phần trăm của từng nhóm dạng sống và cuối cùng lập phổ các dạng sống của hệ thực vật

2.4.4.6 Phân tích quan hệ với các hệ thực vật khác

Để đánh giá mức độ giống nhau hay khác nhau của các hệ thực vật, căn cứ vào các chỉ số giống nhau theo Sorenson (theo Ane E Magurran, 1983):

Trang 28

Theo công thức, ta có:

S = 1 chỉ xảy ra khi hai hệ thực vật có các loài hoàn toàn giống nhau

S = 0 xảy ra khi hai hệ thực vật không có loài nào giống nhau chung

S đạt giá trị càng gần 1 tương ứng với mối quan hệ giữa hai hệ thực vật càng chặt chẽ

S có giá trị càng gần 0 chứng tỏ mối quan hệ giữa hai hệ thực vật càng cách xa nhau

Từ những nội dung nghiên cứu, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển hệ thực vật tại xã Bát Mọt

Trang 29

CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI

3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí

Bát Mọt là xa thuộc vùng cao, vùng sâu vùng xa của huyện Thường Xuân, cách thị trấn thường xuân 56km về hía bắc cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 130km

Phía Nam giáp với huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp với nước Lào; phía Đông giáp với xã Yên Nhân; phía Bắc giáp với huyện Lang Chánh

3.1.2 Diện tích tự nhhiên

Xã có tổng diện tích tự nhiên là 20.576,18ha, trong đó :

- Đất sản xuất nông nghhiệp: 19.553,17ha

- Đất sản xuất lâm nghiệp: 18.981,14 ha

- Đất nuôi trông thủy sản: 8.72 ha

- Đất phi nông nghiệp: 350,17ha

- Đất chưa sử dụng; 891,9ha

3.1.3 Đặc điểm tình hình, khí hậu

Đặc thù địa hình của xã Bát Mọt là vùng núi cao, liên kết với nhau tạo thành Những dãy núi liên hoàn, với độ cao khác nhau tạo thành địa hình rất đa dạng và phức tạp Độ cao trung bình từ 300-800m, độ dốc lớn trung bình từ 25-30

độ Địa hình bị chua cắt bởi các con sông, suối và hợp thủy thành từng vùng riêng biệt có hình lòng chảo nghhiêng theo hướng Tây và Tây Bắc

Bát Mọt nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng lớn của vùng núi cao, nên nhiệt độ cao với 2 mùa chính; mùa hè khí hậu nóng, đặc biệt là sự xuất hiện của gió phơn Tây Nam vào đầu mùa hạ ( cuối tháng 4 đến tháng 6 có tới 20-30 ngày có hiện tượng gió phơn thổi) Mùa đông lạnh giá, khô hanh và sương muối Xên kẽ giữa 2 mùa chính, khí hậu chuyển từ hè sang đông là mùa thu ngắn và thường có bão lụt, mưa tập trung và gây lũ cục bộ, lũ ống và lũ quét gây tổn hại

Trang 30

nặng đến sản xuấtvà các công trình xây dựng cơ bản Giữa mùa đông sang hè là mua xuân không rõ rệt, khhí hậu ấm ướt có sương mù và mưa phùn

 Nhiệt độ không khí: Qua theo dõi nhiều năm của trạm thủy văn Bái Thượng và đài khí tượng thủy văn Thanh Hóa cho thấy nhiệt độ năm từ 8000-8.600 độ C

- Nhiệt đọ trung bình năm từ 23-24 độ C

- Nhiệt độ cao nhất năm từ 37-41 độ C(tháng 5-8)

- Lượng bốc hơi trung bình năm 778mm

- Lựng bốc hơi trung bình cao 900mm

- Lượng bốc hơi trung bình thấp 600mm

Bốc hơi nhiều nhất vào tháng 12 đến tháng 3 năm sau

 Gió bão: có 2 hướng gió chính:

- Gió mùa Đông Bắc từ tháng 10-4 năm sau, gió mua Đông Nam từ tháng

4-9 xen kẽ có gió mùa tây khô nóng( tháng 4-7)

- Bão: mỗi năm xa Bát Mọt có vài cơn bão đi qua, tập trung vào tháng 8,9,10 Sau bão thường mưa lớn hay lũ ống lũ quét phá hỏng nhiều cơ sở vật chất, công trình gây tổn hại nhiều đến sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng

Trang 31

* mưa : Tổng lượng mưa (1600-2000mm) phân bố không đều thường tập trung 60-80% lượng mưa vào tháng 5-10

Mưa tiểu mãn vào tháng 5 hoặc đầu tháng 6, kỳ mưa lũ tiếp theo là tháng

7-10 gây ra lũ lụt kéo dài đời sông nhân dân gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt và sản xuất

Các tháng ít mưa từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau dễ gây rakhô hạn, một số cây công nghiệp vùng đồi dễ bị hạn và dễ gây ra cháy rừng

3.2 Tài nguyên

3.2.1Thủy văn và nguồn nước:

+ nguồn nước mặt: tronng vùng có niều con suối nhỏ và hợp thủy như: suối Hón Căng, Hón Chao, Nặm Khèn…Nguồn tài nguyên thiên nhiên về nước đã được khai thác sử dụng phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt bằng việc xây dựng hồ đập chưa nước Đến nay đã đưa vào khai thác, sử dụng tưới cho lúa hoa màu, giữ ẩm cho đất

+ nguồn nướ ngầm: Xã có nguồn nước ngầm khá phong phú, thuộc 2 dạng chính là nước ngầm lỗ hổng trong các tầng trầm tích và nước trong các tầng chứa khe nứt Các kết quả thăm dò cho thấy nướ ngầm phân bố ở khắp các khu vực trong

xã Tại các thung lũng, tầng phân bố nước chỉ ở độ sâu khoảng 2m, sâu nhất khoảng 8-9m

3.2.2Tài nguyên rừng:

Rừng Bát Mọt khá đa dạng, phong phú về thành phần loài Tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 19.610.93ha trong đó rừng sản suất là 5362,39ha, rừng phòng hộ là 3910ha, rừng đặc dụng 8338,10ha Những năm gần đây, thực hiện các dự án 327,661,và 147 đến nay rừng trồng sản suất 680ha, cây trồng chủ yếu là các loại luồng, keo, xoan

Trang 32

3.2.3Tài nguyên đất đai

Theo tài iệu FAO-UNESCO năm 2000, đất Bát Mọt có 4 nhóm và 17 loại đất:

- Nhóm 1: nhóm đất xám- Acrisols(AC) chiếm 89,84%, phân bố trên núi cao, chủ yếu để phát triểm lâm nnghiệp

- Nhóm 2: nhóm đất phù sa- Fluvisols( Fl) chiếm 2,05% phân bố khe suối

- Nhóm 3: nhomd đất đỏ - Ferrlsols(FR) chiếm 3,25%, phân bố chủ yếu ở các vùng đồi núi thấp

- Nhóm 4: nhóm đất đỏ tầng mỏng- Leptosols(LP) chiếm 4,96% phân bố ở các khu vực có độ dốc thấp

3.3 Nhân lực:

Xã Bát Mọt hiện có 9 thôn bản với 721 hộ 3.421 nhân khẩu Gồm 2 dân tộc anh em cùng chung sống Trong đó dân tộc Thái chiếm 97.7%, dân tộc kinh chiếm 2,33% Số người trong độ tuổi lao động có khả nămg ao động là 2240 người,

tỷ lệ lao đông qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật đạt tỷ lệ 17,4% Tổng sốngười lao đông trong độ tuổi lao động có việc làm là 1867 người trong đó:

- Lao đông trng lĩnh vực nông lâm nghiệp, thủy sản: 1995 người, chiếm tỷ lệ 70%

- Lao đông trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng

245 người, chiếm 30% ( trong đó lao đông nước ngoài 17 người)

3.4 Đánh giá tiềm năng của xã

+ Vị trí địa lý có tỉnh lộ Tây Thanh Hóa đi qua và thuận lợi cho giao lưu hàng hóa, đời sống văn hóa tinh thân và phát triển khinh tế đa ngành nghềnông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Trong nông nghiệp chăn nuôi là thế mạnh của xã về nuôi gia súc gia cầm

+ Nguồn lao động dồi dào

+ là huyện vùng cao, đặc thù được hưởng nhiều cơ chế chính sách của chính phủ

Trang 33

+ Tiềm năng đất đai rất đa dạng, diện tích lớn, thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp và phát triển kinh tế trang trại nông lâm kết hợp

+ Bát Mọt có tình hình chính trị xã hội ổn định, quốc phòng đƣợc đảm bảo, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội

+ Nhân dân có truyền thống cần cù lao động, ham học hỏi và sáng tạo trong sản suất và kinh doanh Đội ngũ cán bộ có trình độ, tận tụy với công việc và nhân dân tin cậy

Trang 34

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Danh lục các loài thực vật tại xã Bát Mọt

Tại khu vực nghiên cứu đã xác định được 164 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 136 chi, 72 họ trong 3 ngành (ngành Thông đất, Dương xỉ, Ngọc Lan) Danh lục và hình ảnh của tất cả các loài thực vật phân bố tại khu vực nghiên cứu được tổng hợp trong phụ lục 1 và 2

4.1.2 Đánh giá tính đa dạng của hệ thực vật

4.1.2.1 Đánh giá tính đa dạng bậc ngành

Hệ thực vật tại xã Bát Mọt có 3 ngành thực vật bậc cao có mạch

Sự phân bố của các taxon hệ thực vật được thể hiện trong bảng 4.1

Bảng 4.1 Sự phân bố các taxon trong các ngành thực vật khu vực nghiên cứu

Số lượng

Tỷ lệ

%

Số lượng

Tỷ lệ

%

Số lượng

4.1.2.2 Tỷ trọng hai lớp trong ngành Ngọc lan

Tỷ trọng của lớp Ngọc lan so với lớp Loa kèn ở vùng nhiệt đới luôn lớn hơn

3 Tỷ trọng của lớp Loa kèn sẽ giảm dần khi về gần xích đạo, nghĩa là tính nhiệt đới

sẽ tăng cùng với tỷ trọng cao của lớp Ngọc lan so với lớp Loa kèn (theo Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự, 2002)

Trang 35

Bảng 4.2 Tỷ trọng của lớp Ngọc lan so với lớp Loa kèn

số lƣợn

g

tỷ lệ

%

Số lƣợn

g

Tỷ lệ

%

số lƣợn

số chi trong lớp Ngọc lan, 88,89% trong tổng số họ trong lớp Ngọc lan), còn lớp Loa kèn chỉ có 24 loài, 21 chi, 97họ (chiếm 15,5% trong tổng số loài trong lớp Loa kèn, 15.85% trong tổng số chi trong lớp Loa kèn, 14,28% trong tổng số họ trong lớp Loa kèn)

Từ đó cho thấy hệ thực vật tại xã Bát Mọt mang tính chất của thực vật nhiệt đới Tỷ lệ lớp Ngọc lan/lớp Loa kèn thể hiện cụ thể ở biểu 4.2

Trang 36

Biểu 4.1 Biểu đồ thể hiện tỉ trọng lớp Ngọc lan và lớp Loa kèn tại khu vực

xã Bát Mọt

4.1.2.3 Đánh giá đa dạng các taxon dưới ngành

Đa dạng của hệ thực vật còn được xem xét ở các cấp độ dưới ngành, cụ thể là cấp độ họ và chi Hiện nay thường tập trung xem xét chủ yếu 10 họ hoặc chi giàu loài nhất để làm cơ sở cho việc đánh giá tính đa dạng của hệ thực vật thể hiện ở các cấp độ taxon dưới ngành

a, mức độ đa dạng họ

Để đánh giá tính đa dạng của các taxon thực vật ta sử dụng cách đánh giá của Tolmachop A.L (1974) Theo tác giả, “Ở vùng nhiệt đới, thành phần thực vật đa dạng thể hiện ở chỗ là rất ít họ chiếm 10% tổng số loài của hệ thực vật và tổng tỷ lệ

% của 10 họ giàu loài nhất chỉ đạt 40-50% tổng số loài của cả hệ thực vật” Có nghĩa là, khu hệ thực vật có tổng tỷ lệ % của 10 họ giàu loài nhất trong khoảng

<40-50% so với tổng số loài điều tra là đa dạng về họ thực vật, còn trên 50% là không đa dạng

Trong 72 họ thực vật của xã Bát Mọt ta rút ra được 10 họ có số loài lớn nhất

Số loài được thể hiện cụ thể ở bảng 4.3

0 20

Trang 37

Bảng 4.3 Danh sách 10 họ thực vật có số loài lớn nhất tại xã Bát Mọt

STT

Tên họ Việt Nam

Tên họ khoa

học

Số loà

i

Tỷ lệ so với

số câycủa

10 họ (%)

Tỷ lệ so với

số cây của toàn rừng (%)

A.L (1974) nêu ra Chứng tỏ xã Bát Mọt có sự đa dạng về họ thực vật

Trang 38

Trong đó Họ có nhiều chi và nhiều loài nhất là họ Thầu Dâu có 16 Loài chiếm 23,52% ; họ Cà phê và họ Long Não có 7 loài chiếm10,29%, họ Cam và họ Dáy có 6 loài chiếm 8,82 %, It loài nhất là họ Xoan và họ

Số loài của 10 họ đa dạng nhất của hệ thực vật tại xã Bát Mọt đƣợc thể hiện

Series1

Trang 39

Bảng 4.4 Danh sách các chi nhiều loài tại xã Bát Mọt

Tỷ lệ %

so với số cây toàn rừng(%)

Qua thống kê cho thấy, chi có số lời nhiều nhất là chi Ficus (ho với 6 loài,

chi Lythocarpus và chi Callicarpa đều có 4 loài, chi Sapium ,Macaranga và

Symplocos có 3 loài, chi Mallotus ,Artocarpus ,Ardisia và Smilax đều có 2 loài

Số loài của 10 chi đa dạng nhất của hệ thực vật tại xã Bát Mọt đƣợc thể hiện

cụ thể ở biểu đồ 4.4.

Trang 40

Biểu 4.3 Biểu đồ thể hiện số loài của 10 chi đa dạng nhất của hệ thực vật tại

Việt Nam Tên họ khoa học

Tên loài việt

Dicranopteris linearis (Burm f.)

Underw

0 1 2 3 4 5 6 7

Series1

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w