Hình 4.3: Quy trình chế biến tinh bột, dong kèm dòng thải Hình 4.4: Cân bằng vật chất trong sản xuất tinh bột từ của sắn Hình 4.5: Cân bằng vật chất trong sản xuất tinh bột từ dong củ Hì
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy cô giáo Khoa Quản lý tài nguyên rừng & Môi trường, trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học đại học trong suốt 4 năm qua
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Ngô Duy Bách đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi hoàn thành
đề tài nghiên cứu này
Tôi cũng xin cảm ơn, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Vĩnh Lộc, UBND xã Vĩnh Tiến đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã động viên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2017
Trần Thị Thanh
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐĂT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 Tổng quan về chất thải rắn 2
1.1.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn 2
1.1.2 Nguồn phát sinh CTR làng nghề 3
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ tinh bột ở Việt Nam 4
1.3 Công nghệ sản xuất tinh bột sắn và hiện trạng môi trường làng nghề 5
1.3.1 Công nghệ sản xuất tinh bột ở Việt Nam 5
1.3.2 Hiện trạng CTR ở các cơ sở sản xuất tinh bột 9
1.4 Thực trạng công tác quản lý CTR tại làng nghề: 10
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 12
2.1 Vị trí địa lý, địa hình 12
2.1.1 Vị trí địa lý 12
2.1.2.Địa hình 12
2.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 12
2.2.1 Khí hậu 12
2.2.2 Thủy văn 13
2.3 Đặc điểm kinh tế xã hội 13
2.3.1 Dân số 13
2.3.2 Cơ sở hạ tầng 14
2.3.3 Tình hình phát triển kinh tế 14
2.3.4 Văn hóa xã hội 15
Trang 32.3.5 Giáo dục- y tế 16
Chương 3:MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17 3.1 Mục tiêu nghiên cứu 17
3.1.1 Mục tiêu chung 17
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 17
3.2 Đối tượng, phạm vi, thời gian 17
3.3 Nội dung nghiên cứu 17
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 18
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp qua phiếu điều tra 18
3.4.3 Phương pháp phân tích 19
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp 19
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
4.1 Thực trạng sản xuất của làng nghề chế biến tinh bột sắn xã Vĩnh Tiến- huyện Vĩnh Lộc- tỉnh Thanh Hóa 20
4.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của làng nghề 20
4.1.2 Hiện trạng công nghệ và thiết bị sản xuất 21
4.1.3 Quy trình công nghệ sản xuất tinh bột và một số sản phẩm từ tinh bột tại làng nghề 23
4.1.4 Chất thải rắn trong sản xuất tinh bột 25
4.2 Đánh giá hiện trạng CTR của làng nghề tại xã Vĩnh Tiến- huyện Vĩnh Lộc- tỉnh Thanh Hóa 26
4.2.1 Thành phần chất thải rắn 26
4.2.1 Hiện trạng CTR tại làng nghề 28
4.3 Đánh giá hiệu quả quản lý CTR tại khu vực nghiên cứu 32
4.3.1 Hiệu quả thu gom rác thải 32
4.3.2 Hiệu quả xử lý rác thải 32 4.4 Đề xuất giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả quản lý rác thải tại xã Vĩnh
Trang 44.4.1 Các giải pháp quản lý 34
4.4.2 Giải pháp xử lý rác thải 35
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các nguồn phát sinh chất thải rắn 2
Bảng 1.2: Thành phần của bã thải 10
Bảng 2.1: Diện tích và sản lượng cây trồng của xã Vĩnh Tiến 15
Bảng 4.1: Số hộ sản xuất qua các năm giai đoạn 2013- 2017 20
Bảng 4.2: Thành phần bã thải từ sản xuất tinh bột 26
Bảng 4.3: Thành phần rác thải sản xuất làng nghề xã Vĩnh Tiến 27
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất tinh bột sắn thủ công ở Việt Nam 6
Hình 1.2: Cân bằng vật chất trong sản xuất tinh bột từ củ tươi 10
Hình 4.2: Một số quy trình sản xuất và rác thải từ hoạt động sản xuất tinh bột sắn 22
Hình 4.3: Quy trình chế biến tinh bột, dong kèm dòng thải 23
Hình 4.4: Cân bằng vật chất trong sản xuất tinh bột từ của sắn 25
Hình 4.5: Cân bằng vật chất trong sản xuất tinh bột từ dong củ 25
Hình 4.7: Khối lượng CTR liên quan đến hoạt động sản xuất tinh bột sắn xã Vĩnh Tiến giai đoạn 2009- 2015 30
Hình 4.9: Sơ đồ quy trình xử lý bã sắn 39
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các nguồn phát sinh chất thải rắn
Bảng 1.2:Thành phần của bã thải
Bảng 2.1: Diện tích và sản lƣợng cây trồng của xã Vĩnh Tiến
Bảng 4.1: Số hộ sản xuất qua các năm giai đoạn 2013- 2017
Bảng 4.2: Thành phần bã thải từ sản xuất tinh bột
Bảng 4.3: Thành phần rác thải làng nghề xã Vĩnh Tiến, huyện
Vĩnh Lộc
Bảng 4.4: Khối lƣợng CTR liên quan đến hoạt động sản xuất
tinh bột sắn xã Vĩnh Tiến giai đoạn 2009- 2015
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất tinh bột sắn thủ công
ở Việt Nam
Hình 1.2: Cân bằng vật chất trong sản xuất tinh bột từ củ tươi
Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện tăng trưởng khối lượng sản phẩm giai
đoạn 2013- 2017
Hình 4.2: Một số quy trình sản xuất và rác thải từ hoạt động sản xuất
tinh bột sắn
Hình 4.3: Quy trình chế biến tinh bột, dong kèm dòng thải
Hình 4.4: Cân bằng vật chất trong sản xuất tinh bột từ của sắn
Hình 4.5: Cân bằng vật chất trong sản xuất tinh bột từ dong củ
Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện thành phần rác thải làng nghề xã Vĩnh
Tiến, huyện Vĩnh Lộc
Hình 4.7: Khối lượng CTR liên quan đến hoạt động sản xuất tinh bột
sắn xã Vĩnh Tiến giai đoạn 2009- 2015
Hình 4.8: Cơ cấu hệ thống quản lý môi trường cấp xã
Hình 4.9: Sơ đồ quy trình xử lý bã sắn
Trang 8TN&MT Tài nguyên và môi trường
VSMT Vệ sinh môi trường
Trang 9ĐĂT VẤN ĐỀ
Nước ta có xuất phát điểm từ một nước nông nghiệp đi lên Vì vậy hoạt động chế biến sản xuất nông sản như lúa, ngô, sắn luôn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Cùng với sự phát triển thì công nghiệp sản xuất tinh bột sắn cũng có những tác động làm ô nhiễm môi trường, đặc biệt là vấn
đề CTR làng nghề Chất thải rắn là những loại rác thải phát sinh trong quá trình
ăn, ở, tiêu dùng của con người và từ các hoạt động sản xuất CTR được thải vào môi trường ngày càng nhiều, vượt quá sức chứa của môi trường làm mất khả năng tự làm sạch của môi trường dẫn đến chất lượng môi trường suy giảm
Theo báo cáo của UBND huyện Vĩnh Lộc đầu năm 2014, riêng ở xã Vĩnh Tiến các rác thải sinh hoạt và các chất thải phát sinh trong quá trình chế biến tinh bột sắn (bã thải, vỏ và bùn cặn ) lên tới hàng chục tấn/ngày Điều này khiến nhiều thông số môi trường vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đặc biệt là môi trường nước và môi trường không khí Với tốc độ phát triển như hiện nay, CTR phát sinh ngày càng tăng
về cả số lượng lẫn chủng loại là nguyên nhân chính gây ô nhiễm tại làng nghề chế biến tinh bột sắn xã Vĩnh Tiến và để lại những lo ngại về vấn đề sức khỏe của người dân Xuất phát từ yêu cầu thực tế nêu trên, nhằm góp phần đánh giá một cách chính xác hiện trạng môi trường tại khu vực, từ đó đưa ra được những giải pháp hợp lý giúp giữ gìn và bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương, tôi tiến hành đề tài tốt nghiệp:“ Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn tại làng nghề chế biến tinh bột sắn xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa”
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về chất thải rắn
1.1.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn
Nguồn gốc phát sinh, thành phần và tốc độ phát sinh của chất thải rắn
là cơ sở quan trọng để thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các chương trình quản lý chất thải rắn
Bảng 1.1 Các nguồn phát sinh chất thải rắn
Nguồn Các hoạt động và vị trí phát
sinh chất thải
Loại chất thải rắn
Nhà ở Những nơi ở riêng của một
hay nhiều gia đình Những căn hộ thấp, vừa và cao tầng…
Chất thải thực phẩm, giấy, bìa cứng, nhựa dẻo, hàng dệt, đồ da, chất thải vườn, đồ gỗ, kim loại, rác đường phố, chất thải đặc biệt (thiết bị điện, lốp xe, dầu…), chất thải nguy hại
Trung tâm
thương
mại
Cửa hàng, nhà hàng, chợ và văn phòng, khách sạn, dịch
vụ, cửa hiệu in…
Giấy, bìa cứng, nhựa dẻo, gỗ, chất thải thực phẩm, thủy tinh, kim loại, chất thải đặc biệt, chất thải nguy hại,…
Xây dựng Nơi xây dựng mới, sửa
đường, san bằng các công trình xây dựng, vỉa hè hư hại
Gỗ, thép, bê tông, đất,…
Dịch vụ
đô thị
Quét dọn đường phố, làm phong cảnh, công viên và bãi tắm, những khu vực tiêu khiển khác
Chất thải đặc biệt, rác đường phố, vật xén ra từ cây, chất thải từ các công viên, bãi tắm và các khu vực tiêu khiển khác
Trạm xử
lý, thiêu
đốt
Quá trình xử lý nước, nước thải và chất thải công nghiệp
Khối lượng lớn bùn dư
(Nguồn: George et all, 1993)
Trang 111.1.2 Nguồn phát sinh CTR làng nghề
Ở Việt Nam, chất thải rắn phân bố ở hầu hết các tỉnh, thành phố với khoảng 472 làng nghề các loại Các làng nghề thường có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn (trên 70%) CTR làng nghề thì gồm nhiều loại, phụ thuộc vào nguồn phát sinh, mang đặc tính của loại hình sản xuất CTR làng nghề ngày càng đa dạng, phức tạp về thành phần, gồm các thành chính như: phế phụ phẩm từ chế biến lương thực, thực phẩm, chai lọ thủy tinh, nhựa, nilông, vỏ bao bì đựng nguyên vật liệu, gốm sứ, gỗ, kim loại
Có thể chia thành các loại sau:
- Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm: chủ yếu từ nông sản sau khi thu hoạch, bị loại bỏ trong quá trình chế biến, phế phụ phẩm bị ôi thiu, vỏ sắn, xơ sắn, bã dong, đao, bã đậu, xỉ than, phân gia súc trong chăn nuôi
- Nhóm làng nghề tái chế phế liệu: gồm 02 loại chính và phế liệu không thể tái chế và các chất phải phát sinh trong quá trình tái chế
+ Từ ngành tái chế giấy: tro xỉ, bột giấy, giấy vụn, đinh ghim, nilông + Từ các làng nghề tái chế nhựa: nhựa phế liệu không đủ tiêu chuẩn tái chế, các tạp chất khác lẫn trong nhựa phế liệu (nhãn mác, nilông, bùn cặn), tro
- Nhóm làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ và thuộc da: vấn đề nổi cộm là nước thải, CTR chưa trở nên bức xúc CTR gồm xỉ than từ lò hơi, vỏ chai lo, thùng đựng hóa chất tẩy, hóa chất nhuộm, các loại xơ vải, vải vụn
Trang 12- Nhóm làng nghề khác: (thuộc da, sản xuất chổi lông gà, sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ, chỉ sơ dừa) phát sinh: da thừa, hồ keo, lông gà, lông vịt, các mảnh gốm sứ vỡ, chai lọ đựng chất làm nền, hoa văn, chỉ sơ dừa, mụn sơ dừa
(Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2010)
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ tinh bột ở Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam là nước xuất khẩu tinh bột sắn đứng thứ 3 trên thế giới, sau Indonesia và Thái Lan Năm 2008, diện tích đất trồng sắn đạt 557,4 nghìn ha, được canh tác phổ biến ở hầu hết các tỉnh Diện tích sắn trồng nhiều nhất ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Sản lượng tinh bột sắn đạt 7.714.000 tấn Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Trung Quốc, Đài Loan Cùng với diện tích sắn được nâng lên, năng suất thu hoạch sắn cũng như sản lượng tinh bột sắn được sản xuất cũng tăng lên theo thời gian
Ngoài tinh bột sắn, các sản phẩm được chế biến từ sắn gồm cồn, rượu, bột ngọt, axit glutamic, axit amin, các loại siro maltoza, glucoza, fructoza, tinh bột biến tính, maltodextrin, các loại đường chức năng, thức ăn gia súc, phân bón hữu cơ…
Từ đầu năm đến nay, sắn là một trong ít các mặt hàng có khối lượng xuất khẩu cũng như kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh Theo số lượng thống kê
sơ bộ trong 7 tháng đầu năm 2011, cả nước đã xuất khẩu được 2,66 triệu tấn sắn và tinh bột sắn, đạt kim ngạch 408 triệu USD, tăng 4,4 lần về sản lượng
và tăng 2,8 lần về kim ngạch so với cùng kỳ 2010
Trong những năm gần đây, năng lực sản xuất và chế biến sắn của Việt Nam đã có bước tiến bộ đáng kể Năm 2010 diện tích trồng sắn của nước ta
đã tăng mạnh từ 270.000 ha (năm 2008) lên 510.000 ha, sản lượng ước đạt hơn 8 triệu tấn, tăng 2,3% so với năm ngoái nhưng tăng gần gấp đôi so với 3 năm trước Đáng chú ý là diện tích tăng vượt 135 nghìn ha so với quy hoạch phát triển sắn tới năm 2010 Năng suất những năm vừa qua cũng tăng, mặc dù không nhiều, từ 15,35 tấn/ha năm 2008 (trung bình của thế giới là 12,16 tấn/ha) lên 15,7 tấn/ha năm 2010 nhưng vẫn thấp so với Ấn Độ (31,43 tấn/ha),
Trang 13Thái Lan (21,09 tấn/ha) Sản lượng cả năm 2012 ước đạt 8,1 đến 8,6 triệu tấn, cao hơn năm ngoái khoảng 0,2 đến 0,4 triệu tấn Với tỷ trọng sắn cho xuất khẩu khoảng 48,6%, dùng làm thức ăn gia súc 22,4%, chế biến thủ công 16,8%, chỉ
có 12,2% dùng tiêu thụ tươi thì khối lượng cho xuất khẩu năm nay của Việt Nam vào khoảng 4 triệu tấn 6 tháng đầu năm 2012, Việt Nam đã xuất được 2,4 triệu tấn sắn (trọng đó đã bao gồm một lượng lớn tồn kho của năm 2011 chuyển sang) Với nguồn cung vừa mới được bổ sung vào cuối năm, dự báo cả năm nay Việt Nam sẽ xuất khẩu khoảng 4,6 - 5 triệu tấn sắn, tương đương khối lượng xuất khẩu 5 tháng cuối năm khoảng 1,8 - 2,3 triệu tấn
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, khoảng 40 - 45% sản lượng sắn dành cho chế biến quy mô lớn, hay còn gọi là quy mô công nghiệp, 40 - 45% sản lượng sắn dành cho chế biến tinh bột ở qui mô nhỏ và vừa, dùng để sản xuất các sản phẩm sắn khô, chế biến thức ăn chăn nuôi và 10 - 15% dùng cho
ăn tươi và các nhu cầu khác
1.3 Công nghệ sản xuất tinh bột sắn và hiện trạng môi trường làng nghề
1.3.1 Công nghệ sản xuất tinh bột ở Việt Nam
Trong sắn, ngoài tinh bột còn có thành phần chất khô khác như: chất xơ, chất hoà tan, chất tạo mầu Vì vậy nhiệm vụ của quá trình sản xuất tinh bột sắn là lấy tinh bột tới mức tối đa bằng cách phá vỡ tế bào, giải phóng tinh bột
và tách tinh bột khỏi các chất hoà tan cũng như các chất không hoà tan khác
Công nghệ sản xuất tinh bột sắn tại các làng nghề:
Sản xuất tinh bột sắn bằng phương pháp thủ công các công đoạn hết sức đơn giản, chỉ gồm những quá trình cơ bản để phá vỡ cấu trúc tế bào và thu hồi tinh bột Quá trình sản xuất gián đoạn, thiết bị cũ kỹ, thô sơ không đồng bộ nên mức độ cơ giới hoá thấp Vì vậy hiệu quả thu hồi tinh bột không cao và tổn thất khi vận chuyển bằng thủ công giữa các công đoạn lớn
Sơ đồ qui trình công nghệ được thể hiện ở hình 1.1
* Sau đây là đặc điểm một số công đoạn trong quá trình sản xuất tinh
Trang 14- Công đoạn rửa củ, bóc vỏ:
Sắn củ tươi tối đa trong vòng 3 ngày sau khi thu hoạch phải đưa vào chế biến Sắn được băng chuyền xích đưa đều đặn vào máy bóc vỏ có dạng trống quay hình trụ, nằm ngang Trong thiết bị có kết cấu gồm các thanh sắt song song với nhau, trên có đục lỗ Khi động cơ làm việc, lồng quay, nước được phân phối đều Tại đây dưới sự va đập các củ sắn với nhau và va đập vào thành lồng, vỏ lụa ngoài của củ sắn sẽ tróc ra đồng thời loại bỏ được đất cát bám trên củ
Hình 1.1: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất
tinh bột sắn thủ công ở Việt Nam
Sắn củ tươi
Rửa củ, bóc vỏ Ngâm
Nghiền
Sàng lọc Lắng
Sản phẩm
TB sắn
Trang 15- Công đoạn nghiền: Nghiền nhằm phá vỡ cấu trúc tế bào của củ sắn để giải phóng các hạt tinh bột Hiệu quả của quá trình thu hồi tinh bột phụ thuộc vào quá trình phá vỡ các mô và các tế bào Để tách được nhiều tinh bột từ củ thì quá trình nghiền sắn càng mịn càng tốt, tuy nhiên quá trình nghiền quá mịn
sẽ tốn năng lượng và chất xơ trở nên quá mịn khó tách hoàn toàn chúng ra khỏi tinh bột
Sắn củ tươi sau khi bóc vỏ và rửa sạch được băng chuyền đưa vào máy nghiền búa Tại đây dưới tác dụng của búa quay với tốc độ lớn (3.000 vòng/ phút) sắn được đập nhỏ, kết hợp với nước bơm tạo thành hỗn hợp bã - nước - bột Hỗn hợp này được đưa đến bể chứa
Sau khi mài nghiền, nhựa sắn gồm các alkaloit, các cyanide được giải phóng Hydrogen cyanide có khả năng bay hơi mạnh ở nhiệt độ 27oC, phần còn lại nằm trong khối bột nhão Khi cấu trúc tế bào bị phá vỡ, chúng lập tức phản ứng ngay với oxy ngoài không khí tạo ra các hợp chất có màu và có khả năng bám chặt vào tinh bột làm giảm chất lượng sản phẩm Do vậy người ta thêm dung dịch NaHSO3, H2SO3 hoặc sục khí SO2 vào để khử các chất màu nhờ vào thế khử mạnh của các hợp chất sunfua Ngoài ra, SO2 còn hạn chế sự phát triển của vi sinh vật
- Công đoạn tách chiết suất:
Đây là công đoạn quan trọng nhất quyết định tỷ lệ thu hồi và chất lượng của tinh bột Công đoạn này thường được tiến hành qua nhiều giai đoạn:
Giai đoạn 1: Sàng tách tinh bột, nước ra khỏi bã
Hỗn hợp bã - nước - bột từ bể chứa được hút và bơm với một áp lực cao( 3÷4 at) vào sàng rung( hoặc sàng cong áp lực tĩnh) và máy ly tâm Dưới tác dụng của lực ly tâm, tinh bột và nước được tách ra khỏi bã Quá trình chiết suất được thực hiện lặp đi lặp lại nhiều lần để tách triệt để tinh bột trong hỗn hợp bã- nước- bột
Trang 16Giai đoạn 2: Tách ly, chiết suất loại bỏ bụi bẩn và bã nhỏ
Bột lỏng thu được có hàm lượng nước rất cao và lẫn nhiều tạp chất như đất, cát, bụi bẩn Do vậy hỗn hợp này được bơm hút và đưa vào thiết bị Xyclon
để tách cát, bụi bẩn Sau đó được đưa vào máy ly tâm dạng đĩa nhằm loại bỏ các loại bã nhỏ và quan trọng nhất là thu hồi được loại bột đồng nhất Để có chất lượng tinh bột cao công đoạn này cũng được thực hiện hai lần liên tiếp Bã loại ra lại được hoà với nước và đưa lại máy nghiền để làm nhỏ và đưa quay trở lại các thiết bị tách chiết suất để tận thu tinh bột Như vậy qua tất cả công đoạn này có thể thu được 84÷86% lượng tinh bột có trong sắn nguyên liệu
Bã (xeluloza) thu được từ công đoạn tách chiết suất có hàm lượng nước rất cao (70÷75%) và còn chứa 12÷14% tinh bột Do vậy ở phần lớn các nhà máy sản xuất tinh bột sắn đều dùng bã sắn để sản xuất cồn (Ethylic) hoặc làm thức ăn cho gia súc Ở Việt Nam, để xử lý bã sắn, biện pháp tốt nhất bảo đảm
vệ sinh môi trường mà nhà máy vẫn hoạt động liên tục là đưa bã sắn vào thiết
bị ép vít me nhằm loại bỏ bọt nước (xuống còn khoảng 40%), sau đó được sấy xuống độ ẩm 14÷15% Bã này dùng để làm thức ăn gia súc, hoặc phân bón hữu cơ vi sinh
- Ly tâm tách nước:
Mục đích của công đoạn này là tách bớt nước trong dung dịch sữa bột
ra để giúp cho công đoạn sấy khô được nhanh hơn Sữa bột lỏng thu được qua hai lần ly tâm bằng máy ly tâm dạng đĩa được đưa vào máy ly tâm tách nước
để đưa dung dịch sữa bột xuống độ ẩm 3÷38% Thường thiết bị này được điều khiển tự động lượng sữa bột đưa vào để đảm bảo cho máy làm việc với hiệu suất cao nhất
- Công đoạn sấy khô:
Bột ướt nhão thu được sau công đoạn tách nước được chuyển sang sấy nhanh theo nguyên lý sấy phun Ở đây, dưới tác dụng của dòng khí nóng với vận tốc 15÷20m/s tinh bột được xé tơi và làm khô rất nhanh (2÷3 giây) Nhiệt
độ tác nhân sấy 45÷500o
C do vậy mà tinh bột không bị hồ hoá Vì thiết diện của khoang sấy thay đổi nên vận tốc của các hạt trong khoang sấy cũng thay
Trang 17đổi Điều này bảo đảm cho những hạt tinh bột to lưu lại trong khoang sấy lâu hơn, vì vậy độ ẩm của sản phẩm tinh bột sấy xong rất đồng đều Sau khi được làm khô tại khoang sấy, hỗn hợp tinh bột và khí nóng được đưa qua Xyclon
Ở đây tinh bột được tách ra khỏi tác nhân sấy- khí nóng
- Sàng, phân loại, đóng gói: Để nâng cao tính đồng nhất của sản phẩm, tinh bột thu được sau công đoạn sấy được đưa vào sàng phân loại Ở đây những hạt nhỏ, đạt tiêu chuẩn được đưa tới thùng chứa để đóng gói, những hạt to được đưa qua máy nghiền để nghiền nhỏ, sau đó lại đưa quay trở lại sàng để phân loại tiếp
Qui trình công nghệ sản xuất tinh bột sắn được trình bày ở trên đây được áp dụng chủ yếu trong các nhà máy chế biến tinh bột sắn ở qui mô công nghiệp Đối với qui mô làng nghề thủ công về cơ bản bao gồm các công đoạn
kể trên chỉ khác ở mức độ tự động hoá, cơ khí hoá
1.3.2 Hiện trạng CTR ở các cơ sở sản xuất tinh bột
Chất thải từ ngành công nghiệp chế biến thực phẩm nói chung và công nghiệp sản xuất tinh bột nói riêng luôn là vấn đề bức xúc đối với mỗi quốc gia, không chỉ gây ảnh hưởng tới môi trường đất, nước và không khí, gây mất
mỹ quan khu vực xung quanh mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ của cộng đồng
Đối với làng nghề chế biến tinh bột sắn thì thành phần chất thải có bã sắn, độ ẩm cao: 88 – 90%, hàm lượng tinh bột chiếm 0,51 – 0,57% (Ngô Kế Sương, 2005)
Trong quá trình sản xuất tinh bột, chất thải rắn chủ yếu phát sinh từ các công đoạn rửa củ, bóc vỏ và công đoạn lọc Chất thải rắn từ khâu rửa củ bao gồm đất, cát, lớp vỏ lụa và một phần thịt củ bị vỡ do va chạm mạnh hoặc do sắn nguyên liệu bị dập, thối Lượng chất thải này chiếm khoảng 5% sắn nguyên liệu Trong công đoạn lọc tách bã, phần bã còn lại là nguồn phát sinh chất thải rắn vô cùng lớn, chiếm khoảng 40% nguyên liệu Có thể mô tả cân bằng vật chất trong quá trình sản xuất tinh bột tại hình 1.3
Trang 18Hình 1.2: Cân bằng vật chất trong sản xuất tinh bột từ củ tươi
(Nguồn: Ngô Kế Sương, Nguyễn Xích Liên, Hoàng Kim Anh, 2005)
Từ Bảng 1.2 cho thấy bã với hàm lượng tinh bột chiếm 5,09÷ 7,0% trọng lượng bã, ước tính mỗi năm ngành sản xuất tinh bột từ sắn củ, dong củ
bị thất thoát khoảng 50,8÷ 69,8 nghìn tấn tinh bột Nếu không được xử lý kịp thời các chất hữu cơ trong bã thải bị phân huỷ gây mùi khó chịu, làm ô nhiễm môi trường không khí, ảnh hưởng tới sức khoẻ con người Ngoài ra, hàm lượng nước trong bã cao, hàm lượng chất khô thấp gây khó khăn trong bảo quản và sử dụng bã
1.4 Thực trạng công tác quản lý CTR tại làng nghề:
Hoạt động quản lý CTR thực hiện tối ưu hóa 06 yếu tố bao gồm: quản
lý CTR tại nguồn phát sinh; quản lý việc lưu giữ CTR tại chỗ( lưu chứa tạm thời); quản lý sự thu gom và chuyển dọn CTR; quản lý sự trung chuyển, vận chuyển CTR; quản lý hoạt động tái sinh CTR; quản lý sự tiêu hủy CTR( KEIA, 2005) Hoạt động quản lý chất thải rắn( CTR) bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người( Bộ TN&MT, 2010)
Bột nghiền 0,95 tấn( 95%) Tinh bột 0,5 tấn( 50%)
Nước thải từ củ
0,05 tấn( 5%)
Bã sắn 0,4 tấn( 40%)
Trang 19Quản lý rác thải bao gồm các công đoạn sau:
* Phân loại rác thải: nhằm tách lọc ra những thành phần khác nhau phục vụ cho công tác tái sinh, tái chế Phân loại rác quyết định chất lượng của các sản phẩm chế tạo từ vật liệu tái sinh (Đinh Quốc Cường, 2005) Phân loại rác ngay tại nguồn phát sinh là một giải pháp hữu hiệu làm tăng hiệu quả kinh
tế của phân loại rác
* Lưu giữ, thu gom rác: sự lưu giữ rác thải ngay từ nguồn trước khi chúng được thu gom là một yếu tố quan trọng trong quản lý CTR Ở các nước phát triển, rác thải được phân loại tại nhà rồi định kỳ chuyển đến các thùng rác lớn của thành phố hoặc phân loại trước khi đổ vào các thùng rác dành riêng cho từng loại Ở các nước đang phát triển thường tận dụng các dụng cụ chứa rác phù hợp như: túi nilông, bao bì, vv Quá trình thu gom chủ yếu bao gồm việc vận chuyển rác từ chỗ lưu giữ tới chỗ chôn lấp
* Vận chuyển rác: nếu khoảng cách từ nơi chứa rác tạm thời gần sẽ được chuyển trực tiếp vào bãi xử lý rác Nếu khoảng cách xa thì thành lập các trạm trung chuyển (Cục Bảo vệ môi trường, 2008) Trạm trung chuyển là nơi rác thải từ các xe thu gom được chuyển sang xe vận tải lớn hơn nhằm tăng hiệu quả vận chuyển đến bãi chôn lấp rác thải Trạm trung chuyển thường đặt gần khu vực thu gom để giảm thời gian vận chuyển của các xe thu gom CTR
* Xử lý rác thải: hiện nay có khá nhiều phương pháp xử lý rác thải như: chôn lấp, ủ thành phân hữu cơ, ủ tạo khí ga, thiêu đốt, thu hồi tài nguyên Xử
lý rác thải là một vấn đề tổng hợp liên quan cả về kỹ thuật lẫn kinh tế, xã hội
Vì vậy, tuỳ thuộc vào điều kiện và đặc tính của rác thải mà có sự lựa chọn, kết hợp các phương pháp xử lý phù hợp nhất (Cục Bảo vệ môi trường, 2009)
* Tái sử dụng, tái chế chất thải sinh hoạt: tái sử dụng là sử dụng lại nguyên dạng rác thải (chẳng hạn sử dụng lại chai lọ ) Tái chế là sử dụng chất thải làm nguyên liệu để sản xuất ra các sản phẩm( Mạnh Hùng, 2010)
Trang 20Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Vị trí địa lý, địa hình
2.1.1 Vị trí địa lý
Vĩnh Tiến là một xã đồng bằng, nằm về phía Tây Bắc huyện Vĩnh Lộc, tiếp giáp với các xã như sau:
- Phía Bắc giáp xã Vĩnh Long
- Phía Nam giáp xã Vĩnh Thành
- Phía Đông giáp thị trấn Vĩnh Lộc
- Phía Tây giáp xã Vĩnh Yên và sông Mã
Trên địa bàn xã còn có 2 tuyến Quốc lộ 217 và QL 45 chạy qua Đặc biệt phần lớn Thành Nhà Hồ thuộc địa bàn xã Vĩnh Tiến tạo điều kiện cho việc phát triển du lịch
2.1.2.Địa hình
Về vị trí địa lý, có 2 tuyến Quốc lộ 217 và QL 45 chạy qua địa bàn, tạo điều kiện cho nhân dân trong xã giao lưu kinh tế, văn hóa với bên ngoài một các dễ dàng, thuận lợi Ngoài ra còn có phần lớn di sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ nằm trên địa bàn xã và sự thuận lợi về nguồn nước Sông Mã
và lượng phù sa được bồi đắp thường xuyên tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
2.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
Trang 21Nhìn chung nhiệt độ trong năm tương đối điều hòa, lượng ánh sang phù hợp với sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuận lợi cho sinh hoạt và đời sống con người
* Lượng mưa: Tổng lượng mưa bình quân 1500mm- 1700mm, riêng
mùa mưa chiếm tới 86- 88% tổng lượng mưa Mùa mưa kéo dài 06 tháng( từ tháng 5- tháng 10) Tháng 9 có lượng mưa xấp xỉ 400mm Tháng 12, tháng 1,
và tháng 2 mưa rất ít dưới 20mm/ tháng
* Gió: Hướng gió chính là gió Đông Bắc và gió Đông Nam Tốc độ gió
trung bình trong năm 1,5- 1,8 m/s, tốc độ gió mạnh nhất trong bão 30- 40 m/s Ngoài ra còn có khoảng 14- 15 ngày có gió Tây khô nóng( từ tháng 5- tháng 6)
Nhìn chung khí hậu xã Vĩnh Tiến có nền nhiệt độ cao, mùa hè tương đối nóng, mưa ở mức trung bình, ảnh hưởng của hạn hán và gió Tây khô nóng thường xảy ra, nhưng không đáng lo ngại cho cây trồng vì đã có hệ thống mương tưới tiêu cho cả vùng Vĩnh Tiến, tuy nhiên cần đề phòng rét đậm kéo dài, bão và úng lũ có thể xảy ra là giảm kết quả sản xuất nông nghiệp
2.2.2 Thủy văn
Xã Vĩnh Tiến nằm trong tiểu vùng thủy văn hạ lưu sông Mã, có mùa mưa bắt đầu từ tháng 6, kết thúc vào tháng 10, tháng 8- 9 lưu lượng nước chảy lớn nhất Mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau
Sông Mã là nơi cung cấp nước tưới tiêu cho toàn bộ diện tích đất nông nghiệp và nước sinh hoạt cho người dân trong xã, cũng là nơi phù sa bồi đắp hàng năm thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Ngoài ra xã còn có hệ thống sông Bưởi là nơi tiêu thoát nước vào mùa lũ lụt
2.3 Đặc điểm kinh tế xã hội
2.3.1 Dân số
Theo điều tra năm 2010 thì toàn xã có 2816 hộ với tổng dân số là 9.625 người Tổng số trẻ được sinh ra là: 190 cháu trong đó số cháu nam là 102 cháu (53,6%), nữ 88 cháu (46,4%) Số con thứ 3 trở lên là 48 cháu chiếm
Trang 222.3.2 Cơ sở hạ tầng
Trong những năm vừa qua, công tác xây dựng cơ bản trên địa bàn xã được quan tâm đầu tư và từng bước phát triển mạnh Nhiều công trình công cộng đã được khởi công xây dựng như: 8 phòng học và một nhà hiệu bộ ở trường THCS, trụ sở UBND xã, sân vận động xã, 6 nhà văn hóa cụm dân cư, 2/4 gói thầu xây dựng đường bê tông… Ngoài ra, địa phương cũng có nhiều
hộ gia đình xây dựng nhà cao tầng với giá trị kinh tế cao (Nguồn: UBND xã Vĩnh Tiến)
HTX đã đầu tư cải tạo, nâng cấp một số các đoạn đường giao thông nội đồng, nạo vét kênh mương Trong những năm gần đây, đã xây mới được trụ
sở của HTX dịch vụ và điện năng xã Vĩnh Tiến với tổng kinh phí trên 150 triệu đồng (Nguồn: UBND xã Vĩnh Tiến)
2.3.3 Tình hình phát triển kinh tế
2.3.3.1 Nông nghiệp
* Về trồng trọt:
Trong những năm qua, kinh tế của xã đã có nhiều chuyển biến tích cực
và đạt được những thành tựu quan trọng về nhiều mặt
Kết quả sản xuất và thu hoạch về trồng trọt năm 2012 được trình bày ở bảng 2.1
* Về chăn nuôi:
Công tác phòng chống dịch bệnh ở gia súc, gia cầm luôn được quan tâm UBND xã thường xuyên triển khai các biện pháp chủ động phòng chống dịch còn chỉ đạo kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc giết mổ, vệ sinh thú y, khử trùng, tiêu độc trên địa bàn xã Theo số liệu điều tra chăn nuôi gia súc gia cầm
có bước phát triển khá, giá trị 2012 đạt 2,6 tỷ đồng so với năm 2007 tăng 135% Tổng đàn gia súc năm 2012 là 773 con trâu, bò, 3500 con lợn, đàn dê, thỏ, gia cầm cũng được chú trọng
Sau đổi điền, dồn thửa lần 2, có 245 hộ chuyển về một mảnh với mô hình kết hợp lúa- cá- vịt, hiện nay đưa lại thu nhập gấp 2 lần so với trồng lúa
Trang 23Bảng 2.1: Diện tích và sản lượng cây trồng của xã Vĩnh Tiến
STT Loại cây trồng Diện tích gieo trồng
(Nguồn: UBND xã Vĩnh Tiến 2012)
* Giao thông thủy lợi, phòng chống lụt bão: Đã tiến hành nạo vét
kênh mương nội đồng được 65.000m3
/ năm, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch là 130%
2.3.3.2 Sản xuất tiểu thủ công nghiệp - thương mại, dịch vụ
Năm 2012 đạt giá trị 44,68 tỷ đồng tăng 305% so với năm 2007 Tại xã
có 4 công ty, 3 doanh nghiệp Do vậy giá trị sản xuất đạt cao so với nhiều xã trong huyện
Công tác chi ngân sách đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa- xã hội, an ninh- quốc phòng trên địa bàn xã, các nhiệm vụ đột suất… đạt 100% kế hoạch
Các loại hình dịch vụ thương mại phát triển mạnh, rộng khắp trên địa bàn trong toàn xã, các loại hang hóa vật tư xây dựng, hàng tiêu dùng được cung ứng kịp thời phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân Quan tâm hướng dẫn để phát triển vận tải đường bộ, kể cả vận tải hàng hóa và vận tải hành khách
Năm 2012, các hoạt động kinh doanh, dịch vụ tiếp tục phát triển với số
hộ kinh doanh dịch vụ là 397 hộ, đáp ứng nhu cầu đời sống ngày càng cao của dân cư Mức luân chuyển hang hóa ước đạt 21 tỷ đồng
2.3.4 Văn hóa xã hội
Thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ quần chúng nhân dân Tập trung chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, phấn đấu đạt trên 80% gia đình là gia đình văn hóa Phát huy tác dụng của nhà văn hóa, tạo điều kiện cho các chi hội hoạt
Trang 24Thực hiện tốt các chính sách đối với người có công, người có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng bảo trợ xã hội, phát động hưởng ứng quỹ “ đền ơn đáp nghĩa” Thực hiện công tác chỉ trả lương hưu trợ cấp đảm bảo chu đáo, đúng chế độ Phối hợp tổ chức cho vay vốn quỹ quốc gia Vận động các cơ quan, đơn vị, các tầng lớp nhân dân trong xã ủng hộ đồng bào gặp bão lũ, khó khăn
2.3.5 Giáo dục- y tế
2.3.5.1 Về giáo dục
Thực hiện tốt cuộc vận động“ nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” các bậc học, nghành học tham gia hội thi giáo viên giỏi, kỳ thi học sinh giỏi cấp Tỉnh đạt kết quả tốt Năm 2012, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi học mẫu giáo là 97% “ đạt kế hoạch xã giao”, tỷ lệ học sinh tiểu học học đúng độ tuổi là 99,9%( thấp hơn 0,1% so với kế hoạch), tỷ lệ học sinh trung học cơ sở học đúng độ tuổi là 98,9%( thấp hơn 1,1% so với kế hoạch),
tỷ lệ học sinh tiểu học 2 buổi/ 1 ngày đạt 20,3%( thấp hơn 9,7% so với kế hoạch), tỷ lệ học sinh được xét tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 99,6%( vượt 1,6% so với kế hoạch), trong đó tỷ lệ khá giỏi là 62% Tỷ lệ học sinh được xét tốt nghiệp tiểu học đạt 100%, trong đó tỷ lệ giỏi là 88%, số học sinh giáo dục thường xuyên đạt 125% kế hoạch, số học viên đào tạo nghề đạt 101% so với
kế hoạch, xây dựng 03 trường chuẩn quốc gia
2.3.5.2 Về y tế:
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: thực hiện các biện pháp quyết liệt để ngăn chặn và khống chế các dịch bệnh như tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết,… tăng cường công tác quản lý hoạt động hành nghề y dược tư nhân, quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm
Duy trì công tác phát động toàn xã làm công tác vệ sinh môi trường, tiến hành phun thuốc diệt muỗi và côn trùng gây bệnh tại các công sở, đường làng ngõ xóm Thực hiện tốt các chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ từ 0- 60 tháng tuổi Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi theo cân nặng là 18,3%, theo chiều cao là 22,6%
Thường xuyên giám sát, kiểm tra các dịch vụ y tế tư nhân hướng dẫn hoạt động đúng theo quy định
Trang 25Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại nguồn, phù hợp với điều
kiện của địa phương
3.2 Đối tượng, phạm vi, thời gian
- Đối tượng: Chất thải rắn của hoạt động chế biến tinh bột sắn
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu một số tiêu chí
về các mảng phúc lợi xã hội và sinh thái nhân văn có liên quan chặt chẽ tới chất lượng dân số cũng như hiệu quả quản lý làng nghề( vệ sinh môi trường, chất lượng giáo dục, tình hình kinh tế,…)
- Thời gian: Tháng 2 năm 2017 đến tháng 5 năm 2017
3.3 Nội dung nghiên cứu
1 Nghiên cứu hiện trạng sản xuất làng nghề tại xã Vĩnh Tiến- huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa
2 Đánh giá hiện trạng CTR của làng nghề tại xã Vĩnh Tiến- huyện Vĩnh Lộc- tỉnh Thanh Hóa
3 Đánh giá hiệu quả quản lý CTR tại khu vực nghiên cứu
4 Đề xuất giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả quản lý CTR tại xã Vĩnh Tiến- huyện Vĩnh Lộc- tỉnh Thanh Hóa
Trang 263.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thông qua các cơ quan quản lý chuyên môn xã Vĩnh Tiến và huyện Vĩnh Lộc, (UBND xã, HTX sản xuất nông nghiệp, Ban quản lý làng nghề, UBND huyện, phòng Tài nguyên Môi trường, phòng NN&PTNT ) để thu thập các thông tin, số liệu về:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình sản xuất, chế biến của làng nghề chế biến tinh bột xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc
- Thực trạng môi trường do hoạt động sản xuất, chế biến tinh bột và công tác quản lý môi trường tại làng nghề xã Vĩnh Tiến (môi trường rác thải,
môi trường đất, nước , thực trạng công tác quản lý, xử lý chất thải )
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp qua phiếu điều tra
Công tác QLMT là một hoạt động mang tính xã hội cao, hiệu quả của công tác QLMT không chỉ phụ thuộc vào các nhà quản lý mà còn phụ thuộc rất lớn ở sự tham gia của cộng đồng địa phương Bên cạnh các phương pháp điều tra, thu thập số liệu truyền thống, khóa luận sử dụng phiếu điều tra như là một công cụ chủ đạo trong quá trình thu thập số liệu phục vụ cho nội dung nghiên cứu của khóa luận
Phiếu điều tra được chia làm 3 loại, được áp dụng cho 3 đối tượng: Các
hộ sản xuất, các hộ gia đình xung quanh và cán bộ quản lý Phiếu điều tra gồm các câu hỏi đã được soạn sẵn theo một trình tự nhất định Câu hỏi ở dạng sau:
- Câu hỏi mở: Câu hỏi tạo khả năng giao tiếp 2 chiều trong quá trình phỏng vấn Câu hỏi mở luôn tao cho người dân suy nghĩ cân nhắc để lựa chọn một câu trả lời tốt nhất, có thể giai thích kèm theo
- Câu hỏi gián tiếp: Loại câu hỏi này không đề cập trực tiếp đến vấn đề( nội dung) cần phỏng vấn mà được diễn tả theo một khía cạnh khác, từ đó người dân nắm bắt ý đồ để giải thích hơn là trả lời
- Câu hỏi “có” hay “không”: Loại câu hỏi này đã được định sẵn câu trả lời( có, không, không biết) và có thể có giải thích Nó giúp tiết kiệm thời gian, câu trả lời không bị lệch vấn đề, thuận tiện xử lý số liệu và thong tin thu được
Trang 27- Câu hỏi trợ giúp: Đây là các câu hỏi Cái gì? Ai? Ở đâu? Khi nào? Tại sao? Bao nhiêu? Như thế nào? Câu trả lời phụ thuộc vào người được phỏng vấn Thông tin thu được nói lên tâm tư, nguyện vọng của người được phỏng vấn Loại câu hỏi này được sử dụng để thu thập những ý kiến của người được phỏng vấn, những hoạt động mà họ tham gia, những lý do hạn chế sự tham gia của họ trong công tác QLMT Những ý kiến của họ nhằm giúp đưa ra các chương trình, chính sách giúp họ tham gia nhiều hơn vào hoạt động QLMT
Các thông tin thu thập gồm có tình hình sản xuất chế biến tinh bột sắn, nguồn phát thải, thực trạng môi trường (quy mô, sản lượng, công nghệ sản xuất, chất thải và ñánh giá về ô nhiễm môi trường )
3.4.3 Phương pháp phân tích
Từ những kết quả đã thu được, tổng hợp, phân tích để đánh giá được thực trạng phát sinh CTR tại địa phương, trong đó có CTR sinh hoạt và chất thải rắn do hoạt động chế biến tinh bột sắn và thực trạng công tác quản lý chất thải rắn ở địa phương; hiệu quả của phương pháp về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường, có sự so sánh hiệu quả trước và sau khi xây dựng giải pháp ví dụ:
về tổng lượng rác thải được thu gom, lượng rác được phân loại, thu hút nhân công lao động, hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội, môi trường,
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp
Trên cơ sở các số liệu điều tra, khảo sát thu thập được về hiện trạng môi trường làng nghề và công tác quản lý, xử lý trên địa bàn nghiên cứu, tiến hành tổng hợp và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel và phần mềm thống kê
mô tả
Trang 28Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Thực trạng sản xuất của làng nghề chế biến tinh bột sắn xã Vĩnh
Tiến- huyện Vĩnh Lộc- tỉnh Thanh Hóa
4.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của làng nghề
Làng nghề chế biến tinh bột sắn ở Vĩnh Tiến được hình thành từ những năm 80 chỉ với vài hộ gia đình Hiện nay, làng nghề chế biến tinh bột sắn ở xã Vĩnh Tiến là 58 hộ gia đình, công suất cũng biến động theo số hộ sản xuất nhưng trung bình nhỏ hơn 10 tấn tinh bột sắn/ngày Mỗi năm thải hàng nghìn tấn chất thải ra mương, cống, rãnh rồi xuống ao hồ, gây ô nhiễm môi trường trong khu vực Hàng năm làng nghề tiêu thụ hết hơn 100.000 tấn nguyên liệu (khoảng 55 nghìn tấn sắn củ; 20 nghìn tấn dong củ; 40 nghìn tấn bột sắn, dong, bột mì;…)
Bảng 4.1: Số hộ sản xuất qua các năm giai đoạn 2013- 2017
( Nguồn: UBND xã Vĩnh Tiến)
Trang 29Tuy nhiên, sự phát triển các làng nghề diễn ra một cách tự phát, quy mô sản xuất mở rộng tuỳ tiện, không có quy hoạch, công nghệ lạc hậu Tâm lý và thói quen sản xuất quy mô nhỏ, khép kín đã hạn chế việc đầu tư trang thiết bị
và đổi mới công nghệ dẫn đến hiệu quả sản xuất không cao, tiêu tốn lượng nguyên, nhiên liệu lớn, đồng thời thải ra môi trường một lượng lớn chất thải, đặc biệt là nước thải giàu chất hữu cơ Thêm vào đó do sản xuất quy mô nhỏ phân bố rải rác trên khắp địa bàn các làng xã gây phát sinh những nguồn thải phân tán, rất khó thu gom nên các chất thải hầu như không được xử lý đã gây ảnh hưởng đến môi trường toàn khu vực và các vùng lân cận Những hạn chế trên đã tác động không chỉ tới sự phát triển sản xuất mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng môi trường và sức khoẻ cộng đồng
Do đó, lượng bã thải phát sinh trong mùa vụ là rất lớn Với đặc trưng sản xuất theo mùa vụ, thời gian sản xuất kéo dài từ tháng 7, tháng 8 năm trước tới tháng 2, tháng 3 năm sau Trong đó, đầu vụ được tính là các tháng 7, 8, 9; tháng 10, 11, 12 được tính là giữa vụ, tháng 1, 2, 3 là các tháng cuối vụ Công suất tại các thời điểm là khác nhau Đầu vụ thường các hộ sản xuất với công suất nhỏ vì nguồn nguyên liệu còn ít, chưa ổn định, vào giữa vụ thì công suất tăng lên gấp nhiều lần, cuối vụ thì công suất cũng xấp xỉ như lúc đầu vụ Với một năm sản xuất, lượng bã thải trung bình mà thôn Phú Lĩnh xả thải là hàng nghìn tấn Đây là một con số rất lớn Do đó, lượng bã thải nếu không được thu gom triệt để thì dẫn tới tình trạng gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường
4.1.2 Hiện trạng công nghệ và thiết bị sản xuất
Cũng như các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, sản xuất và chế biến tinh bột có tỷ lệ cơ khí hóa rất thấp Do quy mô sản xuất nhỏ, vốn đầu tư còn hạn chế nên việc đầu tư cho thiết bị, nhất là việc sử dụng các thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất còn khó thực hiện Hai công đoạn được cơ khí hóa trong sản xuất tinh bột là rửa củ, bóc vỏ và xay nghiền Hơn thế nữa, các thiết
bị này đều là thiết bị được gia công hoặc cải tạo từ các thiết bị đã thải bỏ của