1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu bệnh hại cây lát hoa chukrasia tabularis a juss và đề xuất biện pháp quản lý bệnh hại tại vườn ươm khu vực xuân mai huyện chương mỹ hà nội

38 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Bệnh Hại Cây Lát Hoa (Chukrasia Tabularis A.Juss) Và Đề Xuất Biện Pháp Quản Lý Bệnh Hại Tại Vườn Ơm Khu Vực Xuân Mai- Huyện Chương Mỹ- Hà Nội
Tác giả Lò Thị Thảo Nhung
Người hướng dẫn Thầy Nguyễn Thành Tuấn
Trường học Đại học Lâm nghiệp
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (9)
    • 1.1. Nhìn nhận chung (9)
    • 1.2. Lịch sử phát triển khoa học bệnh cây (9)
  • Chương 2. ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU (12)
    • 2.1 Điều kiện tự nhiên (12)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý (12)
      • 2.1.2 Địa hình (12)
      • 2.1.3. Đặc điểm khí hậu (12)
      • 2.1.4 Tình hình sản xuất ở vườn ươm (14)
    • 2.2. Điều kiện kinh tế xã hội (14)
  • Chương 3. MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG –ĐỊA ĐIỂM –THỜI GIAN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (17)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (17)
    • 3.2. Đối tƣợng, phạm vi và thời gian nghiên cứu (17)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (17)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (17)
      • 3.4.1. Phương pháp kế thừa (17)
      • 3.4.2. Phương pháp điều tra (18)
      • 3.4.3. Phương pháp xác định tỷ lệ bị hại (P%) và mức độ bị hại (R%) (18)
      • 3.4.4. Phương pháp xác định vật gây bệnh (20)
  • Chương 4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ (22)
    • 4.2. Triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh hại lá Lát Hoa (24)
      • 4.2.1. Bệnh thủng lá Lát hoa (25)
      • 4.2.2. Bệnh khô đầu mép lá cây Lát hoa (26)
    • 4.3. Ảnh hưởng nhân tố sinh thái tới sự sinh trưởng và phát triển của nấm bệnh (28)
      • 4.3.1. Hướng phơi (28)
      • 4.3.2. Nhiệt độ (29)
      • 4.3.3. Lƣợng mƣa (0)
      • 4.3.4. Độ ẩm (31)
      • 4.3.5 Tác động của con người đến bệnh hại (33)
    • 4.4 Đề xuất các biện pháp quản lý tổng hợp bệnh hại lá Lát hoa (33)
  • Chương 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ (36)
    • 5.1. Kết luận (36)
    • 5.2. Tồn tại (36)
    • 5.3. Kiến nghị (37)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (38)
    • Biểu 2.1. Điều kiện khí hậu cơ bản khu vực Xuân Mai (13)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Nhìn nhận chung

Ngành Lâm Nghiệp mang lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội, môi trường và thẩm mỹ, nhưng gặp khó khăn do thời gian thu hồi vốn lâu và rủi ro cao Diện tích rừng tự nhiên tại Việt Nam đang thu hẹp, dẫn đến suy giảm tài nguyên rừng và đa dạng sinh học, trong khi rừng trồng kinh tế gia tăng nhanh chóng Sự thay đổi loài cây trồng đã gây ra sự xuất hiện của sâu bệnh mới, mặc dù hệ sinh thái rừng tự nhiên có tính ổn định cao và tự điều chỉnh tốt Tuy nhiên, hệ sinh thái rừng trồng lại dễ bị tổn thương và cần có biện pháp phòng trừ sâu bệnh để bảo vệ sự sinh trưởng và tồn tại của cây rừng.

Lịch sử phát triển khoa học bệnh cây

Bệnh cây đã được con người biết đến từ thời cổ đại, nhưng nguyên nhân gây ra bệnh vẫn chưa được hiểu rõ, dẫn đến quan niệm rằng bệnh do thiên nhiên gây ra Vào thế kỷ III trước công nguyên, Phraste đã mô tả bệnh gỉ sắt và nấm ký sinh tại gốc cây ở Hy Lạp Đến thế kỷ XVI, khi chế độ phong kiến tập quyền phát triển, các vùng sản xuất chuyên canh mở rộng, bệnh cây trở nên nghiêm trọng hơn và nhận thức về bệnh cũng tăng cao Sang thế kỷ XVIII, kinh tế thế giới chuyển mình từ sản xuất thủ công sang cơ khí hóa, các quốc gia tư bản bắt đầu phát triển các biện pháp phòng trừ bệnh cây đơn giản.

Bệnh cây đã chỉ thực sự phát triển trong khoảng 150 năm qua, và Robert Hartig (1839) là người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học nghiên cứu bệnh cây rừng.

Năm 1901, nghiên cứu về các loại bệnh hại cây rừng đã được thực hiện và được mô tả trong cuốn sách "Bệnh cây rừng các nước nhiệt đới" (Phytopathologie des pays chauds) Trong đó, một số bệnh hại lá của các loài cây như thông, keo và bạch đàn cũng đã được đề cập (Roger, 1953).

Năm 1961, cuốn sách "Bệnh cây rừng" (Forest Pathology) được xuất bản, mô tả nhiều loại bệnh hại cây rừng Tác phẩm này đã được phát hành tại nhiều quốc gia, bao gồm Anh, Mỹ và Canada (John Boyce, 1961).

Hội nghị nghiên cứu bệnh cây lần thứ nhất diễn ra tại Luân Đôn vào tháng 8/1968 đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này, đánh dấu sự khởi đầu cho các hoạt động phong phú của các hiệp hội nghiên cứu bệnh cây toàn cầu.

Nghiên cứu về bệnh hại cây trồng ở Việt Nam đã kế thừa nhiều thành tựu từ khoa học sinh thái học bệnh cây toàn cầu Từ thập niên 1960, Hoàng Thị My đã ghi nhận một số loài nấm hại lá khi điều tra cây rừng phía Nam Năm 1966, Nguyễn Sỹ Giao phát hiện bệnh khô lá thông hại cây con trong vườn ươm và nghiên cứu đặc điểm sinh học, áp dụng thuốc Bordo để phòng chống Đến năm 1969, ông đề xuất gọi bệnh này là rơm lá thông, xác định nguyên nhân là nấm Cerospora pini-densflorae Hori et Nambu Năm 1971, Trần Văn Mão công bố tài liệu về nấm bệnh trên các loài cây rừng như trẩu, quế, hồi, sở, cùng điều kiện phát bệnh và biện pháp phòng trừ Đến năm 1975, Uhlig và các nhà khoa học của viện nghiên cứu lâm nghiệp tiếp tục đóng góp hàng trăm công trình nghiên cứu về bệnh cây rừng.

Lâm nghiệp, nghiên cứu và thử nghiệm một số loại thuốc hóa học đề phòng trừ chống bệnh rơm lá thông ở Quảng Ninh

Vào năm 1990, một đoàn đánh giá hỗn hợp của FAO/UNDP và chính phủ Việt Nam đã thực hiện đánh giá các dự án VIE/86/026, VIE/86/027 và VIE/86/028, phát hiện đe dọa nghiêm trọng từ nấm bệnh tại Đồng Nai và Sông Bé Đoàn đã chuẩn bị một dự án kỹ thuật tổng hợp để trình lên chính phủ, FAO và UNDP Đầu những năm 1990, trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp vùng Đông Nam Bộ đã tiến hành nghiên cứu thiệt hại do nấm bệnh bạch đàn gây ra tại Đồng Nai, Tây Ninh, Sông Bé và khu vực phía nam Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia bệnh cây đến từ Mỹ, Ấn Độ và Trung Quốc cũng đã đến Việt Nam để nghiên cứu các loại bệnh hại cây trồng, trong đó có Hodge (1990) và Sharma (1994) đã báo cáo chuyên đề tại Hà Nội.

Nghiên cứu về cây Lát hoa vẫn còn hạn chế, với phần lớn tác giả chỉ tập trung vào phân loại, mô tả và xác định tên loài của cây.

Hiện tại, nghiên cứu về cây Lát hoa vẫn còn hạn chế và chưa tương xứng với giá trị của nó Các công trình nghiên cứu trước đây về cây Lát hoa sẽ là nền tảng quan trọng để xác định nội dung nghiên cứu cho đề tài này.

ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

Xuân Mai là thị trấn thuộc huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, nằm tại giao điểm giữa Quốc lộ 6 và Quốc lộ 21A (nay là Đường Hồ Chí Minh), cách trung tâm Hà Nội 33 km về phía tây Đây là một trong năm đô thị vệ tinh của Hà Nội, bao gồm Sơn Tây, Hòa Lạc, Xuân Mai, Phú Xuyên, Sóc Sơn và Mê Linh trong tương lai Thị trấn Xuân Mai có 9 khu dân cư: Bùi Xá, Phố Xuân Hà, Xuân Mai, Tiên Trượng, Đồng Vai, Tân Xuân, Tân Bình, Chiến Thắng và Tân Mai.

- Phía tây giáp Thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

- Phía bắc giáp với xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, Hà Nội

- Phía đông giáp với xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội

- Phía nam giáp với xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội

Khu vực Xuân Mai có địa hình đồi núi thấp với hai quả đồi, đỉnh cao nhất đạt 133m so với mực nước biển, trong khi đỉnh còn lại cao 90m Độ dốc trung bình dao động từ 10° đến 15°, với độ dốc lớn nhất lên tới 25°.

Các vườn ươm cây với quy mô hộ gia đình có diện tích tương đối lớn, bằng phẳng, nằm xa rừng trồng thuần loài

Khí hậu của thị trấn Xuân Mai thuộc kiểu nhiệt đới gió mùa, với bốn mùa rõ rệt Mùa mưa diễn ra từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm tới 91% tổng lượng mưa hàng năm Ngược lại, mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, với lượng mưa ít hơn lượng bốc hơi trong cả năm.

Lượng mưa hàng năm tại Xuân Mai dao động từ 1.000 đến 2.000mm, với trung bình là 1.647,1mm Mưa phân bố không đều theo các tháng, đạt đỉnh cao nhất vào tháng 7 và tháng 8 với hơn 300mm Ngược lại, lượng mưa ít nhất ghi nhận được vào tháng 1 chỉ là 13,8mm, trong khi tháng 12 có lượng mưa là 22,2mm.

Chế độ nhiệt của khu vực này có nhiệt độ trung bình là 23,9°C, với tháng nóng nhất đạt tới 28,5°C vào tháng 6 và tháng 7, trong khi tháng lạnh nhất là tháng 1 với nhiệt độ 17,1°C Độ ẩm không khí ở đây tương đối cao và ổn định suốt cả năm, trung bình là 81,5% Tháng 3 có độ ẩm cao nhất lên tới 85,5%, trong khi tháng 12 là tháng có độ ẩm thấp nhất, chỉ đạt 78,4%.

Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của chế độ gió đa dạng, với gió mùa đông bắc lạnh và khô thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, trong khi gió mùa đông nam mát và ẩm xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 7 Ngoài ra, vào các tháng 4, 5 và 6, khu vực này cũng thỉnh thoảng bị ảnh hưởng bởi gió tây.

Dưới đây là số liệu khí hậu cơ bản của khu vực Xuân Mai, năm 2007 - 2015

Biểu 2.1 Điều kiện khí hậu cơ bản khu vực Xuân Mai

Tháng Nhiệt độ ( 0 C) Độ ẩm (%) Lƣợng mƣa (mm)

2T/W/P nhiet do do am lượng mưa

Hình 2.1 Biểu đồ Gaussen – Walter

Theo công thức chỉ số khô hạn của Thái Văn Trừng :

Khu vực nghiên cứu có mùa khô hạn kéo dài 3 tháng, bao gồm hai tháng khô là tháng 2 và tháng 12, cùng với một tháng hạn là tháng 1 Không có tháng kiệt trong năm Điều kiện khí hậu thuận lợi, kết hợp với hệ thống nước tưới bằng giếng khoan và máy bơm nước, đảm bảo nguồn nước đủ và sạch, tạo điều kiện lý tưởng cho việc sản xuất cây con.

2.1.4 Tình hình sản xuất ở vườn ươm

Vườn ươm có sự đa dạng về thành phần loài cây, bao gồm các loại như Keo tai tượng, Sấu, Sao đen, Lát hoa, Trám trắng và Mỡ Đặc biệt, cây Lát hoa chiếm số lượng lớn với 14.000 cây con được trồng mỗi năm, trong đó khoảng 12.000 cây được tiêu thụ.

Điều kiện kinh tế xã hội

- Tình hình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và các ngành kinh tế khác

Sản xuất nông nghiệp: Kinh tế nông nghiệp chiếm 30% tổng thu nhập của thị trấn Nhìn chung từ năm 1995 – 2002 có tăng nhƣng không đáng kể, năm

1995 sản xuất nông nghiệp đạt 420kg thóc/người/năm đến năm 2002 đạt 500kg thóc/người/năm

Sản xuất công nghiệp, dịch vụ và tiểu thủ công đóng góp 60% tổng thu nhập của thị trấn, là nguồn thu nhập chủ yếu và đang thu hút sự quan tâm đầu tư phát triển ngày càng nhiều.

- Điều kiện giao thông vận chuyển

Hệ thống giao thông bao gồm các đường bộ, với tổng diện tích đường giao thông vào năm 1995 là 55,66 ha, chiếm 5,3% tổng diện tích khu vực Đến năm 2002, diện tích này đã tăng lên 57,12 ha, tương đương 5,4% tổng diện tích toàn khu vực.

Thị trấn được kết nối bởi hai tuyến quốc lộ quan trọng: Quốc lộ 21A (Xuân Mai - Sơn Tây) dài khoảng 3km và Quốc lộ 6 (Xuân Mai - Hà Nội) dài khoảng 7km, với mặt đường được rải nhựa và cấp phối ở mức độ tương đối tốt.

Mạng lưới đường vào các khu phố đã được hình thành, với phần lớn được đổ bê tông và một số ít là đường đất Những tuyến đường này ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển và sinh hoạt của người dân.

Năm 1995, dân số đạt khoảng 10.000 người với 2.313 hộ, trung bình 4,32 người/hộ, trong đó có 6.925 người ở độ tuổi lao động, chiếm 69,25% Đến năm 2002, tổng số dân tăng lên khoảng 14.000 người với 3.151 hộ, trung bình 4,44 người/hộ, và số người trong độ tuổi lao động là 7.064, chiếm 70,64%.

Từ các số liệu trên cho thấy : Dân số năm 2002 đã tăng 1.4 lần so với năm

1995 Dân số tăng nhanh kéo theo nhu cầu việc làm tăng

- Thu nhập và mức sống

Mức thu nhập trong sản xuất nông nghiệp năm 1995 đạt 420kg/người/năm; năm 2002 đạt 500 kg thóc/người/năm

Mức thu nhập của cƣ dân trong ngành tiểu thủ công nghiệp là 975.000đ/người/năm

Những năm qua nhờ có sự quan tâm của các cấp chính quyền, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao

Kinh tế khu vực đang phát triển mạnh mẽ, cải thiện mức sống của người dân và tạo ra nhiều cơ hội việc làm Sự thay đổi này đã dẫn đến việc giảm tác động của cộng đồng vào tài nguyên rừng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của giống cây rừng và ngành ươm giống cây trồng.

MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG –ĐỊA ĐIỂM –THỜI GIAN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định nguyên nhân gây bệnh hại lá Lát hoa là bước quan trọng trong việc quản lý bệnh, bao gồm việc nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và sinh thái của tác nhân gây bệnh Những thông tin này sẽ cung cấp cơ sở khoa học để áp dụng các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả trong giai đoạn gieo ươm.

Đối tƣợng, phạm vi và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào bệnh hại lá trên cây Lát hoa trong giai đoạn vườn ươm Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại vườn ươm cây Lát hoa của hộ gia đình ông Hanh, tổ 4, thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, Hà Nội.

Thời gian nghiên cứu: ngày 15 tháng 01 đến ngày 04 tháng 05 năm 2018.

Nội dung nghiên cứu

(1) Điều tra xác định tỷ lệ bị bệnh và mức độ gây hại của bệnh hại lá Lát hoa ở giai đoạn vườn ươm

(2) Xác định nguyên nhân gây bệnh hại lá Lát hoa tại khu vực nghiên cứu

(3) Ảnh hưởng nhân tố sinh thái tới sự phát sinh, phát triển bệnh hại

(4) Đề xuất một số biện pháp quản lý bệnh hại

Phương pháp nghiên cứu

- Kế thừa tài liệu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu

Phương pháp xác định vật gây bệnh bao gồm việc phân tích các triệu chứng và đặc điểm của cơ quan sinh sản của chúng Để có kết quả chính xác, cần tham khảo các sách chuyên khảo liên quan đến vật gây bệnh.

- Kế thừa một số biện pháp phòng trừ bệnh hại đã đƣợc áp dụng tại khu vực nghiên cứu

3.4.2 Phương pháp điều tra Điều tra tổng có 6 luống

Mỗi luống chọn 30 cây đạt tiêu chuẩn để điều tra

 Công tác ngoại nghiệp cần chuẩn bị những dụng cụ sau:

+ Kéo,dây nilon, túi nilon và cọc tre 30 cm, bảng biểu điều tra, túi đựng mẫu,…

+ Kính hiển vi, Lam kính , lamen ,bông, nước cất ,dao lam, miếng gỗ thái…

+ Nguyên liệu nấu môi trường bao gồm : Khoai tây,đường glucose, thạch aga

+ Bông ,cồn ,bút viết kính,giấy bọc ,báo ,băng parafin…

+ Các dụng cụ ống nghiệm ,hộp lồng ,bếp điện ,nồi hấp khử trùng,tủ sấy,bình hút ẩm

3.4.3 Phương pháp xác định tỷ lệ bị hại (P%) và mức độ bị hại (R%)

- Do diện tích vườn ươm nhỏ nên không cần điều tra sơ bộ mà chỉ tiến hành điều tra tỉ mỷ theo các bước sau :

- Lập ô dạng bản (ODB) và tiến hành điều tra :

- Tỷ lệ cây bị bệnh p% : là số lá cây bị bệnh trên tổng số cây điều tra

- Mức độ gây hại R% : là tổng hợp chỉ tiêu tỷ lệ lá ở các cấp khác nhau trên tổng số lá hay diện tích bị bệnh

- Có thể xác định khả năng phân bố của bệnh

Trên mỗi luống gieo ƣơm, lập 3 ODB, mỗi ô có diện tích 1m 2 (1m x 1m)

Trong vườn, có 2 ODB ở hai đầu luống và 1 ô ở giữa luống, tổng cộng là 30 ODB trên toàn bộ diện tích Sau đó, tiến hành điều tra tỷ lệ cây bị bệnh và ghi kết quả vào mẫu biểu 01.

Khi điều tra trên lá ta cần chú ý: ngắt 1 cành trên

Mẫu biểu 01 Điều tra tỷ lệ bị bệnh (P%) hại lá Lát hoa

Tên vườn ươm:………Loài cây……… Tuổi cây:……….…….………

Ngày điều tra:…… ……….Người điều tra:…… ………

Công thức tính tỷ lệ bị bệnh:

P là tỷ lệ bị bệnh hại lá của một loài cây (%) n là số cây bị bệnh

N là tổng số cây điều tra Kết quả tính tỷ lệ bị bệnh trung bình của một loại bệnh hại ( P % ), nếu:

0 ≤ P % ≤ 5% Bệnh hại lá phân bố cá thể

5 < P % ≤ 25% Bệnh hại lá phân bố theo cụm

25 < P % ≤ 50% Bệnh hại lá phân bố theo đám

Mức độ bệnh hại lá được phân bố đều khi tỷ lệ P > 50% Để đánh giá mức độ hại lá do các tác nhân gây bệnh, tôi tiến hành điều tra và phân cấp lá bị hại theo các cấp độ hại khác nhau, xác định R% cho từng loại bệnh.

Cấp hại Diện tích lá bị hại

0 (lá cây không bị hại) Không bị bệnh

I (lá cây bị hại nhẹ) 0  25% diện tích lá bị bệnh

II ( lá cây bị hại vừa) 25%  50% diện tích lá bị bệnh

III (lá cây bị hại nặng) 50%  75% diện tích lá bị bệnh

IV (lá cây bị hại rất nặng) > 75% diện tích lá bị bệnh

Kết quả điều tra đƣợc ghi vào biểu mẫu 02

Biểu mẫu 02 Điều tra mức độ hại lá cây Lát hoa

Ngày điều tra: ………… Người điều tra: ………

TT ÔDB Cây điều tra Loại bệnh

Số lá bị hại theo các cấp hại R%

Mức độ hại lá của một loại bệnh đƣợc tính theo công thức sau:

R% : mức độ bị bệnh (%) ni : số lá bị hại ở cấp hại i vi : trị số cấp hại i

N : tổng số lá điều tra

V : trị số cấp hại cao nhất (V=4)

Từ kết quả tính mức độ bị hại trung bình ( %) của từng loại bệnh, nếu:

0 ≤ % < 10% cây khỏe 10% ≤ % < 15% cây bị hại nhẹ 15% ≤ % < 25% cây bị hại vừa 25% ≤ % < 50% cây bị hại nặng 50% ≤ % cây bị hại rất nặng

3.4.4 Phương pháp xác định vật gây bệnh

Để xác định nguyên nhân gây bệnh, mẫu cây và lá bệnh cần được thu thập và cho vào túi polyetylen có bông thấm nước Sau đó, ghi số mẫu và buộc kín túi trước khi mang về phòng thực hành bộ môn Bảo vệ thực vật rừng tại Trường Đại học Lâm nghiệp.

Sau khi lấy mẫu bệnh, tôi tiến hành quan sát trực tiếp vết bệnh bằng mắt thường hoặc kính lúp Tôi mô tả các đặc điểm hình thái của vết bệnh, bao gồm sự biến đổi về màu sắc, kích thước và hình dạng.

Để quan sát vật gây bệnh, trước tiên cần chuẩn bị lam kính sạch và nhỏ một giọt nước cất lên đó Sử dụng que cấy nấm để lấy các chấm đen từ vết bệnh và đặt lên lam kính, sau đó đậy lamen lại Tiến hành quan sát bào tử dưới kính hiển vi với độ phóng đại 400 lần Nếu phát hiện có cơ quan sinh sản bao bọc bào tử, sử dụng dao lam cắt phần bị bệnh để quan sát thêm Dựa trên hình thái và cơ quan sinh sản của nấm, tôi sẽ vẽ, mô tả và đo kích thước của chúng bằng trắc vi thị kính (Hình 01).

Hình 3.1 Kính hiển vi 2 mắt Labomed CXr2

Xác định vật gây bệnh dựa trên triệu chứng bệnh, hình thái bào tử và cơ quan sinh sản Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, tôi đã đối chiếu thông tin với tài liệu phân loại nấm để xác định vật gây bệnh, từ đó phân loại đến chi và loài.

KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh hại lá Lát Hoa

Nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh hại là yếu tố quan trọng trong phòng trừ bệnh cho cây rừng Để đạt hiệu quả cao, việc chẩn đoán và xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh là cần thiết Điều này tạo nền tảng cho việc đề ra các biện pháp phòng trừ và quản lý, nhằm ngăn chặn sự phát sinh của bệnh dịch.

4.2.1 Bệnh thủng lá Lát hoa a Triệu chứng bệnh thủng lá Lát hoa

Bệnh hại lá cây Lát hoa bắt đầu bằng những vết bệnh hình tròn nhỏ, màu nâu đen và trắng xám Theo thời gian, vết bệnh lan rộng với đường kính khoảng 3,5mm, trên đó xuất hiện các chấm đen nhỏ, là cơ quan sinh sản của tác nhân gây bệnh Ranh giới giữa vùng bệnh và vùng khỏe mạnh có viền nâu sẫm Khi bệnh nặng, lá sẽ hình thành các vết thủng tròn, tạo ra những lỗ thủng rõ rệt trên bề mặt lá.

Hình 4.4 Triệu chứng bệnh thủng lá lát hoa b.Vật gây bệnh

Nấm Mốc sợi đen (Phoma lingam Desm.) thuộc chi nấm Mốc sợi (Phoma Sacc.) và họ nấm Bào tử vỏ cầu (Sphaeropsidaceae) có đặc điểm hình thái hiển vi đáng chú ý Đĩa bào tử của nấm gây bệnh thủng lá Lát hoa nằm trong tổ chức cây chủ và lộ ra ngoài qua những chấm đen nhỏ trên bề mặt lá Bào tử của nấm này có hình dạng đơn bào, không màu, với hình trứng hoặc hình viên trụ, và hai đầu bào tử có hình viên phân Đặc biệt, bào tử không phân nhánh, góp phần vào sự nhận diện và nghiên cứu về loài nấm này.

Hình 4.5 : Bào tử phân sinh ( Phoma lingam Tode Desm.)

4.2.2 Bệnh khô đầu mép lá cây Lát hoa a Triệu chứng

Bệnh trên lá cây Lát hoa thường xuất hiện đầu tiên ở những lá phía dưới Các lá bị bệnh có dấu hiệu khô dần từ mép, với màu trắng xám đặc trưng Đầu lá bị bệnh quăn lại và cuộn vào trong cuống lá, tạo thành ranh giới rõ rệt với phần lá khỏe mạnh, được phân biệt bởi đường viền màu trắng xám.

Trên bề mặt lá, cả mặt trên và mặt dưới, xuất hiện nhiều chấm đen nhỏ, đây là cơ quan sinh sản của tác nhân gây bệnh, bao gồm bào tử và vỏ bảo tử.

Bệnh nặng làm cho toàn bộ diện tích lá bị chết khô, lá sớm rụng

Hình 4.6 Triệu chứng bệnh khô đầu mép lá Lát hoa b Vật gây bệnh khô đầu mép lá cây Lát hoa:

Bài viết này tập trung vào việc quan sát hình thái bào tử và cơ quan sinh sản của nấm Ascochyta salicicola Pass, nguyên nhân gây bệnh khô đầu mép lá cây Lát hoa Nghiên cứu này giúp xác định đặc điểm sinh học của nấm, từ đó có thể đưa ra các biện pháp phòng ngừa hiệu quả cho cây trồng.

Nấm ký sinh trên lá cây Lát hoa phát triển cơ quan sinh sản tạo ra các điểm màu đen nhỏ rải rác trên vết bệnh, đó là bào tử phân sinh của nấm gây bệnh Bào tử phân sinh này được hình thành từng lớp trong vỏ bào tử, có hình dáng đơn bào, không màu, gần hình tròn và có vách tế bào dày.

Hình 4.7 Vỏ bào tử và bào tử nấm gây bệnh khô đầu mép lá Lát hoa

Ảnh hưởng nhân tố sinh thái tới sự sinh trưởng và phát triển của nấm bệnh

Nhiệt độ và độ ẩm là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của sợi nấm cũng như sự hình thành và phát sinh của nấm bệnh, theo giáo trình "Bệnh cây của rừng" của GS TS Trần Văn Mão (1997) Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào việc điều tra và đánh giá ảnh hưởng của yếu tố hướng phơi, khí tượng và tác động của con người đến mức độ bệnh cây Lát hoa tại khu vực nghiên cứu.

Hướng phơi là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ gây hại của bệnh trong khu vực trồng Sự khác biệt về hướng phơi trong cùng một khu vực gieo ươm dẫn đến sự phát sinh và phát triển bệnh khác nhau Khóa luận này đã điều tra mức độ bị hại theo hai hướng phơi Đông Nam và Tây Bắc, với kết quả được thể hiện trong bảng 4.2.

Bảng 4.2: Ảnh hưởng của hướng phơi tới mức độ bị hại

Mức độ bị hại (R%) Bệnh thủng lá Bệnh khô đầu mép lá Mức độ bị hại (R%) % Mức độ bị hại (R%) % Đông-Nam

Sự ảnh hưởng của hướng phơi đến mức độ bị bệnh được thể hiện ở biểu đồ hình 4.8

Bệnh thủng lá Bệnh cháy lá

Hình 4.8 Ảnh hưởng của hướng phơi đến mức độ bị bệnh trên cây Lát hoa

Bảng 4.2 và hình 4.8 cho thấy mức độ hại của bệnh thủng lá và bệnh khô đầu mép lá Lát hoa ở hai hướng phơi khác nhau Cụ thể, ở hướng Đông Nam, bệnh thủng lá có mức độ hại là 3,28% và bệnh khô đầu mép lá là 5,21% Trong khi đó, ở hướng Tây Bắc, bệnh thủng lá đạt 5,62% và bệnh khô đầu mép lá là 6,68% Sự khác biệt này cho thấy mức độ gây hại ở hướng Đông Nam thấp hơn so với Tây Bắc, có thể do điều kiện nhiệt độ và độ ẩm ở hướng Tây Bắc thuận lợi hơn cho sự phát triển của nấm gây bệnh Nhiệt độ và độ ẩm là yếu tố quyết định khả năng hình thành bào tử của nấm, từ đó ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của bệnh.

Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong tốc độ sinh trưởng và phát triển của vết bệnh Hầu hết các loài nấm có khả năng tồn tại trong một khoảng nhiệt độ tương đối rộng.

Bệnh khô đầu mép lá

Nấm phát triển tốt nhất ở nhiệt độ từ 20-30°C, với mức tối thiểu là 7-10°C và tối đa từ 30-35°C Trong nghiên cứu từ ngày 01/03 đến 21/03/2018, nhiệt độ trung bình là 22,18°C, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nấm bệnh.

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến mức độ bị bệnh hại lá Lát hoa Đợt điều tra Nhiệt độ (T 0 C) Mức độ bị hại (R%)

Bệnh thủng lá Bệnh khô đầu mép lá

Bảng 4.3 cho thấy mối liên hệ giữa nhiệt độ và mức độ hại của hai loại bệnh trên lá cây Lát hoa Cụ thể, khi nhiệt độ tăng, mức độ hại cũng gia tăng Ở lần đo đầu tiên, với nhiệt độ 18,68°C, bệnh thủng lá Lát hoa ghi nhận mức độ hại 9,25%, trong khi bệnh khô đầu mép lá là 16,50% Tại lần đo thứ hai với nhiệt độ 20,36°C, mức độ hại của bệnh thủng lá tăng lên 11,53%, còn bệnh khô đầu mép lá đạt 19,09% Cuối cùng, ở lần đo thứ ba, bệnh thủng lá đạt 13,82% và bệnh khô đầu mép lá là 21,7%.

Mức độ nhiễm bệnh do nấm phụ thuộc vào nhiệt độ, với nhiệt độ cao làm giảm thời gian ủ bệnh và tăng cường quá trình xâm nhiễm Mỗi loài nấm có yêu cầu nhiệt độ tối ưu riêng, nhưng nhìn chung, nhiệt độ cao là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nấm bệnh.

Lượng mưa là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của nấm bệnh Nó tác động đến hàm lượng nước trong cây, và khi cây chủ có nhiều nước, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng của nấm bệnh Đặc biệt, đa số bảo tử mầm chỉ nảy mầm trong điều kiện có giọt nước.

Mối quan hệ giữa lƣợng mƣa và mức độ bị hại lá Lát hoa của vật gây bệnh đƣợc thể hiện trong bảng 4.4

Bảng 4.4: Ảnh hưởng của lượng mưa đến mức độ bị hại lá Lát hoa

Bệnh thủng lá Bệnh khô đầu mép lá

Lượng mưa đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nấm bệnh Cụ thể, trong lần đo đầu tiên, lượng mưa ghi nhận là 13,8 mm, dẫn đến mức độ bị hại của bệnh thủng lá là 9,25% và bệnh khô đầu mép lá là 16,5%.

Khi lượng mưa tăng, mức độ bị hại của bệnh thủng lá và bệnh khô đầu mép lá cũng gia tăng Cụ thể, với lượng mưa 24,3mm, mức độ bị hại của bệnh thủng lá là 11,53% và bệnh khô đầu mép lá là 19,09% Sau đó, với lượng mưa 48,0mm, tỷ lệ này tăng lên 13,82% và 21,7% tương ứng Nguyên nhân chính là do thời gian điều tra có mưa phùn và sương mù xuất hiện nhiều, tạo điều kiện cho bào tử nấm nảy mầm và xâm nhiễm vào lá cây, làm gia tăng mức độ gây hại.

4.3.4 Độ ẩm Độ ẩm là một trong những nhân tố quan trọng và cần thiết đối với sự sinh trưởng và phát triển của nấm bệnh, khi độ ẩm cao thuận lợi cho bào tử nảy mầm

Độ ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho mầm nấm xâm nhập vào cây chủ, dẫn đến tỷ lệ sống sót của bào tử cao Do đó, những khu vực có độ ẩm lớn thường có số lượng bào tử nhiều và mức độ gây hại nghiêm trọng Như vậy, độ ẩm đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và lây lan của nấm gây bệnh.

Kết quả điều tra ảnh hưởng của độ ẩm đến mức độ bị hại của bệnh thủng lá và khô đầu mép lá Lát hoa đƣợc thể hiện ở bảng 4.5

Bảng 4.5: Ảnh hưởng của độ ẩm đến mức độ bị hại lá Lát hoa

Lần đo Độ ẩm(W%) Mức độ bị hại (R%)

Bệnh thủng lá Bệnh khô đầu mép lá

Kết quả từ bảng 4.5 cho thấy sự biến đổi độ ẩm trong 03 tháng, với độ ẩm lần 1 là 80,5% dẫn đến mức độ bệnh thủng lá là 9,25% và bệnh khô đầu mép lá là 16,50% Ở lần đo 2, độ ẩm tăng lên 83% khiến mức độ bệnh thủng lá tăng lên 11,53% và bệnh khô đầu mép lá là 19,09% Tại lần đo 3, với độ ẩm 85,5%, mức độ bệnh thủng lá đạt 13,82% và bệnh khô đầu mép lá là 21,70% Sự chênh lệch mức độ bị hại giữa các lần đo được giải thích bởi điều kiện thời tiết như mưa, sương mù và nắng nóng, dẫn đến sự khác biệt rõ rệt trong mỗi lần điều tra.

Độ ẩm đóng vai trò quan trọng trong từng giai đoạn phát triển của bệnh, quyết định thời kỳ xâm nhiễm của tác nhân gây bệnh và ảnh hưởng đến thời kỳ ủ bệnh Nghiên cứu cho thấy nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm có tác động lớn đến mức độ gây bệnh của nấm trên lá cây Lát hoa Các yếu tố này trong thời gian điều tra đều tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nấm gây bệnh.

4.3.5 Tác động của con người đến bệnh hại

Sự can thiệp của con người trong một phạm vi nhất định có thể ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của nấm bệnh Thông qua các biện pháp phòng trừ, con người có khả năng kiểm soát hoạt động của các tác nhân gây bệnh.

Đề xuất các biện pháp quản lý tổng hợp bệnh hại lá Lát hoa

Mục đích của khoa học bệnh cây là tìm ra các biện pháp hiệu quả và kinh tế để giảm thiểu tác hại của bệnh, bảo vệ cây trồng, và thúc đẩy sự sinh trưởng, phát triển với năng suất và chất lượng cao Do đó, công tác phòng trừ bệnh cây, đặc biệt là bệnh cây rừng, không chỉ tập trung vào việc tiêu diệt nguồn bệnh, mà còn phải đảm bảo rằng năng suất cây rừng không bị ảnh hưởng.

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp cải thiện điều kiện sinh trưởng của cây Lát hoa, nhằm nâng cao khả năng chống chịu bệnh và cải thiện môi trường sinh thái.

Vườn ươm cần được đặt ở vị trí thoát nước tốt, tránh xa những khu vực ẩm thấp và đất chặt Nên chọn địa điểm cách xa rừng trồng thuần loài để hạn chế sự lây lan bệnh từ rừng đến cây ươm Đồng thời, đất vườn ươm cần có độ dốc vừa phải để đảm bảo cây phát triển tốt.

5 0 , thoát nước, không úng ngập Đất thịt nhẹ, tầng đất sâu trên 40cm, độ pH từ 5 đến 6,5

Để đảm bảo cây Lát hoa phát triển khỏe mạnh, cần sử dụng hạt giống sạch bệnh, thu từ cây mẹ không bị bệnh và bảo quản đúng cách, tránh ẩm mốc và tiếp xúc với nguồn bệnh Trước khi gieo ươm, hạt giống cần được xử lý bằng cách ngâm trong nước ấm 50°C và khử trùng bằng các loại hóa chất như captan.

Để tiêu diệt bào tử nấm bệnh trên bề mặt hạt giống và thúc đẩy quá trình nảy mầm, có thể sử dụng thiram với nồng độ 0.5% trong 15 phút hoặc DM-45 với nồng độ 1% trong 30 phút Ngoài ra, ngâm hạt trong nước ấm từ 35-40°C trong 3-4 giờ, sau đó rửa sạch hàng ngày Sau khoảng 6-7 ngày, khi hạt nứt nanh, có thể tiến hành gieo.

Đất đóng bầu cho cây Lát cần phải có thành phần cơ giới nhẹ và tơi xốp, đồng thời không sử dụng phân chuồng chưa hoai Trước khi tiến hành đóng bầu, đất cần được khử trùng bằng các hóa chất như methyl bromide hoặc chloropicrin để tiêu diệt nguồn bệnh Lưu ý không sử dụng các bầu cũ từ cây đã chết do bệnh để đảm bảo sức khỏe cho cây trồng.

Chăm sóc cây con là rất quan trọng; cần tránh để cây con tiếp xúc với ánh nắng trực tiếp và thường xuyên làm cỏ, xới đất để giữ cho đất tơi xốp Nếu phát hiện cây con bị bệnh, cần nhanh chóng loại bỏ và tiêu hủy để ngăn chặn sự lây lan Các dụng cụ di chuyển cây con bị nhiễm bệnh cần được khử trùng bằng hóa chất trước khi đưa trở lại vườn ươm Trong hai tháng đầu, nên phun thuốc phòng bệnh định kỳ mỗi tháng một lần, sử dụng loại thuốc có phổ rộng như carbendazim 0,1% với liều lượng 0,3 l/m².

Nguồn nước tưới cho vườn ươm cần phải sạch và an toàn, tránh sử dụng nước từ ao hồ gần đó nếu đã có dấu hiệu bệnh Nước giếng là lựa chọn tốt nhất; nếu không có, nước cần được xử lý bằng clo hoặc ozon trước khi sử dụng.

+ Phân bón: Phân bón khi sử dụng phải hợp lý

Mật độ cây con cần được quản lý hợp lý, không nên trồng quá dày để đảm bảo thông thoáng Việc định kỳ đảo bầu giúp giảm sự tích tụ hơi nước giữa các hàng cây, từ đó ngăn ngừa sự phát triển của bào tử nấm bệnh, vốn chỉ nảy mầm trong điều kiện ẩm độ và nhiệt độ cao.

+ Biện pháp phòng trừ bệnh cây Lát hoa:

Dựa trên kết quả điều tra bệnh hại cây Lát hoa, tôi xin đưa ra một số đề xuất quan trọng cho công tác gieo ươm và quản lý vườn, nhằm nâng cao hiệu quả và bảo vệ sức khỏe cây trồng.

- Thực hiện việc cắt bỏ lá cây bị bệnh để tránh bị lây lan sang các cây khác

Sử dụng phân hỗn hợp đạm Amôn, Supe lân và Cloruakali với tỷ lệ 3N:6P:1K để tưới thúc cho cây Khi cây Lát hoa có dấu hiệu bệnh, nên dùng phân Supe lân Lâm thao với liều lượng 2kg cho 1000 bầu, chia thành 6 lần bón (mỗi lần 0,340kg cho 1000 bầu) Hòa phân với nồng độ 0,5% (1kg phân cho 200 lít nước) để đạt hiệu quả tốt nhất.

- Vệ sinh vườn ươm thường xuyên không để cỏ, lá cây rụng, bầu cây chết trong vườn

- Phải có hàng rào bảo vệ vườn ươm cây, chống súc vật phá hoại.

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hạ Vận Xuân (Chủ biên), Nấm học, NXB Lâm nghiệp Trung Quốc, Bắc Kinh 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nấm học
Nhà XB: NXB Lâm nghiệp Trung Quốc
2. Lục Gia Vân (Chủ biên), Nấm gây bệnh thực vật, NXB Nông nghiệp Trung Quốc, Bắc Kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nấm gây bệnh thực vật
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Trung Quốc
3. Hứa Chí Cương (Chủ biên), Bệnh lý thực vật (Tái bản lần thứ 3). NXB Nông nghiệp Trung Quốc, Bắc Kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lý thực vật
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Trung Quốc
4. Hứa Chí Cương (Chủ biên), Bệnh lý thực vật (Tái bản lần thứ 4). NXB Giáo dục đại học, Bắc Kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lý thực vật
Nhà XB: NXB Giáo dục đại học
5. Trần Văn Mão và cộng sự, 2010. Kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh (tập 2) NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh (tập 2)
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
6. Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh và Trần văn Mão, 2001. Điều tra ,dự tính dự báo sâu bệnh hại trong lâm nghiệp. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra ,dự tính dự báo sâu bệnh hại trong lâm nghiệp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
7. Nguyễn Thế Nhã và Trần Văn Mão, 2004. Bảo vệ thực vật. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ thực vật
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
8. Phạm Quang Thu, 2009. Bệnh cây học. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội 9. Đường Hồng Dật, 1979. Khoa học bệnh cây. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cây học." NXB Nông Nghiệp, Hà Nội 9. Đường Hồng Dật, 1979. "Khoa học bệnh cây
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
10. Công ty giống và phục vụ trồng rừng, 1995. Sổ tay kỹ thuật hạt giống và gieo ươm một số loài cây trồng rừng. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay kỹ thuật hạt giống và gieo ươm một số loài cây trồng rừng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w