1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng gây trồng và giải pháp phát triển bền vững loài cây đặc sản thảo quả amomum aromaticum roxb tại huyện sa pa tỉnh lào cai

75 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Mục tiêu cụ thể: Phản ánh được đặc điểm giải phẫu Thảo quả, diện tích, phạm vi, kỹ thuật gây trồng và lợi ích, rủi ro từ cây Thảo quả tới kinh tế, xã hội, môi trường địa phương đồng th

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG GÂY TRỒNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT

TRIỂN BỀN VỮNG LOÀI CÂY ĐẶC SẢN THẢO QUẢ (Amomum

aromaticum Roxb.) TẠI HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI

Ngành : Quản lý tài nguyên thiên nhiên (C)

Mã số : 310

Giáo viên hướng dẫn : TS Trần Ngọc Hải

Sinh viên thực hiện : Trần Thị Thành

Lớp : 56B - QLTNTN

Khóa học : 2011 - 2015

Hà Nội – 2015

Trang 2

Tôi xin cảm ơn cán bộ và bà con trong huyện Sa Pa cùng bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại địa phương

Với vốn kiến thức hạn hẹp và thời gian thực tập tại Vườn có hạn nên tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình của quý thầy cô bạn bè Đó sẽ là hành trang quý giá giúp tôi hoàn thiện kiến thức của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Trần Thị Thành

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH_Toc421262414

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2

1.1 Tình hình nghiên cứu Thảo quả trên thế giới 2

1.2 Tình hình nghiên cứu Thảo quả tại Việt Nam 4

CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

2.1 Mục tiêu 9

2.1.1 Mục tiêu tổng quát 9

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 9

2.2 Đối tượng nghiên cứu 9

2.3 Phạm vi nghiên cứu 9

2.4 Nội dung nghiên cứu 9

2.5 Phương pháp nghiên cứu 10

2.5.1 Phương pháp ngoại nghiệp 10

2.5.2 Phương pháp nội nghiệp 13

Trang 4

CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 17

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Sa Pa và một số đặc điểm Vườn Quốc Gia Hoàng Liên 17

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên huyện Sa Pa 17

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Sa Pa 21

3.1.3 Một số đặc điểm của Vườn Quốc gia Hoàng Liên 22

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

4.1 Đặc điểm sinh vật học của loài Thảo quả 24

4.1.1 Đặc điểm hình thái loài Thảo quả 24

4.1.2 Đặc điểm vật hậu loài Thảo quả 26

4.1.3 Cấu tạo giải phẫu lá Thảo quả 27

4.1.4 Hàm lượng diệp lục a và b trong lá Thảo quả 29

4.2 Thực trạng trồng Thảo quả ở khu vực huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai 29

4.3 Tìm hiểu kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái, sơ chế Thảo quả 35

4 3.1 Kỹ thuật trồng Thảo quả 35

4.3.2 Chăm sóc Thảo quả 37

4.3.3 Thu hái Thảo quả 38

4.3.4 Sơ chế và bảo quản Thảo quả 39

4.3.5 Tác động của các hoạt động gây trồng, chăm sóc, thu hoạch, sơ chế Thảo quả đến đa dạng sinh học 44

4.4 Tác động của trồng Thảo quả đến kinh tế, xã hội 47

4.4.1 Tác động của trồng Thảo quả đến kinh tế 47

4.4.2 Tác động của trồng Thảo quả đến xã hội 49

Trang 5

4.5 Giải pháp phát triển Thảo quả theo hướng bền vững 50

KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KHUYẾN NGHỊ 52

1 Kết luận 52

2 Tồn tại 53

3 Khuyến nghị 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

1 Tên khóa luận: “Nghiên cứu thực trạng gây trồng và giải pháp phát triển bền vững loài cây đặc sản Thảo quả (Amomum aromaticum

Roxb.) tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”

“Research status of causing cultivation and sustainable development solutions specialty plants Cardamom (Amomum aromaticum Roxb.) in the District of Sa Pa, Lao Cai Province”

2 Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thành

3 Giáo viên hướng dẫn: TS Trần Ngọc Hải

4 Mục tiêu nghiên cứu:

- Mục tiêu chung: Thông qua đánh giá thực trạng gây trồng, thu hoạch,

sơ chế Thảo quả tại địa phương để đưa ra những giải pháp nhằm phát triển, sử dụng bền vững tài nguyên rừng ở địa phương

- Mục tiêu cụ thể: Phản ánh được đặc điểm giải phẫu Thảo quả, diện tích, phạm vi, kỹ thuật gây trồng và lợi ích, rủi ro từ cây Thảo quả tới kinh tế, xã hội, môi trường địa phương đồng thời đánh giá được những tác động, ảnh hưởng của Thảo quả tới đa dạng sinh học và khả năng phòng hộ của rừng làm cơ sở đề xuất giải pháp cho phát triển bền vững các mô hình trồng Thảo quả

5 Nội dung nghiên cứu

- Đặc điểm sinh vật học loài Thảo quả

- Thực trạng trồng Thảo quả ở khu vực huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

- Tìm hiểu kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và sơ chế Thảo quả

- Tác động của phát triển Thảo quả đến kinh tế, xã hội

- Giải pháp đề xuất phát triển Thảo quả theo hướng bền vững

6 Những kết quả đạt được

6.1 Đặc điểm sinh vật học của loài Thảo quả

Trang 7

- Đặc điểm hình thái loài Thảo quả

- Đặc điểm vật hậu loài Thảo quả

- Cấu tạo giải phẫu lá Thảo quả

- Hàm lượng diệp lục a và b trong lá Thảo quả

6.2 Thực trạng trồng Thảo quả ở khu vực huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

6.3 Tìm hiểu kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái, sơ chế Thảo quả

6.4 Tác động của trồng Thảo quả đến kinh tế, xã hội

6.5 Giải pháp phát triển Thảo quả theo hướng bền vững tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Trần Thị Thành

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái sông suối lãnh thổ Sa Pa

Bảng 4.1 Vật hậu loài Thảo quả tại Sa Pa

Bảng 4.2 Kết quả nghiên cứu cấu tạo giải phẫu lá cây Thảo quả

Bảng 4.3 Hàm lƣợng diệp lục a, b và tỷ lệ diệp lục a/b của Thảo quả

Bảng 4.4 Thống kê diện tích, số hộ trồng Thảo quả ở vùng lõi VQG Hoàng Liên Bảng 4.5 Tổng hợp tác động tới đa dạng sinh học do hoạt động gây trồng Thảo quả

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1: Mầm Thảo quả

Hình 4.2: Thân Thảo quả

Hình 4.3: Lá Thảo quả

Hình 4.4: Hoa Thảo quả

Hình 4.5: Cấu tạo giải phẫu thịt lá Thảo quả

Hình 4.6: Thu hái Thảo quả (Nguồn: Phạm Ngọc Bằng) Hình 4.7: Thu mua Thảo quả (Nguồn: Phạm Ngọc Bằng)

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thời gian gần đây, các nghiên cứu của các nhà khoa học đã chỉ ra rằng một trong những giải pháp tốt nhất cho bảo vệ và phát triển rừng là kinh doanh lâm sản ngoài gỗ, điều này cho phép tạo được nguồn thu nhập kinh tế

ổn định cho người dân, xóa đói giảm nghèo cho người dân trong khi vẫn bảo

vệ và phát triển được rừng.Vì vậy, kinh doanh lâm sản ngoài gỗ đang nhận được sự hưởng ứng tích cực của người dân miền núi

Thảo quả (Amomum aromaticum Roxb.) cũng là loài cây chỉ có thể sinh

trưởng, phát triển và cho năng suất cao khi sống dưới tán rừng Vì vậy, để trồng và phát triển Thảo quả đòi hỏi người dân phải bảo vệ và phát triển rừng bền vững Hiện nay, Thảo quả đã được một số tỉnh chọn là loài cây chủ lực để góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng cao, tăng thu nhập cho người dân, tạo công ăn việc làm cho đồng bào miền núi

Với nhận thức trên, nhà nước đã có chủ trương khuyến khích các địa phương gây trồng Thảo quả Nhà nước không chỉ tuyên truyền về giá trị kinh

tế và sinh thái của Thảo quả, mà còn quy hoạch vùng sản xuất, thành lập hội Thảo quả, cho vay vốn để trồng và cho phép xuất khẩu Thảo quả v.v

Tuy nhiên, do chưa hiểu biết đầy đủ về đặc điểm sinh thái của Thảo quả

mà việc gây trồng và phát triển loài cây này đang gặp không ít khó khăn Trong một số trường hợp, do gây trồng trên điều kiện lập địa không thích hợp người ta đã làm giảm sinh trưởng và năng suất của Thảo quả Trong một số trường hợp khác, người ta lại mở tán rừng một cách quá mức tác động đến môi trường như như việc trồng Thảo quả sẽ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, tính chất đất, xói mòn đất khu vực trồng Thảo quả Vậy việc trồng Thảo quả

có tác động tích cực, tiêu cực như thế nào đến kinh tế, xã hội và môi trường?

Để góp phần giải quyết tồn tại trên, tôi thực hiện đề tài "Nghiên cứu thực trạng gây trồng và giải pháp phát triển bền vững loài cây đặc sản Thảo quả (Amomum aromaticum Roxb.) tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai", để

từ đó đưa ra một số giải pháp đề xuất phát triển Thảo quả theo hướng bền vững

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu Thảo quả trên thế giới

Thảo quả đã được coi là một cây nằm trong nhóm lâm sản ngoài gỗ làm dược liệu của một số nước Phương Đông, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam Thảo quả được trồng cách đây hàng trăm năm ở Trung Quốc và ngày càng được chú trọng phát triển hơn

Nhiều công trình nghiên cứu giá trị cây Thảo quả được tiến hành qua các thời kỳ và bước đầu đạt được nhiều bước tiến mới quan trọng Thảo quả dùng làm thuốc trong Trung y và ẩm thực Trung Hoa cũng như ẩm thực Việt Nam, được ghi đầu tiên trong sách, là quả chín phơi hay sấy khô của cây Thảo quả

Theo các sách thuốc cổ sách bản thảo cầu chân: “Thảo quả và thảo đậu khấu, nhiều sách đều ghi khí vị tương đồng, công hiệu không khác, uống thuốc đều có thể ôn vị trục hàn Thuốc có khí vị phù tán, mắc chứng chướng ngược, uống thuốc đều có hiệu quả”

Sách Bản thảo chính nghĩa: “Thảo quả cay ôn táo liệt, thiên trừ hàn thấp mà ôn táo trung cung cho nên thuốc là vị chủ dược trừ hàn thấp tá dễ làm tổn thương chân khí nên trừ khí độc phải dùng thuốc ôn táo phương hương để thắng âm ma thấp trọc”

Sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân – y học gia thời Minh, 1596: thảo quả cùng dùng với Tri mẫu.Trị chứng chướng ngược hàn nhiệt, dùng thuốc một âm một dương nên không có hại do thiên thắng Thảo quả trị hàn ở thái âm, Tri mẫu trị hỏa ở Dương minh”

Nghiên cứu Thảo quả sau này được ghi chép trong cuốn sách về công dụng và giá trị của một số loài cây có giá trị dược liệu do các nhà y học của Trung Quốc biên soạn và xuất bản vào đầu thế kỷ thứ XIX (Thân Văn Cảnh, 2001)

Trang 13

Năm 1968, một số nhà nghiên cứu tại huyện Vân Nam, Trung Quốc đã xuất bản cuốn sách “Kỹ thuật trồng cây thuốc ở Trung Quốc”, trong đó đã đề cập đến cây thảo quả với một số khía cạnh gồm phân loại: Tên khoa học Thảo quả( Amomum aromaticum Roxb), tên Họ (Zingiberaceae), hình thái, đặc tính sinh học, phân bố, giá trị Phân loại: Tên khoa học Thảo quả (amomum aromaticum Roxb), tên họ (Zingiberaceae) Hình thái: dạng sống, thân, lá, hoa, quả, hạt Đặc điểm sinh thái học: khí hậu, vùng phân bố: Tây Nam, Trung Quốc Giá trị: làm thuốc trị bệnh đường ruột, bệnh hàn Kỹ thuật gây trồng: chọn giống, làm đất, trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh Thu hoạch

và sơ chế Tuy nhiên, cuốn sách này viết chung về kỹ thuật trống các cây dược liệu nên chỉ được giới thiệu tóm tắt một số nội dung chính về cây Thảo quả ở Vân Nam Trung Quốc

Năm 1992, chuyên gia Jame H De Beer về lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nông lương thế giới (FAO) đã tiến hành nghiên cứu cây Thảo quả ở Châu Á Qua quá trình điều tra và nghiên cứu, ông cho rằng Thảo quả được trồng nhiều nhất ở Trung Quốc và Việt Nam, ông cũng đưa ra kết luận rằng Thảo quả xuất khẩu ở Việt Nam đang giảm theo thời gian do diện tích rừng tự nhiên càng bị tàn phá thu hẹp, cụ thể sản lượng xuất khẩu Thảo quả ở Việt Nam năm 1986 là 153 tấn đến năm 1988 chỉ còn 19 tấn, tác giả cho rằng sản lượng đạt 300kg/ha

Cũng trong năm 1992, chuyên gia Jame H De Beer nghiên cứu vai trò

và thị trường chung cho các cây lâm sản ngoài gỗ và nhận thấy giá trị to lớn của cây Thảo quả mang lại, là nguồn tăng thu nhập cho các hộ gia đình ở vùng sâu vùng xa nơi có cây Thảo quả phân bố, góp phần xóa đói giảm nghèo đồng thời thúc đẩy kinh tế - xã hội vùng miền núi và nhằm bảo tồn đa dạng sinh học Ông cho rằng thị trường cây Thảo quả là rất lớn Chỉ tính riêng tại Lào Cai hàng năm đã xuất khẩu sang Trung Quốc và Thái Lan khoảng 400 tấn Qua đó, ông đi đến kết luận về vai trò của Thảo quả đối với đời sống con người, xã hội cũng như tình hình buôn bán và dự báo giá cả, tiềm năng, thị

Trang 14

trường của Thảo quả Theo thời gian con người càng ngày càng nhận thức rõ giá trị quan trọng của Thảo quả nên càng có nhiều nghiên cứu mới đặc biệt là những nơi có Thảo quả phân bố

Năm 1996, Tiền Tin Trung, nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc tại viện vệ sinh dịch tễ công cộng Trung Quốc đã biên soạn cuốn “Bản thảo bức tranh màu Trung Quốc” cuốn sách đã mô tả hơn 1000 loài cây thuốc ở Trung Quốc trong đó có cây Thảo quả với những nội dung được đề cập là: tên khoa học, một số đặc điểm sinh vật học công dụng và thành phần hóa học của Thảo quả Đến năm 1999, trong cuốn tài nguyên thực vật Đông Nam Á, L.S de padua,

N bunyapraphatsara và R.H.M.J lemmens đã nghiên cứu các cây thuộc chi Amomum trong đó có cây Thảo quả Ở đây, các tác giả đã đề cập đến đặc điểm phân loại, công dụng, phân bố và một số đặc điểm sinh thái học cũng trình bày sơ qua các đặc điểm gây trồng chăm sóc, thu hái, sơ chế, bảo quản, giá trị, tiềm năng và thị trường của Thảo quả trên thế giới Nhìn chung, các tác giả đưa ra các kết luận rằng: phạm vi phân bố của cây Thảo quả là hẹp ở dưới tán rừng ở vùng núi có khí hậu lạnh độ ẩm cao

Nhìn chung trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu vào nghiên cứu cây Thảo quả, tuy nhiêu hầu hết chỉ tập trung vào phân loại, đặc điểm, hình thái, vùng phân bố, sinh trưởng, kỹ thuật gây trồng, công dụng, thành phần hóa học bên trong hạt… mà chưa chú trọng các biện pháp lâm sinh nhằm tăng năng suất sản lượng đồng thời giữ gìn đa dạng sinh học và bảo vệ cấu trúc rừng

1.2 Tình hình nghiên cứu Thảo quả tại Việt Nam

Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng Đông Nam Châu Á Lãnh thổ Việt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này và nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới mưa nhiều, nhưng khí hậu Việt Nam phân

bố thành ba vùng khí hậu riêng biệt với miền Bắc mang khí hậu cận nhiệt đới

ẩm, Bắc trung bộ là khí hậu nhiệt đới gió mùa, miền Nam và Nam Trung Bộ mang khí hậu nhiệt đới Xavan Đồng thời, do nằm ở rìa phía Đông Nam của

Trang 15

phần Châu Á lục địa, giáp với biển Đông, nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu khí hậu gió mùa mậu dịch, thường thổi ở các vùng vĩ độ thấp Đặc biệt, miền bắc với kiều khí hậu cận nhiệt đới ẩm mưa nhiều đã hình thành nên vùng phân bố cây Thảo quả, cây “truyền thống” từ bao đời nay của đồng bào các dân tộc miền núi Vì đây được coi là cây làm gia vị và làm thuốc của đồng bào miền núi Những nghiên cứu đầu tiên về cây Thảo quả ở nước ta không phải là các nhà nghiên cứu trong nước mà chủ yếu là các nhà nghiên cứu thực vật Pháp

Theo như các tài liệu ghi chép thời pháp thuộc giai đoạn 1907-1937, công trình nghiên cứu đầu tiên đề cấp đến cây Thảo quả là của Lecomte et al với cuốn “ thực vật chỉ đại cương Đông Dương” gồm 7 tập Trong cuốn sách

đã thống kê được toàn Đông Dương có hơn 7000 loài thực vật trong đó có

1350 loài cây có giá trị làm thuốc nằm trong 160 họ thực vật mà Thảo quả nằm trong số những thực vật có giá trị cao làm thuốc

Năm 1957, khi nghiên cứu về các vị thuốc Việt Nam tác giả Đỗ Tất Lợi

đã cho rằng: Thảo quả được trồng ở Việt Nam vào khoảng năm 1890 trong hạt Thảo quả có khảng 1-1,5% tinh dầu vàng nhạt, mùi thơm, ngọt, vị nóng cay có tác dụng chữa bệnh về đường ruột Đây được coi là công trình nghiên cứu công dụng của thảo của nước ta, mặc dù nội dung nghiên cứu về thảo quả còn ít nhưng đã mở đầu cho các nghiên cứu về Thảo quả sau này cũng như

mở ra một triển vọng mới trong việc gây trồng, sản xuất và sử dụng Thảo quả trong y học của nước ta

Vào những năm 1960 đến năm 1980, các nhà khoa học khi nghiên cứu

về các cây thuốc ở Việt Nam đã đề cập đến cây Thảo quả Do Thảo quả là cây

“truyền thống” có đặc thù riêng khác với cây lâm sản ngoài gỗ là có phạm vi phân bố hẹp, chúng chỉ được trồng dưới tán rừng ở các tỉnh miền núi phía bắc như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Lai Châu nên các nhà khoa học còn ít quan tâm, một số công trình nghên cứu liên quan còn tản mạn

Trang 16

Năm 1982, Đoàn Thị Nhu đã nghiên cứu và khẳng định Thảo quả là cây dược liệu quý, thích nghi tốt với điều kiện dưới tán rừng Tuy nhiên đây

là loài cây chưa được nghiên cứu về đặc điểm sinh thái xem nó có thể đưa về trồng dưới tán rừng như thế nào là phù hợp cho năng suất cao

Năm 1990, Nguyễn Tập đã nghiên cứu xác định loài và tên Thảo quả trồng ở nước ta, tác giả cho rằng Việt Nam có hai loài Thảo quả đó là Thảo quả to và Thảo quả nhỏ Theo tác giả, Thảo quả là cây dược liệu quý được sử dụng rộng rãi trong nước cũng như xuật khẩu Tuy nhiên, diện tích cây Thảo quả ngày càng giảm mà nguyên nhân là do khai thác quá nhiều nhưng lại không chú trọng đến việc gây trồng và phát triển, nạn phá rừng, đốt rừng làm nương rẫy của đồng bào nơi có Thảo quả sinh sống làm cho vùng phân bố ngày càng bị thu hẹp

Năm 1994, nhận thức được tiềm năng nâng cao đời sống người dân vùng núi từ nghề rừng, tỉnh Lào Cai đã xác định cây Thảo quả là loài có giá trị cần phát triển Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tình Lào Cai đã phối hợp với các nhà khoa học tại trung tâm nghiên cứu lâm đặc sản tiến hành tổng kết các kinh nghiệm gây trồng, chăm sóc, thu hái và chế biến Thảo quả trong nhân dân

Năm 1996, khi nghiên cứu về kỹ thuật trồng cây Thảo quả trong công trình “Nghiên cứu về kỹ thuật trồng Thảo quả dưới tán rừng” của tác giả Trần Văn Cảnh, tác giả đã đưa ra một số các biện pháp kỹ thuật để gieo ươm và gây trồng Thảo quả

Năm 2001, khi nghiên cứu về giá trị của LSNG đối với đời sống nhân dân ở SaPa, tác giả Nguyễn Tập đã kết luận: Nhờ Thảo quả mà hầu hết các gia đình ở các thôn Seo Mi Tỷ, xã Tả Van huyện SaPa đã trở nên giàu có Trước đây khi trồng lúa, mỗi gia đình chỉ thu được một tấn lúa/1 năm, giá trị khoảng 2 triệu đồng Nay trồng Thảo quả thì trung bình hàng năm mỗi gia đình thu được từ 2-3 tạ Thảo quả, tương đương 20 - 40 triệu đồng gấp 10-20 lần trồng lúa trước đây

Trang 17

Năm 2002, Phan Văn Thắng đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố hoàn cảnh đến sinh trưởng của Thảo quả tại xã San

Sả Hồ - SaPa - Lào Cai” tác giả đã tập trung nghiên cứu độ cao, đất, cấu trúc rừng, độ ẩm, khí hậu, độ xốp, lớp mùn trong đất nơi có Thảo quả sinh sống

Năm 2002, Cục phát triển Lâm Nghiệp - Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã biên soạn cuốn sách “kỹ thuật gây trồng một số đặc sản rừng” trong đó cũng đề cập đến kỹ thuật trồng Thảo quả dưới tán rừng

Năm 2004, Cục Lâm Nghiệp - Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã phê duyệt đề tài “Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng Thảo quả

ở các tỉnh miền Bắc” đề tài đã đánh giá được thực trạng gây trồng Thảo quả ở Lào Cai và khảo sát tình hình gây trồng ở các tỉnh lân cận, tập hợp kinh nghiệm gây trồng thực tế trong nhân dân

Năm 2009, Trung tâm khuyến nông tỉnh Lào Cai đã xuất bản cuốn “Sổ tay hướng dẫn cải tiến lò sấy Thảo quả” do tiến sĩ Cao Văn Hùng biên soạn trong đó giới thiệu các kiểu lò sấy Thảo quả nhằm giảm tác động vào rừng lấy củi sấy Thảo quả Quy trình sấy và chất lượng Thảo quả khô và danh sách các

cơ sở cung cấp dịch vụ liên quan đến Thảo quả

Năm 2012, Trung tâm nghiên cứu lâm đặc sản Việt Nam đã phối hợp với trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam biên soạn cuốn “ sổ tay hướng dẫn

ký thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và làm giàu rừng khu vực trồng Thảo quả” Nội dung trong cuốn sổ tay đã hướng dẫn rất kỹ về kỹ thuật gây trồng, xúc tiến tái sinh và làm giàu rừng nơi trồng Thảo quả cho các cả nhân, cán bộ, các hộ gia đình

Năm 2014, với sự hỗ trợ của Ban quản lý Chương trình UN – REDD, nhóm nghiên cứu đã phối hợp với Sở NN & PTNT Lào Cai, Vườn quốc gia Hoàng Liên và một số đơn vị có liên quan triển khai hoạt động “Nghiên cứu, phân tích chi tiết nguyên nhân mất rừng, suy thoái rừng từ việc trồng Thảo quả dưới tán rừng tại tỉnh Lào Cai” Nghiên cứu đã đưa ra được những phát hiện, những điểm trống cần hoàn thiện và cần có những nghiên cứu tiếp trong

Trang 18

giai đoạn tới nhằm hướng tới gây trồng, kinh doanh Thảo quả theo hướng bền vững cả về kinh tế - xã hội và môi trường

Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu về cây Thảo quả thu được chủ yếu qua điều tra nhanh và mang tính chất của những tổng kết kinh nghiệm là chính, những đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, chủ yếu phát hiện ở mức định tính Vì vậy, các hướng dẫn kỹ thuật thường có tính chất gợi ý, không cụ thể, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất hiện nay

Trang 19

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Thông qua đánh giá thực trạng gây trồng, thu hoạch, sơ chế Thảo quả tại địa phương để đưa ra những giải pháp nhằm phát triển, sử dụng bền vững tài nguyên rừng ở địa phương

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Phản ánh được đặc điểm giải phẫu Thảo quả, diện tích, phạm vi, kỹ thuật gây trồng và lợi ích, rủi ro từ cây Thảo quả tới kinh tế, xã hội, môi trường địa phương

- Đánh giá được những tác động, ảnh hưởng của Thảo quả tới đa dạng sinh học và khả năng phòng hộ của rừng làm cơ sở đề xuất giải pháp cho phát triển bền vững các mô hình trồng Thảo quả

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là loài cây Thảo quả trồng tại các xã nằm trong phạm vi Vườn Quốc Gia Hoàng Liên

2.3 Phạm vi nghiên cứu

Khu vực trồng Thảo quả tại các xã nằm trong phạm vi Vườn Quốc Gia Hoàng Liên

2.4 Nội dung nghiên cứu

- Đặc điểm sinh vật học loài Thảo quả

- Thực trạng trồng Thảo quả ở khu vực huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

- Tìm hiểu kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và sơ chế Thảo quả

- Tác động của phát triển Thảo quả đến kinh tế, xã hội

- Giải pháp đề xuất phát triển Thảo quả theo hướng bền vững

Trang 20

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp ngoại nghiệp

a, Chuẩn bị các dụng cụ cần thiết cho điều tra như:

- Máy GPS định vị vị trí lập OTC, độ cao

- La bàn xác định hướng ô điều tra

- Thước đo chiều cao, thước dây lập ô, cuộn dây lập OTC 1000m2, dao

- Sơn đánh dấu cây đã điều tra

- Bảng biểu ghi kết quả điều tra

- Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân địa phương

b, Phương pháp kế thừa tài liệu liên quan

- Kế thừa số liệu của các công trình nghiên cứu khoa học, các đề tài của các nhà nghiên cứu và các nhà khoa học Các báo cáo của các cơ quan ban ngành liên quan đã được công bố tại địa phương

- Kế thừa các tài liệu từ internet, các bài báo, bài luận…

c, Tiến hành điều tra

- Điều tra sơ bộ:

+ Tiến hành điều tra sơ bộ và khảo sát sự sinh trưởng của Thảo quả dưới tán rừng

+ Điều tra sơ bộ cấu trúc rừng ở nơi trồng Thảo quả và không trồng Thảo quả

- Điều tra tỉ mỉ: Để so sánh sự khác nhau về cấu trúc rừng ở hai khu vực có trồng Thảo quả và không trồng Thảo nhằm xác định được ảnh hưởng của trồng Thảo quả đến cấu trúc rừng ta tiến hành lập các OTC ở cả hai khu vực với các vị trí khác nhau và trạng thái rừng khác nhau Mỗi OTC có diện tích

là 1000m2 (40*25m) OTC phải được lập ở các nơi điển hình, đại diện cho cấu trúc rừng trồng Thảo quả

+ Đánh giá tầng cây cao:

Đo chiều cao Hvn, đường kính ngang ngực, đường kính tán bằng thước dây

Kết quả đo đếm Hvn ,D1.3; Dt của tầng cây cao được ghi vào biểu sau:

Trang 21

Mẫu biểu 01: ĐIỀU TRA TẦNG CÂY CAOTRÊN ÔTC

+ Đánh giá tầng cây tái sinh

Đánh giá tầng cây tái sinh bằng cách trong mỗi ÔTC lập 5 ô dạng bản có diện tích 25m2 (5 x 5m) gồm có 4 ô ở góc và 1 ô ở giữa và tiến hành điều tra số lượng và thành phần loài cây tái sinh trong các ô dạng bản

Tiêu chí đánh giá sinh trưởng:

Chất lượng cây tái sinh được đánh giá theo 3 cấp: Tốt, TB và Xấu

- Tốt: là những cây phát triển cân đối, không sâu bệnh, lá cây xanh đều

- Xấu: là những cây thân cong, sâu bệnh, phát triển kém, tán lệch, lá rụng nhiều hoặc chuyển màu

- Trung bình: là loài trung gian giữa 2 cấp tốt và xấu

(Dựa vào cuốn Giáo trình sinh thái rừng của Hoàng Kim Ngũ, Phùng Ngọc Lan (1998), Đại học Lâm nghiệp.)

+ Điều tra cây bụi

Đánh giá điều tra cây bụi thảm tươi được thực hiện trong 5 ô dạng bản

đã lập để điều tra cây tái sinh trong ÔTC

Trang 22

giá cả, thị trường,…Tất cả các câu hỏi phỏng vấn được ghi vào bản các câu hỏi phỏng vấn

Phiếu phỏng vấn cá nhân

Họvà tên người được phỏng vấn: Xã Nghề nghiệp: Ngày phỏng vấn: Người phỏng vấn: Xin ông/ bà vui lòng cho biết những thông tin sau đây về loài cây Thảo quả tại khu vực

1 Ông/bà có trồng nhiều cây Thảo quả không?

2 Diện tích trồng khoảng bao nhiêu?

3 Thu nhập chính của gia đình từ nguồn nào ?

4 Hàng năm gia đình thu được bao nhiêu kg Thảo quả?

5 Giống cây Thảo quả được lấy từ đâu?

6 Để trồng được cây này Ông/bà làm như thế nào từ việc tạo giống và đem trồng?

7 Cách chăm sóc loài Thảo quả như thế nào?

8 Khi trồng ông/bà có bón thêm phân không? Đó là những loại phân nào?

9 Mùa hoa, quả chín của loài vào thời điểm nào?

10 Cách khai thác và sơ chế Thảo quả như thế nào?

11 Có những lưu ý gì khi thu hái sản phẩm?

12 Giá cả các sản phẩm từ loài cây đó trên thị trường hiện nay như thế nào?

13 Cây gỗ/ cây bụi/cây tái sinh hiện tại khác với những năm chưa trồng cây như thế nào? Theo chiều hướng tốt lên hay xấu đi?

14 Có những khó khăn gì để phát triển loài cây có giá trị này?

15 Theo ông/ bà làm thế nào để vừa giữ được được rừng vừa giữ được năng suất loài Thảo quả?

Trang 23

2.5.2 Phương pháp nội nghiệp

2.5.2.1 Tính các chỉ tiêu tầng cây cao( Dựa vào cuốn Giáo trình sinh thái rừng

của Hoàng Kim Ngũ, Phùng Ngọc Lan (1998), Đại học Lâm nghiệp.)

- Mật độ: (số cây/ha)

N/ha= (10000*N)/S Trong đó N: Tổng số cây trong OTC

S: diện tích OTC (1000m2)

a.Tính số trung bình mẫu

- Nếu OTC có

N<30:

Trong đó N: Tổng số cây trong OTC (cây)

Hvn i: Chiều cao vút ngọn của cây thứ i (m) -Nếu mẫu lớn có N>30:

Số liệu được chia tổ ghép nhóm theo công thức kinh nghiệm của Brooks Carruther và Công thức thực nghiệm của Nguyễn Hải Tuất:

Trang 24

Trong đó: D1.3 i: đường kính ngang ngực của cây thứ i (cm)

Hvn : chiều cao vút ngọn của cây thứ i (m)

Fi : tần số xuất hiện ở tuổi thứ i

2.5.2.2 Tổ thành tầng cây cao(Dựa vào cuốn Giáo trình sinh thái rừng của

Hoàng Kim Ngũ, Phùng Ngọc Lan (1998), Đại học Lâm nghiệp.)

Tổ thành là loài chỉ tiêu biểu thị tỉ trọng của một loài hay một nhóm loài nào đó chiếm trong lâm phần Có các loại tổ thành là: Tổ thành theo loài (Cj%); Tổ thành theo tổng tiết diện ngang (Gj%); Tổ thành theo trữ lượng (Mj%) Tuy nhiên, dưới đây chỉ tính tổ thành theo loài:

Cj% = (nj/N)*100

Trong đó: nj: số cây của loài hay nhóm loài trong OTC (cây)

N: tổng số cây trong OTC (cây)

Cách viết công thức tổ thành loài:

- Bao gồm chữ viết tắt của loài và hệ số phần mười trữ lượng hay tổng tiết diện ngang của chúng Tuy nhiên phải có chú thích các chữ viết tắt

- Thứ tự được ghi chép theo chiều từ cao đến thấp và cuối cùng là các loài khác (LK) được viết gộp lại

- Nếu Cj% ≥5 thì loài đó được tham gia vào công thức tổ thành còn ngược lại nếu Cj%<5 thì loài đó không được tham gia vào công thức tổ thành

2.5.2.3 Điều tra cây tái sinh ( Dựa vào cuốn Giáo trình sinh thái rừng của

Hoàng Kim Ngũ, Phùng Ngọc Lan (1998), Đại học Lâm nghiệp.)

Chất lượng cây tái sinh được đánh giá theo 3 cấp: Tốt, TB và Xấu

- Tốt: là những cây phát triển cân đối, không sâu bệnh, lá cây xanh đều

Trang 25

- Xấu: là những cây thân cong, sâu bệnh, phát triển kém, tán lệch, lá rụng nhiều hoặc chuyển màu

- TB: là loài trung gian giữa 2 cấp tốt và xấu

n% = (ni/n)*100

Trong đó: n%: tỉ lệ cây tái sinh tốt, xấu, trong mỗi ODB

ni: số cây tốt, xấu trong mỗi ODB

n: tổng số cây tái sinh trong mỗi ODB

2.5.2.5 Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài

- Đặc điểm hình thái: Lấy mẫu thân, cành, lá, hoa, quả, bụi cây chụp ảnh và mô tả tại chỗ kết hợp kế thừa tài liệu đã công bố

- Đặc điểm vật hậu: Quan sát trực tiếp, chụp ảnh và mô tả, kết hợp phỏng vấn các hộ trồng và tham khảo tài liệu về mùa vụ ra hoa, quả, mùa ra chồi non, định hình thân, mùa lá già, Kết quả ghi vào bảng quan sát vật hậu Bảng: Vật hậu loài Thảo quả tại Sa Pa

Trang 26

để đo đếm độ dày các mô bên trong thịt lá Các giải phẫu được chụp ảnh, các thông số được đo đếm trên kính hiển vi OPTIKA microscopes, M-699 có gắn

Optikam PRO 3 Digital Camera, ở độ phóng đại 150 lần

- Xác định hàm lượng và tỷ lệ diệp lục a và b: Theo phương pháp so màu của Lichtenthaler, H.K & Wellburn, A.R., 1983; Xác định cường độ

thoát hơi nước theo phương pháp cân nhanh của L.A.Ivanov et al., 1959;

Trang 27

CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Sa Pa và một số đặc điểm Vườn Quốc Gia Hoàng Liên

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên huyện Sa Pa

3.1.1.1.Vị trí địa lý

Sa Pa là một huyện vùng cao của tỉnh Lào Cai có tọa độ 22007’00’’ –

22028’46’’ vĩ Bắc, 103043’28’’ – 104004’5’’ kinh Đông, diện tích 678,64 km2

, gồm 17 xã và 1 thị trấn Thị trấn Sa Pa là trung tâm kinh tế - chính trị của huyện, cách thành phố Lào Cai 40 km về phía Tây Nam Nằm trên trục quốc

lộ 4D từ Lào Cai đi Lai Châu, Sa Pa là cửa ngõ giữa 2 vùng Đông Bắc và Tây Bắc Trong lãnh thổ Sa Pa, Vườn quốc gia Hoàng Liên là một trong những khu vực đầu tiên được ghi trong hệ thống các khu rừng đặc dụng Việt Nam, được chính thức chuyển hạng thành Vườn quốc gia Hoàng Liên theo quyết định số 90/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ với tổng diện tích 29.845

ha

3.1.1.2 Địa hình

Sa Pa có địa hình đặc trưng của miền núi phía Bắc, có độ dốc lớn, trung bình từ 35 – 400, có nơi có độ dốc trên 450, địa hình hiểm trở và chia cắt phức tạp Nằm ở phía Đông của dãy Hoàng Liên Sơn, Sa Pa có độ cao trung bình từ

1200 m đến 1800m, địa hình nghiêng và thoải dần theo hướng Tây Tây Nam đến Đông Bắc Điểm cao nhất là đỉnh Phan Xi Păng cao 3141m và thấp nhất

là suối Bo cao 400m so với mặt biển

Địa hình của Sa Pa chia thành 3 dạng địa hình đặc trưng sau:

- Tiểu vùng núi cao trên đỉnh: gồm các xã Tả Giàng Phình, Bản Khoang,

Tả Phìn, San Sả Hồ Diện tích của vùng 16.574 ha, chiếm 24,42 % diện tích

tự nhiên của huyện Độ cao trung bình của khu vực từ 1.400 – 1.700 m, địa hình phân cắt, độ dốc lớn và thung lũng hẹp tạo thành một vùng hiểm trở

Trang 28

- Tiểu vùng Sa Pa – Sa Pả: Gồm các xã Sa Pả, Trung Chải, Lao Chải, Hầu Thào, Tả Van, Sử Pán và thị trấn Sa Pa có diện tích 20.170 ha, chiếm 29,72 % diện tích của huyện Đây là tiểu vùng nằm trên bậc thềm thứ hai của đỉnh Phan Xi Păng, độ cao trung bình là 1.500 m, địa hình ít bị phân cắt, phần lớn có kiểu đồi bát úp

- Tiểu vùng núi phân cắt mạnh: Gồm 7 xã phía Nam của huyện là Bản Phùng, Nậm Sài, Thanh Kim, Suối Thầu, Thanh Phú, Nậm Cang và Bản Hồ

có diện tích 31.120 ha, chiếm 45,86 % diện tích của huyện Đặc trưng của vùng là kiểu địa hình phún xuất núi cao, đỉnh nhọn, sườn dốc, thung lũng hẹp sâu

3.1.1.3 Khí hậu

Khí hậu Sa Pa mang đặc trưng của khí hậu khu vực Hoàng Liên Sơn, hầu như quanh năm duy trì tình trạng ẩm ướt Mùa đông, frôn cực đới thường bị chặn lại trên sườn Đông Hoàng Liên Sơn, gây mưa dai dẳng nhiều ngày trên toàn lãnh thổ Kết quả ở đây hầu như mất hẳn thời kỳ khô hanh nửa đầu mùa đông tiêu biểu cho miền khí hậu phía Bắc: độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng >85%, tháng ít mưa nhất cũng đạt > 20 – 30 mm Mưa phùn cuối mùa đông phổ biến vì các thung lũng mở rộng về phía đồng bằng tạo điều kiện cho gió nồm từ biển xâm nhập vào

- Chế độ nhiệt: Nền nhiệt Sa Pa thay đổi theo quy luật đai cao, nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 – 230

C ở khu vực núi thấp, khu vực dãy Hoàng Liên Sơn cao trên 2000 m giảm xuống đến 12 – 130C Trên đỉnh Phan Xi Păng, nhiệt độ thấp nhất là 8 – 100

C, nhiệt độ cực tiểu có thể giảm đến 5,50C Tháng 1 lạnh nhất trong năm, có nhiệt độ trung bình 11 – 120C, nhiệt độ tối thấp nhất 9 – 100C ở vùng núi thấp; tương ứng 8 - 90C và 60C vùng núi trung bình, 6 - 70C và 5 – 6 0C vùng núi cao Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất trong năm, đạt 24 – 25 0

C ở vùng núi thấp; 19 – 200C núi trung bình và 16 - 170C núi cao

- Chế độ bức xạ: trung bình hàng năm khoảng 1450 – 1600 giờ nắng Thời kỳ có số giờ nắng lớn là mùa hè, tháng có giá trị cực đại là tháng 5,

Trang 29

khoảng 160 – 190 giờ/tháng Các tháng cuối mùa đông có trị số trung bình thấp nhất, khoảng 75 – 85 giờ/tháng Ở vùng này, thời kỳ ít nắng nhất trùng với thời kỳ có lượng mưa nhiều nhất (tháng 6, tháng 7), trung bình 75 – 95 giờ/tháng

- Chế độ mưa: Đại bộ phận lãnh thổ huyện Sa Pa thu được lượng mưa khoảng 2000 – 2500 mm/năm với số ngày mưa khoảng 100 – 150 ngày/năm

Sự thay đổi độ cao và hướng phơi địa hình làm xuất hiện một số trung tâm mưa lớn trên những sườn đón gió như Tả Van, Cát Cát, Ô Quy Hồ, Sa Pa Ở khu vực Hoàng Liên Sơn mưa tăng >3500mm/năm, số ngày mưa khoảng 180 – 200 ngày/năm Mùa mưa dài 7 tháng (tháng 7 – 10) đến 8 tháng (tháng 4 -11) ở thị trấn Sa Pa, dãy Hoàng Liên Sơn

- Chế độ ẩm: Huyện Sa Pa là một trong các khu vực ẩm ướt nhất của nước ta, hầu như không có giai đoạn khô hanh đầu mùa đông, quanh năm duy trì độ ẩm cao >80% Độ ẩm trung bình năm khoảng 85 – 88%, khu vực núi cao >90% Từ tháng 7 đến tháng 2 năm sau độ ẩm không khí rất cao và đồng đều, trung bình khoảng 85 – 90%, ở độ cao trên 2000 m đạt tới 90 – 97%

3.1.1.4 Thủy văn

Sông suối ở Sa Pa mang đặc thù của sông suối miền núi Hầu hết thung lũng, khe suối có dạng hình chữ V Phần thung lũng suối Tả Van – Mường Hoa có dạng chữ U, hai bên thung lũng là sườn tích tụ khá dốc Độ cao bình quân lưu vực (Ho), độ dốc bình quân lưu vực (Io) và mật độ lưới sông (D) của các sông ngòi ở đây lớn hơn nhiều, trong khi hệ số uốn khúc (Kuk) lại nhỏ hơn

hệ số hình dạng (Khd) có giá trị tương đương so với trị số bình quân toàn quốc

Trang 30

Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái sông suối lãnh thổ Sa Pa

(km)

F (km2)

Ho (m)

3.1.1.5 Thổ nhưỡng

Nét đặc thù của thổ nhưỡng Sa Pa thể hiện ở sự phân hóa theo quy luật đai cao rõ nét, làm hình thành đầy đủ cả 4 đai đất: đất feralit đỏ vàng núi thấp (<700m), đất mùn đỏ vàng núi trung bình (700 – 1700m), đất mùn alit núi cao (1700 – 2800m) và đất mùn thô than bùn núi cao (>2800m)

3.1.1.6 Thảm thực vật

* Đặc điểm các kiểu thảm thực vật:

- Kiểu rừng kín lùn thường xanh cây lá rộng rét ẩm (>2800m): ưu thế Trúc lùn Arundinaria, nhiều loài cây bụi trong họ Đỗ quyên (Ericaceae), họ Hoa hồng (Rosaceae), họ Hồi (Illiciaceae) Kiểu thảm này có chiều cao < 0,5

m trên đỉnh hoặc dông núi, 1 – 1,5 m ở sườn núi

- Kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng lá kim rất lạnh rất ẩm (2400 – 2800 m): còn gọi là kiểu rừng rêu, phẫu đồ chỉ gồm một tầng cây gỗ và một tầng cây bụi

Trang 31

- Kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng lá kim lạnh ẩm (1700 – 2400 m): cấu trúc 3 tầng, gồm hai tầng cây gỗ và một tầng cây bụi

- Kiểu rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng lá kim mát ẩm đai núi trung bình (700 – 1700m): cấu trúc 4 tầng, gồm 2 tầng cây gỗ, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết

- Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh nóng ẩm đai núi thấp (<700m): kiểu thảm nguyên sinh hiện tại không còn, bị thay thế bởi các phụ kiểu thảm thực vật thứ sinh (rừng thứ sinh, trảng cây bụi và cỏ thứ sinh) Rừng thứ sinh

có cấu trúc 2 – 3 tầng, tầng ưu thế cao 5 - 8 m, độ che phủ thấp Một diện tích đáng kể thảm thực vật ở vành đai núi thấp là rừng tre nứa thứ sinh

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Sa Pa

Sa Pa là một huyện miền núi với 7 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đông nhất là dân tộc Hmông chiếm 54,9%, dân tộc Dao 25,5%, dân tộc Kinh 13,6%, dân tộc Tày 3%, dân tộc Giáy 1,6%, dân tộc Xá Phó 1,2 %, dân tộc Thái 0,2% Dân cư phân bố trong 17 xã và một thị trấn gồm 95 thôn, bản với

6247 hộ Tổng dân số 37272 người, tỷ lệ tăng dân số 2,84%, mật độ dân số 54,9 người/km2

Trong mỗi thôn bản lại có sự phân hóa theo các đặc điểm sinh thái của các tộc người Nhóm Dao – Giáy – Xá Phó sống tập trung trên đai cao 700 – 1500 m, nhóm Mông cư trú trên đai cao 700 – 2000 m, còn nhóm Tày – Thái cư trú ở độ cao dưới 700 m, sống tập trung ở một số xã phía nam huyện như Bản Hồ, Nậm Sài, Thanh Phú là vùng thung lũng bằng phẳng

có nhiều ruộng nương dễ sinh sống Người Kinh cư trú phần lớn chỗ bằng phẳng, dọc theo hai bên đường và nhiều ở thị trấn

Trong cơ cấu kinh tế của huyện Sa Pa thì hoạt động nông nghiệp đóng vai trò chính mặc dù Sa Pa có lợi thế về tài nguyện du lịch, song hoạt động du lịch vẫn chưa phát huy được tiềm năng Tuy nhiên, hoạt động du lịch ở Sa Pa cũng đóng vai trò đáng kể trong cơ cấu kinh tế của huyện Hiện nay nhà nước

Trang 32

và chính quyền địa phương đã cố gắng tìm nhiều biện pháp giúp dân xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống và nâng cao thu nhập Nhiều dự án của các chương trình định canh định cư, chương trình trồng rừng phát triển lâm nghiệp, chương trình khuyến nông của nhà nước cũng như một số tổ chức phi chính phủ đã và đang thực hiện ở nhiều địa phương trong huyện Bên cạnh việc phát triển trồng trọt một số loại cây hàng hóa như khoai tây, các loại rau xanh, đào, mận, hồng và chăn nuôi lợn, gà, dê Việc trồng Thảo quả dưới tán rừng đang là nguồn thu nhập bổ trợ của rất nhiều gia đình Theo thống kê

có tới 40 – 60% số hộ thuộc diện đói nghèo, trong đó người Mông chiếm tỷ lệ cao nhất

3.1.3 Một số đặc điểm của Vườn Quốc gia Hoàng Liên

Vườn Quốc gia Hoàng Liên được giao quản lý với tổng diện tích 28.509 ha, trong đó diện tích có rừng 23.278,92 ha (tỉnh Lào Cai 16.831,06

ha, tỉnh Lai Châu 6.456,86 ha), đất chưa có rừng: 3.969,69 ha và đất khác: 1.251,58 ha Nằm trên địa bàn các xã: San Sả Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai) và một phần các xã Trung Đồng, Phúc Khoa (huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu) Với địa hình bao bọc bởi một hệ thống núi cao thuộc dãy Hoàng Liên Sơn chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, gồm nhiều ngọn núi cao trên 2.800 m, trong đó có ngọn Phan Xi Păng cao 3.143m, được mệnh danh là nóc nhà Đông Dương (cao nhất Đông Dương)

Tổng diện tích phần lõi của vườn gồm 29.845 ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt chiếm 11.875 ha, phân khu phục hồi sinh thái chiếm 17.900 ha và phân khu dịch vụ hành chính gồm 70 ha Vùng lõi của vườn nằm trọn trong các xã San Sả Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ thuộc huyện Sa

Pa, tỉnh Lào Cai và một phần thuộc các xã Mường Khoa, Thân Thuộc huyện Than Uyên

Do đặc thù về thời tiết, khí hậu, địa hình nên đã hình thành tại đây hệ động thực vật vô cùng phong phú và đa dạng, cụ thể: Về động vật nơi đây có

Trang 33

khoảng 66 loài thú, phổ biến là: Gấu ngựa, Gấu chó, Vượn đen tuyền, Lợn rừng , trong đó có 16 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam; 347 loài chim như Đại bàng đốm to, Trĩ mào đỏ, Hét mỏ vàng ; 41 loài lưỡng cư và 61 loài bò sát, trong đó, có loài Ếch gai rất hiếm ở Việt nam mới được phát hiện Bên cạnh sự phong phú về động vật rừng hệ thực vật rừng cũng vô cùng phong phú với khoảng hơn 2.000 loài thực vật, trong đó có khoảng 66 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam như: Thông tre, Thông đỏ, Đinh tùng , 32 loài quý hiếm như: Bách xanh phân bố tại vùng núi đá vôi xã Bản Hồ (Sa Pa), loài Vân sam Hoàng Liên (Sam lạnh) phân bố trên độ cao 2.500 – 2.800 m so với mực nước biển thuộc xã San Sả Hồ, huyện Sa Pa và hàng trăm loài cây lâm sản ngoài gỗ

có giá trị kinh tế cao, trong đó phải kể đến cây Thảo quả

Vùng đệm của vườn có tổng diện tích là 38.724 ha, bao gồm 65 thôn bản thuộc các xã, thị trấn của 3 huyện Sa Pa, Tam Đường, Tân Uyên; trong đó huyện Sa Pa có 35 thôn (30 thôn đệm ngoài và 5 thôn đệm trong là Tả Trung

Hồ, Séo Trung Hồ, Ma Quái Hồ, Dền Thàng, Séo Mý Tỷ) Trong khu vực có

7 dân tộc sinh sống là người Dao, Mông, Tày, Dáy, Thái, Kinh, Sa Phó, trong

đó người Mông và người Dao chiếm đa số Thu nhập chính của người dân là

từ sản xuất nông nghiệp: Thảo quả, lúa, ngô, chăn nuôi trâu, lợn, dê, gà, … (chủ yếu là thả rông); ngoài ra người dân còn có thu nhập phụ từ việc khai thác các sản phẩm từ rừng tự nhiên, từ dịch vụ du lịch …

Trang 34

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm sinh vật học của loài Thảo quả

4.1.1 Đặc điểm hình thái loài Thảo quả

Thảo quả là cây thân thảo, sống lâu năm, cao 2 – 3m; thân củ to, phân nhánh mọc thành cụm

Thân Thảo quả có màu xanh, phía gần gốc có màu hồng, lá và thân đều

có mùi hắc đặc trưng Đường kính thân từ 3 – 5 cm Thân khí sinh do bẹ lá tạo thành

Cây trưởng thành có từ 15 – 17 lá, mọc sole, mặt trên lá màu lục thẫm

và bóng, mặt dưới màu nhạt hơn Phiến lá hình trứng thuôn, dài từ 50 – 75

cm, rộng từ 18 – 25 cm

Cụm hoa dạng bông, mọc từ gốc thân, dài 15 – 20 cm Hoa nhiều mọc sít nhau, được bao ngoài bởi các lá bẹ hình bầu dục, màu nâu hồng, dài 2 cm; hoa có 2 lá bắc, lá bắc ngoài hình mác, lá bắc trong hình ống Đài dạng ống; tràng hoa màu vàng, gồm 4 bộ phận, thuỳ giữa, 2 thuỳ bên và cánh môi, cánh môi hình thìa màu vàng đậm, ở giữa có 2 vạch đỏ; nhị màu vàng; vòi nhuỵ màu trắng; bầu hình trứng

Quả mọc thành chùm, hình trứng, màu đỏ tía, đường kính 1,7 – 2,0 cm, dài 2,2 – 2,7 cm, có núm ở đầu; trong quả chia thành 3 ô Hạt màu vàng nâu,

có áo hạt vị ngọt, mùi thơm hơi cay, chứa nhiều tinh dầu thơm

Cây thường xanh, khả năng đẻ nhánh (chồi) tốt

Trang 35

Hình 4.1: Mầm Thảo quả Hình 4.2: Thân Thảo quả

Hình 4.3: Lá Thảo quả Hình 4.4: Hoa Thảo quả

Trang 36

4.1.2 Đặc điểm vật hậu loài Thảo quả

Bảng 4.1 Vật hậu loài Thảo quả tại Sa Pa

Trang 37

Qua bảng vật hậu, nhận thấy Thảo quả là cây ra hoa vào đầu xuân bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 4 và cho thu hoạch quả từ tháng 8 đến tháng 10 Qua

đó, có thể xác định thời điểm chăm sóc như bón phân, dọn dẹp thực bì xung quanh bụi Thảo quả trước khi ra hoa, cắt bỏ cây Thảo quả già cùng với thời gian thu hoạch Xác định đúng thời điểm thu hoạch nhằm thu hái quả chín ngay khi quả chưa bị nứt để không ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm

Ngoài ra, thời điểm thu hoạch là mùa khô, có nguy cơ cháy rừng Vì sau khi thu hái Thảo quả, tiến hành quá trình sơ chế dùng gỗ để làm nguyên liệu sấy, đun nấu và đặc biệt việc sử dụng lửa là nguy cơ dẫn đến cháy rừng cao.Vì vậy, cần có các biện pháp như tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân trong việc sử dụng lửa giảm thiểu cháy rừng trong quá trình sơ chế Thảo quả

Như vậy, bảng vật hậu có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thời điểm ra hoa, thu hoạch nhằm đưa ra kỹ thuật chăm sóc thích hợp, nâng cao năng suất, chất lượng Thảo quả và từ đó có giải pháp giữ rừng bền vững

4.1.3 Cấu tạo giải phẫu lá Thảo quả

Hình 4.5: Cấu tạo giải phẫu thịt lá Thảo quả

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm