Được sự nhất trí của Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, Bộ môn Bảo vệ thực vật rừng, tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thành phần sâu hại Bồ đề và đề xuất biện pháp quản lý
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Khái quát về tính hình nghiên cứu côn trùng trên thế giới
Ngay từ khi loài người mới xuất hiện, đặc biệt từ khi con người biết trồng trọt và chăn nuôi họ đã thấy đƣợc sự phá hoại nhiều mặt của côn trùng Trong một cuốn sách cổ của Xêri viết vào năm 3000 TCN đã nói tới những cuộc bay khổng lồ và sự phá hoại rất lớn của những đàn châu chấu sa mạc
Trong các tác phẩm nghiên cứu của ông nhà triết học cổ Hy Lạp Aristoteles (384 – 322 TCN) đã hệ thống hóa đƣợc hơn 60 loài động vật chân có đốt
Nhà tự nhiên học vĩ đại người Thụy Điển Carlvon Linnes được coi là người đầu tiên đã đưa ra đơn vị phân loại và tập hợp xây dựng được một bảng phân loại về động vật và thực vật trong đó có côn trùng Sách phân loại thiên nhiên của ông đã đƣợc xuất bản tới 10 lần
Liên tiếp các thế kỉ sau nhƣ thế kỉ XIX có Lamarck, thế kỉ XX có Handlirich, Krepton 1904, Ma-tƣ-nốp 1928, Weber 1938 tiếp tục cho ra những bảng phân loại côn trùng của họ
Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới được thành lập ở nước Anh năm 1745.Hội côn trùng ở Nga đƣợc thành lập năm 1859.Nhà côn trùng Nga Keppen đã xuất bản cuốn sách gồm 3 tập về côn trùng lâm nghiệp trong đó đề
Năm 1910 – 1940 Volka và Sonkling đã xuất bản một tài liệu về côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng (Coleoptera) gồm 240.000 loài in trong 31 tập Trong đó đã đề cập đến hàng nghìn loài cánh cứng thuộc họ bọ lá Chrysomlidae
Năm 1948 A.I Ilinski đã xuất bản cuốn “Phân loại côn trùng bằng trứng, sâu non và nhộng của các loài sâu hại rừng” trong đó đề cập đến phân loại một số loài bọ lá Ở Rumani năm 1962 M.A Ionescu đã xuất bản cuốn “Côn trùng học” trong đó đề cập đến phân loại loài Họ Bọ lá Chrysomelidae Tác giả cho biết trên thế giới đã phát hiện đƣợc 24.000 loài bọ lá và tác giả đã miêu tả cụ thể đƣợc 14 loài
Năm 1966 Bey – Bienko đã phát hiện và mô tả đƣợc 300.000 loài côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng
Năm 1959 Trương Chấp Trung đã cho ra đời cuốn “Sâm lâm côn trùng học” Trong các tác phẩm đó đã giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều loại bọ lá phá hoại nhiều loại cây rừng
Năm 1978, Sở nghiên cứu động vật trường Đại học Nông nghiệp Triết Giang đã xuất bản cuốn “Hình vẽ côn trùng thiên địch” trong đó đề cập đến đặc điểm sinh học của một số loài ăn thịt
Năm 1987 Thái Bang Hoa và Cao Thu Lâm đã xuất bản cuốn “Côn trùng rừng Vân Nam” đã xây dựng bảng tra của 3 họ phụ và họ Bọ lá (Chrysomelidae) cụ thể họ phụ Chrysomelinae đã giới thiệu 35 loài, họ phụ Alticinae đã giới thiệu 39 loài, họ phụ Glirucinae đã giới thiệu 93 loài.
Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng ở Việt Nam
Trước năm 1954 nói chung là các công trình nghiên cứu về côn trùng ở nước ta còn rất ít Nổi bật là các công trình nghiên cứu sau: Năm 1897 đoàn nghiên cứu người Pháp “Mission parie” đã điều tra côn trùng Đông Dương trong đó có Việt Nam, đến năm 1904 công bố kết quả đã phát hiện đƣợc 1020 loài côn trùng trong đó có 541 loài bộ cánh cứng, 168 loài bộ cánh vẩy, 139 loài chuồn chuồn, 59 loài muỗi, 55 loài cánh màng, 9 loài bộ 2 cánh và 49 loài thuộc bộ khác
Năm 1921 Vitalis de Salvza chủ biên tập “Faune Entomologi que de L’indochine” đã công bố thu thập 3612 loài côn trùng Riêng miền Bắc Việt Nam có 1196 loài
Trong cuốn “Sâu hại rừng và cách phòng trừ” của tác giả Đặng Vũ Cẩn
1973 có giới thiệu một số loài sâu bọ hung hại lá bạch đàn là: Bọ hung nâu lớn, Bọ hung nâu xám bụng dẹt, Bọ hung nâu nhỏ sâu trưởng thành của các loài này thường sống trên cây bạch đàn
Trong giáo trình “Côn trùng lâm nghiệp” của tác giả Trần Công Loanh
(1989) có giới thiệu một loài Bọ ăn lá hồi (Oides decempunctaca) thuộc họ
Bọ lá (Chrysomelidea), bộ Cánh cứng (Coleoptera) Loài sâu này xuất hiện ở rừng Hồi ở Lạng Sơn nhất là 2 huyện Văn Lãng, Tràng Định khi phát dịch chúng đã ăn trụi lá hàng chục ha rừng hồi
Trong cuốn “Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp” của các tác giả Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão (2001) đƣa ra các phương pháp về điều tra đánh giá và dự tính dự báo khả năng phát dịch sâu hại
Năm 2009 – 2011, Nguyễn Thế Nhã đã xác định đƣợc 4 loài sâu ăn lá Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana) tại khu nghiên cứu Đông Bắc Loài gây hại nhiều nhất là loài Sâu róm 4 túm lông (Dasychira axutha) thuộc họ Ngài độc
Trong cuốn “Sâu, bệnh hại cây Bạch đàn và Keo” Phạm Quang Thu đã đề cập đến một số loài sâu hại cây Bạch đàn, Keo và đƣa ra một số biện pháp phòng trừ sâu hại trên hai loại cây này
Ngoài ra còn rất nhiều nghiên cứu về sâu hại các loài cây đã đƣợc thực hiện và xuất bản khác.
Cây Bồ đề và tình hình nghiên cứu sâu hại cây Bồ đề
1.3.1 Thông tin chung về cây Bồ đề
Bồ đề (Styrax tonkinensis) là cây gỗ trung bình, cao 18 – 20m, có thể trên 20m, đường kính ngang ngực 20 – 25cm Thân cây màu trắng, tương đối tròn, vỏ mỏng Tán cây mỏng và thƣa
Bồ đề là loài cây đặc hữu, mọc phổ biến ở miền Bắc trong rừng lá rộng thường xanh bị phá tán hoặc rừng gỗ xem Tre, Vầu, Nứa Phân bố tương đối rộng ở nhiều vùng thuộc miền núi phía Bắc Bồ đề đƣợc trồng nhiều ở vùng Trung tâm Bắc Bộ
1.3.2 Những nghiên cứu về sâu hại cây Bồ đề
Thành phần hại cây Bồ đề không nhiều, nhưng cây Bồ đề thường bị hại bởi loài sâu xanh ăn lá, gây trụi nhiều cánh rừng lớn ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của rừng
Trong cuốn “Côn trùng rừng” của tác giả Trần Công Loanh và Nguyễn Thế Nhã xuất bản năm 1997 đã nghiên cứu loài sâu hại cây Bồ đề là Sâu xanh ăn lá Bồ đề
Sâu Xanh bồ đề (Fentonia sp.) lần đầu tiên đƣợc nghiên cứu hoàn chỉnh ở Việt Nam của tác giả Lê Nam Hùng
1.3.3 Tình hình sâu hại cây Bồ đề
1.3.3.1 Tình hình sâu hại trên cả nước
Theo Trạm Bảo vệ thực vật Lục Yên (Yên Bái) cho biết, loại sâu hại bồ đề là sâu khoang với sâu xanh với diện tích nhiễm tăng từ 5ha lên tới gần 20ha chỉ trong vòng 1 tuần
Sâu lạ phá hơn 100ha rừng cây bồ đề ở Lào Cai, hơn 100ha rừng cây bồ đề ở xã Bảo Yên đã bị một loại sâu lạ tàn phá nặng nề
1.3.3.2 Tình hình sâu hại Bồ đề tại khu vực nghiên cứu
Theo báo cáo Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Phú Thọ thì Sâu xanh hại lá xuất hiện trên các rừng Bồ đề 3 – 5 tuổi tại các xã Kim Thƣợng, Xuân Đài, Long Cốc, Đồng Sơn Mật độ sâu non trung bình 5 – 10 (con/cây); cao từ 20 –
30 (con/cây) Tỷ lệ lá hại trung bình 15 – 20%; cao 30 – 45% Diện tích bị sâu hại khoảng 497ha / 766ha Trong đó diện tích nhiễm trung bình là 222ha, nhiễm nặng là 275ha
Trong 2 năm 2011 và 2012, dịch sâu hại Bồ đề đã làm thiệt hại lớn cho người dân tại địa phương, gây hoang mang lo sợ về trận dịch lớn sẽ xảy ra.Vì vậy, các ban nghành liên quan cùng với người dân cần phải có biện pháp quản lý sâu hại một cách thích hợp.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu
- Xác định đƣợc thành phần và đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài sâu hại cây Bồ đề
- Đề xuất đƣợc các biện pháp phòng trừ tổng hợp các loài sâu hại chính
2.2 Đối tƣợng, địa điểm nghiên cứu
- Đối tƣợng: Các loài sâu hại chính trên cây Bồ đề
- Địa điểm nghiên cứu: Vườn Quốc gia Xuân Sơn – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
- Xác định thành phần và phân bố của các loài sâu hại cây Bồ đề
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài sâu hại chính
- Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ đối với các loài sâu hại chính
- Đề xuất các biện pháp quản lí sâu hại cây Bồ đề
- Thu thập các số liệu liên quan nhƣ: bản đồ khu vực, số liệu sâu hại các năm trước, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, lịch sử rừng trồng
- Chuẩn bị dụng cụ: Lọ đựng mẫu, dao, bẫy đèn bắt bướm, mẫu biểu điều tra và phỏng vấn, cuốc, dây căng, thước dây…
- Các tài liệu có liên quan đến sâu hại cây Bồ đề để nhận biết các loài sâu hại cây bồ đề
Tiến hành điều tra sơ bộ để nắm đƣợc khái quát tình hình sâu hại tại khu vực điều tra từ đó làm cơ sở cho các công tác điều tra tỉ mỉ sau này
2.4.2.1 Lập và bố trí ô tiêu chuẩn Ô tiêu chuẩn cần phải có diện tích, số lƣợng đủ lớn, các đặc điểm về đất đai, địa hình, thảm thực vật,… phải đại diện cho khu vực cần điều tra
Số lƣợng ô tiêu chuẩn cần lập phụ thuộc vào diện tích khu vực cần nghiên cứu, 10-15 ha cần 1 ô tiêu chuẩn, diện tích từ 500-2500m 2 sao cho mỗi ô có > 100 cây
Số lƣợng ô tiêu chuẩn: dựa vào diện tích của khu vực nghiên cứu và thời gian tôi tiến hành điều tra 06 ô tiêu chuẩn trên 2 hướng khác nhau là Đông Bắc và Tây Bắc
Sau khi thiết lập ô tiêu chuẩn chúng ta cần điều tra các đặc điểm cơ bản như: độ dốc, hướng dốc, thảm thực vật, số cây, tàn che…
Các số liệu điều tra được ghi vào biểu dưới đây:
Biểu 01: Đặc điểm các ô tiêu chuẩn Đặc điểm
Vị trí OTC Chân Sườn Đỉnh Sườn Chân Đỉnh
Thực bì Cỏ ranh, mua, cây phân xanh Đất Feralit đỏ vàng
2.4.2.2 Lựa chọn cây tiêu chuẩn và xác định các chỉ tiêu trên cây tiêu chuẩn
Chọn cây tiêu chuẩn: Rừng trồng bồ đề theo hàng nên tôi chọn cây tiêu chuẩn trong ô tiêu chuẩn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, cứ cách một hàng điều tra một hàng, trong hàng cứ năm cây điều tra một cây Mỗi ô tiêu chuẩn điều tra 10 cây
Các công việc chủ yếu sau khi chọn cây tiêu chuẩn:
- Tiến hành đánh dấu cây tiêu chuẩn bằng sơn
- Đo các chỉ tiêu sinh trưởng của cây như D1,3, Hvn…
- Thực hiện các nội dung theo thứ tự điều tra sâu bệnh hại lá; điều tra sâu bệnh hại thân cành ngọn, điều tra mức độ gây hại và điều tra sâu bệnh hại rễ a Điều tra sâu hại lá
Trên 4 cành tiêu chuẩn đã chọn của cây tiêu chuẩn, tiến hành quan sát đếm số lƣợng cá thể của từng loại sâu hại mỗi cành theo các giai đoạn phát triển của chúng Kết quả thu đƣợc ghi vào biểu 02
Biểu 02: Điều tra số lƣợng chất lƣợng sâu hại lá
Số hiệu OTC:………… Loài cây:…………
Ngày điều tra:……… Tuổi cây:…………
Trứng Sâu non các tuổi Nhộng Sâu trưởng thành
… b Điều tra mức độ gây hại của sâu ăn lá
Trong mỗi cây tôi chọn 4 cành để điều tra, ở mỗi cành tôi chọn 6 lá để điều tra.Ngắt 2 lá ở phần gốc cành, 2 là phần giữa cành, 2 lá ở phần đầu ngọn cành để điều tra.Việc phân cấp lá bị sâu hại dựa vào diện tích lá bị hại
Kết quả thu đƣợc ghi vào biểu sau:
Biểu 03: Đánh giá mức độ hại lá của sâu ăn lá
Số lá bị hại ở các cấp Chỉ số bị hại R%
… c Điều tra sâu hại thân và xung quanh gốc
Trên những cành của cây điều tra tôi dựa vào các dấu vết và các triệu chứng để tính tổng số cành, số ngọn bị hại so với toàn bộ số cành và số ngọn điều tra.Đối với sâu hại thân thì tổng số cây bị hại so với tổng số cây điều tra.Sau đó dừng dao cắt tất cả các cành hoặc ngọn bị hại rồi chẻ ra để bắt các loài sâu hại để điều tra
Kết quả thu đƣợc ghi vào biểu sau:
Biểu 04: Điều tra sâu hại thân và xung quanh gốc cây
Số hiệu OTC:………… Loài cây:………
Ngày điều tra:………… Tuổi cây:………
Trứng Sâu non các tuổi Nhộng Sâu trưởng thành
1 d Điều tra sâu hại dưới đất Để điều tra thành phần,số lượng và sự phân bố của các loài sâu hại dưới đất tôi tiến hành lập 5 ô dạng bản có diện tích 1 m 2 , vị trí nằm ở 4 góc của OTC và 1 ô dạng bản nằm ở giữa OTC Khi xác định xong vị trí của các ô dạng bản, trước hết dùng tay bới lớp cỏ, thảm mục trên bề mặt, vừa bới vừa nhổ hết cỏ của lớp bề mặt để tìm kiếm các loài côn trùng, sau đó dùng cuốc cuốc từng lớp đất, mỗi lớp sâu 10cm, đất ở mỗi lớp đƣợc đƣa về mỗi phía Cuốc đến đâu dùng tay bóp nhẹ lớp đất để tìm kiếm các loài côn trùng, cứ nhƣ vậy cho tới khi không có sâu nữa thì thôi
Kết quả thu đƣợc ghi vào mẫu biểu sau:
Mẫu biểu 05: Điều tra sâu dưới đất
STT ô dạng bản Độ sâu lớp đất
Số lƣợng sâu hại Động vật khác
2.4.2.3 Phương pháp thu bắt, xử lý mẫu và giám định mẫu
- Vị trí thu bắt mẫu: tôi tiến hành thu bắt sâu hại trên cây Bồ đề và trên cây bụi thảm tươi trong OTC, thu bắt trên 5 ô dạng bản trong từng OTC
- Cách thu bắt: Đối với loài bướm dùng vợt bắt, loài sâu hại trên cây nhảy tiến hành bắt bằng tay, sâu dưới đất dùng cuốc đào
- Đối với pha sâu non, trứng, nhộng khó nhận biết trực tiếp: Bắt sống và nuôi Việc nuôi sâu thuận lợi cho giám định sâu
- Đối với pha trưởng thành của côn trùng bộ cánh vẩy thì xử lý thành tiêu bản và ghim lại vào tấm xốp sau đó phơi
- Sau đó chụp ảnh mẫu thu đƣợc trong OTC để có ảnh trong bộ cơ sở dữ liệu về sâu hại cây Bồ đề
- Mẫu sau khi xử lý sẽ đƣợc giám định bởi các thầy cô trong bộ môn Bảo vệ thực vật rừng
- Mẫu đƣợc giám định dựa vào một số tài liệu về các loại côn trùng hại cây Bồ đề
2.4.2.4 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái của các loài sâu hại cây Bồ đề
- Kế thừa tài liệu: Đối với các loài đã biết
- Phỏng vấn: Phỏng vấn cản bộ quản lý rừng tại xã Kim Thƣợng và người dân xung quanh để có được thông tin cơ bản về các loài sâu hại chính
2.4.2.5 Phương pháp thử nghiệm các biện pháp phòng trừ
Cơ sở tiến hành thử nghiệm các biện pháp phòng trừ trong đề tài này bao gồm:
- Sử dụng phương pháp phân tích kết quả điều tra và điều kiện áp dụng các biện pháp để tiến hành phòng trừ sâu hại thích hợp nhất
- Căn cứ vào đặc điểm sinh học, sinh thái, đặc điểm và tập tính của loài sâu hại rồi đƣa ra biện pháp phòng trừ
- Thí nghiệm một số biện pháp phòng trừ cơ bản Tiến hành lập các ô thí nghiệm biện pháp, phân tích kết quả điều tra sâu, kết hợp với phỏng vấn a Sử dụng bẫy đèn Để tiến hành thử nghiệm biện pháp phòng trừ bằng bẫy đèn tôi đã sử dụng 1 bẫy đèn là đèn dầu để bắt bướm, tiến hành vào chiều tối và thu lại kết quả vào sáng hôm sau
Hình 2.1 Bẫy đèn dùng để bắt sâu trưởng thành b Sử dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh
Tôi chọn 02 ô tiêu chuẩn có cách thức chăm sóc khác nhau, cụ thể một ô đƣợc áp dụng biện pháp chăm sóc đó là cuốc xới, vun gốc, ô còn lại không áp dụng biện pháp tác động dùng để làm ô đối chứng Ở ô tiêu chuẩn áp dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh tôi lựa chọn ngẫu nhiên cây trong ô và tiến hành các biện pháp nhƣ cuốc xới và vun gốc với bán kính quanh gốc cây là 50cm Ở ô tiêu chuẩn dùng để đối chứng tôi cũng tiến hành chọn cây ngẫu nhiên sau đó đánh dấu lại để dễ dàng nhận biết trong các đợt điều tra sâu hại c Biện pháp vật lý cơ giới
Là biện pháp dùng trực tiếp sức người hay các phương tiện để tiêu diệt sâu hại Phương pháp này bao gồm việc bắt giết, dẫn dụ sâu, ngăn chặn sâu…
Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm về phía Tây của huyện Tân Sơn, trên vùng tam giác ranh giới giữa 3 tỉnh: Phú Thọ, Hòa Bình và Sơn La
- Từ 21º03’ đến 21º12’ vĩ độ Bắc
- Từ 104º51’ đến 105º01’ kinh độ Đông
* Ranh giới Vườn quốc gia:
- Phía Bắc giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
- Phía Nam giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình;
- Phía Tây giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La;
- Phía Đông giáp xã Tân Phú, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Địa hình Vườn quốc gia Xuân Sơn có độ dốc lớn với nhiều chỗ dốc, núi đất xen núi đá vôi, cao dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc
- Kiểu địa hình núi trung bình, độ cao ≥ 700m, chiếm khoảng 30% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, cao nhất là đỉnh núi Voi 1.386m, núi Ten 1.244m, núi Cẩn 1.144m
- Kiểu địa hình thấp và đồi, độ cao < 700m, chiếm khoảng 65% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, phần lớn là các dãy núi đất, có xen lẫn địa hình caster, phân bố phía Đông và Đông Nam Vườn, độ dốc trung bình từ 25º - 30º, độ cao trung bình 400m
- Địa hình thung lung, lòng chảo và dốc tụ, chiếm khoảng 5% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, nằm xen giữa các dãy núi thấp và trung bình, phần lớn diện tích này đang đƣợc sử dụng canh tác nông nghiệp
3.1.3 Địa chất, đất đai nhà địa chất gọi đây là vùng đồi núi thấp song Mua.Toàn vùng có cấu trúc dạng phức nếp lồi.Nham thạch gồm nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen kẽ thành các dải nhỏ hẹp
- Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FeH): Phân bố từ 700 – 1368m, tập trung ở phía Tây của Vườn, giáp với huyện Đà Bắc ( tỉnh Hòa Bình), huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La)
- Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp (Fe): Phân bố dưới
700m, thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày, ít đá lẫn, đất khá màu mỡ, thích hợp cho các loài cây lâm nghiệp phát triển
- Đất Rangin ( còn gọi là đất hình thành trong vùng núi đá vôi): Đá vôi là loại đá cứng, khó phong hóa, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hóa đến đâu lại bị rửa trôi đến đó, nên đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc dưới chân núi đá
- Đất dốc tụ và phù sa song suối trong các bồn địa và thung lung( DL):
Là loại đất phì nhiêu, tầng dày, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là limon Hàng năm thường được bồi them một lớp phù sa mới khá màu mỡ
- Theo tài liệu quan trắc khí tƣợng thủy văn của trạm khí tƣợng Minh Đài và Thanh Sơn, khí hậu tại khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt đó là mùa mƣa và mùa khô
- Mùa mƣa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 90% tổng lƣợng mƣa cả năm, tháng có lƣợng mƣa cao nhất là thang 8,9 hàng năm Lƣợng mƣa bình quân cả năm là 1.826mm, lƣợng mƣa cực đại có thể tới 2.453mm (năm
- Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ xuống thấp, lượng mưa ít và có nhiều sương mù
- Nhiệt độ trung bình cả năm là 22,5ºC; nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối vào các tháng 6 và 7 hàng năm, có khi lên tới 40,7ºC; nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối xảy ra vào tháng 11 đến tháng 2 năm sau, có khi xuống tới 0,5ºC
- Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 86%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 7,8 (trên 87%) thấp nhất vào tháng 1,2 (65%)
- Vườn quốc gia Xuân Sơn có các hệ thống suối như: Suối Thân; Suối Thang; Suối Chiềng các suối này đổ ra hệ thống Sông Vèo và Sông Dày Hai sông này hợp lưu tại Minh Đài, rồi đổ vào sông Hồng tại Phong Vực Tông chiều dài của sông 120km, chiều rộng trung bình 150m, thuận lợi cho việc vận chuyển đường thủy từ thượng nguồn về sông Hồng
3.1.5 Thảm thực vật, động vật
- Theo hệ thống phân loại Thảm Thực vật Việt Nam của GS-TS Thái Văn Trừng, thì rừng ở đây thuộc kiểu “Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới” với các kiểu chính là:
+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp: Phân bố ở độ cao dưới 700m Kiểu rừng này phân bố thành mảng lớn tại khu vực phía Đông và phía Nam của Vườn Đây là kiểu rừng đã bị tác động nhưng vẫn giữ đƣợc cấu trúc nguyên sinh
+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới: Phân bố ở độ cao từ
700 – 1386m Kiểu rừng này bao phủ phần trên của núi Voi, núi Ten, núi Cẩn và phía Tây của Vườn
Bảng 3.1: Thành phần động vật Vườn quốc gia Xuân Sơn
Lớp Số bộ Số họ Số loài
- Trong số các loài động vật có tên trong danh mục đã xác định đƣợc 51 loài động vật quý hiếm, trong đó:
+ 22 loài thú có tên trong Sách đỏ Việt Nam ( năm 2207), có 2 loài ở thứ hạng cực kì nguy cấp (CR), 8 loài ở thứ hạng nguy cấp (EN) và 12 loài ở thứ hạng đang bị đe dọa (VU)
+ 9 loài chim, trong đó có 1 loài ở thứ hạng đang bị đe dọa (VU)
+ 9 loài bò sát trong đó có 2 loài ở thứ hạng cực kì nguy cấp (CR), 4 loài nguy cấp (EN) và 2 loài đang bị đe dọa (VU)
3.2 Đặc điểm về dân cƣ – kinh tế
Đặc điểm các ô tiêu chuẩn
Vị trí OTC Chân Sườn Đỉnh Sườn Chân Đỉnh
Thực bì Cỏ ranh, mua, cây phân xanh Đất Feralit đỏ vàng
2.4.2.2 Lựa chọn cây tiêu chuẩn và xác định các chỉ tiêu trên cây tiêu chuẩn
Chọn cây tiêu chuẩn: Rừng trồng bồ đề theo hàng nên tôi chọn cây tiêu chuẩn trong ô tiêu chuẩn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, cứ cách một hàng điều tra một hàng, trong hàng cứ năm cây điều tra một cây Mỗi ô tiêu chuẩn điều tra 10 cây
Các công việc chủ yếu sau khi chọn cây tiêu chuẩn:
- Tiến hành đánh dấu cây tiêu chuẩn bằng sơn
- Đo các chỉ tiêu sinh trưởng của cây như D1,3, Hvn…
- Thực hiện các nội dung theo thứ tự điều tra sâu bệnh hại lá; điều tra sâu bệnh hại thân cành ngọn, điều tra mức độ gây hại và điều tra sâu bệnh hại rễ a Điều tra sâu hại lá
Trên 4 cành tiêu chuẩn đã chọn của cây tiêu chuẩn, tiến hành quan sát đếm số lƣợng cá thể của từng loại sâu hại mỗi cành theo các giai đoạn phát triển của chúng Kết quả thu đƣợc ghi vào biểu 02.
Điều tra số lƣợng chất lƣợng sâu hại lá
Số hiệu OTC:………… Loài cây:…………
Ngày điều tra:……… Tuổi cây:…………
Trứng Sâu non các tuổi Nhộng Sâu trưởng thành
… b Điều tra mức độ gây hại của sâu ăn lá
Trong mỗi cây tôi chọn 4 cành để điều tra, ở mỗi cành tôi chọn 6 lá để điều tra.Ngắt 2 lá ở phần gốc cành, 2 là phần giữa cành, 2 lá ở phần đầu ngọn cành để điều tra.Việc phân cấp lá bị sâu hại dựa vào diện tích lá bị hại
Kết quả thu đƣợc ghi vào biểu sau:
Đánh giá mức độ hại lá của sâu ăn lá
Số lá bị hại ở các cấp Chỉ số bị hại R%
… c Điều tra sâu hại thân và xung quanh gốc
Trên những cành của cây điều tra tôi dựa vào các dấu vết và các triệu chứng để tính tổng số cành, số ngọn bị hại so với toàn bộ số cành và số ngọn điều tra.Đối với sâu hại thân thì tổng số cây bị hại so với tổng số cây điều tra.Sau đó dừng dao cắt tất cả các cành hoặc ngọn bị hại rồi chẻ ra để bắt các loài sâu hại để điều tra
Kết quả thu đƣợc ghi vào biểu sau:
Điều tra sâu hại thân và xung quanh gốc cây
Số hiệu OTC:………… Loài cây:………
Ngày điều tra:………… Tuổi cây:………
Trứng Sâu non các tuổi Nhộng Sâu trưởng thành
1 d Điều tra sâu hại dưới đất Để điều tra thành phần,số lượng và sự phân bố của các loài sâu hại dưới đất tôi tiến hành lập 5 ô dạng bản có diện tích 1 m 2 , vị trí nằm ở 4 góc của OTC và 1 ô dạng bản nằm ở giữa OTC Khi xác định xong vị trí của các ô dạng bản, trước hết dùng tay bới lớp cỏ, thảm mục trên bề mặt, vừa bới vừa nhổ hết cỏ của lớp bề mặt để tìm kiếm các loài côn trùng, sau đó dùng cuốc cuốc từng lớp đất, mỗi lớp sâu 10cm, đất ở mỗi lớp đƣợc đƣa về mỗi phía Cuốc đến đâu dùng tay bóp nhẹ lớp đất để tìm kiếm các loài côn trùng, cứ nhƣ vậy cho tới khi không có sâu nữa thì thôi
Kết quả thu đƣợc ghi vào mẫu biểu sau:
Mẫu biểu 05: Điều tra sâu dưới đất
STT ô dạng bản Độ sâu lớp đất
Số lƣợng sâu hại Động vật khác
2.4.2.3 Phương pháp thu bắt, xử lý mẫu và giám định mẫu
- Vị trí thu bắt mẫu: tôi tiến hành thu bắt sâu hại trên cây Bồ đề và trên cây bụi thảm tươi trong OTC, thu bắt trên 5 ô dạng bản trong từng OTC
- Cách thu bắt: Đối với loài bướm dùng vợt bắt, loài sâu hại trên cây nhảy tiến hành bắt bằng tay, sâu dưới đất dùng cuốc đào
- Đối với pha sâu non, trứng, nhộng khó nhận biết trực tiếp: Bắt sống và nuôi Việc nuôi sâu thuận lợi cho giám định sâu
- Đối với pha trưởng thành của côn trùng bộ cánh vẩy thì xử lý thành tiêu bản và ghim lại vào tấm xốp sau đó phơi
- Sau đó chụp ảnh mẫu thu đƣợc trong OTC để có ảnh trong bộ cơ sở dữ liệu về sâu hại cây Bồ đề
- Mẫu sau khi xử lý sẽ đƣợc giám định bởi các thầy cô trong bộ môn Bảo vệ thực vật rừng
- Mẫu đƣợc giám định dựa vào một số tài liệu về các loại côn trùng hại cây Bồ đề
2.4.2.4 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái của các loài sâu hại cây Bồ đề
- Kế thừa tài liệu: Đối với các loài đã biết
- Phỏng vấn: Phỏng vấn cản bộ quản lý rừng tại xã Kim Thƣợng và người dân xung quanh để có được thông tin cơ bản về các loài sâu hại chính
2.4.2.5 Phương pháp thử nghiệm các biện pháp phòng trừ
Cơ sở tiến hành thử nghiệm các biện pháp phòng trừ trong đề tài này bao gồm:
- Sử dụng phương pháp phân tích kết quả điều tra và điều kiện áp dụng các biện pháp để tiến hành phòng trừ sâu hại thích hợp nhất
- Căn cứ vào đặc điểm sinh học, sinh thái, đặc điểm và tập tính của loài sâu hại rồi đƣa ra biện pháp phòng trừ
- Thí nghiệm một số biện pháp phòng trừ cơ bản Tiến hành lập các ô thí nghiệm biện pháp, phân tích kết quả điều tra sâu, kết hợp với phỏng vấn a Sử dụng bẫy đèn Để tiến hành thử nghiệm biện pháp phòng trừ bằng bẫy đèn tôi đã sử dụng 1 bẫy đèn là đèn dầu để bắt bướm, tiến hành vào chiều tối và thu lại kết quả vào sáng hôm sau
Hình 2.1 Bẫy đèn dùng để bắt sâu trưởng thành b Sử dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh
Tôi chọn 02 ô tiêu chuẩn có cách thức chăm sóc khác nhau, cụ thể một ô đƣợc áp dụng biện pháp chăm sóc đó là cuốc xới, vun gốc, ô còn lại không áp dụng biện pháp tác động dùng để làm ô đối chứng Ở ô tiêu chuẩn áp dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh tôi lựa chọn ngẫu nhiên cây trong ô và tiến hành các biện pháp nhƣ cuốc xới và vun gốc với bán kính quanh gốc cây là 50cm Ở ô tiêu chuẩn dùng để đối chứng tôi cũng tiến hành chọn cây ngẫu nhiên sau đó đánh dấu lại để dễ dàng nhận biết trong các đợt điều tra sâu hại c Biện pháp vật lý cơ giới
Là biện pháp dùng trực tiếp sức người hay các phương tiện để tiêu diệt sâu hại Phương pháp này bao gồm việc bắt giết, dẫn dụ sâu, ngăn chặn sâu…
Tôi chọn 2 ô tiêu chuẩn nhƣ nhau, cụ thể một ô đƣợc áp dụng biện pháp bắt giết, ô còn lại không tác động dùng để đối chứng Ở ô thí nghiệm tôi tiến hành biện pháp vật lý cơ giới, tiến hành điều tra cây tiêu chuẩn sau đó bắt giết sâu hại trên cây điều tra Ở ô tiêu chuẩn dùng để đối chứng tôi cũng tiến hành chọn cây ngẫu nhiên sau đó đánh dấu lại để dễ dàng nhận biết trong các đợt điều tra sâu hại d Biện pháp hóa học
Biện pháp này chính là sử dụng các chất hóa học để tiêu diệt sâu hại, biện pháp này khá đơn giản, hữu hiệu, hiệu lực diệt sâu cao Các biện pháp sử dụng nhƣ phun thuốc vào gốc cây, bả độc, vòng độc… Đối với loài sâu xanh ăn lá bồ đề thì phun thuốc Neretox trộn với vôi bột sau đó phun cho 30 cây tiêu chuẩn của ô thí nghiệm còn ô đối chứng thì không phun Sau thời gian 5 ngày và 10 ngày kiểm tra số lần xuất hiện của sâu trên những cây đã phun Đối với loài bọ hung nâu lớn thì dùng thuốc bột thấm nước Depterex phun vào gốc cây
2.4.2.6 Phương pháp xử lí số liệu a Tính mật độ
Tính mật độ sâu hại theo công thức sau:
Trong đó: M: Là mật độ sâu hại trong OTC hoặc ô dạng bản ai: Là số lƣợng sâu hại cố trên cây điều tra thứ i hoặc ô dạng bản thứ i
N: Là tổng số cây điều tra hoặc tổng số ô dạng bản b Tỉ lệ có sâu
Trong đó: n: Là số cây hoặc số ô dạng bản có loài sâu hại cần tính
N: Tổng số cây điều tra hoặc ô dạng bản điều tra
Nếu giá trị của P% > 50% thì loài đó phân bố đều
Nếu giá trị của P% 25-50% loài đó phân bố không đều
Nếu gia trị của P% < 50% thì loài đó phân bố ngẫu nhiên c Tính mức độ hại lá
∑ vi: là trị số cấp hại i N: là tổng số lá quan sát của 1 cây V: là trị số cấp hại cao nhất ( V = 4 ) Nếu R% ≤ 25%: Bị hại nhẹ
Nếu R% 26-50%: Lá bị hại vừa
Nếu R% 51-75%: Lá bị hại nặng
Nếu R% > 75%: Lá bị hại rất nặng
2.4.2.7 Phương pháp đề xuất các biện pháp phòng trừ
Dựa vào đặc điểm sinh học và tập tính của loài sâu hại chính, điều kiện cơ bản nhất của khu vực nghiên cứu có thể đề xuất các biện pháp phòng trừ hợp lý nhất
Biện pháp phòng trừ nên đơn giản, dễ thực hiện và phù hợp với điều kiện của người dân tại khu vực nghiên cứu
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm về phía Tây của huyện Tân Sơn, trên vùng tam giác ranh giới giữa 3 tỉnh: Phú Thọ, Hòa Bình và Sơn La
- Từ 21º03’ đến 21º12’ vĩ độ Bắc
- Từ 104º51’ đến 105º01’ kinh độ Đông
* Ranh giới Vườn quốc gia:
- Phía Bắc giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
- Phía Nam giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình;
- Phía Tây giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La;
- Phía Đông giáp xã Tân Phú, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Địa hình Vườn quốc gia Xuân Sơn có độ dốc lớn với nhiều chỗ dốc, núi đất xen núi đá vôi, cao dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc
- Kiểu địa hình núi trung bình, độ cao ≥ 700m, chiếm khoảng 30% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, cao nhất là đỉnh núi Voi 1.386m, núi Ten 1.244m, núi Cẩn 1.144m
- Kiểu địa hình thấp và đồi, độ cao < 700m, chiếm khoảng 65% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, phần lớn là các dãy núi đất, có xen lẫn địa hình caster, phân bố phía Đông và Đông Nam Vườn, độ dốc trung bình từ 25º - 30º, độ cao trung bình 400m
- Địa hình thung lung, lòng chảo và dốc tụ, chiếm khoảng 5% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, nằm xen giữa các dãy núi thấp và trung bình, phần lớn diện tích này đang đƣợc sử dụng canh tác nông nghiệp
3.1.3 Địa chất, đất đai nhà địa chất gọi đây là vùng đồi núi thấp song Mua.Toàn vùng có cấu trúc dạng phức nếp lồi.Nham thạch gồm nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen kẽ thành các dải nhỏ hẹp
- Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FeH): Phân bố từ 700 – 1368m, tập trung ở phía Tây của Vườn, giáp với huyện Đà Bắc ( tỉnh Hòa Bình), huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La)
- Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp (Fe): Phân bố dưới
700m, thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày, ít đá lẫn, đất khá màu mỡ, thích hợp cho các loài cây lâm nghiệp phát triển
- Đất Rangin ( còn gọi là đất hình thành trong vùng núi đá vôi): Đá vôi là loại đá cứng, khó phong hóa, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hóa đến đâu lại bị rửa trôi đến đó, nên đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc dưới chân núi đá
- Đất dốc tụ và phù sa song suối trong các bồn địa và thung lung( DL):