Thành phần loài, chi trong họ Na Annonaceae tại Việt Nam, Danh lục thực vật KBT Pù Hoạt năm 2014 và kết quả nghiên cứu năm 2017 .... chương trình điều tra, nghiên cứu chi tiết, tỷ mỷ về
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm hình thái họ Na
Họ Na (Annonaceae) gặp tất cả các dạng thân chủ yếu, trừ cây thân cỏ và các dạng sống phụ hay ký sinh Thường là cây thân gỗ: gỗ lớn hoặc gỗ nhỏ
(Polyalthia, Miliusa, Xylopia, Dasymaschalon, Annona, Goniothalamus,…), thân bụi (Orophea, Mitrephora, Goniothalamus,…) và thân leo trườn (thường ở các chi Fissstigma, Uvaria, Artabotrys, Desmos,…)
Lá đơn nguyên, mọc cách, mép nguyên, chủ yếu là gân lông chim Gân chính thường nổi rõ mặt dưới và thường lõm ở mặt trên, nhưng ở một số chi như
Artabotrys, Cyathocalys,… gân thường nổi rõ ở cả 2 mặt, không có lá kèm Gân cấp II thường rõ ở mặt dưới, chúng có thể song song hoặc hình cung tới gần tận mép; cũng có nhiều khi gân bên rất mờ và trong trường hợp đó chúng cùng gân cấp III tạo thành mạng lưới nổi rõ ở mặt dưới hoặc cả 2 mặt Ở một số chi như:
Uvaria, Melodorum, Cyathostemma, lá thường có lông hình sao (khi non)
Hoa ở họ Na (Annonaceae) thường lưỡng tính hoặc tạp tính, hiếm khi đơn tính (trừ chi – Pseuduvaria) Hoa mọc đơn độc hoặc thành các dạng cụm khác nhau, ở nách lá (có khi ở nách lá đã rụng), ở ngoài nách lá (thường đối diện với lá), ở đỉnh cành hoặc hoa mọc trên thân cành già không lá Đây là đặc điểm phân biệt chi, nhƣng ở một số chi (Dasymaschalon, Desmos, ) hoa có thể vừa mọc ở nách lá, vừa mọc ở ngoài nách lá Trục cụm hoa thường không có hoặc rất ngắn
Tuy nhiên, ở đại diện của một số chi lại khá phát triển nhƣ ở chi Artabotrys trục cụm hoa có dạng cong hình moc câu Ngƣợc lại, luôn luôn có cuống hoa, thông thường chúng thường dài khoảng 1-5cm, nhưng cũng có khi rất dài như loài
Dasymaschalon filipes dài tới 30cm Hoa họ Na có công thức điển hình là
K3+C3+3A∞G∞, nhƣng số lƣợng các thành phần của nó có thể thay đổi Trong số các loài đã biết thì cánh hoa có thể tăng giảm về số lƣợng nhƣ chi
Dasymaschalon hoàn toàn thiếu hẳn 3 cánh hoa vòng trong thì ở chúng công thức hoa trở thành K3C3 Trong họ Na (Annonaceae) co 2 kiểu nhị chính Kiểu thứ nhất đƣợc gọi là “kiểu Uvarioia”; trong kiểu này, trung đới dày và vƣợt qua bao phấn để tạo thành mào trung đới Kiểu thứ 2 là “kiểu Miliusoid”, có trung đới mỏng và hẹp, khiến cho bao phấn lồi lên so với trung đới Số lƣợng nhị thường nhiều và bất định Tuy nhiên, một số chi thường nhị giảm đến ổn định như: Miliusa, Orophea, Mitrephora,… Bao phấn thường hương ra ngoài và không có vách ngăn, nhưng ở Cyathostemma bao phấn hướng trong, còn ở chi
Enicosanthellum, Goniothalamus và Xylopia bao phấn có vách ngăn ngang Hạt phấn của các loài trong họ Na rất đa dạng, nhƣng chủ yếu là hình cầu, hình chữ nhật, hình elip; vỏ ngoài hạt phấn có thể lồi lõm, nhẵn hoặc có gai; kích thước trung bỡnh hoặc lớn từ 34-60àm, trong chi Goniothlamus hạt phấn lớn, cỡ 71-
140 ì 60-90àm Hạt phấn khụng cú lỗ hay cú nhiều lỗ Phần lớn cỏc loài trong họ Na (Annonaceae) có bộ nhụy gồm các lá noãn rời Mỗi lá noãn đƣợc chia thành bầu, vòi nhụy và núm nhụy Sau khi thụ phấn mỗi lá noãn đƣợc tạo thành một phân quả riêng.
Nghiên cứu phân loại họ Na trên Thế giới
Annonaceae là họ lớn nhất của bộ Magnoliales (cũng có tài liệu xếp họ Annonaceae thành một bộ riêng – bộ Annonales) Nếu nhƣ thời Linnaeus (1753) chỉ biết vai chục loài, thời Dunal (1817) – 103 loài, thời Alphonse de Candolle
(1832) – 204 loài, thời Bentham & Hooker f (1832) – 57 chi và 408 loài, thì bây giờ cac số đó đã lên tới 120-130 chi và trên 2000 loài (Fries, 1959; Cronquist,
1968; Walker, 1971); còn theo A L Takhtajan (1987), họ này có 130 chi và
2300 loài Ngoài ra, hằng năm vẫn thường xuyên bổ sung thêm cac taxon mới Cùng với số loài tăng lên, cũng đã có khá nhiều hệ thống phân loại dành cho họ
Na Có thể kể ra những vi dụ nhƣ các hệ thống của Bentham & Hooker (1862 –
1867), Baillon (1868), Hooker & Thomson (1872), King (1892, 1893), Boerlage
(1899), Engler & Diels (1900), Hutchinson (1923, 1964), Sinclair (1955), Fries
(1959), Walker (1971) và nhiều hệ thống khác Trừ hệ thống cuối cùng, tất cả các tác giả nêu trên đều xây dựng hệ thống của mình trên cơ sở các đặc điểm hình thái của hoa và quả
Bentham & Hooker (và cả King) chia họ Annonaceae thành 5 tông (tribus) là: Uvarieae, Unoneae, Xylopieae, Milopieae, Miliuseae và Mitrephoreae (gồm cả Monodora) Theo Boerlage, họ Na có 7 tông, trong đó các tông Melodoreae và Popowieae là mới, còn 5 tông khác giống với hệ thống của Benrham & Hooker Baillon chia họ Na thành 4 “serie”, thực tế có thể hiểu là 4 phân họ: Annoneae (gồm 5 tông – Uvariinae, Unoninae, Xylopiinae, Oxymitrinae, Rollininae), Miliuseae, Monodoroideae và Eupomatioideae Theo các tác giả này, phân họ đầu có 4 tông: Uvarieae (gồm 2 phân tông – Uvariinae và Unoninae), Xylopieae (gồm 3 phân tông – Xylopiinae, Melodo-rinae và Annoninae), Miliuseae (gồm 2 phân tông – Miliusinae và Mitrephorinae) và Hexalobeae
Kể từ Hệ thống Hutchinson (1923), chi Eupomatia đƣợc tách khỏi họ Annonaceae Nhƣ vậy, các tác giả sau này đều thống nhất coi họ Annonaceae chỉ gồm có 2 phân họ là Annonaceae và Monodoroideae Tuy nhiên, vẫn nhƣ trước đây, sự phân chiwa phân họ đầu vẫn còn nhiều tranh cãi Hutchinson
(1923, 1964) chia nó thành 3 phân tông – Uvarieae, Unoneae và Miliuseae
Trong đó, tông Unoneae theo Hutchinson có 2 phân tông – Xylopiineae vad Annoninae Sinclair (1955) cho rằng phân họ Annonoideae gồ 6 tông: Uvarieae, Unoneae, Xylopieae, Mitrephoreae, Annoneae (“Annonineae”) và Minliuseae
Trong khi đó, Fries (1959) xếp tất cả các chi châu Á vào 2 tông – Uvarieae và
Mặc dầu còn có sự sai khác đáng kể về khối lƣợng, thành phần và vị trí phân loại của các taxon, nhƣng trong tất cả các hệ thống vừa nhắc có một điểm chung: tất cả các tác giả này đều coi Uvarieae (có cánh hoa xếp lợp trong nụ) là tông nguyên thủy nhất Quan điểm này đươc các nhà hệ thống tiến hoa khác, chẳng hạn A.L Takhtajan (1966) cũng đồng tình Ngƣợc với quan điểm của phần lớn các nhà Hệ thống học, Walker (1971) xây dựng cho họ Na một hệ thống dựa chủ yếu vào hình thái hạt phấn Ông chia họ Annonaceae thành 3 phân họ: Subfan Malmeoideae: Trib Malmeeae, Trib Uvarieae, Trib Guatterieae; Subfan Fusaeoideae; Subfam Annonoideae: Trib Hexalobeae, Trib Asimineae, Trib Annoneae, Trib Cymbopetaleae Trong hệ thống này, các chi Anaxagorea, Xylopia, Cananga, Goniothalamus và Richella thuộc phân họ Fusaeoideae: các chi Disepalum, Annona thuộc phân họ Annonoideae; tất cả các chi khác của Châu Á (38 chi) đều đƣợc xếp vào tông Uvarieae (Thuộc phân họ Malmeoideae) Tất nhiên với quan điểm hình thái hoa, thật khó có thể đồng ý với cách phân chia trên đây Nhƣ chúng ta đều biết, các đại diện của họ
Annonaceae ở châu Á khá đa dạng Một câu hỏi đƣợc đặt ra, vậy sao hầu hết chúng lại có thể thuộc vào 1 tông Mặt khác, các chi Friesodielsia (Oxymitra) và Richella giống nhau đến mức một số tác giả (ví dụ, Baillon, 1868: Fries, 1959) đã đề nghị nhập chúng lại với nhau, thế nhƣng Walker lại xếp chúng vào các phân họ khác nhau Trong rất nhiều trường hợp, ví dụ mọc hoa (ở nách lá hoặc đối diện với nó) có giá trị để phân biệt các chi Nhƣng ở các chi Polyalthia và
Desmos lại gặp cả hai loại, thậm chí thấy cả hoa ở nách lẫn hoa mọc đối diện với lá trên cùng một bìa tiêu bản thuộc loài Polylthia luensis Bằng chứng này đã khiến các nhà Hệ thống học phải rất thận trọng khi đánh giá các đặc điểm hình thái sao cho thật khách quan Cần phải nhấn mạnh rằng, mức độ khác (hoặc giống) nhau giữa các đặc điểm thường biểu hiện mức độ thân cận, nhưng ở các nhóm khác nhau cùng một mức độ hình thái khác (hoặc giống) nhau có thể biểu hiện ở các bậc phân loại khác nhau Nếu thừa nhận rằng Annonaceae có nhiều đặc điểm chung với các họ Magnoliaceae, Degeneriaceae và Himantandraceae
(xem Takhtajan, 1966, 1970, 1973, 1980, 1987; Cronquist, 1968), thì ở những đại diện nguyên thủy của nó phải chứa các đặc điểm tương tự, chẳng hạn phải có hoa mọc đơn độc ở ngọn, hoa lƣỡng tính, có đế hoa dài hình nón hay hình trụ; có thành phần bao phấn bất định và xếp lợp; có nhị rộng hình bản, chƣa phân hóa thành chi nhị và trung đới, với bao phấn hướng ngoài vùi sâu trong phần bất thụ của nhị; có lá noãn nửa đóng kín, chứa nhiều noãn; nói chung chƣa có vòi nhụy, còn núm nhụy thì ngồi trực tiếp trên đỉnh bầu Theo Le Thomas (1996) cho các chi châu Phi Toussaintia và Mischogyne là những đại diện “nguyên thủy thực thụ” trong họ Annonaceae Xét về mặt có đế hoa hình trụ (androgynophor) khá giống với các đại diện Châu Á của chi Michelia thuộc họ Magnoliaceae và có số cánh hoa bất định (6-10), ở một mức độ nào đó các chi vừa nhắc giữ vị trí trung gián giữa 2 họ thực vật này
Họ Annonaceae ở châu Á (đều thuộc phân họ Annonoideae với bộ nhụy gồm các lá loãn rời; khác họ Monodoroideae ở châu Phi có bộ nhụy hợp bên lá noãn) có thể chia thành 4 tông Tông thứ nhất, tông nguyên thủy nhất (trib
Uvarieae) gồm các chi có phân quả rời, nhị thuộc kiểu uvarioid và cánh hoa ít nhiều xếp lợp Trong tông thứ hai (trib Unoneae) có các chi giống với Uvarieae, nhƣng các cánh hoa của cả 2 vòng đều xếp van Tông thứ 3 (trib Miliuseae) gồm các chi tông trước bở có nhị kiểu miliusoid, ngoài ra khác tông Uvarieae cò bởi cánh hoa xếp van Cuối cùng, tông thứ tƣ (trib Annoneae) đƣợc đặc trƣng bởi kiểu ohaan quả khi chún đính lại với nhau tạo thành một khối nạc (pseudosyncarp); về cấu tạo của nhị và cánh hoa tông này giống với Unoneae.
Nghiên cứu phân loại họ Na ở Việt Nam
Người đầu tiên nghiên cứu rừng Việt Nam là Loureiro (1793) trong Thực vật chí Nam Bộ Tác giả đã mô tả 4 chi và 8 loài trong họ Na ở rừng Nam Bộ Việt Nam Tiếp đến là Pierre (1880) Trong Thực vật rừng Nam Bộ đã giới thiệu các loài cây họ Na có mặt ở Nam Bộ A Finet và F Gagnepain chủ biên đã công bố các loài cây họ Na có ở Đông Dương Sau này, E D Merrill (1935) đã đưa ra bản mô tả chi tiết họ Na ở Đông Dương S Ast (1938, 1940) đã công bố nhiều
9 loài mới của họ Na ở Đông Dương Như vậy, các tác giả người Pháp đã phân tích, đánh giá họ Na ở các vùng khác nhau ở Đông Dương, trong đó có Việt Nam
Sau này, các nhà thực vật Việt Nam cũng đã điều tra và thống kê nguồn tài nguyên ở cac khu vực trên cả nước và phát hiện mô tả nhiều loài mới trong họ Na, điển hình là công trình nghiên cứu của Nguyễn Tiến Bân (2000), tác giả không chỉ nghiên cứu gần nhƣ đầy đủ và đƣa ra hệ thống phân loại, đồng thời đã phát phát hiện và mô tả 21 loài 1 phân loài và 8 thứ của họ Na ở Việt Nam, sau này tác giả đã thống kê chi tiết trong tài liệu “Danh lục các loài thực vật Việt
Nam” với 178 loài 3 phân loài và 19 thứ Phạm Hoàng Hộ (1993, 2000) đã cho ra đời công trình khoa học “Cây cỏ Việt Nam” tác giả đã mô tả sơ lƣợc và vẽ hình của 156 loài và thứ thuộc 26 chi họ Na C V Meade (2005), khi nghiên cứu chi Uvaria ở Đông Nam Á đã mô tả và công bố loài Uvaria vietnamensis phân bố ở Việt Nam (Quảng Trị, Quảng Nam), Lào và Thái Lan Khi nghiên cứu chi Mitrephora ở Đông Dương, A D Weerasooriya và cộng sự (2005) đã tu chỉnh chi Mitrephora và công bố 4 loài mới ở Việt Nam gồm Mitrephora phanrangensis, Mitrephora poilanei, Mitrephora petelotii, Mitrephora macclurei Gần đây, J Wang và cộng sự (2009) đã phát hiện và mô tả 1 loài mới phân bố ở Tây Nguyên là Dasymaschalon acuminatum Nhƣ vậy, họ Na
(Annonaceae) ở Việt Nam hiện đã biết 183 loài, 2 phân loài và 21 thứ.
Các nghiên cứu về thực vật họ Na tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt
Do khu bảo tồn mới thành lập nên các nghiên cứu chuyên sâu về các họ thực vật triển khai trực tiếp tại khu BTTN Pù Hoạt còn khá hạn chế Trong tài liệu "Bảo tồn cảnh quan hệ sinh thái đa dạng loài và gen, đa dạng văn hóa truyền thống" của vùng Tây Nghệ An đã xác định đƣợc phân bố và các kiểu thảm thực vật, cũng nhƣ các luồng di cƣ thực vật chủ yếu của Pù Hoạt và đã xây dựng đƣợc danh lục thực vật với 763 loài thuộc 427 chi, 124 họ Trong đó họ Na có 6 chi 8 loài (thông tin cụ thể trong bảng 1.1.) Đây chỉ là kết quả điều tra thống kê thành phần loài ban đầu, nên chắc chắn còn nhiều thông tin trong danh lục cần làm rõ hoặc cập nhật thêm các loài mới phát hiện cho KBT
Ngoài các kết quả nghiên cứu trên, các thông tin về đặc tính sinh học, sinh thái học, phân bố của thực thuộc bộ Ngọc lan còn thiếu hoặc rất chung chung Việc làm rõ các thông tin này, nhằm xây dựng các giải pháp bảo tồn thực vật thuộc họ Na (Annonaceae) tại Pù Hoạt là việc làm cấp thiết hiện nay
Bảng 1.1 Danh sách các loài thuộc họ Na trong danh lục của KBTTN Pù
1 Thấu lĩnh sần Alphonsea boniana Finet & Gagnep
2 Hoa dẻ thơm Desmos chinensis Lour
3 Dây dất na Desmos dumosus Safford
4 Giác đế thanh lịch Goniothalamus elegans Ast
5 Nhọc đen Polyalthia nemoralis A DC
6 Dây dất lông Uvaria boniana Finet et Gagnep
7 Dền trắng Xylopia pierrei Hance
8 Dền Xylopia vielana Pierre ex Fin.& Gagnep
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu chung
Xây dựng cơ sở khoa học nhằm bảo tồn cho các loài thực vật thuộc họ Na (Annonaceae) tại khu BTTN Pù Hoạt
2.1.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Xác định đƣợc hiện trạng thành phần loài, phân bố và các tác động đến thực vật thuộc họ Na tại khu vực nghiên cứu Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn thực vật thuộc họ Na cho khu vực nghiên cứu.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Các loài thực vật thuộc họ Na (Annonaceae) phân bố tự nhiên tại KBTTN Pù Hoạt
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố thực vật họ Na trên một số tuyến điều tra và ô tiêu chuẩn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt trong thời gian từ tháng 07 năm 2017 đến tháng 05 năm
Nội dung nghiên cứu
- Thành phần loài thuộc họ Na (Annonaceae) tại KBTTN Pù Hoạt
- Đặc điểm phân bố thực vật thuộc họ Na (Annonaceae) tại khu vực nghiên cứu
- Điều tra các tác động đến thực vật thuộc họ Na (Annonaceae) tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn thực vật thuộc họ Na (Annonaceae)
Phương pháp nghiên cứu
Do diện tích rộng, nhân lực và vật lực hạn chế, nghiên cứu không thể điều tra trên toàn bộ diện khu vực KBTTN Pù Hoạt, để đảm bảo thực hiện các nội
12 dung nghiên cứu không vƣợt quá các sai số cho phép của ngành Lâm nghiệp, đề tài đã sử dụng các phương pháp: kế thừa số liệu, điều tra trên tuyến và ô tiêu chuẩn đại diện, sử dụng phương pháp đánh giá quần thể, hiện có ở Việt Nam để phân tích các kết quả thu đƣợc
2.4.1 Phương pháp xác định thành phần loài thuộc họ Na tại KBTTN Pù Hoạt
2.4.1.1 Phương pháp kế thừa số liệu và phỏng vấn
- Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã kế thừa các tài liệu có liên quan đến thực vật họ Na và KBTTN Pù Hoạt
- Phỏng vấn và ghi chép ý kiến của các nhà khoa học, cán bộ Khu bảo tồn, người dân địa phương về vấn đề nghiên cứu Qua đó nắm rõ hơn đặc điểm các loài thuộc họ Na (Annonaceae) của khu vực nghiên cứu, lựa chọn đƣợc những hướng và phương pháp điều tra tối ưu
2.4.1.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
- Chuẩn bị: Máy định vị GPS, máy ảnh, bút chì, giấy ghi chép
- Tìm hiểu kỹ đối tượng nghiên cứu trước khi điều tra thực địa, để công tác điều tra ngoại nghiệp đƣợc hiệu quả nhất, tiết kiệm chi phí và sức lực nhất
- Phương pháp điều tra theo tuyến:
+ Điều tra theo tuyến vạch sẵn trên bản đồ địa hình, tuyến cần đƣợc lựa chọn dựa trên các đường mòn có sẵn để dễ tiếp cận khu vực hơn Các tuyến điều tra có chiều dài không giống nhau đƣợc xác định đảm bảo đi qua tất cả các trạng thái rừng Tuyến điều tra đƣợc đánh dấu trên bản đồ và đánh dấu trên thực địa bằng sơn hoặc dây nilon có màu dễ nhận biết Xác định các tuyến điều tra chính để điều tra xác định tất cả các loài cây thuộc họ Na (Annonaceae) theo các nội dung đề ra
+ Số lƣợng tuyến điều tra:
+ Sử dụng bản đồ của khu bảo tồn kết hợp với máy GPS điều tra từng tuyến nhằm xác định vị trí phân bố của loài để xây dựng lên bản đồ khu vực phân bố của các loài họ Na (Annonaceae)
+ Kết quả điều tra thành phần loài ho Na (Annonaceae) đƣợc ghi chép theo mẫu biểu 2.1
Mẫu biểu 2.1 BIỂU ĐIỀU TRA TUYẾN
Số hiệu Tuyến Tờ số: Kiểu rừng: Đá mẹ, đất: Địa hình: Độ rộng tuyến GPS Điểm đầu: Độ cao: GPS Điểm kết thúc: Độ cao: Địa điểm: Ngày ĐT Người ĐT:
Doo cm Hvn Số lƣợng Sinh cảnh GPS Ghi chú
Căn cứ vào tình hình thực tế, chúng tôi đã điều tra 59 tuyến với tổng chiều dài là 668.3 km, tổng diện tích điều tra là 1336.6 ha tại các khu vực đại diện, đặc trƣng cho phân bố của các loài thuộc họ Na (Annonaceae) trong khu bảo tồn
(bảng 2.1 và hình 2.1) Trên tuyến điều tra ghi chép thống kê lại các thông tin:
Toạ độ tuyến, toạ độ các loài thuộc ho Na (Annonaceae) gặp trên tuyến, số lượng, hiện trạng sinh trưởng, tái sinh, vật hậu, đặc trưng của quần thể, quần xã nơi có thuộc họ Na phân bố
Bảng 2.1 Tổng hợp tuyến điều tra thực vật thuộc họ Na – KBTTN Pù Hoạt
TT Tên tuyến Ngày điều tra Địa điểm Người điều tra Tọa độ đầu - cuối
Dài tuyến Độ cao đầu - cuối
Thông Thụ Nhóm nghiên cứu 48 Q 493099 2193521
Thông Thụ Nhóm nghiên cứu 48 Q 498224 2200036
Thông Thụ Hà Chí Lực và
TT Tên tuyến Ngày điều tra Địa điểm Người điều tra Tọa độ đầu - cuối
Dài tuyến Độ cao đầu - cuối
Thông Thụ Hà Chí Lực và
Hà Chí Lực và Nhóm nghiên cứu
Hà Chí Lực và Nhóm nghiên cứu
Hà Chí Lực và Nhóm nghiên cứu
Nậm Giải Nhóm nghiên cứu 48 Q 482045 2171296
Nậm Giải Nhóm nghiên cứu 48 Q 480183 2176746
25 P 15.7 15.7.2017 Đồng Văn Nhóm nghiên cứu 48 Q 509921 2190319
TT Tên tuyến Ngày điều tra Địa điểm Người điều tra Tọa độ đầu - cuối
Dài tuyến Độ cao đầu - cuối
30 P 28.10 28.10.2017 Đồng Văn Nhóm nghiên cứu 48 Q 512459 2199204
34 L 7.7 7.7.2017 Tri Lễ Nhóm nghiên cứu 48 Q 467223 2176854
35 L 8.7 8.7.2017 Tri Lễ Nhóm nghiên cứu 48 Q 467207 2176857
40 L 14.7 14.7.2017 Tri Lễ Nhóm nghiên cứu 48 Q 467050 2172679
TT Tên tuyến Ngày điều tra Địa điểm Người điều tra Tọa độ đầu - cuối
Dài tuyến Độ cao đầu - cuối
Thông Thụ Nhóm nghiên cứu 48 Q 489355 2189978
Hà Chí Lực và Nhóm nghiên cứu
Hạnh Dịch Hà Chí Lực và
Hà Chí Lực và Nhóm nghiên cứu
Hà Chí Lực và Nhóm nghiên cứu
Hạnh Dịch Hà Chí Lực và
Hạnh Dịch Hà Chí Lực và
Các loài nghi ngờ trong họ Na phát hiện trên tuyến điều tra đều tiến hành thu mẫu theo quy định và làm tiêu bản Các nội dung ghi chép lý lịch mẫu theo mẫu biểu 2.2
Mẫu biểu 2.2: Lý lịch mẫu
1 Số hiệu mẫu: ; Tên địa phương:
2 Thời gian thu mẫu, ngày tháng năm
3 Địa điểm: Thôn xã ; Tọa độ
6 Đặc điểm đặc trƣng của cây thu mẫu:
Các tiêu bản phải đảm bảo có đầy đủ các bộ phận, đặc biệt là cành, lá cùng ƣu tiên mẫu có hoa, quả, mỗi số hiệu mẫu thu từ 3-5 mẫu trên cùng cây Các mẫu thu thập phải có tỷ lệ tương đối phù hợp với kích thước chuẩn của mẫu tiêu bản 41x29cm Các thông tin liên quan đến mỗi mẫu vật phải đƣợc ghi chép hoặc chụp ảnh ngay tại hiện trường Các thông tin về thực vật cần có như: dạng sống, đặc điểm thân, cành, lá, hoa, quả Trong đó đặc biệt lưu ý đến các thông tin không thể hiện đƣợc trên mẫu tiêu bản khô nhƣ màu sắc hoa, quả khi chín, màu của nhựa nếu có thể nhận biết đƣợc Các mẫu đƣợc cắt tỉa cho phù hợp sau đó kẹp vào giữa hai tờ báo, sau đó phơi sấy, thay báo hàng ngày đến khi mẫu khô kiệt
Hình 2.1 Bản đồ tuyến điều tra thực vật họ Na – KBTTN Pù Hoạt 2017
- Giám định mẫu vật: theo phương pháp hình thái so sánh Kết quả giám định gồm các thông tin: Số hiệu mẫu; Tên loài phổ thông; Tên loài khoa học; Tên họ phổ thông; Tên họ khoa học; Dạng sống; Đặc tính sinh học, sinh thái học
- Tổng hợp kết quả từ biểu điều tra tuyến ( mẫu biểu 2.1) lập danh lục thực vật thuộc họ Na phân bố tại khu vực nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm phân bố thực vật thuộc họ Na
2.4.2.1 Xây dựng bản đồ phân bố thực vật thuộc họ Na tại KBTTN Pù Hoạt
Sử dụng phần mềm Mapinfo và nền bản đồ của KBTTN Pù Hoạt để xây dựng các bản đồ phân bố của các loài thuộc họ Na (Annonaceae)
Từ kết quả ghi nhận tọa độ của các loài thuộc họ Na ghi ở biểu điều tra tuyến (mẫu biểu 2.1), sử dụng phần mềm Mapinfo thể hiện vị trí phân bố của các loài thuộc họ Na tại KBTTN Pù Hoạt
2.4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm rừng nơi thực vật họ Na phân bố tại KBTTN
- Kế thừa các nguồn tài liệu, các kết quả nghiên cứu có liên quan đến các loài thuộc họ Na về đặc điểm phân bố
- Phỏng vấn cán bộ khu bảo tồn và người dân về đặc điểm phân bố thực vật thuộc họ Na tại khu bảo tồn thông qua các hình ảnh về loài thuộc họ Na
B- Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
Tại nơi có các loài thuộc họ Na sống tiến hành lập ô tiêu chuẩn và xác định tên các loài trong ô tiêu chuẩn (OTC) và tình hình sinh trưởng của chúng Mỗi vị trí độ cao khác nhau tiến hành lập OTC vơi diện tích OTC là 500m 2 (20m×25mP0m²), trong OTC tiến hành điều tra tầng cây cao, cây tái sinh và cây bụi thảm tươi
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt
Khu BTTN Pù Hoạt nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh 180km và có toạ độ địa lý nhƣ sau:
- Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa;
- Phía Nam giáp các xã Đồng Văn; Tiền Phong; Hạnh Dịch; Nậm Giải Tri Lễ
- Phía Đông giáp tỉnh Thanh Hóa; huyện Quỳ Châu của tỉnh Nghệ An và các xã Tiền Phong;
- Phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Tổng diện tích tự nhiên toàn Khu BTTN Pù Hoạt là 90.741 ha, nằm trên địa bàn 9 xã bao gồm: Đồng Văn, Cắm Muộn, Châu Thôn, Hạnh Dịch, Nậm Giải, Thông Thụ, Nậm Nhóng, Tiền Phong và Tri Lễ thuộc huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An
Khu BTTN Pù Hoạt có các đỉnh núi cao nhƣ Pù Hoạt cao 2.457m, Pa Khăm cao 2.007m, Chóp Cháp cao 1.725m, Pù Vĩ cao 1.645m, Cao Ma cao 1.487m, Pù Đình cao 1.248m, Pắn Mô cao 1.213m và nhiều đỉnh núi khác có độ cao trên 1.000m Nhìn chung khu vực có độ cao giảm dần từ Tây sang Đông; Độ cao bình quân từ 1.000-1.500m, độ dốc trung bình 25 0 , nhiều nơi có độ dốc trên
Theo số liệu của các Trạm khí tƣợng thuỷ văn Quỳ Châu, Quỳ Hợp và Tây Hiếu, khu vực này mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt, mùa hè nóng ẩm mƣa nhiều, mùa đông lạnh, khô hanh Lƣợng mƣa trung bình năm từ 1.600mm đến 1.750mm, tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm
- Nhiệt độ bình quân năm 23,0 0 C, tối cao tuyệt đối 42,0 0 C, tối thấp tuyệt đối 1 0 C
- Nằm trong vùng ảnh hưởng mạnh của gió Tây Nam (gió Lào) khô nóng, xuất hiện từ tháng 4-6, mùa đông có gió mùa Đông Bắc lạnh, kèm theo mƣa phùn, sương muối thường xuất hiện
- Độ ẩm không khí bình quân 84%
Ngoài ra trên địa bàn còn phải kể đến tác hại của sương muối, mưa đá và giông tố với cường độ mạnh thường cuốn bay nhà cửa, hoa màu, súc vật…
Khu BTTN Pù Hoạt thuộc là vùng đầu nguồn của hai hệ sông: Sông Chu ở phía Bắc bắt nguồn từ phía Tây Pù Hoạt (Lào) với tên là Nậm Xam chảy qua huyện Hửa Phăn, vào Việt Nam với tên là sông Chu, hệ sông Hiếu với các sông Nậm Việc, Nậm Giải, Nậm Quang Các hệ suối chính kể trên đều chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam, cách nhau từ 10-25 km Dòng chảy mạnh, thường xuyên có nước cả mùa khô, mật độ suối nhánh từ 2-4 km/suối Do địa hình chia cắt sâu, đôi chỗ do đứt gẫy mạnh đã hình thành nên nhiều thác nước trong Khu bảo tồn mà thác lớn nhất có giá trị cảnh quan du lịch là thác Sao Va
Khu BTTN Pù Hoạt có cấu trúc địa chẩt rất phức tạp, với nhiều loại đá có tuổi trên 2 triệu năm: Đá cổ sinh (Paleozoi), đá trung sinh (Mezozoi) phát triển khá rộng rãi trên khu vực và ít hơn là đá tân sinh (Cenozoi) Khu vực đã hình thành các tiểu vùng lập địa có nhiều đặc thù riêng biệt nhƣ vùng núi cao dốc, có xen lẫn những vùng đất thấp giữa núi, những thung lũng hẹp và sâu Mặc dù ở kiểu địa hình nào thì các sườn núi trong khu vực đều có độ dốc khá lớn, đất đai chƣa bị thoái hoá
Do ảnh hưởng của cấu trúc địa hình, đặc điểm địa chất, đá mẹ, của khí hậu, thực bì che phủ và tác động của con người đã tạo cho Khu BTTN Pù Hoạt có sự phong phú và đa dạng về đất đai với sự xuất hiện các nhóm đất chính sau:
- Nhóm dạng đất mùn Alít trên núi cao (H): Phân bố ở độ cao >1.700m, nhóm dạng này có rất nhiều mùn và các tính chất khác cũng có nhiều thay đổi
- Nhóm dạng đất Feralít mùn trên núi trung bình (FH): Loại đất này - - đƣợc hình thành ở độ cao từ 700m-1.700m, có diện tích 4.839 ha, chiếm 27,8% diện tích tự nhiên khu vực, phân bố ở hầu hết các xã trong khu vực
- Nhóm dạng đất Feralít điển hình trên vùng đồi và núi thấp (F): Loại đất này phân bố ở độ cao dưới 700m Đặc biệt nổi bật là có quá trình Feralít xảy ra rất mạnh mẽ, đất có cấu tƣợng khá bền vững Một số diện tích vùng đồi đã bị kết von nhƣng không có đá ong chặt
- Nhóm dạng đất đồng bằng (D), thung lũng (T): Nhóm đất này có diện tích 4.183 ha, chiếm 1,8% diện tích tự nhiên khu vực, đƣợc hình thành trên các kiểu địa hình máng trũng, thung lũng, bồn địa
- Ngoài ra trên địa còn có 709 ha núi đá, chiếm 8,2% diện tích tự nhiên, phân bố nhiều ở xã.
Dân sinh kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân tộc, dân số và lao động
Theo số liệu của Chi cục Thống kê huyện Quế Phong và các xã trong khu vực Khu BTTN Pù Hoạt tính đến tháng 6 năm 2013, tình hình dân số, dân tộc và lao động nhƣ sau:
- Dân số: Tổng dân số 09 xã, trong khu vực Khu BTTN Pù Hoạt là 2.993 hộ với 10.924 nhân khẩu
- Dân tộc: Trên địa bàn có 2 dân tộc sinh sống, gồm:
+ Dân tộc Kinh với 10.498 người, chiếm tới 96,1% dân số Nhóm đồng bào Kinh, Thái,
+ Dân tộc Mông với 426 người chiếm 3,9% dân số Nhóm đồng bào Mông, Đan Lai, Rục, Sách sinh sống chủ yếu ở vùng sâu, vùng cao xa, nơi gần rừng, có nguồn nước, nhưng đường giao thông đi lại khó khăn Kinh tế nương rẫy là nguồn sống chính, ngoài ra còn kết hợp chăn nuôi và thu lƣợm sản phẩm sẵn có trong rừng
- Lao động: Tổng số 6.818 lao động trong độ tuổi, 80% lao động thuần nông, còn lại là CBCNV chức và lao động dịch vụ buôn bán khác
3.2.2 Các hoạt động kinh tế
Sản xuất nông nghiệp đang giữ vai trò chủ đạo trong các hoạt động kinh tế chính của khu vực, trong sản xuất nông nghiệp thì lương thực là chủ yếu và là nguồn sống chính của đồng bào
- Trồng trọt: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là ha, chiếm 3,2% tổng diện tích tự nhiên Bình quân diện tích đất nông nghiệp 0,13 ha/người là quá thấp, cây trồng trên đất nông nghiệp chủ yếu là cây lương thực (lúa, ngô, khoai, sắn), ngoài ra còn có cây nông nghiệp ngắn ngày (lạc, mía) và các loài cây ăn quả (mận, mơ, nhãn, cam, bưởi, chuối )
- Chăn nuôi: Toàn khu vực có 55.330 con Trâu, 77.738 con Bò, 109.257 con Lợn và 700.613 con gia cầm tính bình quân mỗi hộ có từ 1-2 con Trâu, Bò hoặc Ngựa, 2 con Lợn và từ 10-12 con gia cầm Hình thức chăn nuôi chủ yếu là thả rông, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất lâm nghiệp, nhất là công tác trồng và khoanh nuôi phục hồi rừng
- Thuỷ sản: Nuôi thuỷ sản trong vùng mới phát triển với quy mô nhỏ trong các hộ gia đình Toàn khu vực có 596,3 ha ao thả cá, cho sản lƣợng 317,6 tấn/năm Việc khai thác tự nhiên ở sông hồ cho năng suất thấp, với trên 20.000 ha mặt nước hiện có trên các hồ thuỷ điện Hủa Na, Sao Va, Sông Quang và các hồ thuỷ lợi khác sẽ là tiềm năng lớn để phát triển nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là nuôi cá lồng bè, góp phần tăng thu nhập cho đồng bào trong khu vực
Trên địa bàn Khu BTTN Pù Hoạt ngoài các công ty, BQL rừng đặc dụng, phòng hộ còn có các hộ gia đình, tập thể thôn bản và các đồn biên phòng, tham gia các hoạt động sản xuất lâm nghiệp Trong 9 xã có 9.483 hộ gia đình và tập thể nhận đất nhận rừng để quản lý bảo vệ và sản xuất kinh doanh Bằng nguồn vốn hỗ trợ xây dựng và phát triển rừng nhiều nơi sau 1-2 năm nhận đất nhận
32 rừng đồng bào đã có sản phẩm thu hoạch, góp phần tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo và từng bước cải thiện đời sống cho người lao động
3.2.2.3 Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Kinh tế - xã hội chậm phát triển, cơ sở hạ tầng yếu kém nên khu vực hầu nhƣ không có cơ sở công nghiệp nào Các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng hầu nhƣ không có Một số lò rèn sản xuất công cụ thô sơ và các tƣ nhân sản xuất đồ mộc dân dụng Dệt truyền thống đã đƣợc quan tâm đầu tƣ phát triển, nhƣng sản phẩm sản xuất ra chủ yếu phục vụ tại chỗ, chƣa có sản phẩm trở thành hàng hoá và thị trường tiêu thụ
3.2.2.4 Dịch vụ, thương mại và du lịch
Khu vực Khu BTTN Pù Hoạt có cửa khẩu quốc tế Thông Thụ tạo điều kiện giao lưu buôn bán hàng hoá và hoạt động du lịch với Lào Dịch vụ, thương mại trong vùng đang trên đà phát triển, hầu hết các xã hoặc cụm xã đã hình thành trung tâm trao đổi hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng và sản xuất của nhân dân Trong khu vực có nhiều tiềm năng du lịch nhƣ: Thắng cảnh thiên nhiên thác Sao Va,
- Tổng chiều dài các tuyến đường 3.382,4 km, trong đó: Đường quốc lộ 576,3 km; đường tỉnh lộ 260,3 km; đường huyện lộ 301,1 km; đường liên xã, liên thôn 2.253,7 km Do địa hình cao dốc, chia cắt phức tạp, việc đầu tƣ xây dựng đường ô tô gặp nhiều khó khăn, chi phí lớn, hiệu quả mang lại rất thấp
- Hệ thống các công trình thuỷ lợi: Toàn khu vực có 48 hồ, đập lớn nhỏ và hơn 5 trạm bơm cùng với 43,9 km kênh mương nội đồng tưới tiêu phục vụ sản suất nông nghiệp
3.2.3.2 Điện, nước sinh hoạt, văn hoá và thông tin liên lạc
- Nguồn điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong Khu BTTN Pù Hoạt chủ yếu là dùng điện lưới quốc gia Mức độ sử dụng điện ở các
33 xã đang còn thấp, số hộ, sử dụng điện mới chỉ đạt 66,6% Ngoài ra một số hộ đã lợi dụng khe suối để chạy máy thuỷ điện nhỏ phục vụ thắp sáng và sinh hoạt trong gia đình
- Nguồn nước phục vụ sinh hoạt chủ yếu dựa vào nguồn nước tự nhiên (sông, suối), nước mưa dự trữ và nguồn nước tự chảy từ các khe suối đặc biệt về mùa khô hầu hết các xã thường thiếu nước sinh hoạt
- Hệ thống thông tin liên lạc đã và đang nâng cấp, hiện tại trong khu vực có 100% số xã và hầu hết các đồn biên phòng có các trạm thu, phát sóng đài truyền hình, truyền thanh Hiện tại có 9 xã có bưu điện văn hoá, hầu hết trung tâm xã đều có điện thoại cố định
3.2.3.3 Giáo dục và đào tạo
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Thành phần loài thực vật thuộc ho Na tại Khu BTTN Pù Hoạt
Trong quá trình nghiên cứu, đã điều tra đƣợc 59 tuyến với tổng chiều dài là 668.3 km, tổng diện tích điều tra là 1336.6 ha tại các khu vực đại diện, đặc trƣng cho phân bố của các loài thuộc họ Na trong khu bảo tồn Kết quả điều tra trên 59 tuyến trong với tổng số chiều dài tuyến trên 668 km đã ghi nhận đƣợc có
25 loài thực vật thuộc họ Na (Annonaceae) phân bố trong khu vực nghiên cứu Danh sách các loài đƣợc xây dựng dựa trên kết quả giám định các mẫu vật thu thập tại KBTTN Pù Hoạt Mẫu vật của tất cả các loài (số hiệu mẫu trong bảng 4.1) hiện lưu tại Phòng Khoa học của KBTTN Pù Hoạt và Trường Đại học Lâm nghiệp Kết quả thành phần loài thực vật thuộc họ Na tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong các bảng 4.1, 4.2, 4.3
Bảng 4.1 Thành phần loài thực vật trong họ Na tại KBTTN Pù Hoạt
TT Tên loài Tên khoa học Số hiệu mẫu
Artabotrys vinhensis Ast 170708209 Na Annonaceae Không
Fissistigma aff cavaleriei (H.Lév.) Rehder
8 Lãnh công Fissistigma 170705603 Na Annonaceae Không
TT Tên loài Tên khoa học Số hiệu mẫu
Fissistigma maclurei Merr 170707210 Na Annonaceae Không
Fissistigma thorelii (Pierre ex Fin &
Meiogyne virgata 170704803 Na Annonaceae Không
TT Tên loài Tên khoa học Số hiệu mẫu
25 Giền đỏ Xylopia vielana Pierre 171027420 Na Annonaceae Có
Bảng 4.2 Danh sách các loài thực vật thuộc họ Na (Annonaceae) có trong danh lục của KBT Pù Hoạt nhƣng không phát hiện trong nghiên cứu
TT Tên loài Việt Nam Tên loài khoa học Tên họ
1 Thấu lĩnh sần Alphonsea boniana Finet &
2 Hoa dẻ thơm Desmos chinensis Lour Na Annonaceae
3 Dây dất na Desmos dumosus Safford Na Annonaceae
4 Giác đế thanh lịch Goniothalamus elegans Ast Na Annonaceae
5 Nhọc đen Polyalthia nemoralis A DC Na Annonaceae
6 Bù dẻ trơn Uvaria boniana Fin & Gagnep Na Annonaceae
7 Dền trắng Xylopia pierrei Hance Na Annonaceae
Bảng 4.3 Thành phần loài, chi trong họ Na (Annonaceae) tại Việt Nam, Danh lục thực vật KBT Pù Hoạt năm 2014 và kết quả nghiên cứu năm 2017
TT Tên họ Tên chi Số loài của
Số loài trong danh lục 2014
Số loài của nghiên cứu
TT Tên họ Tên chi Số loài của
Số loài trong danh lục 2014
Số loài của nghiên cứu
Tổng số chi họ Annonaceae 29 6 11
Tổng số loài họ Annonaceae 178 8 25
Từ kết quả của các bảng 4.1, 4.2, 4.3 cho thấy: Nghiên cứu năm 2017 đã bổ sung 18 loài 5 chi thuộc họ Na (Annonaceae) cho Khu bảo tồn Pù Hoạt Nhiều loài thực vật họ Na bổ sung có giá trị bảo tồn cao (bảng 4.2) Nghiên cứu đã phát hiện tại KBTTN Pù Hoạt có 1 loài cây quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam, 2007 Mức rất nguy cấp (CR) có 1 loài là cây: Giác đế tam đảo -
Goniothalamus takhtajanii Ban (họ Na - Annonaceae) Loài này trước đây chỉ ghi nhận phân bố tại Tam Đảo
Ngoài ra nếu so với danh lục năm 2014 nghiên cứu của chúng tôi chƣa kiểm chứng đƣợc sự phân bố tại KBTTN Pù Hoạt 7 loài thuộc ho Na sau: Thấu lĩnh sần (Alphonsea boniana Finet & Gagnep.); Hoa dẻ thơm (Desmos chinensis Lour.); Dây dất na (Desmos dumosus Safford); Giác đế thanh lịch
(Goniothalamus elegans Ast.); Nhọc đen (Polyalthia nemoralis A DC.); Bù dẻ trơn (Uvaria boniana Fin & Gagnep.); Dền trắng (Xylopia pierrei Hance).
Đặc điểm phân bố thực vật thuộc họ Na tại KBTTN Pù Hoạt
4.2.1 Bản đồ phân bố thực vật thuộc họ Na tại KBTTN Pù Hoạt
Kết quả hiện trạng phân bố của các loài thực vật thuộc ho Na (Annonaceae) tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong hình 4.1
Từ các kết quả tổng hợp trên bản đồ cho thấy: Trên các tuyến điều tra đều phát hiện có các loài trong họ Na phân bố, nhiều khu vực cây trong ho Na chiếm ƣu thế nhƣ: Tri lễ, Nâm Giải, Hạnh Dịch, Thông Thụ Dựa trên kết quả điều tra tại thực địa cho thấy họ Na – Annonaceae có dạng sống và phân bố rộng nhất, nhiều loài thường gặp ở các trạng thái rừng khác nhau (có một loài có thể phân bố trong một trạng thái rừng hoặc phân bố trong 2-3 trạng thái rừng khác nhau) Ở các trảng cỏ, trảng cây bụi, rừng thứ sinh nghèo kiệt rất thường gặp các loài trong chi Lãnh công (Fissistigma spp.) của họ Na Ở Rừng nguyên sinh, rừng thưa, rừng thứ sinh, trảng cây bụi, ven rừng thường gặp loài Thau lĩnh, Mao quả, Ở ven đường, ven sối, ven rừng, rừng nguyên sinh thường gặp các loài nhƣ: Móng rồng hồng công, Móng rồng vinh, Bổ béo bân, Hoa dẻ lông đen ,
Mọc rải rác nơi ẩm trong rừng nguyên sinh hoặc rừng thứ sinh có loài Giác đế tam đảo, Giền đỏ Mọc rải rác ở ven rừng có loài Giác đế miên,
Hình 4.1 Bản đồ phân bố thực vật họ Na – KBTTN Pù Hoạt 2017
4.2.1.1 Thau lĩnh - Alphonsea tonquinensis A.DC
Tên khác: Thẩu lĩnh, An phong bắc (bộ) Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 7-12 m Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh Ra hoa tháng 3-4, có quả tháng 5-7 Phân bố ở Lạng Sơn (Hữu Lũng, Minh Sơn), Phú Thọ (Cầu Hai), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hà Tây (Ba Vì, Làng Cốc, Ba Trại), Hòa Bình (Chờ Bò, Núi Biều), Thừa Thiên Huế (Nam Đông, Vũng Tròn, Phúc Lộc, Hương Phú), Kon Tum (Đác Glây, Đác Long, Kon Plông), Lâm Đồng (Di Linh, Braian) Còn gặp ở Lào Tại khu BTTN Pù Hoạt, Thau lĩnh phân bố rộng và phổ biến ở các kiểu rừng và trạng thái rừng Hầu hết các cây điều tra trên tuyến có sức sinh trưởng và phát triển tốt Thau lĩnh là cây gỗ nhỏ sống dưới tán rừng, cây tầng tán trên thường gặp các loài trong họ Dầu (Táu, Sao), họ Long não, họ Dẻ và họ Ngọc lan
Các cá thể Thau lĩnh phát hiện trên tuyến đƣợc tổng hợp trong bảng 4.4
Bảng 4.4 Kết quả điều tra phân bố loài Thau lĩnh tại KBTTN Pù Hoạt
4.2.1.2 Móng rồng hồng kông - Artabotrys hongkongensis Hance
Cây nhỏ mọc trườn, nhánh non có lông vàng, nhánh già đen, lá có phiến bầu dục xoan ngƣợc, mỏng, màu nâu đậm, gân lõm ở mặt trên, cuống lá hình
Hình 4.2 Thau lĩnh - Alphonsea tonquinensis A.DC
44 móc ngắn Cụm hoa ở cuối một mấu, có lông vàng, cuống hoa dài 1,5cm, lá đài hình tam giác Loài của Việt Nam và Trung Quốc (Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây, Quảng Đông, Hồng Kông) Ở nước ta có gặp ở Lào Cai (Sa Pa), Hà Tây (Ba Vì), Quảng Ninh (đảo Ba Mùn) Ở Quảng Tây (Trung Quốc), người ta dùng toàn cây trị phong thấp, đau xương và dùng móc (cuống lá) trị chó dại cắn
Kết quả điều tra phân bố loài Móng rồng hồng kông tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.5
Bảng 4.5 Kết quả điều tra phân bố loài Móng rồng hồng kông tại KBTTN
4.2.1.3 Móng rồng vinh - Artabotrys vinhensis Ast
Tên khác: Công chúa vinh Phân bố ở Nghệ An (Phủ Quỳ), Kon Tum Cây bụi trườn, dài 4-5 m Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh Ra hoa tháng 7-9
Kết quả điều tra phân bố loài Móng rồng vinh tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.6
Bảng 4.6 Kết quả điều tra phân bố loài Móng rồng vinh tại KBTTN Pù Hoạt
Hình 4.3 Móng rồng hồng kông - Artabotrys hongkongensis Hance
4.2.1.4 Mao quả - Dasymaschalon rostratum Merr & Chun
Cây bụi đứng hay trườn, nhánh nâu hay đen đen, có chấm trắng, có nhiều mấu sần sùi Lá mọc so le, có phiến to, mặt dưới mốc mốc có lông nằm, gốc tròn, đầu nhọn, gân bên nổi rõ ở mặt dưới Hoa mọc riêng lẻ ở đầu cành và nách lá, lá đài nhỏ, nách hoa 3, có lông mịn, nhị và lá noãn nhiều Quả hình chuỗi, khi chín màu đỏ, có nhiều ngăn, mỗi ngăn 1-4 hạt Ở nước ta có gặp ở Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hà Tây, Ninh Bình, Hà Nam, Nghệ An… vào tới Long An Cây mọc trong rừng thường xanh hay những đồi bằng Ra hoa tháng 5-7, có quả chín tháng 12 Dân gian dùng rễ, lá làm thuốc thông huyết, chữa tê mỏi, nhức xương, phù nhũng; cũng dùng làm thuốc chữa đái dắt, đái són; giải độc Mã tiền Kết quả điều tra phân bố loài Mao quả tại KBTTN Pù Hoạt đã phát hiện 2 phân loài: Mao quả mốc (Dasymaschalon rostratum Merr
& Chun var glaucum (Merr & Chun) Ban) - Ảnh 4.5.a và Mao quả hoa dài
(Dasymaschalon rostratum Merr & Chun var longiusculum Ban) - Ảnh 4.5.b Các mẫu thu đƣợc tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.7
Hình 4.4 Móng rồng vinh - Artabotrys vinhensis Ast
Bảng 4.7 Kết quả điều tra phân bố loài Mao quả tại KBTTN Pù Hoạt
HVN (m) Toạ độ Độ cao
(m) Số hiệu mẫu Phân loài
Hình 4.5.a Mao quả mốc ( Dasymaschalon rostratum var glaucum (Merr &
Chun) Ban) Nguồn nhóm nghiên cứu
4.2.1.5 Hoa giẻ lông đen - Desmos cochinchinensis Lour
Cây nhỡ leo, nhánh non có lông sét hay trăng trắng Lá có phiến bầu dục hay xoan ngược, có lông vàng nằm ở mặt dưới Hoa ngoài nách lá, vàng tươi, thơm Cánh hoa dài, có lông, lá noãn có lông, cho ra chùm quả nhƣ xâu chuỗi, có lông nhiều hay ít, khi chín có màu đỏ Loài của Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Việt Nam, Campuchia, Malaixia Ở nước ta có gặp từ Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Kon Tum vào các tỉnh Nam Bộ Cây ở chỗ sáng, trên đất rừng vùng núi, thường gặp ở đồi ven rừng Ra hoa tháng 5-7, có quả tháng 1 Quả có thể dùng ăn được Lá hãm nước sôi dùng cho phụ nữ sinh đẻ để tăng lƣợng sữa Ở Trung Quốc lá dùng chữa: Ăn uống không tiêu, dạ dày, ruột trướng khí, viêm thận phù thũng, viêm phế quản Có nơi ở Hòa Bình nhân dân dùng rễ sắc uống chữa khó đẻ, hoa hãm lấy nước chữa an thần Ở Malaixia, rễ sắc uống chữa sốt rét, mụn nhọt, lở miệng
Kết quả điều tra phân bố loài Hoa giẻ lông đen tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.8
Hình 4.5.b Mao quả hoa dài ( Dasymaschalon rostratum Merr & Chun var longiusculum Ban) Nguồn nhóm nghiên cứu
Bảng 4.8 Kết quả điều tra phân bố loài Hoa giẻ lông đen tại KBTTN Pù
HVN (m) Toạ độ Độ cao (m) Số hiệu mẫu
Hình 4.6 Hoa giẻ lông đen - Desmos cochinchinensis Lour
4.2.1.6 Thau ả mai - Desmos pedunculosus (A DC.) Ban
Cây nhỡ mọc trườn, cao 1-3m, nhánh non có lông nâu Lá có phiến bầu dục tròn dài, mốc ở mặt dưới, gốc tròn hay hình tim Hoa thường đối diện với lá, cánh hoa 6 màu lục vàng, dài tới 8cm, rộng 1-2cm, nhị cao 1,5 cm Lá noãn nhiều, quả mọng không lông, hình chuỗi 1-4 hạt Loài của Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Philippin và Việt Nam Ở nước ta có gặp tại Hà Giang, Yên Bái, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Khánh Hòa, Kon Tum, Lâm Đồng Và Đồng Nai Cây mọc ven rừng, bụi ở vùng thấp Ra hoa vào tháng 5 Hoa rất thơm có thể cất lấy tinh dầu làm nước hoa Ở Hòa Bình, đồng bào dùng làm nước sắc của hoa cho phụ nữ uống chữa đẻ khó Ở Ấn Độ, người ta dùng rễ sắc nước uống để trị lị và chữa chóng mặt Ở Trung Quốc, người ta dùng rễ và lá trị: Đau dạ dày, tiêu hóa kém, trướng bụng và ỉa chảy, đau bụng trước sinh và xuất huyết, thống kinh, thấp khớp đau nhức xương, viêm thận, phù thũng
Kết quả điều tra phân bố loài Thau ả mai tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.9
Bảng 4.9 Kết quả điều tra phân bố loài Thau ả mai tại KBTTN Pù Hoạt
4.2.1.7 Lãnh công cavaleri - Fissistigma aff cavaleriei (H.Lév.) Rehder
Hiện nay loài Fissistigma cavaleriei (H.Lév.) Rehder mới chỉ ghi nhận tại Quý Châu của Trung Quốc Tại khu vực Tri Lễ, KBTTN Pù Hoạt, Nghệ An chúng tôi dựa trên các mẫu vật thu đƣợc và đối chiếu với các mẫu chuẩn của
Fissistigma cavaleriei thấy khá tương đồng Tuy nhiên việc kết luận loài
Fissistigma cavaleriei bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam hay không cần bổ sung thêm các thông tin về hoa quả của loài tại Việt Nam
Bảng 4.10 Kết quả điều tra phân bố loài Lãnh công cavaleri tại KBTTN
Hình 4.7 Thau ả mai - Desmos pedunculosus (A DC.) Ban
Hình 4.8.a Lãnh công cavaleri - Fissistigma aff cavaleriei (H.Lév.) Rehder
Hình 4.8.b Lãnh công cavaleri - Fissistigma aff cavaleriei (H.Lév.) Rehder
4.2.1.8 Lãnh công nhiều lá bắc - Fissistigma bracteolatum Chatt
Phân bố ở Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Ninh Bình Còn có Mianma, Trung Quốc Cây dây leo gỗ, dài 10-20m Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh, nơi sáng, ở độ cao 300-1200m Ra hoa tháng 3-4 có quả tháng 6-7
Kết quả điều tra phân bố loài Lãnh công nhiều lá bắc tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.11
Bảng 4.11 Kết quả điều tra phân bố loài Lãnh công nhiều lá bắc tại
HVN (m) Toạ độ Độ cao
Hình 4.9 Lãnh công nhiều lá bắc - Fissistigma bracteolatum Chatt
4.2.1.9 Lãnh công tái - Fissistigma chloroneurum (Hand.-Mazz.) Y Tsiang
Dây leo thân gỗ, dài 12-15m, cành non không có lông Lá thuôn, cả hai mặt đều nhẵn, gân bên cong hình cung, cuống lá dài 1,2-2cm Hoa hợp thành xim, bó 3-6 chiếc, cuống chung rất ngắn, cuống hoa dài 1,5-3cm, nụ hình thuôn, lá đài rời, hình trứng rộng gốc, cánh hoa ngoài hình trứng ngọn đầu, ở mặt ngoài có lông; nhị dài gần 1,5mm, lá noãn 7-10, dài trên 4mm, bầu có lông, vòi mảnh, không có lông, núm nhụy nguyên, noãn 8-10 Phân quả không có lông, gần hình cầu Loài của Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông) và Việt Nam Ở nước ta có gặp ở Lai Châu, Lào Cai, Yên Báo, Sơn La, Lạng Sơn, Hà Tây, Ninh Bình Cây mọc rải rác trong rừng, trên độ cao 400-600 (1500)m Ra hoa tháng 2-3; có quả tháng 4-5 Ở Vân Nam (Trung Quốc) toàn cây đƣợc dùng làm thuốc trị sản hậu đau phong Kết quả điều tra phân bố loài Lãnh công tái tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.12
Bảng 4.12 Kết quả điều tra phân bố loài Lãnh công tái tại KBTTN Pù Hoạt
Hình 4.10 Lãnh công tái - Fissistigma chloroneurum (Hand.-Mazz.) Y Tsiang
4.2.1.10 Lãnh công xám - Fissistigma glaucescens (Hance) Merr
Cây nhỡ, leo dài cỡ 3m Lá mọc so le phiến lá thon, gốc nhọn, đầu tù, mặt lá khô luôn có màu vàng nhạt, mặt dưới màu xanh trắng, mặt dưới màu trắng, không lông; gân bên 10-15 đôi Hoa xếp thành xim trong một cụm hoa chung ở ngọn cành, có lông màu vàng; lá đài 3, nhỏ, dính nhau ở gôc có lông; cánh hoa
6, xếp 2 vòng; nhị nhiều; lá noãn nhiều Quả hình cầu, đường kính 8mm Loài của Trung Quốc (Qúy Châu, Quảng Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến) và Việt Nam Ở nước ta có gặp tại Sơn La, Yên Bái, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Quảng Trị, Quảng Nam, Khánh Hòa và Gia Lai Cây mọc trong rừng rậm Loài của Nam Trung Quốc, Lào và Việt Nam Ở nước ta gặp Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Quảng Trị đến Kon Tum, Gia Lai và Đồng Nai Dây cho sợi dẻo làm thừng, sợi dùng chế tạo giấy Hoa dùng chiết tinh dầu và làm cao ngâm Dầu hạt đƣợc dùng chế vật phẩm hóa trang và làm dầu công nghiệp Rễ đƣợc sử dụng làm thuốc Ở Vân Nam và một số nơi của Trung Quốc, người ta dùng trị đau dây thần kinh tọa, viêm khớp xương và đòn ngã tổn thương
Kết quả điều tra phân bố loài Lãnh công lá lớn tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.13
Bảng 4.13 Kết quả điều tra phân bố loài Lãnh công xám tại KBTTN Pù Hoạt
4.2.1.11 Lãnh công lá lớn - Fissistigma latifolium (Dun.) Merr
Dây leo gỗ, dài 15-18 m Mọc rải rác trong rừng thƣa, rừng thớ sinh Ra hoa tháng 10-12 Phân bố ở Quảng Ninh (Uông Bí, Bãi Tử Long), Đà Nẵng Còn gặp ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc (Vân Nam), Malaixia, Inđônêxia (Java, Borneo), Philippin
Kết quả điều tra phân bố loài Lãnh công lá lớn tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.14
Bảng 4.14 Kết quả điều tra phân bố loài Lãnh công lá lớn tại KBTTN
Hình 4.11 Lãnh công xám - Fissistigma glaucescens (Hance) Merr
4.2.1.12 Lãnh công lông đen - Fissistigma maclurei Merr
Bụi trườn, dài 4-10 m Mọc rải rác trong rừng cả vùng núi đất và núi đá
Ra hoa tháng 11-3 (năm sau), có quả tháng 4-6 Phân bố ở Hà Tây (Ba Vì), Thanh Hoá (Yên Cát), Nghệ An (Quế Phong), Quảng Bình (Đồng Hỡi, rừng Đồng Sơn), Kon Tum (Kon Plông, Mang Đen), Gia Lai (Mang Yang, Đác Đoa, Chƣ Ta Mốc), Đác Lắc (Đác Mil, Đức Minh), Lâm Đồng (Bảo Lộc) Còn có ở Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam)
Kết quả điều tra phân bố loài Lãnh công lông đen tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.15
Bảng 4.15 Kết quả điều tra phân bố loài Lãnh công lông đen tại KBTTN
Hình 4.12 Lãnh công lá lớn - Fissistigma latifolium (Dun.) Merr
4.2.1.13 Cách thư oldham - Fissistigma oldhamii (Hemsl.) Merr
T.Chinh
Bổ béo bân là loài mới công bố cho khoa học năm 2016 bởi Bùi Hồng Quang, Vũ Tiến Chính và R.K.Choudhary Bổ béo bân là loài cây bụi sống dưới tán rừng, có thân thường mọc đơn độc, Lá dài, ra hoa ở nách lá, hoa rất thơm
Kết quả điều tra phân bố loài Bổ béo bân tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.21
Hình 4.18 Lãnh công lông mƣợt - Fissistigma thorelii (Pierre ex Fin & Gagnep.)
Bảng 4.21 Kết quả điều tra phân bố loài Bổ béo bân tại KBTTN Pù Hoạt
4.2.1.19 Giác đế tam đảo - Goniothalamus takhtajanii Ban
Cây bụi nhỏ, cao 1-3 m Cành non nhẵn, hình 3-4 cạnh và hơi có cánh Lá
(khi non màu hồng) hơi dài, hình thuôn, cỡ (8) 10-14 (18) x (3) 4 -5 (6) cm, chấp thành mũi ngắn, gốc lá hình tim, cả hai mặt đều nhẵn, gân bên khoảng 12 đôi, rất mờ ở mặt trên, hơi rõ ở mặt dưới, vấn hợp đều ở cách mép chừng 5 mm; cuống lá rất ngắn Hoa mọc đơn độc hoặc, từng cặp ở nách lá; cuống hoa dài khoảng 2-3 cm, ở gốc mang 4-6 lá bắc nhỏ hình mác Lá đài hình tam giác nhọn đầu, cỡ 3-5 x 2-3 mm Cánh hoa ngoài hình trứng nhọn đầu, dài 15-20 mm, rộng 7-9 mm; cánh hoa trong cỡ 7-10 x 4-5 mm, có mồng hẹp ở gốc, hợp nhau ở đỉnh cao thành mũi Nhị nhiều, chỉ nhị không rõ, mào trung đới cụt đầu Lá noãn chừng 10-12, bầu nhẵn, vòi dài bằng bầu; núm nhuỵ không phân biệt với vòi, mang một túm long dài ở đỉnh Noãn 1 Phân quả hình trái xoan, cỡ 15-18 x 8-
10 mm, không có long, khi chin màu đỏ, cuống phân quả rất ngắn; vỏ quả mỏng, dính liền vào vỏ hạt khi khô Hạt có vỏ sần sùi, có long nhung mƣợt Cây Có hoa tháng 3-4, quả chin 5-8 Mọc rải rác nơi ẩm trong rừng nguyên sinh hoặc
Hình 4.19 Bổ béo bân - Goniothalamus banii B.H.Quang,R.K.Choudhary &
V.T.Chinh Nguồn nhóm nghiên cứu
67 rừng thứ sinh, ở độ cao 400m Phân bố ở Trong nước, mới thấy ở Vĩnh Phúc (Tam Đảo) Thế giới, chƣa biết Loài đặc hữu của Việt Nam, có hình thái thân khá đặc sắc (thân và cành non có cánh)
Tình trạng: Mới chỉ gặp một số rất ít cá thể ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc), trên độ cao 400 m (vùng đệm của vườn quốc gia Tam Đảo) Loài rất dễ bị tuyệt chủng nếu môi trường sống bị xâm hại (mất nguồn nước suối) hoặc bị chặt đốt làm củi (vì số cá thể trưởng thành quá ít) Phân hạng: CR B1 + 2b,c,e Kết quả điều tra phân bố loài Giác đế tam đảo tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.22
Bảng 4.22 Kết quả điều tra phân bố loài Giác đế tam đảo tại KBTTN PH
Ký hiệu tuyến D1.3 cm Doo cm
Hình 4.20a Giác đế tam đảo - Goniothalamus takhtajanii Ban
Hình 4.20b Bản đồ phân bố Giác đế tam đảo – KBTTN Pù Hoạt 2017
4.2.1.20 Giác đế miên - Goniothalamus tamirensis Pierre ex Fin & Gagnep
Cây bụi, cao 1-5 m Cành non có lông tơ màu gỉ sắt Lá hình bầu dục hoặc hơi thuôn, cỡ 10(15)-18(20) x (2,5)3-5(7) cm, chóp lá tù hoặc hơi nhọn, gốc tù hay gần tròn, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông, gân bên 10-13 đôi, hơi rõ mặt dưới, cuống lá dài 6-8 mm Hoa ở nách lá, thường mọc đơn độc, đôi khi thành nhóm 2 hoa, cuống hoa ngắn 3-5 mm, ở gốc mang 3-4 lá bắc nhỏ Lá đài hình tam giác, 6 x 4 mm, ở mặt ngoài có lông Cánh hoa ngoài hình mác nhọn, cỡ 15 x 5-6 mm, có lông thô dài màu vàng nâu ở cả 2 mặt, cánh hoa trong hình thoi, ngắn bằng nửa cánh hoa ngoài Nhị nhiều, chỉ nhị khá rõ, mào trung đới hình đầu, hơi có lông Bầu không có lông, vòi không rõ, nũm nhụy hình phễu rộng, dài bằng bầu Noãn 1-2 Phân quả không có lông, hình trứng đến thuôn, có mỏ, dài 13-18 mm, đường kính 6-7 mm, cuống phân quả dài 10-25 mm Hạt 1(2), màu nâu nạt, nhẵn Cây ra hoa tháng 2-5, có quả tháng 6-8 Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh Phân bố ở Nghệ An (Quỳ Châu, Kẻ Cạn), Quảng Trị (A Lưới), Thừa Thiên-Huế (Bô Giang, Huế, Phú Lộc, Nam Đông, Hương Phú, Lộc Trì), Đà Nẵng (Liên Triều), Khánh Hòa (Ninh Hòa), Đắc Lắc Còn có ở Lào, Campuchia
Kết quả điều tra phân bố loài Giác đế miên tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.23
Bảng 4.23 Kết quả điều tra phân bố loài Giác đế miên tại KBTTN Pù Hoạt
4.2.1.21 Thiểu nhụy nhẵn - Meiogyne virgata (Blume) Miq
Cây gỗ, cao 5-10 m (có khi tới 15-20 m) Cành non nhẵn (trừ khi rất non có lông cứng thô và dễ rụng) Lá thuôn hình mác hoặc hình bầu dục thuôn, cỡ (6)10-12(15) x (1,5)2-4(5) cm, cả 2 mặt đều không có lông, chóp lá thường có mũi ngắn và tù, gốc lá từ nhọn đến gần tròn, hơi lệch, gân bên 10 – 12 đôi, rõ ở mặt dưới và hơi nổi ở cả mặt; cuống lá dài 5-8 mm, nhẵn Hoa mọc đơn độc, ở nách lá; cuống hoa ngắn cỡ 3-8 mm, mang 2-3 lá bắc ở gần gốc Cánh hoa (khi tươi màu trắng nhạt) hình mác, dài 1,5-2,5 cm, rộng 4-5mm, cả 2 mặt có lông nhƣng mặt ngoài rậm hơn Nhị nhiều, dài chừng 1,5 mm, chỉ nhị rất ngắn, mào trung đới hình đĩa rộng Lá noãn 2-7 (thường 3-5), dài 2 mm, bầu có lông dài và rậm, núm nhụy hình đầu, ngồi, có lông Phân quả có lông ngắn hình trụ hay hình thuôn khi già có thể dài tới 4-5 cm và đường kính rộng 2,5-3 cm, không có cuống hoặc cuống rất ngắn (cỡ 3-4 mm) Hạt 8-10 Cây ra hoa tháng 2-6, có quả tháng 7-9 Mọc rải rác dươi tán rừng, nơi sáng Phân bố ở Quảng Bình (Đồng Hới, Rừng Đồng Sơn), Thừa Thiên - Huế (Phú Lộc, Hương Lộc) Còn có ở Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Xingapo, Inđônêxia, Philippin, Niu Ghinê Kết
Hình 4.21 Giác đế miên - Goniothalamus tamirensis Pierre ex Fin & Gagnep
71 quả điều tra phân bố loài Thiểu nhụy nhẵn tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.24
Bảng 4.24 Kết quả điều tra phân bố loài Thiểu nhụy nhẵn tại KBTTN Pù Hoạt
4.2.1.22 Mại liễu - Miliusa balansae Fin & Gagnep
Cây gỗ cao 10-15 m; nhánh non co lông màu đỏ hung, sau nhẵn Lá có phiến hình bầu dục dài, dài 12-15 cm, rộng 4-5 cm, đầu co mũi nhọn dài, gốc tù, mặt trên nhẵn, mặt dưới co lông thưa, áp sát; gân bên 8 đôi; cuống dài 5-6 mm Hoa ở nách lá, có cuống dài 3-4 cm, có 1 lá bắc con ở 1/3 dưới; lá đài 3, mặt ngoài có lông phún; cánh hoa 6 mà 3 cái ngoài bằng lá đài, 3 cái trong lớn hơn; nhị nhiều Phân bố ở Trung Quốc, Lào và Việt Nam Ở nước ta, có gặp từ Sơn
La, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Ninh Bình, Hòa Bình, Nghê An, Thừa Thiên - Huế, đến Ninh Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu Cây mọc
Hình 4.22 Thiểu nhụy nhẵn - Meiogyne virgata (Blume) Miq
72 trong rừng thường xanh miền núi nhiệt đới Cây ưa nơi ở râm ẩm, đất thịt pha cát có tầng sâu dầy, tơi xốp, nhiều mùn, thoát nước, thường ở tầng 2 và 3 trong rừng, hỗn giao với những cây lá rộng khác nhƣ bứa, lọ nồi, lòng trứng Hàng năm ra hoa đậu quả ít Tái sinh trong điều kiện có tán che trung bình.Mùa hoa tháng 3 Gỗ có thớ không thẳng lắm, kết cấu mịn nhƣng dẻo nên khó gia công, thường được dùng xây dựng nhà cửa, làm đồ dùng gia đình, nông cụ, đòn gánh, cán cuốc Kết quả điều tra phân bố loài Mại liễu tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.25
Bảng 4.25 Kết quả điều tra phân bố loài Mại liễu tại KBTTN Pù Hoạt
4.2.1.23 Mạo đài maingay - Mitrephora maingayi Hook f & Thoms
Cây gỗ, cao 10-15 m Cành non lúc đầu có lông ngắn màu nâu về sau nhẵn
Lá dai, khá đa dạng, từ hình bầu dục hay hình trứng đến hình trứng thuôn hay hình gần mác, cỡ 8(12) – 17(20) x 3(4) – 6(7) cm, gần nhƣ không có lông, chóp
Hình 4.23 Mại liễu - Miliusa balansae Fin & Gagnep
73 lá thường tù hoặc đôi khi thành mũi ngắn, gốc lá thường gần tròn, ít khi hơi tù, gân bên 8-12 đôi, xiên và tạo với gân chính một góc 45 0, hơi cong hình cung và gần nhƣ tận mép, gân cấp 3 song song với nhau và gần vuông góc với gân bên, cuống lá dài gần 1 cm, hơi có lông Hoa ở ngoài nách lá (đôi khi gần nhƣ ở đỉnh cành con), họp thành xim lƣỡng phân 3-5 hoa, cuống chung dài 1,5-3 cm, mang một số lá bắc nhỏ ở gần đinh, có lông tơ màu vàng, cuống của hoa bên dài 2-3 cm, ở cách đài 5-7 mm có 1 lá bắc ôm lấy cuống Nhị nhiều, dài 1 mm, chỉ nhị rất rõ, mào trung đới hình đĩa Phân quả hình trứng, hình trứng thuôn hoặc gần hình cầu, cỡ 2,5-4 x 2-3 cm, có lông tơ màu vàng, cuống phân quả dài 15-30 mm, vỏ quả dày 3-4 mm Hạt 4-5, bị ép, xếp thành 2 hàng, có vỏ màu nâu đen và rỗ tổ ong Cây ra hoa tháng 3-6, có quả tháng 7-11 Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh Phân bố ở Ninh Bình (Cúc Phƣong), Đà Nẵng (Liên Chiều), Khánh Hòa (Vọng Phu), Ninh Thuận (Cà Ná) Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Malaixia
Kết quả điều tra phân bố loài Mạo đài maingay tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.26
Bảng 4.26 Kết quả điều tra phân bố loài Mạo đài maingay tại KBTTN Pù
4.2.1.24 Quần đầu lau - Polyalthia lauii Merr
Cây gỗ trung bình, cao 15-18 (25) m Cành non có lông Lá mỏng hình trái xoan hay hình bầu dục dài, cỡ 10-20 x 4-6(8) cm; chóp lá nhọn, gốc lá hình nêm rộng hoặc đôi khi gần tròn, cả 2 mặt đều không có lông; gân bên 14-18 đôi, nổi rõ ở mặt dưới, hình trứng rộng, cỡ 5 x 4 mm, có lông ở mặt ngoài Cánh hoa hình trái xoan hoặc hình trứng nhọn, cỡ 2-3,5 x 1,2-1,5 cm, có lông ở mặt ngoài, cánh hoa trong hơi dài gần tận mép cuống lá dài 5-8mm, có lông Hoa hợp thành sim nhiều hoa ở trên cành già; cuống hoa dài 1,5-3 cm, hơi có lông, mang nhiều lá bắc nhỏ ở gần gốc Nhị nhiều, trung đới hình tam giác Lá noãn nhiều, bầu có lông Noãn 1, đính gốc Phân quả hình bầu dục hoặc hình trứng, cỡ 3-4 x 1,2-2 cm, khi chín màu đỏ, cuống phân quả dài 2,5-4 cm Cây ra hoa tháng 4-5, mang quả 10-1 (năm sau) Cây cho gỗ màu vàng xanh, có vân đẹp, thớ thẳng, mịn, hơi mềm, không mối mọt, dùng trong xây dựng và đóng đồ gia dụng Phân bố ở
Hình 4.24 Mạo đài maingay - Mitrephora maingayi Hook f & Thoms
Trung bộ Việt Nam (theo Phamh 1991: 319); Nghê An, Hà Tĩnh theo Vietn For Trees, 48) Còn có ở Trung Quốc (Hải Nam)
Kết quả điều tra phân bố loài Quần đầu lau tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.27
Bảng 4.27 Kết quả điều tra phân bố loài Quần đầu lau tại KBTTN Pù Hoạt
4.2.1.25 Giền đỏ - Xylopia vielana Pierre
Gỗ nhỏ đến trung bình, cao 8-20 (25)m Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh, vùng núi đất trên độ cao từ 100-300m Ra hoa tháng 4-5, có quả tháng 5-6 Phân bố ở Lạng Sơn, Quảng Ninh (Quảng Yên), Hải Phòng, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Thanh Hóa (Phong Y),
Hình 4.25 Quần đầu lau - Polyalthia lauii Merr
Quảng Trị, Thừa Thiên Huế(Phú Lộc, Hương Phú), Đà Nẵng (Tourane, Liên Chiểu), Khánh Hòa (Nha Trang, núi Hòn Hèo), Kon Tum, Gia Lai (Gia Lu), Đắc Lắc (Đắc Mil, Nam Đà, Đác Nông, Quảng Phú), Tây Ninh, Đồng Nai (Biên Hòa, núi Bara, Trảng Bom), Bà Rịa Vũng Tàu (núi Đinh) Còn có ở Trung Quốc (Quảng Tây) Campuchia Công dụng cây cho gỗ màu vàng tươi, có mùi thơm, dùng đóng đồ gia dụng, làm trụ mỏ Vỏ dùng làm thuốc bổ (ở Tây Nguyên gọi là Canh ki na), đặc biệt cho phụ nữ sau sịnh đẻ Vỏ sao khô, ngâm rƣợu chữa sốt rét Lá sắc uống chữa đau nhức, tê thấp Kết quả điều tra phân bố loài Giền đỏ tại KBTTN Pù Hoạt đƣợc tổng hợp trong bảng 4.28
Bảng 4.28 Kết quả điều tra phân bố loài Giền đỏ tại KBTTN Pù Hoạt
HVN (m) Toạ độ Độ cao (m) Số hiệu mẫu
Hình 4.26 Giền đỏ - Xylopia vielana Pierre
4.2.2 Đặc điểm rừng nơi loài thực vật thuộc họ Na phân bố tại KBTTN
4.2.2.1 Đặc điểm tầng cây gỗ
Căn cứ vào kết quả điều tra trên 15 ô tiêu chuẩn có thực vật họ Na phân bố, chúng tôi đã tổng hợp thành phần loài của tầng cây gỗ tại khu vực nghiên cứu trong bảng 4.29
Bảng 4.29 Tổng hợp số liệu tầng cây gỗ tại các OTC nơi có loài thuộc họ Na phân bố
TT Tên cây Số lƣợng
TT Tên cây Số lƣợng
TT Tên cây Số lƣợng
Từ bảng số liệu cho thấy, cây thuộc họ Na phân bố rất ít ở tầng cây gỗ nhƣng vẫn có loài phân bố ở tầng cây cao gồm: Thau lĩnh và Giền đỏ Qua bảng thì ta thấy cây Thau lĩnh trong tự nhiên có đường kính trung bình là 7,67 cm,