Được sự đồng ý của trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, cùng thầy giáo hướng dẫn, em đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Nghiên cứu
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tại trường Đại học Lâm nghiệp, để đánh giá kết quả học tập và hoàn thiện quá trình học tập tại trường, gắn lý thuyết vào thực tiễn Được sự đồng ý của trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, cùng thầy giáo hướng dẫn, em đã tiến hành
thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng và phân bố của các loài địa lan tại xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn”
Sau một thời gian làm việc nghiêm túc báo cáo của em đã hoàn thành Trong thời gian thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các cá nhân trong và ngoài trường
Nhân dịp này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy cô trường Đại học Lâm nghiệp, các thầy cô trong Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường đã truyền đạt kiến thức quý báu cho em trong thời gian học tập tại trường Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Thạc sĩ Phạm Thanh Hà đã luôn quan tâm, tận tình hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu cho em trong thời gian hoàn thành khóa luận
Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn Ban quản lý khu bảo tồn Tây Yên Tử, cùng toàn thể cán bộ của các trạm kiểm lâm trong khu vực xã An Lạc đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu tại địa phương
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu có hạn, kiến thức của bản thân còn nhiều hạn chế nên bài khóa luận của em không thể tránh khỏi thiếu xót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các quý thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên thực hiện
Đỗ Khánh Huyền
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC MẪU BIỂU
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 Cơ sở lý luận 2
1.1.1 Một số khái niệm liên quan 2
1.1.1.1 Phân loại thực vật 2
1.1.1.2 Khái niệm đa dạng sinh học 2
1.1.2 Cơ sở khoa học 2
1.1.3 Những đặc điểm sinh học của Lan 4
1.1.3.1 Cơ quan sinh dưỡng 4
1.1.3.2 Đặc điểm cơ quan sinh sản của Lan 5
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.3 Tình hình nghiên cứu ở Viêt Nam 7
1.4 Tình hình nghiên cứu các loài địa lan tại xã An Lạc huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang 9
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, GIỚI HẠN, PHƯƠNG PHÁP 10
NGHIÊN CỨU 10
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 10
2.2 Nội dung nghiên cứu 10
2.3 Giới hạn nghiên cứu 10
2.4 Phương pháp nghiên cứu 10
2.4.1 Phương pháp kế thừa có chọn lọc 10
2.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp 11
2.4.2.1 Phương pháp lập tuyến điều tra 11
2.4.3 Phương pháp xử lý nội nghiệp 15
Trang 32.4.3.1 Phương pháp xác định tên loài 15
2.4.3.2 Phương pháp lập danh lục tên các loài địa lan 16
2.4.3.3 Phương pháp lập bản đồ cho từng loài Địa Lan 16
2.4.3.4 Phương pháp đánh giá các tác động ảnh hưởng, đề xuất giải pháp17 Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN- KINH TẾ -XÃ HỘI 18
3.1 Điều kiện tự nhiên 18
3.1.1 Vị trí địa lý 18
3.1.2 Đặc điểm địa hình 18
3.1.3 Địa chất thổ nhưỡng 18
3.1.4 Khí hậu thủy văn 19
3.1.4.1 Khí hậu 19
3.1.4.2 Thủy văn 20
3.2 Điệu kiện dân sinh – kinh kế - xã hội 20
3.2.1 Dân số và thành phần dân tộc 20
3.2.2 Hiện trạng phát triển kinh tế 20
3.2.2.1 Sản xuất nông nghiệp 20
3.2.2.2 Về lâm nghiệp 21
3.2.3 Trình độ học vấn 22
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Thành phần các loài địa lan tại khu vực nghiên cứu 23
4.2 Giá trị sử dụng của các loài địa lan tại xã An Lạc 24
4.3 Bản đồ nghiên cứu các loài địa lan trong khu vực nghiên cứu 26
4.3.1 Vị trí phân bố loài Lan kiếm thanh ngọc 27
4.3.2 Vị trí phân bố loài Lan kiếm lô hội 28
4.3.3 Vị trí phân bố loài Lan kiếm tàu 29
4.3.4 Vị trí phân bố loài Lan đất hoa dày 30
4.3.5 Vị trí phân bố loài Lan mai đất lá to 31
4.3.6 Vị trí phân bố loài Lan bạc diệp tối 32
4.3.7 Vị trí phân bố loài Lan sống thuyền cô nốc 33
4.4 Các yếu tố và mức độ ảnh hưởng tới các loài địa lan trong tự nhiên 34
4.4.1 Hiện trạng quản lý tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu 34
Trang 44.4.2 Vấn đề khai thác và buôn bán địa lan tại khu vực nghiên cứu 35
4.4.3 Thực trạng gây trồng địa lan tại địa phương 37
4.4.4 Nguyên nhân gây ảnh hưởng tới số lượng loài địa lan trong tự nhiên 38
4.4.4.1 Các tác động trực tiếp 38
4.4.4.2 Tác động gián tiếp 39
4.5 Đề xuất giải pháp phát triển và bảo tồn các loài địa lan trong địa phương 41
4.5.1 Những vấn đề trong bảo tồn và phát triển địa lan tại địa phương 41
4.5.2 Các giải pháp đề xuất 42
4.5.2.1 Giải pháp về quản lý 42
4.5.2.2 Giải pháp về nâng cao nhận thức người dân địa phương và trang bị kiến thức cho lực lượng kiểm lâm trong công tác bảo tồn các loài địa lan 43 4.5.2.3 Giải pháp về phân vùng cụ thể cho việc bảo vệ các loài có nguy cơ đe dọa cao 44
4.5.2.4 Giải pháp về chính sách xã hội 44
4.5.2.5 Giải pháp về kỹ thuật 44
KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ BIỂU
Trang 5TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
===============o0o===============
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1 Tên khóa luận: “ Nghiên cứu tính đa dạng và phân bố của các loài địa lan tại xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn”
(Study the diversity and distribution of species of orchid on land in An Lac commune, Son Dong district, Bac Giang province basis on proposed conservation measures )
2 Sinh viên thực hiện: Đỗ Khánh Huyền
3 Giáo viên hướng dẫn: ThS Phạm Thanh Hà
4 Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định được tính đa dạng về thành phần loài, công dụng, vị trí phân bố; đồng thời đánh giá được các tác động ảnh hưởng tới các loài địa lan tại xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn các loài cây này trong khu vực nghiên cứu
5 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài địa lan tại xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
- Nghiên cứu tính đa dạng về công dụng của các loài địa lan
- Xây dựng bản đồ phân bố cho các loài địa lan trong khu vực nghiên cứu
- Đánh giá các tác động ảnh hưởng tới tài nguyên thực vật địa lan
- Đề xuất các biện pháp bảo tồn tính đa dạng loài địa lan trong khu vực
Trang 66 Những kết quả đạt được
6.1 Về thành phần loài địa lan trong khu vực nghiên cứu
Tại xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang có tổng cộng 7 loài địa lan, thuộc 5 chi, chi có số lượng loài nhiều nhất là Cymbidium với 3 loài, các chi khác chỉ có một loài
6.2 Về công dụng loài địa lan trong khu vực nghiên cứu
Các loài địa lan phát hiện được đều có công dụng làm cảnh, ngoài ra
có 2 loài được người dân sử dụng làm thuốc chữa bệnh
6.3 Về bản đồ các loài địa lan trong khu vực nghiên cứu
Đã xây dựng được 7 bản đồ thể hiện vị trí và trạng thái rừng nơi các loài địa lan phân bố tại xã An Lạc
6.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới các loài địa lan trong tự nhiên
Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng tới tài nguyên loài địa lan tại xã
An Lạc, bao gồm:
(1) Hiện trạng quản lý tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu
(2) Vấn đề khai thác và buôn bán địa lan tại khu vực nghiên cứu (3) Thực trạng gây trồng, nhân giống địa lan tại địa phương
(4) Nguyên nhân gây ảnh hưởng tới số lượng loài địa lan trong tự nhiên gồm có nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp từ tự nhiên và con người 6.5 Về đề xuất một số giải pháp bảo tồn
Đề xuất được năm giải pháp chính nhằm bảo tồn các loài địa lan cho khu vực nghiên cứu
Hà Nội, ngày 6 tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Đỗ Khánh Huyền
Trang 74 E/N Kinh độ đông/ Vĩ độ bắc
5 GPS Global Positioning System (Hệ thống định vị toàn cầu)
7 HĐBT Hội đồng Bộ trưởng
8 IUCN The International Union for Conservation of Nature and
Natural Resources (Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế)
9 KBTTN Khu Bảo tồn thiên nhiên
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Danh sách tham gia trả lời phỏng vấn điều tra 13
Bảng 4.1: Danh mục các loài địa lan tại xã An Lạc 23
Bảng 4.2: Số lƣợng loài địa lan theo các chi tại khu vực nghiên cứu 24
Bảng 4.3: Công dụng của các loài địa lan tại khu vực nghiên cứu 25
Bảng 4.4: Tình hình khai thác địa lan tại khu vực nghiên cứu 35
Bảng 4.5: Bảng điều tra cách thức gây trồng một số loài địa lan 37
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1: Sơ đồ tuyến điều tra của xã An Lạc 12
Hình 4.1: Bản đồ phân bố các loài địa lan điều tra đƣợc trong khu vực nghiên cứu 26
Hình 4.2: Bản đồ phân bố Lan kiếm thanh ngọc 27
Hình 4.3: Bản đồ phân bố Lan kiếm lô hội 28
Hình 4.4: Bản đồ phân bố Lan kiếm tàu 29
Hình 4.5: Bản đồ phân bố Lan đất hoa dày 30
Hình 4.6: Bản đồ phân bố Lan mai đất lá to 31
Hình 4.7: Bản đồ phân bố Lan bạc diệp tối 32
Hình 4.8: Bản đồ phân bố Lan sống thuyền cô nốc 33
DANH MỤC CÁC MẪU BIỂU Mẫu biểu 01: Điều tra các loài địa lan theo tuyến 12
Mẫu biểu 02: BIỂU THỐNG KÊ THÀNH PHẦN CÁC LOÀI 14
Mẫu biểu 03: BIỂU ĐIỀU TRA CÁCH THỨC NHÂN GIỐNG, 15
Mẫu biểu 04: DANH LỤC CÁC LOÀI ĐỊA LAN TẠI XÃ AN LẠC 16
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Địa lan là những loài được biết đến như một loài hoa quý phái, hoa của bậc vua chúa vương giả Địa lan có vẻ đẹp thanh cao và chứa đựng nhiều ý nghĩa Cùng với sự phát triển của ngành trồng Lan trong thời gian qua, loài hoa quý này không chỉ làm đẹp hơn hình ảnh của Việt Nam trong con mắt của
du khách đến với đất nước xứ sở nhiệt đới này mà còn mang lại hiệu quả kinh
tế cao Tuy nhiên, đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm cho những loài địa lan bản địa quý hiếm bị khai thác cạn kiệt, có nguy cơ tuyệt chủng Do đó cần thiết phải điều tra sự phân bố để biết loài đặc trưng cho từng vùng sinh thái và đánh giá khả năng thích ứng của một số dòng, giống địa lan quý nhằm lưu giữ, bảo tồn và phát triển thông qua việc khai thác hợp
lý
Xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang là một trong năm xã thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, được thành lập theo quyết định số 82/2002/QĐ-UBND, ngày 24/5/2002 của tỉnh Bắc Giang, với tổng diện tích
tự nhiên là 199 km2 Đây là khu vực được đặc trưng bởi hệ sinh thái rừng kín
lá rộng thường xanh nhiệt đới và á nhiệt đới, ngoài ra do nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai, khí hậu thuận lợi cho các loại động thực vật rừng ở đây sinh trưởng, phát triển nên quần thể sinh vật rừng ở đây rất phong phú, đa dạng, trong đó có các loài địa lan Tuy nhiên, hiện nay khu vực
đã và đang phần nào chịu những tác động của con người nên các loài Lan trong địa phương có nguy cơ suy giảm về số lượng loài và mật độ quần thể, vì vậy cần có sự vào cuộc của các cơ quan chức năng cũng như cộng đồng người dân địa phương nhằm duy trì và phát triển bền vững nhóm loài này
Do vậy, để góp phần bảo tồn tính đa dạng sinh học cho khu vực xã An Lạc nói chung và đa dạng các loài địa lan nói riêng, là hết sức cần thiết Do đó
tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng và phân bố của các loài địa lan tại xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang làm cơ sở
đề xuất giải pháp bảo tồn”
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1 Phân loại thực vật
Phân loại thực vật là một phận của thực vật học chuyên nghiên cứu về việc sắp xếp các thực vật có đặc điểm giống nhau thành từng nhóm theo một trật tự tự nhiên
1.1.1.2 Khái niệm đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học là toàn bộ sự phong phú của cơ thể sống và các hợp sinh thái mà chúng ta là thành viên, bao gồm sự đa dạng bên trong giữa các loài và sự đa dạng của hệ sinh thái
1.1.2 Cơ sở khoa học
Phân loại Lan bao gồm ba khía cạnh Trước hết là đặt tên cho Lan, rồi xác định chúng ở các bậc phân loại và trên thực tế ba phần này đều đưa đến 1 mục đích rõ tên của một cây Lan và vị trí tương quan họ hàng giữa nó với các cây khác Họ Lan ở trong lớp Đơn tử Điệp (1 lá mầm) thuộc ngành Hiển hoa
bí tử (có hạt hoa ở phía trái) Họ Lan được chia thành nhiều tông (tribus) trong tông chia thành nhiều giống (genus) trong mỗi giống có nhiều đến nhiều loài (speeies)… ta gọi đó là thứ bậc phân loại Mỗi đơn vị ấy đều có nguyên tắc đặt tên bắt buộc
Họ : Được lấy trong số giống tiêu biểu là Orchis thêm đuôi aceae
VD: Orchidaceae Họ phụ: Có vần cuối là oideae
VD: Orchidoideae Tông: có vần cuối là eae
VD: Epidendreae Tông phụ có vần cuối là onae
VD: Dendrobinae Giống: Lấy tên của loài tiêu biểu thường là loài tìm
ra đầu tiên của giống đó
VD: Dendrobium: Loài gồm hai chữ Latinh; chữ đầu là danh từ chỉ giống, chữ sau là tính thì chỉ đặc điểm của loài đó
Trang 11VD: Dendrobium dnaconis Thứ: khi các loài cây có đặc điểm khác biệt
thứ yếu (sai khác về màu sắc hoa) thì đăng sau tên của loài còn kèm theo chữ var var (variatas), dựa vào hình thái cấu trúc thân cây, hoa Lan phân thành 2 nhóm (theo Pfitzer)
- Nhóm đa thân (Symbodial)
và mang rễ ở đáy Đáy lá to ra tạo thành bẹ bao quanh giả hành, ở nách lá mỗi
bẹ lá có thể có chồi mà mỗi chồi có thể phát triển thành cành mang hoa (phát hoa) hay tạo cơ quan sinh dưỡng mới (giả hành mới) Sự phát triển của giả hành có giới hạn sau một thời gian đạt kích thước đầy đủ sẽ không tạo ra lá mới nữa, các chồi ở nách lá sẽ tạo ra các chồi hoa và phát triển thành nhiều phát hoa Các lá già sẽ rụng đi các giả hành già sau một thời gian sử dụng hết dinh dưỡng thì chết, như thế mỗi giả hành khi khởi đầu là một chồi ở nách lá
+ Cây đơn thân: Gồm các giống: Vanda, Phalaenopsis, Aerides,… thân luôn mọc cao về phía đỉnh sự mọc dài của đỉnh là không giới hạn nên thân chỉ có một thân phát triển vô hạn theo chiều thẳng đứng Sự phát triển này chỉ ngừng khi đỉnh ngọn bị tổn thương, lúc đó chồi bên nách lá sẽ xé rách bẹ lá để mọc dài ra nhánh Các nhánh cũng phát triển vô hạn về phía đỉnh có các cây Lan cao và có cách lóng dài, lá mọc xa nhau như (Vanda) có nhưng cây lá khít nhau nên thân ngắn như (Hồ Điệp)… Dù các lá xa nhau là cho thân dài hay lá xếp sít hầu như không thấy được thân, các cây Lan đơn thân cũng phát triển vô hạn về phái đỉnh ngọn theo chiều thẳng đứng cho nên các phát hoa bao giờ cũng xuất hiện ở bên thân chứ không bao giờ xuất hiện ở đỉnh ngọn
- Phong lan được chia làm 3 dạng sống:
+ Sống bì sinh lấy cây khác làm giá thể gọi là phong lan;
Trang 12+ Sống trên thảm mục gọi là địa lan;
+ Sống trên đá gọi là thạch lan
1.1.3 Những đặc điểm sinh học của Lan
1.1.3.1 Cơ quan sinh dưỡng
Họ Lan tên khoa học là Orchidaceae là một họ thực vật có hoa thuộc bộ Măng tây, lớp thực vật một lá mầm Cơ quan sinh dưỡng của hoa Lan rất phức tạp, đa dạng khiến ta có thể nhầm lẫn chúng với các loại cỏ khác Tổ chức và cơ quan sinh dưỡng của Lan, thay đổi theo phương thức mà nó sống
và phát triển
* Rễ:
Lan là họ sống phụ (bì sinh) bám treo lơ lửng trên các cây thân gỗ khác Các dạng thân gỗ nạc dài, ngắn mập hay mảnh mai đưa cơ thể bò đi xa hay chụm lại thành các bụi dày
Rễ làm nhiệm vụ hấp thu chất dinh dưỡng, chúng được bao bởi lớp mô hút dày, ẩm bao gồm những lớp tế bào chết chứa đầy không khí, do đó nó ánh lên màu xám bạc Với lớp mô xốp đó rễ có thể hấp thu được nước mưa chảy dài dọc trên vỏ cây, lấy nước lơ lửng trong không khí Ở các loài Lan sống phụ sinh có nhiều đoạn phình lớn thành củ giả (giả hành) Đó là bộ phận dự trữ nước và chất dinh dưỡng để nuôi cây trong điều kiện sống khô hạn khi sống bám trên cao
Củ giả rất đa dạng: Hình cầu hoặc hình thuôn dài xếp sát nhau hoặc rải rác đều đặn hoặc hình trụ xếp chồng chất lên nhau để tạo thành một thân giả Cấu tạo củ giả: Gồm nhiều mô mềm chưa đầy dịch nhầy, phía ngoài là lớp biểu bì, với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ, tránh sự mất nước do mặt trời hun nóng Đa số củ giả đều có màu xanh bóng, nên cùng với lá nó làm nhiệm
vụ quang hợp
* Lá
- Hầu hết các loài lhong lan là cây tự dưỡng, nó phát triển đầy đủ hệ thống lá
Trang 13- Hình dạng của lá thay đổi rất nhiều từ lá mọng nước đến loại lá phiến mỏng
- Phiến lá trải rộng hay gấp lại theo gân vòng cung, hay chỉ gấp lại theo gân hình chữ V Màu sắc lá thường xanh bóng nhưng có trường hợp 2 mặt lá
có màu sắc khác nhau Thường mặt dưới có màu xanh đậm hay tía, mặt trên lại khảm nhiều màu sặc sỡ
1.1.3.2 Đặc điểm cơ quan sinh sản của Lan
* Hoa:
Cụm hoa chùm thường là nhiều hoa, đôi khi ít hoa hoặc đơn độc Cụm hoa dài thường rủ thõng xuống, nhều loài có cụm hoa đẹp, cụm có giá trị làm cảnh Lưỡng tính hai bên Màu sắc hoa đa dạng, sặc sỡ Hoa đa số các loài có hương thơm Bao hoa chia hai vòng Vòng ngoài gồm một lá đài giữa và hai
lá đài bên Vòng trong gồm có hai cánh hoa và một cánh môi
* Quả Lan:
Thuộc loại quả nang, nở theo 3-6 đường nứt dọc Quả có dạng cải dài hình trụ ngắn phình ở giữa, khi chín quả nở ra và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và gốc
* Hạt:
Hạt Lan rất nhiều, hạt li ti Hạt chỉ cấu tạo bởi một lớp chưa phân hóa, trên một mạng lưới nhỏ, xốp, chứa đầy không khí Hạt trưởng thành sau 2 - 18 tháng
Trang 141.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Lan được khám phá đầu tiên bởi người Hy Lạp Cha đẻ của ngành Thảo mộc học Theo Phrastus nhà Thực vật học đã nghiên cứu và đưa ra các bài thuốc được bào chế từ bộ phận hoa Lan thường là rễ cây đã được ghi chép trong các sách về thảo dược Salep (bột của Lan) là một loại nước uống giải khát
Năm 1731, một nhà Thảo mộc học người Anh nhận một mẩu giò Lan khô từ Providence, Bahama Ông chăm sóc đặc biệt khi trồng thử, chỉ ngay năm sau đó, Lan trổ hoa màu hồng nhạt xinh tươi và diễm lệ Đó là Lan
Bletila purpura Điều đó đã đánh dấu cành hoa Lan nở đầu tiên trên đất Anh
Các nhà khoa học Âu –Mỹ mới bắt đầu nghiên cứu về Lan và tìm cách phân loại theo các tiêu chuẩn: Điều kiện tăng trưởng, sự sinh sản và hình dáng, năm
1790 Joanis Lorureio đã nghiên cứu và xuất bản quyển “Thực vật chí Nam Bộ” (Flora Cochinchinesis) trong tập sách này Lorureio đã đặt ra một số Lan mới trong đó có 2 giống rất quan trọng là Aerdes và Thrixspermum Một số mẫu Lan của ông được lưu trữ tại Viện bảo tàng Anh Quốc còn đa số được lưu trữ tại Lisbon John Lindley năm 1799, ông đã đi nhiều nơi để nghiên cứu
về Lan và để lại cho thế giới bộ sách có thể lại là một bộ Lan kinh vô cùng quý báu, hiện nay giá 1200$ Ông mất năm 1865 và được tặng tước hiệu Father of Orchids - Người cha của hoa Lan
Vào năm 1835, dân ở các nước Nam Mỹ như Pesru, Bresil, Venezuela, Colombia và Trung Mỹ, Bahama, Jamaica đã dùng nhà kính có điều chỉnh được nhiệt độ và không khí luân lưu đã thành công rực rỡ trong cách trồng hoa Lan Đến năm 1904, ông Noel Bernard người pháp tìm thấy một loại nấm vi ti (fungus) giúp cho sự nảy mầm của hạt Lan (orchid seed) Năm 1922 ông Lewis Knudson, người Hoa Kỳ đã nghiên cứu sự chuyển hóa chất đường giúp cho sự dinh dưỡng của Lan bằng cách ông trộn thử đường vào môi trường cấy bằng thạch (Agar agar) đã cho ông kết quả mỹ mãn Sự khám phá của ông đã mở ra cách mạng hóa cách gây giống Lan không cần qua sự trung gian củ nấm nữa Năm 1956, nhà sinh vật học George Morel đã nghiên cứu
Trang 15dùng một tế bào trên chóp của một chồi Lan con mới được nhú từ giò Lan mẹ đem cấy trên một môi trường cấy có chất dinh dưỡng, ông đã tách ra được vô
số cây Lan con từ “mục măng Lan” (module) Cách này là cái lợi là ta có thể sản xuất Lan con giữ tính di truyền giống hệt cây Lan mẹ
Theo F.Gbriger, 1971, tác giả nghiên cứu về Lan đã đưa ra kết luận Phong lan giảm dần khi phân bố giảm dần khi vượt quá vĩ độ nhiệt đới đến vùng khí hậu lạnh, như ở vùng bán cầu Bắc có 75 chi và 900 loài, ở vùng ôn đới bán cầu nam có số chi và loài ít hơn (40 chi và 500 loài) Năm 1975, Seidenfaden dựa trên các công trình của Guillaumin và Gagnepain đã liệt kê những loài Lan của Lào, Campuchia, Việt Nam Năm 1982, nhà thực vật học người Nga Glakova nghiên cứu về tính đa dạng về hoa Lan đã điều tra thu nhập được 250 loài
Theo R.Lpreley, 1981, nghiên cứu sự phân bố của các loài Lan ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ, ông đã đưa ra kết luận trong quá trình nghiên cứu thu được 306 chi và 8266 loài trong đó có nhiều loài nổi tiếng trên thế giới Cattlya 60 loài, Epidendium 500 loài, còn ở vùng nhiệt đới Châu Á thu được
250 chi, 6800 loài trong đo có 1400 loài thuộc chi Dendrobium, Coelogyne có
200 loài, chi Phalaenopsis có 35 loài, Vanda 60 loài
Giáo sư - tiến sĩ người Nga Leonid V Averyanov, năm 1998, nghiên cứu về Lan Việt Nam ông đã tìm ra ba chi mới thuộc các họ Orchidaceae, Araliaceae và phát hiện thêm 49 loài Lan trong đó có 10 loài đặc hữu của Việt Nam Ông còn cho biết trong rừng núi đá vôi ở Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu
có rất nhiều loài Lan đủ mọi giống
1.3 Tình hình nghiên cứu ở Viêt Nam
Ở Việt Nam, người đầu tiên nghiên cứu về Lan là vua Trần Anh Tông nhà vua cho lập Ngũ Bách Lan viên bên đồi Long Đỗ (nay là vườn Bách Thảo
Hà Nội) không những sưu tầm, gây trồng Lan trong nước mà cả Lan các nước Lan cận như Campuchia, Lào,Trung Quốc
Năm 1972, trong quyển 2 bộ “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã mô tả kèm hình vẽ với 750 loài Lan ở Việt Nam
Tháng 7 năm 2005, Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng cùng với Giáo
sư Leorid Averagonov chuyên gia viện Hàn lâm khoa học Nga đã phát hiện
Trang 16quần thể 3 loài Lan hài, đây là loài đặc hữu chỉ gặp ở vùng hẹp và từ lâu đã được coi là báu vật của quốc gia
Nông Văn Duy và cộng sự (2006), kết quả điều tra các loài Lan (ORCHIDACEAE Juss.) Đặc hữu quý hiếm có giá trị kinh tế cao ở cao nguyên LANGBIANG, tỉnh Lâm Đồng đã nghiên cứu được 220 loài trong đó
có 30 loài đặc hữu, quý hiếm và trong đó có 76 loài có giá trị kinh tế cao có thể đưa vào nhân giống, lai tạo đưa vào phục vụ cho sản xuất
Năm 2007, Ngô Văn Sơn và Vũ Mạnh Đàm trường Đại học Lâm nghiệp đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học, khả năng nhân
giống và làm thuốc của loài Lan kim tuyến (Anoectochilus staceus Bulume,
1825) tại Vườn quốc gia Ba Vì - Hà Nội Kết quả nghiên cứu đã đánh giá được đặc điểm sinh học, khả năng nhân giống và một số công dụng làm thuốc của loài
Năm 2008, tác giả Ngô Văn Tài - trường Đại học Lâm nghiệp đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, đặc điểm phân bố của loài Lan kim
tuyến (Anoectochilus staceus Bulume) tại Vườn quốc gia Ba Vì làm cơ sở cho
việc bảo tồn và phát triển loài Kết quả nghiên cứu cho thấy loài Lan kim tuyến thường phân bố ở đai cao từ 90 m trở lên, có khí hậu lạnh và đất đai rất
ẩm
Năm 2009, tác giả Phùng Văn Phê - trường Đại học Lâm nghiệp đã tiến hành nghiên cứu về đặc điểm hình thái và phân bố của loài Lan kim tuyến
(Anoectochilus staceus Bulume, 1825) ở vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú
Thọ Kết quả cho thấy tại vườn quốc gia Xuân Sơn, Lan kim tuyến thường phân bố ở kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới và kiểu rừng kín lá rộng thường xanh á nhiệt đới núi thấp Lan kim tuyến được phát hiện có khu phân bố và số lượng đang bị suy giảm nghiêm trọng Cần triển khai nhân giống và trồng chúng, cung cấp nguồn dược liệu xuất khẩu
Năm 2009, tác giả Lê Thị Mận cùng với Trung tâm giống và Công nghệ sinh học - trường Đại học Lâm nghiệp đã bước đầu nghiên cứu kỹ thuật
nhân giống In vitro loài Lan kim tuyến (Anoectochilus staceus Bulume, 1825)
đạt được một số thành công nhất định
Tháng 10 năm 2009, tác giả Phùng Văn Phê, Vương Duy Hưng – trường Đại học Lâm nghiệp và tác giả Nguyễn Trung Thành – trường Đại học
Trang 17Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu về đặc
điểm hình thái và phân bố của loài Lan kim tuyến (Anoectochilus staceus
Bulume) ở Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Đỗ Văn Trừng và cộng sự, (2011), đã tiến hành nghiên cứu đa dạng thực vật và giá trị bảo tồn ở Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Sùa, tỉnh Sơn La đã điều tra được phân lớp mộc Lan là 571 loài
Nguyễn Thị Thảo và cộng sự, (2011), đã nghiên cứu về đặc điểm phân
bố của Lan kim tuyến tơ (Anoectochilus setaceae Bulume) tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Côpia, Thuận Châu, Sơn La và đã điều tra được thành phần loài tại khu nghiên cứu đa dạng và phong phú biến động từ 16 - 18 loài
1.4 Tình hình nghiên cứu các loài địa lan tại xã An Lạc huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang
Việc nghiên cứu về hệ thực vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử
đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu Tuy nhiên, hệ thực vật tại trong xã An Lạc thì mới được chú ý tới Trong những năm qua, tại xã An Lạc đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu được triển khai nhằm đánh giá mức độ đa dạng loài hoặc điều tra phân bố các loài thực vật trong khu vực do trường Đại học Lâm nghiệp thực hiện, đã liệt kê được 786 loài thực vật, thuộc 496 chi và 166
họ, trong số các loài thực vật đó có 43 loài thực vật quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam Điển hình nhất là các loại cây như pơ mu, thông tre, thông nàng, chò chỉ, kim giao, trầm hương, lát hoa, trò vẩy, bẩy lá… tuy nhiên, các
đề tài này chưa đề cập nhiều đến các đối tượng là các loài địa lan cũng như vùng phân bố của chúng trong xã nên thông tin về những loài này còn sơ xài
và chưa đầy đủ
Chính vì vậy, đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng và phân bố của các loài địa Lan tại xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn” đã được lựa chọn để triển khai
Trang 18Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, GIỚI HẠN, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được tính đa dạng về thành phần loài, công dụng, vị trí phân bố; đồng thời đánh giá được các tác động ảnh hưởng tới các loài địa lan tại xã
An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn các loài cây này trong khu vực nghiên cứu
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài địa lan tại xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
- Nghiên cứu tính đa dạng về công dụng của các loài địa lan
- Xây dựng bản đồ phân bố cho các loài địa lan trong khu vực nghiên cứu
- Đánh giá các tác động ảnh hưởng tới tài nguyên thực vật địa lan
- Đề xuất các biện pháp bảo tồn tính đa dạng loài địa lan trong khu vực
2.3 Giới hạn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các loài địa lan mọc tự nhiên tại xã An
Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
Thời gian: từ 10/02/2015 đến 10/05/2015
Địa điểm nghiên cứu: Xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa có chọn lọc
Kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, địa hình, các nguồn tài nguyên; Các thông tin, tư liệu về điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội như dân số, lao động, thành phần dân tộc, tập quán canh tác; Kết hợp sử dụng các báo cáo, tài liệu có liên quan
Trang 192.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
Dựa vào bảng hỏi được thiết kế và thảo luận theo nhóm đối tượng trả lời phỏng vấn Kết hợp phương pháp kiểm tra chéo để tăng độ tin cậy của thông tin thu thập được Cụ thể, chúng tôi trực tiếp đi thực địa để:
- Phỏng vấn ban quản lý của xã
- Phỏng vấn cán bộ kiểm lâm trong khu vực
- Phỏng vấn các cá nhân, hộ gia đình, đặc biệt là những chuyên thu mua
và trực tiếp đi lấy Lan rừng
- Thảo luận nhóm
Tuy nhiên với mỗi nội dung nghiên cứu riêng chúng tôi sử dụng các phương pháp điều tra khác nhau
2.4.2.1 Phương pháp lập tuyến điều tra
Tiến hành lập tuyến điều tra trên bản đồ và ngoài thực địa sao cho đi qua được tất cả các trạng thái rừng, sinh cảnh đại diện trong khu vực
Tổng số tuyến điều tra đã được thực hiện là 5 tuyến:
+ Tuyến 1: Bắc đầu từ chốt Vũng Tròn – Khe Ó Cạn
- Tọa độ điểm đầu tuyến: E00496840 N02360602
- Tọa độ điểm cuối tuyến: E00497002 N02361073
+ Tuyến 2: Chốt Vũng Tròn – Đỉnh Khau Chon (Tam giác vàng) gần đỉnh Càm Càm
- Tọa độ điểm đầu tuyến: E00496890 N02360569
- Tọa độ điểm cuối tuyến: E00497079 N02361255
+ Tuyến 3: Khe Rỗ - Khe Cắng Cai
- Tọa độ điểm đầu tuyến: E00496895 N02360542
- Tọa độ điểm cuối tuyến: E00497130 N02360150
+ Tuyến 4: Khe Rỗ - đỉnh Khau Mu - Cầu Nà Mười - Chốt Vũng Tròn
- Tọa độ điểm đầu tuyến: E00496840 N02360545
- Tọa độ điểm cuối tuyến: E00496464 N02360810
Trang 20+Tuyến 5: Cáng Cai - Pò Thác
- Tọa độ điểm đầu tuyến: E00497067 N02360183
- Tọa độ điểm cuối tuyến: E00497184 N02359249
Hình 2.1: Sơ đồ tuyến điều tra của xã An Lạc
Trên các tuyến đã thiết lập, triển khai, quan sát sự xuất hiện của các loài địa lan bằng mắt thường hoặc bằng ống nhòm, ghi nhận thông tin bằng các thiết bị như máy ảnh, thiết bị định vị GPS (xác định tuyến đi, định vị vị trí bắt gặp loài), thông tin điều tra được ghi theo mẫu biểu điều tra địa lan trên tuyến:
Mẫu biểu 01: Điều tra các loài địa lan theo tuyến
Tuyến số: Địa điểm điều tra:
Tọa độ điểm đầu tuyến: Tọa độ điểm cuối tuyến:
Ngày điều tra: Người điều tra:
TT
Tên loài
Lan Tọa độ bắt gặp Độ cao (m)
Trạng thái rừng nơi gặp
Trang 21Phương pháp xử lý mẫu tiêu bản ngoài hiện trường: Sử dụng phương pháp bảo quản khô và bảo quản ẩm hiện đang áp dụng trong làm mẫu thực vật hiện nay Các mẫu được ghi etiket bằng bút chì, trên đó thể hiện các thông tin:
- Kí hiệu mẫu
- Tuyến số
- Ký hiệu điểm tọa độ lưu trong GPS
2.4.2.2 Phương pháp phỏng vấn người dân và thảo luận nhóm
Nhằm mục đích tìm hiểu thêm về tình hình khai thác, sử dụng, khai thác, nhân giống gây trồng các địa lan trong khu vực, mức độ phong phú của một số loài phổ biến trước kia và hiện nay chúng tôi tiến hành phỏng vấn 30 người trong khu vực nghiên cứu
Mẫu câu hỏi phỏng vấn được trình bày trong phần phụ lục 04: Bảng câu hỏi phỏng vấn điều tra các loài địa lan
Dưới dây là danh sách người dân được phỏng vấn
Bảng 2.1: Danh sách tham gia trả lời phỏng vấn điều tra
5 Châu Văn Chí Tày Tổ trưởng đội bảo về rừng
8 Trần Văn Dũng Kinh Hạt trưởng trạm Biểng
Trang 2217 Phí Quang Phúc Tày Làm ruộng
Kết quả điều tra đƣợc thống kê trong biểu điều tra sau:
Mẫu biểu 02: BIỂU THỐNG KÊ THÀNH PHẦN CÁC LOÀI
ĐỊA LAN VÀ CÔNG DỤNG
Người điều tra Ngày điều tra Địa điểm
Trang 23Mẫu biểu 03: BIỂU ĐIỀU TRA CÁCH THỨC NHÂN GIỐNG,
TRỒNG MỘT SỐ LOÀI ĐỊA LAN
Người điều tra Ngày điều tra Địa điểm
Ngoài ra, chúng tôi tiến hành chụp ảnh các loài địa lan được bắt gặp trong tự nhiên, sinh cảnh nơi gặp các loài đó và trong vườn Lan của các hộ dân sống trong vùng Và tiến hành phỏng vấn người dân, nhằm tìm hiểu, đánh giá được những tác động trực tiếp, gián tiếp đã gây ảnh hưởng tới số lượng cũng như mật độ loài
Từ đó, dựa vào các kết quả nghiên cứu của đề tài, kết hợp với tham khảo ý kiến chuyên gia đề đề xuất giải pháp phát triển bền vững các loài địa lan hiện có trong địa phương Các giải pháp này được thống nhất với người dân trong khu vực thông qua quá trình thảo luận nhóm và trao đổi của cộng đồng
2.4.3 Phương pháp xử lý nội nghiệp
2.4.3.1 Phương pháp xác định tên loài
Trên cơ sở mẫu tiêu bản thu được và phần hình ảnh, ghi chép ngoài thực địa, các loài chưa biết tên được xác định bởi Th.S Phạm Thanh Hà Các tài liệu chuyên khảo về địa lan được sử dụng để tra cứu gồm có:
+ Phong lan Việt Nam (2000), Trần Hợp, NXB Văn hóa dân tộc
+ Averyanov L.& Ana Averyanova (2003), Trích yếu được cập nhật hóa về các loài Lan của Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
TT Tên loài Cách trồng Cách chăm sóc Tỷ lệ sống
Trang 24+ Dương Đức Huyến, Thực vật chí Việt Nam (Flora of Vietnam) NXB
Khoa học và kỹ thuật
+ Nguyễn Tiến Bân, Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập 3, NXB
Nông nghiệp Hà Nội
Với các loài cây quý hiếm được xác định theo Sách Đỏ Việt Nam (2007); Danh lục đỏ IUCN (2014), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP… kết hợp với đối chứng với phần mô tả trong các tài liệu chuyên khảo về thực vật để xác định tên cho các loài
2.4.3.2 Phương pháp lập danh lục tên các loài địa lan
Dựa theo danh sách tên cây, tình trạng nguy cấp, cách gây trồng tác dụng của chúng, chúng tôi lập danh lục các loài địa lan Các loài được xếp theo thứ tự ABC Từ kết quả giám định loài, tôi tiến hành xây dựng danh lục theo mẫu sau:
Mẫu biểu 04: DANH LỤC CÁC LOÀI ĐỊA LAN TẠI XÃ AN LẠC S
“Quản lý Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm”
2.4.3.3 Phương pháp lập bản đồ cho từng loài Địa Lan
Sử dụng máy GPS cầm tay để định vị điểm phân bố của các loài địa lan Sau đó sử dụng phần mềm Mapsource, Excel và Mapinfo kết hợp với bản
Trang 25đồ hiện trạng rừng xã An Lạc để xây dựng bản đồ phân bố của chúng trong khu vực nghiên cứu
2.4.3.4 Phương pháp đánh giá các tác động ảnh hưởng, đề xuất giải pháp
Trên cơ sở số liệu thu thập được qua phỏng vấn và quan sát thực địa, kết hợp tham khảo ý kiến cán bộ, người dân địa phương và ý kiến người có chuyên môn để phân tích những tác động tích cực, tiêu cực; phân tích sơ đồ SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) trong công tác bảo tồn địa lan làm căn cứ khoa học đề xuất các giải pháp khả thi cho khu vực nghiên cứu
Trang 26Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN- KINH TẾ -XÃ HỘI 3.1 Điều kiện tự nhiên
Phía Bắc và phía Tây là phần đất còn lại của xã An Lạc
Phía Đông và Đông Bắc giáp với huyện Đình Lập - Lạng Sơn
Phía Nam và Đông Nam giáp huyện Ba Chẽ - Quảng Ninh
Phía Tây Nam một phần xã Dương Hưu huyện Sơn Động
3.1.3 Địa chất thổ nhưỡng
- Đất thuộc khu vực nghiên cứu được hình thành trên phức hệ đất trầm tích, gồm các loại đá mẹ sa thạch, phiến sét, quật kết và phù sa cổ thuộc kỷ đệ tứ
- Xã An Lạc có hai loại đất chính sau:
+ Đất Feralit trên núi, phân bố ở độ cao 300m trở lên, hậu hết còn thực vật che phủ, tầng đất sâu ẩm, có lớp thảm mục khá dày, đất giàu dinh dưỡng, trong loại đất này xuất hiện các loại phụ sau:
Đất Feralit núi màu vàng
Đất Feralit núi màu vàng nâu
Đất Feralit núi bằng, tầng B không rõ
Trang 27+ Đất Feralit điển hình, phân bố ở độ cao 200 -300m, tập trung chủ yếu ở phía Đông Bắc khu rừng cấm, hình thành trên đá mẹ phiến thạch, sa thạch tầng đất từ trung bình đến dày, có tính chất đất rừng Nơi còn rừng thì tầng đất sâu ẩm, độ phì cao, nơi mất rừng thì đất bị thoái hóa mạnh, nghèo dinh dưỡng có 2 loại phụ sau:
Đất Feralit núi vàng, phát triển trên sa thạch, tầng đất nâu, nghèo dinh dưỡng;
Đất Feralit màu vàng đỏ, phát triển trên phiến thạch sét, sa phiến thạch tầng đất trung bình, chất dinh dưỡng trung bình
3.1.4 Khí hậu thủy văn
3.1.4.1 Khí hậu
Xã An Lạc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng bởi dạng thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều Theo số liệu từ trạm khí tượng thủy văn tỉnh Bắc Giang, nhiệt độ trung bình năng là 230C (trung bình tháng cao nhất là
250C, trung bình tháng thấp nhất là 15,10C) Lượng mưa trung bình năm là 148,33 mm (trung bình tháng cao nhất là 317,1 mm, trung bình tháng thấp nhất là 11,4 mm)
Tổng số ngày mưa là 120 ngày, tập trung vào các tháng 5-8 Độ ẩm không khí trung bình quân là 82%, thấp nhất là 79%
Lượng bốc hơi trung bình hàng năm là 105 mm (trung bình tháng cao nhất là 114 mm, trung bình tháng thấp nhất là 69 mm) và thường bốc hơi mạnh vào các tháng 5 - 6 - 7 Tuy nhiên, do độ che phủ rừng cao nên đã hạn chế được lượng nước bốc hơi nên mùa khô ít bị khô hạn, hạn gay gắt
Sương mù xuất hiện vào các tháng 1 - 2 và 9 - 12 Huyện Sơn Động và Lục Nam chịu ảnh hưởng của hai loại gió mùa là gió mùa Đông Bắc xuất hiện vào mùa đông, kèm theo mưa phùn và giá lạnh (từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau) gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 10, trong mùa này còn nóng có xuất hiện giông bão, kèm theo mưa to đến rất to
Trang 283.1.4.2 Thủy văn
Trong khu vực vùng núi Yên Tử có 7 hệ thủy chính là các suối: Đồng Rì, Đồng Bài, Nước Trong, Nước Vàng, Đá Ngang, Khe Đin, Khe Rỗ, đều bắt nguồn từ núi Yên Tử Đây là những con suối thuộc đầu nguồn sông Lục Nam,
do rừng đầu nguồn được quản lý và bảo vệ tốt nên các con suối trên có nước quanh năm, là nguồn cung cấp nước cho các xã An Lạc, Thanh Sơn, Thanh Luận, Lục Sơn, đảm bảo sinh hoạt và sản xuất cho nhân dân địa phương Mặt khác trên thượng nguồn của các con suối có một số thác đẹp như: Thác Giót, Thác Ba Tia, Bãi Đá Rạn, Ao Vua, Hồ Tiên, suối Nước Vàng, suối Nước Trong, rất hấp dẫn khách du lịch gần xa
3.2 Điệu kiện dân sinh – kinh kế - xã hội
3.2.1 Dân số và thành phần dân tộc
Tính đến năng 2014, toàn xã có 12 thôn bản, dân số toàn xã được quy hoạch là 881 hộ với 3.604 khẩu; trong đó dân tộc thiểu số là 758 hộ (chiếm 86%) Có 9 dân tộc anh em cùng sinh sống gồm: Kinh, Tày, Cao Lan, San Chí, Dao, Hoa, Mường, Nùng, Thái
3.2.2 Hiện trạng phát triển kinh tế
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành tăng 10% Trong đó: Nông-lâm nghiệp và thủy sản tăng 8,6%, công nghiệp xây dựng tăng 0,3%, dịch vụ thương mại tăng 1,1%
Cơ cấu giá trị sản xuất: Nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 86%, công nghiệp xây dựng tăng 3%, dịch vụ - thương mại tăng 11%
Tổng giá trị sản xuất (so với năm 2010) các ngành đạt 18,4 tỷ đồng: Nông lâm nghiệp và thủy sản đạt 15,8 tỷ đồng, công nghiệp xây dựng đạt 0,6
tỷ đồng, dịch vụ - thương mại đạt 2 tỷ đồng Tổng thu nhập bình quân đầu người là 6,7 triệu đồng/người/năm
3.2.2.1 Sản xuất nông nghiệp
Về trồng trọt:
Trang 29UBND xã đã chỉ đạo các thôn bản tập trung triển khai các biện pháp bảo
vệ cây trồng và vật nuôi Vận động nhân dân tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, đưa giống mới vào sản xuất nhằm tăng năng xuất và sản lượng lương thực
Tổng diện tích gieo trồng giao năm 2014 là 435,1 ha, thực hiện 413,3 ha đạt 95% chỉ tiêu kế hoạch
Hầu hết các cây lương thực, thực phẩm được trồng chủ yếu trong xã đều đạt kế hoạch được giao khá cao với tỉ lệ trên 80%, cá biệt như cây sắn đạt 106%, rau xanh đạt 99% so với chỉ tiêu kế hoạch So với năm 2013, bên cạnh những loài cây được trồng trong khu vực có năng xuất và sản lượng tăng như cây sgô (tăng 0.2 ha); cây sắn (tăng 0.6 ha); cây lạc (tăng 0.3 ha); rau xanh các loại (tăng 1,1 ha) vẫn còn có nhiều cây lương thực thực phẩm không được quan tâm, chú trọng như trước đây như cây lúa (giảm 0,2 ha); những cây lương thực có hạt (giảm 20,4 tấn); khoai (giảm 0,2 ha); đậu đỗ (giảm 1,3 ha); đậu tương (giảm 0.3 ha) Như vậy, tình hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong địa phương đã có sự thay đổi, tuy nhiên chưa rõ dệt Trong xã, ngoài việc phát triển vùng trồng cây cho thu nhập cao như cây mía, vải thì vẫn chưa
có sự xuất hiện nhiều của những cây công nghiệp hay cây nông nghiệp cho giá trị kinh tế cao
Về chăn nuôi:
Tổng đàn trâu hiện có là 392 con, tăng 2 con so với năm 2013 đạt 77,8%
kế hoạch Đàn bò hiện có 13 con bằng so với năm 2013 đạt 68,4% kế hoạch Đàn lợn hiện có là 4.758 con, tăng 738 con so với năm 2013 đạt 119% kế hoạch Đàn ong mật hiện có 530 đàn, tăng 2 đàn so với năm 2013, sản lượng mật ước đạt 6,8 tấn, giá trị ước đạt 680 triệu đồng
3.2.2.2 Về lâm nghiệp
Tổng diện tích đất lâm nghiệp hiện có là 9.483,17 ha, rừng phòng hộ là 2.406,13 ha, rừng đặc dụng do BQL KBT Tây Yên Tử quản lý là 5.319,33 ha
Trang 30Công tác quản lý, bảo vệ rừng được quan tâm chú trọng, duy trì thường xuyên, tổ đội bảo vệ rừng tiếp tục được củng cố, kiện toàn, tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm lâm luật
Trồng rừng kinh tế có bước chuyển biến tích cực trong nhân dân bằng các nguồn vốn, trồng trên diện tích vườn đồi tập trung và trồng phân tán trên diện tích vườn đồi Trồng kinh tế là 111 ha Khai thác rừng trồng 27,5 ha
3.2.3 Trình độ học vấn
Người dân trong vùng có trình độ học vấn thấp thấp, 80% dân số ở lứa tuổi từ 45 trở lên mù chữ, tỷ lệ này nhiều hơn đối với phụ nữ Tất cả trẻ em được đến lớp và việc phổ cập tiểu học theo đúng độ tuổi đạt 100% Tuy nhiên cũng vẫn còn nhiều em bỏ học do gia đình khó khăn
Tóm lại:
Xã An Lạc là một xã vùng núi, điều kiện địa hình phức tạp, giao thông
đi lại khó khăn cơ sở hạ tầng còn thấp Nhưng với điều kiện khí hậu thời tiết, thủy văn thuận lợi cho việc trồng nhiều loài cây nhiệt đới có giá trị, đặc biệt rất phù hợp cho các loài địa lan Quỹ đất lâm nghiệp và diện tích đất rừng nguyên sinh còn nhiều là một thế mạnh để phát triển trồng rừng, cùng với đó
là việc phát hiện, bảo tồn và phát triển các nguồn gen quý Đời sống của người dân còn rất khó khăn, tập quán sinh hoạt, tập quán canh tác còn lạc hậu cùng với trình độ dân trí thấp nên bị hạn chế trong việc tiếp cận các khoa học
kỹ thuật mới trong canh tác nông nghiệp Do đó, người dân vẫn phải sống phụ thuộc vào lâm sản ngoài gỗ trong rừng tự nhiên, dẫn đến việc quản lý rừng gặp nhiều khó khăn Thành phần dân tộc ở đây chủ yếu là người dân tộc thiểu
số, trình độ văn hoá thấp là một thách thức lớn trong công tác tuyên truyền các biện pháp bảo vệ rừng Mặt khác, hầu hết các loài địa lan là những loài
mọc thành đám, vạt trên mặt đất nên rất dễ bị phát hiện, khai thác và tác động
Trang 31Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thành phần các loài địa lan tại khu vực nghiên cứu
Qua kết điều tra, giám định, tra cứu thông tin về giá trị sử dụng, tại xã
An Lạc, danh sách các loài địa lan được xác định cụ thể như trong bảng 4.1:
Bảng 4.1: Danh mục các loài địa lan tại xã An Lạc
1 Lan kiếm tàu Cymbidium sinense (Jacks in Andr.) Willd
2 Lan kiếm lô hội Cymbidium aloifolium (L.) Sw
3 Lan kiếm thanh ngọc Cymbidium ensifolium (L.) Sw
4 Lan đất hoa dày Geodorum densiflorum (Lam.) Schltr
5 Lan mai đất lá to Malaxis latifolia Sm
6 Lan bạc diệp tối Tainia viridofusca (Hook.) Benth et Hook.f
7 Lan sống thuyền cô nốc Tropidia curculigoides Lindl
Như vậy, tại khu vực nghiên cứu đã điều tra, thu thập mẫu vật được 7 loài địa lan, tuy nhiên trong đó loài Lan kiếm lô hội xuất hiện cả trên cây (phong lan) và thi thoảng gặp trên đất (địa lan) Sở dĩ có sự kết hợp giữa dạng phong lan + bám đá hay địa lan nhưng bám cả trên đá là do trên bề mặt đá có thể xuất hiện các hốc mùn do cành lá rơi rụng để lại, hoặc do các lớp rêu bám trên đá làm giá thể cho các loài Lan Do vậy, loài Lan kiếm lô hội vẫn được xếp vào danh sách các loài địa lan
Trong toàn bộ các loài đã thu thập được mẫu, chúng tôi chưa xác định được loài nào có tên theo Sách đỏ Việt Nam, 2007, hay Nghị định 32/2006-
CP, cũng như trong Danh lục đỏ của IUCN, 2014 Qua đó cho thấy, các loài địa lan còn bắt gặp hiện nay tại khu vực điều tra đều là những loài khá phổ biến, ít được quan tâm khái thác Bên cạnh đó, qua các nguồn tin thu thập
Trang 32được từ phỏng vấn, trước kia một số loài địa lan có hoa đẹp vẫn được cung cấp cho thị trường, tuy nhiên trong những năm gần đây trở nên rất hiếm, trong quá trình điều tra chúng tôi chưa thu thập được mẫu vật của những loài này, như vậy cần tiếp tục có các nghiên cứu với phạm vi mở rộng hơn
Sự phân bổ về số lượng loài địa lan trong các chi thực vật thể hiện trong bảng sau:
Bảng 4.2: Số lượng loài địa lan theo các chi tại khu vực nghiên cứu
TT Tên chi Số lượng Tỉ lệ phần trăm (%)
Tổng số chi được điều tra là 5 chi Từ bảng trên ta thấy rằng các chi
đơn loài chiếm chủ yếu (4 chi), chỉ có duy nhất chi Cybidium chiếm số lượng
loài lớn nhất (3 loài)
Vì điều kiện trong khu vực có sự đan xen cả núi đá và núi đất, điều kiện thủy văn tương đối thuận lợi, hình thành các sinh cảnh sống ẩm ướt cho địa lan nên số lượng các loài và các chi lan xuất hiện tương đối phong phú, nhưng chủ yếu là các loài địa lan có kích thước nhỏ
4.2 Giá trị sử dụng của các loài địa lan tại xã An Lạc
Phần lớn các loài địa lan đều có những điểm nổi bật cả về giá trị khoa học lẫn giá trị mỹ thuật Vẻ tao nhã, hài hòa của chúng từ lâu đã hiện diện trong văn học, nghệ thuật và gắn liền với đời sống văn hóa của người Á Đông Do đó chúng thường được làm cây cảnh trang trí, sưu tầm Bên cạnh giá trị làm cảnh, nhiều loài địa lan còn được biết đến với công dụng làm thuốc
bổ, thuốc chữa bệnh
Trang 33Qua tìm hiểu, tra cứu công dụng của từng loài Lan điều tra được, kết quả tổng hợp thể hiện ở bảng 4.3:
Bảng 4.3: Công dụng của các loài địa lan tại khu vực nghiên cứu
Ngoài ra, còn có giá trị làm cảnh vì hoa lâu tàn và có màu sắc bắt mắt
2 Lan kiếm tàu Có giá trị làm cảnh vì hoa lâu tàn và có màu sắc bắt mắt
3 Lan kiếm lô hội
Dùng chữa cam trẻ em; Làm thuốc điều hoà kinh nguyệt Lá giã nhỏ, pha thêm rượu dùng đắp trong trường hợp gẫy chân tay trật khớp, sưng khớp, đau gân; Ngoài ra, còn có giá trị làm cảnh vì hoa lâu tàn và có màu sắc bắt mắt
4 Lan đất hoa dày Có giá trị làm cảnh vì hoa lâu tàn và có màu sắc bắt mắt
5 Lan mai đất lá to Có giá trị làm cảnh vì hoa lâu tàn và có màu sắc bắt mắt
6 Lan bạc diệp tối Có giá trị làm cảnh vì hoa lâu tàn và có màu sắc bắt mắt
7 Lan sống thuyền cô
nốc Có giá trị làm cảnh vì hoa lâu tàn và có màu sắc bắt mắt
Như vậy, cả 7 loài trên đều có giá trị làm cảnh, bởi chúng là những loài
dễ trồng nhưng cho hoa đẹp, nhiều màu sắc và lâu tàn, đặc biệt loài Lan bạc diệp tối ra hoa vào dịp tết nguyên đán nên được khá nhiều người thích Theo điều tra thực tế, những loài được lấy về trồng tại nhà dân như: Lan kiếm thanh ngọc, Lan kiếm lô hội, Lan kiếm tàu, Lan bạc diệp tối… Về công dụng làm thuốc có 2 loài có công dụng chữa bệnh đã được kiểm chứng và công bố trong các tài liệu chuyên khảo Đây cũng là điều rất đáng lưu tâm để bảo tồn và phát triển những loài này Bên cạnh đó, các loài Lan còn có giá trị về mặt sinh thái, nhiều loài có tính chỉ thị cho môi trường sống cần được tiếp tục nghiên cứu
Trang 344.3 Bản đồ nghiên cứu các loài địa lan trong khu vực nghiên cứu
Khu vực được điều tra chủ yếu tại khu vực Khe Rỗ - Vũng Tròn của xã
An Lạc Bởi đây là địa bàn thuộc vùng lõi của KBT Tây Yên Tử, và cũng là nơi lưu trữ được những trạng thái rừng có trữ lượng tốt nhất, ít bị tác động từ người dân nhất trong các nơi có rừng của xã An Lạc
Dưới đây là bản đồ tổng hợp của tất các các loài địa lan điều tra được tại khu vực nghiên cứu
Hình 4.1: Bản đồ phân bố các loài địa lan điều tra được trong khu vực
nghiên cứu
Từ bản đồ trên ta thấy, có 6 trên 7 loài địa lan điều tra được có phân bố
ở khu vực rừng trung bình, chỉ có 1 loài nằm trong khu vực rừng phục hồi
Trang 354.3.1 Vị trí phân bố loài Lan kiếm thanh ngọc
Hình 4.2: Bản đồ phân bố Lan kiếm thanh ngọc
* Đặc điểm sinh cảnh của loài
Loài Điểm
tọa độ Tọa độ (E/N) Độ cao
Trạng thái rừng
Đặc điểm sinh cảnh
Lan kiếm
thanh ngọc
104 496840 /2360602
Rừng trung bình
Rừng hỗn giao, cây lá rộng thường xanh, dọc theo thung suối
đá Mọc trên đất
ẩm, có nhiều mùn, nhưng có khả năng thoát nước cao
Trang 364.3.2 Vị trí phân bố loài Lan kiếm lô hội
Hình 4.3: Bản đồ phân bố Lan kiếm lô hội
* Đặc điểm sinh cảnh của loài
Loài Điểm
tọa độ Tọa độ (E/N)
Độ cao
Trạng thái rừng Đặc điểm sinh cảnh
ẩm nhưng có khả năng thoát nước cao
Lan kiếm lô hội xuất hiện trên tuyến điều tra tại duy nhất một điểm, ở
độ cao lớn Đây là loài vừa sống ở dạng phong lan, vừa sống ở dạng địa lan Chúng bám vào thân cây chủ cao đồng thời tại vị trí các hốc của rễ cây chủ, nơi có đất ẩm cũng thấy chúng mọc Số lượng bắt gặp của loài này tương đối
ít, chúng mọc thành từng bụi nhỏ
Trang 374.3.3 Vị trí phân bố loài Lan kiếm tàu
Hình 4.4: Bản đồ phân bố Lan kiếm tàu
* Đặc điểm sinh cảnh của loài
Loài Điểm
tọa độ Tọa độ (E/N) Độ cao
Trạng thái rừng
Đặc điểm sinh cảnh
Nơi có ánh sáng cao, đất có nhiều mùn, ẩm nhưng có khả năng thoát nước cao
Trang 384.3.4 Vị trí phân bố loài Lan đất hoa dày
Hình 4.5: Bản đồ phân bố Lan đất hoa dày
* Đặc điểm sinh cảnh của loài
Loài Điểm tọa
độ Tọa độ (E/N)
Độ cao
Trạng thái rừng
Đặc điểm sinh cảnh
Lan đất
hoa dày
262 495758 /2360968 92
Rừng non phục hồi
Nơi có ánh sáng trung bình, đất có nhiều mùn ẩm
268 496053 /2360619 107
Lan đất hoa dày là loài địa lan mọc những nơi có mùn tập trung, có độ
ẩm cao và ánh sáng trung bình Loài này bắt gặp ở 2 điểm với số lƣợng ít, mọc tập trung thành vùng nhỏ
Trang 394.3.5 Vị trí phân bố loài Lan mai đất lá to
Hình 4.6: Bản đồ phân bố Lan mai đất lá to
* Đặc điểm sinh cảnh của loài
Loài Điểm
tọa độ Tọa độ (E/N) Độ cao
Trạng thái rừng
Đặc điểm sinh cảnh
Lan mai
đất lá to 107 496763 /2360733 128
Rừng trung bình
Nơi có ánh sáng trung bình, đất có nhiều mùn ẩm
Lan mai đất lá to bắt gặp duy nhất tại một điểm trên tuyến điều tra với
số lƣợng ít Loài này mọc trên khu vực có nhiều cây tán rộng, gần ven suối nơi có đất mùn ẩm và ánh sáng trung bình