Với thành phần dân tộc chủ yếu là Mường đời sống của người dân địa phương phần lớn dựa vào chính là nguồn tài nguyên rừng, với những tập quán truyền thống như canh tác nương rẫy, du canh
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp để đủ điều kiện ra trường tôi luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệt tình quý báu của các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cơ quan,
tổ chức và cá nhân:
Ban chủ nhiệm khoa, Ban giám hiệu trường đại học Lâm Nghiệp và toàn thể các thầy cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận
Thầy giáo Ths Đỗ Quang Huy, giáo viên hướng dẫn trực tiếp để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Ban quản lý KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông, Ủy ban nhân dân và cộng đồng địa phương tại xã Ngọc Sơn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện khóa luận
Do còn nhiều hạn chế về thời gian, nhân lực, tài chính và điều kiện nghiên cứu nên chắc chắn khóa luận còn nhiều thiếu sót Tôi mong muốn nhận được những đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học để bài khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Ngọc Liên
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH v
DANH LỤC TỪ VIẾT TẮT vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.2 Ở Việt Nam 5
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10 2.1 Mục tiêu nghiên cứu 10
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 10
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 10
2.2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 10
2.3 Đối tượng, giới hạn và phạm vi nghiên cứu 11
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.3.2 Phạm vi nghiên cứu 11
2.4 Nội dung nghiên cứu 11
2.5 Phương pháp nghiên cứu 11
2.5.1 Phương pháp luận 11
2.5.1.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống 11
2.5.1.2 Quan điểm sinh thái - nhân văn 13
2.5.1.3 Quan điểm bảo tồn - phát triển 14
2.5.1.4 Tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu 14
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu 15
Trang 32.5.2.1 Thu thập các tài liệu thứ cấp 15
2.5.2.2 Thu thập thông tin và số liệu điều tra hiện trường 16
2.5.3 Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu 17
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 18
3.1 Điều kiện tự nhiên 18
3.1.1 Vị trí địa lí 18
3.1.2 Địa hình 18
3.1.3 Điều kiện khí hậu 18
3.1.3.1 Khí hậu 18
3.1.3.2 Thuỷ văn 19
3.1.4 Tình hình dân sinh, kinh tế xã hội 20
3.1.4.1 Dân số, dân tộc và lao động 20
3.1.4.2 Tình hình sản xuất, đời sống, thu nhập 20
3.1.4.3 Cơ sở hạ tầng hiện có 21
3.2 Thuận lợi, khó khăn 22
3.3 Đặc điểm tài nguyên rừng và công tác quản lý bảo vệ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, tỉnh Hòa Bình 23
3.3.1 Diện tích các loại rừng 23
3.3.2 Tài nguyên động vật 24
Chương4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Tác động của cộng đồng địa phương tới tài nguyên động vật tại KBT 27
4.1.1 Khai thác gỗ, củi 28
4.1.2 Khai thác lâm sản ngoài gỗ 29
4.1.4 Lấn chiếm đất rừng làm đất nông nghiệp 34
4.2 Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong các hoạt động bảo tồn động vật hoang dã 35
4.2.1 Tham gia tổ tuần tra bảo vệ rừng 36
Trang 44.2.3 Tham gia ban phòng cháy chữa cháy rừng 37
4.2.4 Đánh giá sự tham gia của người dân trong bảo tồn tài nguyên động vật 37
4.3 Công tác QLBVR tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông 37
4.4 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn tài nguyên động vật dựa vào cộng đồng tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông 38
4.4.1 Đối với nhận thức và thái độ của người dân 38
4.4.2 Đối với các tác động của cộng đồng đến tài nguyên rừng và tài nguyên động vật 39
4.4.3 Đối với sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động bảo tồn ĐVHD 41
Chương 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 43
5 1 Kết luận 43
5.2 Tồn tại 44
5.3 Kiến nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ BIỂU 1
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Biểu tổng hợp số lượng ao, hồ trong khu Bảo tồn 19
Bảng 3.2 Các loại đất đai trong khu vực 24
Bảng 3.3 Thành phần các loài động vật có xương sống tại khu vực nghiên cứu 25
Bảng 4.1 Danh sách các loài động vật thường bị săn bắt 33
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 4.1 Các vụ vi phạm luật và vi phạm liên quan đến ĐVHD ở giai đoạn 2012 - 2014 27
Hình 4.2 Khai thác gỗ trái phép 29
Hình 4.3 Một số loại bẫy ĐVHD Tổ tuần tra bảo vệ rừng thu gữ được 32
Hình 4.4 Lấn chiếm đất rừng làm đất nông nghiệp 35
Hình 4.5 Tổ tuần tra kết hợp với lực lượng kiểm lâm đi tuần tra rừng 36
Trang 67 KBTTN Khu baot tồn thiên nhiên
8 PCCC Phòng cháy chữa cháy
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Các Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và Vườn quốc gia (VQG) có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học và mang lại nhiều lợi ích cho con người Hiện nay các Khu bảo tồn đã và đang gặp rất nhiều khó khăn từ phía các cộng đồng địa phương, đặc biệt đối với những nước đang phát triển
Việt Nam là một nước nhiệt đới với 3/4 diện tích đất đai là đồi núi, rất giàu về đa dạng sinh học Việt Nam được công nhận là đất nước đa dạng cao
về nguồn gen động thực vật trên thế giới Cho đến nay trên lãnh thổ Việt
Nam, các nhà Khoa học đã điều tra phân loại thống kê được khoảng 13.766 loài thực vật, trong đó có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao (Nguyễn Nghĩa Thìn 1999) và khoảng 21.984 loài động vật hoang dã
Đã ghi nhận 882 loài thuộc diện quý, hiếm đang bị đe dọa có tên trong Sách
Đỏ Việt Nam 2007 [2]
Nguồn tài nguyên này không những có vai trò quan trọng đối với thế giới nói chung, Việt nam nói riêng, mà còn là nguồn sinh kế chủ yếu của cộng đồng, đặc biệt đối với những cộng đồng sống trong và gần rừng Tuy nhiên việc bảo vệ, quản lý các khu bảo tồn đã và đang gặp không ít những khó khăn
từ phía người dân và cộng đồng địa phương Khó khăn lớn nhất gặp phải trong việc quản lý KBT là số dân sinh sống bên trong KBT đã tạo sức ép rất lớn Tài nguyên rừng là nguồn sống chủ yếu của người dân sống trong và gần rừng từ bao đời nay nhưng từ khi thành lập KBTTN thì những thói quen, phong tục tập quán phát nương làm rẫy, săn bắt động vật, chặt gỗ, lấy củi, thu lượm các sản phẩm từ rừng đã bị hạn chế và kiểm soát Với tỷ lệ HGĐ nghèo lớn, dân trí thấp, họ cho rằng việc thành lập KBT không đem lại lợi ích gì hoặc rất ít cho họ, mà chỉ bị thiệt thòi vì không được tự do khai thác nguồn TNR như trước đây Trong khi đó các sinh kế tạo nguồn thu nhập khác cho người dân địa phương chưa bù đắp được sự thiếu hụt này Điều này đã làm
Trang 8nảy sinh mâu thuẫn giữa Khu bảo tồn với người dân địa phương - những người đang sống phụ thuộc một phần vào nguồn tài nguyên rừng Do đó, việc tồn tại những tác động bất lợi của người dân vào tài nguyên rừng như là một tất yếu và Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ uông cũng trong tình trạng chung như thế
Khu Bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ uông được thành lập theo Quyết định số 2714/QĐ-UB, ngày 24 tháng 12 năm 2004 của UBND tỉnh Hoà Bình với nhiệm vụ chủ yếu là: Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, quần thể của các loài động thực vật quý hiếm, các loài đang bị đe doạ và các loài đặc hữu; phục hồi, tái tạo vốn rừng nhằm nâng cao độ che phủ của rừng Với thành phần dân tộc chủ yếu là Mường đời sống của người dân địa phương phần lớn dựa vào chính là nguồn tài nguyên rừng, với những tập quán truyền thống như canh tác nương rẫy, du canh du cư, săn bắn động vật, chặt gỗ, lấy củi, thu lượm các sản phẩm từ rừng
Tài nguyên rừng KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ uông hiện nay đang có nguy cơ đe dọa bị xâm lấn cũng như bị tàn phá cao nên rất cần có sự chung tay tham gia quản lý bảo vệ rừng của mọi cấp mọi ngành và toàn xã hội, đặc
biệt là cộng đồng địa phương Chính vì vậy, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tác động của người dân x Ngọc ơn t i t i ngu ên ộng v t của hu ảo
t n thiên nhiên Ngọc ơn – Ng u ng t nh a nh”, nhằm góp một
phần nhỏ bé của mình vào việc quản lý bảo vệ tài nguyên rừng ở KBTTN Ngọc Sơn - Ngổ uông
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
Trong nhiều thập kỷ qua, cộng đồng quốc tế đã có những công trình nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lược bảo tồn Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBTTN và VQG với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định
Nhìn chung các Khu bảo tồn (KBT) đều được thiết lập vì mục đích chung của các Quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương Phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác tài nguyên rừng (TNR) Tại các nước Đông Nam Á, phương thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn
Các kết quả nghiên cứu trên thế giới của các KBT và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của người dân địa phương Ở VQG Kakadu (Australia), những người dân địa phương chẳng những được chung sống với VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG
và được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong BQL
Các tác giả Dorji, D.C Chavada, B Thinley và Wangchuks 2005,
cho rằng: Rừng chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả và chuồng trại cho gia súc Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và nước trên vùng đất dốc [9]
Trang 10Các tác giả Apple Gate, G.B và Gilmour, D.A 1987, khi nghiên cứu kinh nghiệm tác nghiệp trong việc quản lý phát triển rừng tại vùng đồi Nêpan
đã nhận thấy có mối quan hệ giữa rừng và các hệ canh tác hỗn hợp ở trung du miền núi Tác giả cho rằng các hệ canh tác phụ thuộc nhiều vào rừng đang bị suy thoái nhanh Sự bền vững lâu dài của các hệ canh tác phụ thuộc vào việc gia tăng về diện tích dưới bất cứ các dạng che phủ thực vật nào [9]
Sự tham gia của người dân địa phương tại một số nước khu vực Đông Nam Á vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học là một biện pháp cần thiết và thường có hiệu quả Nỗ lực của các cơ quan, chính phủ nhằm đưa dân chúng
ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý TNR và kinh tế xã hội Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có người bảo vệ Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng
đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này
Thái Lan là một nước được các nước trong khu vực và trên thế giới đánh giá cao về những thành tựu trong công tác xây dựng các chương trình bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng Ở đây, sử dụng đất đai được thông qua chương trình làng rừng, hộ nông dân được giao đất nông nghiệp, đất thổ cư, đất để trồng rừng Người nông dân được Chính phủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có trách nhiệm quản lý đất, không được chặt hoặc sử dụng cây rừng Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đã làm gia tăng mức độ an toàn cho người được nhận đất Do vậy đã ảnh hưởng tích cực đến việc khuyến khích đầu tư và tăng sức sản xuất của đất
Trong chiến lược Quốc gia của Philippines về bảo tồn đa dạng sinh học chỉ ra rằng: "Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn đa dạng sinh học là phải bảo đảm rằng các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách liên quan đến môi trường,
Trang 11sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn đa dạng sinh học" [9]
Bink Man W.1988 trong tài liệu giới thiệu nghiên cứu định hình chi tiết
về làng Ban Pong tỉnh S Risaket (Thái Lan) chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như: củi đun và hoa quả trong rừng Đây là một minh họa rất cần thiết của người dân địa phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển
Năm 1980, Conklin, H.C trong tập ATLAT, cung cấp một mô tả chi tiết về các mối tương quan giữa rừng, lương thực và nước, giữa những người xây dựng ruộng bậc thang làm lúa nước và những người canh tác nương rẫy Tóm lại các nghiên cứu trên thế giới mới chỉ có những phân tích định tính
về sự phụ thuộc của các cộng động dân cư vào tài nguyên và khẳng định cần thiết phải có sự tham gia của người dân vào các hoạt động bảo tồn TNR Tuy nhiên, chưa có các nghiên cứu định lượng xác định những tác động của cộng đồng vào TNR và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tác động
đó vào TNR
1.2 Ở Việt Nam
So với nhiều nước trên thế giới và khu vực thì lịch sử thành lập các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam tương đối sớm Tháng 7/1962, Quyết định số 72/TTg của thủ tướng chính phủ thành lập khu rừng cấm Cúc Phương rộng 22.000 ha, sau này trở thành VQG đầu tiên của nước ta Bên cạnh đó, Chính phủ còn ra các quyết định thành lập các khu rừng đặc dụng khác Từ đó đến nay, Việt Nam đã có 164 khu rừng đặc dụng được thành lập(có 30 Vườn quốc gia và 134 Khu bảo tồn thiên nhiên) với diện tích 2.265.753,88 ha Trong đó diện tích có rừng 1.941.452,85 ha; diện tích chưa có rừng 257.291,03 ha; diện tích mặt nước biển 67.010,00 ha
Trước hết để công tác bảo tồn đạt hiệu quả thì các quy định phải được thể chế hóa Trong đó bao gồm luật và các văn bản dưới luật Đó là các điều
Trang 12khoản được ghi trong uật bảo vệ và phát triển rừng ban hành ngày
12/08/1991, uật bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi ban hành ngày 03/12/2004;
Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ quy định về
tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng; Quyết định số 08/2001/QĐ - TTg ban hành ngày 11/01/2001 đã đề cập đến việc Ban quản lý các khu bảo vệ được xây dựng các quy định về phạm vi sử dụng rừng đối với người dân địa phương sinh sống trong các KBT; Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ NN và PTNT về hướng dẫn việc thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP Gần đây nhất, Thủ tướng chính phủ có Quyết định số 186/2006/QĐ - TTg ban hành ngày 14/08/2006 (Quyết định số 34/2011/QĐ-TTg ngày 24/6/2011 sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 186/2006/QĐ - TTg ban hành ngày 14/08/2006) về quy chế quản lý rừng, thay thế Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg; Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020 Trong đó, quản lý rừng đặc dụng được quy định rất
cụ thể
Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả của các KBTTN và VQG theo quan điểm bảo tồn - phát triển Đó là việc dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội của người dân địa phương
Các tác giả Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997), đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương vào rừng Nhóm tác giả đã chỉ ra rằng: Diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như: tre nứa, nấm, cây dược liệu, động vật hoang dã và được xem như là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân miền núi [5],
Qua kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Lân (1999) và các cộng sự, đã đưa ra kết luận: Các nông hộ trong vùng đệm Pù Mát có sự gắn bó chặt chẽ
Trang 13với rừng, nguồn thu nhập từ khai thác lâm sản và canh tác nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong tổng thu nhập của mỗi nông hộ Hiện nay, các nông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, song mới chỉ có rất ít ở các hộ có hiểu biết
và có vốn đầu tư
Nguyễn Huy Dũng cùng cộng sự (1999), đã nghiên cứu các hình thức quản lý rừng cộng đồng ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Hoà tỉnh Cao Bằng Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu về quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức và lợi ích của quản lý mang lại cho cộng đồng người dân trong thôn bản Nghiên cứu này
đã chỉ ra: quản lý rừng cộng đồng ở đây được hình thành tự phát bởi cộng đồng dân bản trước thực tế và nhu cầu cuộc sống về lâm sản và sử dụng lâm sản Đây là một mô hình, một hình thức quản lý dựa trên các luật tục của cộng đồng
đã cho hiệu quả tốt trong phát triển kinh tế và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng
Một số địa phương ở Sơn a và ai Châu, thuộc vùng hoạt động của dự
án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà (Chương trình hợp tác kỹ thuật Việt Nam - Cộng hoà iên bang Đức), đã xây dựng nên các mô hình quản lý rừng cộng đồng Dự án đã phối hợp với các ban ngành của tỉnh (Chi cục Kiểm lâm, chi cục Lâm nghiệp và chính quyền địa phương cấp huyện, xã) trong việc tiến hành giao quyền sử dụng rừng và đất rừng cho hộ gia đình, cá nhân, các đoàn thể và cộng đồng, hỗ trợ quy hoạch sử dụng đất, xây dựng các quy ước quản
lý bảo vệ rừng thôn bản Tiếp sau đó, một bước đột phá trong hoạt động quản
lý rừng cộng đồng là dự án đã tiến hành xây dựng và áp dụng “Phương pháp đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia và lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng” cho các thôn bản trong vùng dự án Đây là phương pháp được các nhà khoa học đầu ngành đánh giá là rất tốt cho việc quản lý sử dụng rừng trên các diện tích đã giao quyền sử dụng cho các hộ, các tổ chức và cộng đồng [2]
Vũ Hoài Minh và Hans Warfvinge (2002), đã tiến hành đánh giá về thực trạng quản lý rừng tự nhiên bởi các hộ gia đình và cộng đồng địa phương
Trang 14ở 3 tỉnh Hoà Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế Các tác giả đã tiến hành tìm hiểu về sự hình thành, các lợi ích đạt được và những vấn đề hưởng lợi, quyền
sở hữu và các chính sách liên quan đến hình thức quản lý này Trong 5 mô hình quản lý rừng cộng đồng có 4 hình thức là tự phát của cộng đồng địa phương (hình thức quản lý của các đồng bào dân tộc thiểu số như Mường, Thái) và được chính quyền địa phương chấp thuận: Họ tự đề ra các quy định, quản lý, sử dụng lâm sản cũng như các hoạt động xây dựng và phát triển rừng Hình thức quản lý ở Thuỷ Yên Thượng (cộng đồng ở đây là người dân tộc kinh) được xây dựng dựa trên sự hợp tác giữa chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) với sự hỗ trợ của dự án quốc tế
Trong hội thảo “Mạng lưới lâm nghiệp Châu Á” (Asia Forest Network) tháng 9/2003 tại Cao Bằng, Việt Nam Các nước thành viên đã thảo luận về các bước lập kế hoạch và xây dựng quy ước quản lý rừng cộng đồng (đánh giá tài nguyên có sự tham gia, các chương trình quản lý tài nguyên rừng dựa trên
cơ sở cộng đồng, thu nhập qua quản lý rừng cộng đồng, chương trình đánh giá
và giám sát, các chính sách về quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng…) các nước thành viên tham dự đi đến thống nhất các hoạt động thảo luận và đi đến thoả thuận hợp tác trong các lĩnh vực quản lý rừng cộng đồng Đây là một thành công của hội thảo và là bước ngoặt cho công tác quản lý rừng dựa trên cơ sở cộng đồng của các quốc gia trong khu vực
Nhìn chung, quản lý rừng và đất rừng trên cơ sở cộng đồng là một vấn
đề tổng hợp và phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách của từng quốc gia, từng địa phương Do vậy, không thể sao chép nguyên vẹn một mô hình nào từ nơi này sang nơi khác Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia
sẻ những bài học thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là rất cần thiết trong bối cảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện như hiện nay
Trang 15Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ uông thuộc tỉnh Hòa Bình là khu vực còn diện tích rừng tự nhiên lớn nhất của tỉnh Hòa Bình Hiện nay chất lượng và trữ lượng rừng tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông đã giảm sút Mặc dù được bảo
vệ nghiêm ngặt nhưng rừng ở đây luôn chịu nhiều nguy cơ tác động của con người Để làm tốt công tác này cần phải khuyến khích được sự tham gia của người dân trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng Hiện đã có một số nghiên cứu tiến hành đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn phát triển một số loài thực vật nói riêng và phát triển rừng nói chung nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu về sự tham gia của người dân trong công tác này tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông
Các nghiên cứu về tác động qua lại giữa con người và TNR cả trên Thế giới và ở Việt Nam trong thời gian qua, đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau Một số công trình nghiên cứu đã phân tích phương pháp lý luận và thực tiễn để nghiên cứu mối quan hệ giữa rừng và TNR Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu, chỉ số để đánh giá mức độ tác động của các dân tộc, loại hộ gia đình khác nhau nên các giải pháp còn chung chung, chưa tập trung vào giải quyết những khó khăn thực tế của người dân
Vì vậy, vấn đề này cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện làm cơ sở đưa
ra được các giải pháp hữu ích là cấp thiết
Trang 16Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu t ng quát
Nghiên cứu nhằm đóng góp cơ sở lý luận, giải quyết mối quan hệ giữa các cộng đồng sống gần rừng và phụ thuộc vào TNR tại các khu rừng đặc dụng ở Việt nam đồng thời góp phần giúp địa phương có được những luận cứ khoa học cũng như thực tiễn đề ra các giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển kinh tế xã hội ở vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên
và Vườn quốc gia ở Việt Nam
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
+ Xác định được các hình thức và mức độ tác động bất lợi của cộng đồng địa phương đối với tài nguyên động vật rừng trong khu bảo tồn
+ Phân tích được các nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tác động bất lợi của cộng đồng địa phương vào tài nguyên động vật rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ uông
+ Đề xuất được các giải pháp giảm thiểu tự tác động bất lợi của cộng đồng địa phương đối với tài nguyên động vật rừng trong KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ uông
2.2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Về mặt khoa học: Bổ sung các dẫn liệu khoa học về sự phụ thuộc của người dân vào tài nguyên Động vật rừng
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cho địa phương tham khảo, hoạch định các chính sách bảo tồn và quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Trang 172.3 Đối tượng, giới hạn và phạm vi nghiên cứu
2.3.1 ối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là Cộng đồng người dân địa phương và công tác QLBVR ở KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ uông tỉnh Hòa Bình
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tác động của người dân đến tài nguyên động vật
- Đánh giá sự tham gia của người dân vào công tác bảo tồn
- Nghiên cứu hiện trạng công tác quản lý BVR tại KBT
- Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn động vật hoang dã tại KBT
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp lu n
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên lý luận về tiếp cận hệ thống, quan điểm sinh thái - nhân văn, quan điểm bảo tồn - phát triển và tiếp cận có sự tham gia
2.5.1.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống
Hệ thống được hiểu là một cấu trúc hoàn chỉnh của tự nhiên, nó bao gồm nhiều bộ phận chức năng liên kết với nhau một cách có tổ chức và trật tự, tồn tại và vận động theo những quy luật thống nhất Một hệ thống luôn bao gồm những hệ thống thành phần (nhỏ hơn) hay còn gọi là hệ thống phụ Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong hệ thống và mỗi hệ thống lại nằm trong hệ thống lớn hơn
Trang 18Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế - xã hội và tác động tới hệ thống tự nhiên
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế, bởi mức độ tác động của người dân địa phương gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như: sử dụng đất rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc…Sự tác động này cũng phụ thuộc vào sinh kế, mức sống, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận trước mắt và hiệu quả kinh tế thường quyết định tới hình thức sử dụng TNR của người dân địa phương Ngược lại, mức độ giàu có và đa dạng của TNR cũng tác động mạnh
mẽ tới nguồn thu của người dân địa phương Chính vì mối quan hệ chặt chẽ giữa những tác động của người dân địa phương đến TNR với các yếu tố kinh
tế nên có thể làm giảm thiểu tác động bất lợi tới TNR bằng cách tác động vào những yếu tố kinh tế Đây là lý do đề tài nghiên cứu các nguyên nhân kinh tế dẫn tới những tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR và nghiên cứu đề xuất giải pháp kinh tế để giảm thiểu sự tác động bất lợi này
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động xã hội vì các hoạt động này là của con người Sự tác động này bị chi phối bởi nhiều yếu tố
xã hội như nhận thức của người dân về tầm quan trọng của TNR, ý thức về luật pháp, trách nhiệm của cộng đồng, những thói quen sử dụng TNR tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ uông, tỉnh Hòa Bình Sự tác động của người dân địa phương đến TNR còn phụ thuộc vào những vấn đề về thể chế và chính sách như chính sách đối với người dân trong KBTTN, hệ thống quản lý TNR, việc thực thi luật bảo vệ phát triển rừng (BVPTR) Sự hiện diện của chúng sẽ
hỗ trợ Nhà nước trong việc tuyên truyền các chính sách, gắn kết người dân thành cộng đồng thống nhất trong việc thực thi quản lý bảo vệ TNR Những tác động của người dân địa phương đến TNR liên quan chặt chẽ với các yếu tố
xã hội
Trang 19TNR là một hệ thống tự nhiên, trong đó các thành phần có mối quan hệ tương tác chặt chẽ TNR vốn tồn tại khách quan và vận động theo những quy luật tự nhiên Vì vậy, để bảo tồn TNR, những tác động của con người phải phù hợp với quy luật tự nhiên và giảm thiểu những tác động bất lợi tới nó
2.5.1.2 Quan điểm sinh thái - nhân văn
Các hoạt động kinh tế xã hội trong cộng đồng hay trong mỗi hộ gia đình (HGĐ) đều rất đa dạng và phong phú Nó phản ánh đặc điểm sinh thái và mối quan hệ kinh tế - xã hội Điều này chỉ ra rằng các hoạt động trong cộng đồng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố và có một yếu tố nào đó giữ vai trò quan trọng trong cộng đồng này vào thời điểm này nhưng lại không phải quan trọng trong thời điểm khác hoặc trong cộng đồng khác Quan hệ giữa tác động bất lợi của cộng đồng đến TNR và phát triển kinh tế - xã hội địa phương - bảo tồn TNR là quan hệ có xu hướng nghịch Sự tác động bất lợi của người dân địa phương vào TNR đều có cơ sở sinh thái và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội
Các yếu tố vật lý sinh học, được chia làm 2 loại: Những yếu tố không thể kiểm soát được như khí hậu, thuỷ văn, địa hình và những yếu tố có thể kiểm soát được hoặc hạn chế được như xói mòn, lũ lụt, sâu bệnh, lửa rừng, hạn hán Các yếu tố kinh tế như sinh kế, mức sống của người dân địa phương, nhu cầu thị trường Những yếu tố này rất có ý nghĩa đối với sự tác động của người dân địa phương tới TNR
Các yếu tố về thể chế, chính sách, tổ chức cộng đồng ảnh hưởng gián tiếp tới những tác động của người dân địa phương đến TNR.Tập quán, sự nhận thức hay ở mức cao hơn nữa là văn hoá của các cộng đồng Mọi tác động của các yếu tố khác đều có thể làm thay đổi thái độ và nhận thức của cộng đồng Bất kỳ một giải pháp nào nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi tới TNR, bảo tồn và phát triển bền vững TNR đều phải dựa trên cơ sở sinh thái và đảm bảo được các yếu tố về kinh tế và xã hội của người dân
Trang 202.5.1.3 Quan điểm bảo tồn - phát triển
Theo Gilmour D.A và Nguyễn Văn Sản (1999), quan điểm bảo tồn và phát triển là để liên kết việc bảo tồn tài nguyên và những nhu cầu phát triển địa phương, bao gồm 3 thành phần chính (cách tiếp cận) như sau:
- Thứ nhất là nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thể được đáp ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài
nguyên sẽ được giảm bớt và tài nguyên được bảo tồn: Cách tiếp cận các giải
pháp thay thế sinh kế
- Thứ hai là nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quan tâm đến việc bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cộng đống vẫn còn chưa được đáp ứng thì trước hết cần phải nỗ lực cải thiện nền kinh tế
- xã hội của họ đủ tốt để họ có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên:
Cách tiếp cận phát triển kinh tế
- Thứ ba là cộng đồng địa phương đó đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nếu như họ có thể được tham gia một cách tích cực vào việc quy hoạch và quản lý sử dụng tài nguyên và được chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó Theo cách này, tài nguyên có thể được bảo tồn trong khi một số nhu cầu cơ bản của người dân địa phương được đáp ứng thông qua việc sử
dụng và khai thác tài nguyên một cách hợp lý và bền vững: Cách tiếp cận
tham gia quy hoạch
2.5.1.4 Tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu
Sự tham gia được định nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các chủ thể cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định Điều quan trọng là người dân địa phương có khả năng trao đổi các nguyện vọng của họ về TNR với các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý và ngược lại, các cơ quan này có thể hiểu và đáp ứng các nguyện vọng được nêu ra
Năm 1996, Hosley đưa ra 7 mức độ của sự tham gia từ thấp đến đến cao, đó là: tham gia có tính chất vận động; tham gia bị động; tham gia qua
Trang 21hình thức tư vấn; tham gia vì mục tiêu được hưởng các hỗ trợ vật tư từ bên ngoài; tham gia theo chức năng; tham gia hỗ trợ, tự huy động và tổ chức
Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận cùng tham gia được áp dụng Trong đó người dân địa phương tham gia ở mức độ 3, tức là tham gia qua hình thức tư vấn, cung cấp thông tin Các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) được sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu Các phương pháp này giúp thu thập được các thông tin và phân tích của chính người dân địa phương, nên thông tin có thể được sử dụng cho nhiều nhu cầu của địa phương như sự
ủng hộ về quyền sử dụng TNR, các giải pháp giải quyết xung đột
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu
2.5.2.1 Thu thập các tài liệu thứ cấp
- Các tài liệu và các nguồn cung cấp:
+ Các văn bản, chính sách pháp luật của nhà nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu;
+ Các báo cáo của tỉnh, huyện, xã về quản lý rừng tại KBT;
+ Các tài liệu liên quan đến điểm nghiên cứu được thu thập tại địa phương như: điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế xã hội, báo cáo về công tác quản lý bảo vệ rừng, tình hình giao đất giao rừng
+ Các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Tài liệu hội thảo về phát triển các KBTTN và VQG, các báo cáo nghiên cứu về lâm nghiệp cộng đồng tại Việt Nam…
+ Các tài liệu liên quan về QLBVR, các vụ việc xâm hại TNR, các biện pháp xử lý
- Phương pháp thu thập tài liệu:
+ Liệt kê các số liệu thông tin cần thiết để có thể thu thập, hệ thống hoá theo nội dung hay địa điểm thu thập và dự kiến địa điểm cơ quan cung cấp thông tin
Trang 22+ Liên hệ với các cơ quan cung cấp thông tin;
+ Tiến hành thu thập bằng ghi chép, sao chụp;
2.5.2.2 Thu thập thông tin và số liệu điều tra hiện trường
- Phỏng vấn ban quản lý các thôn, bản của các cộng đồng nghiên cứu: Công cụ này được thực hiện đầu tiên khi tới thôn, bản, nhằm tìm hiểu tình hình chung về kinh tế - xã hội của thôn, bản như: Dân số, mức sống, dân trí, các loại đất đai, các hỗ trợ từ bên ngoài, các hình thức sử dụng tài nguyên rừng
- Phân loại HGĐ: Đây là công cụ nhằm đánh giá tình hình kinh tế HGĐ Kết quả phân loại làm cơ sở cho việc phỏng vấn HGĐ để thuận lợi cho việc đánh giá, giám sát và ảnh hưởng của các nhóm hộ đến tài nguyên rừng
Cơ sở để phân loại HGĐ dựa Chỉ thị số 1752/CT-TTG của Thủ tướng Chính phủ : Về việc tổ chức tổng điều tra hộ nghèo trên toàn quốc phục vụ cho việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2011 – 2015
- Phỏng vấn hộ gia đình:
Bảng phỏng vấn bán định hướng được chuẩn bị trước (Phụ biểu) Trong đó: số hộ được phỏng vấn 30 tại khu vực nghiên cứu với đầy đủ các nhóm hộ khá, trung bình, nghèo có ở tất cả các xóm của xã đó Nội dung phỏng vấn là các vấn đề liên quan đến các nguồn thu nhập, sinh kế của cộng đồng địa phương, các hình thức và nguyên nhân tác động của cộng đồng vào TNR, đồng thời cũng tìm hiểu các giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển do chính cộng đồng đưa ra
- Thảo luận nhóm: Phương pháp này được thực hiện sau khi thực hiện công cụ phỏng vấn HGĐ Các cuộc thảo luận được tiến hành dựa trên khung thảo luận chuẩn bị sẵn Nhóm thảo luận gồm 5 - 7 người, gồm đại diện các hộ nhóm hộ gia đình, lãnh đạo thôn, đoàn thể Thảo luận nhóm nhằm bổ sung và thống nhất về các hình thức, mức độ tác động của người dân vào rừng và đất rừng của khu bảo tồn, các nguyên nhân của sự tác động đó Những khó khăn
và khuyến nghị của cộng đồng trong quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng Tiến
Trang 23hành thảo luận nhóm về các chủ đề: Các hình thức tác động, nguyên nhân tác động và giải pháp khắc phục
- Phân tích tổ chức: Xác định các tổ chức tồn tại trong cộng đồng, xác định chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, đánh giá tầm quan trọng và sự ảnh hưởng của các tổ chức tới việc quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng
- Phỏng vấn cán bộ Hạt Kiểm lâm, cán bộ Ban quản lý KBT, cán bộ xã (Đại điện các tổ chức) nhằm kiểm tra chéo thông tin từ các thôn điểm và thu thập thêm số liệu
Những thông tin cần thu thập:
+ Những tổ chức, nhóm, cá nhân hoạt động tại địa phương
+ Mối liên hệ giữa các nhóm tổ chức, nhóm, cá nhân đối với cộng đồng + Những ảnh hưởng của các tổ chức đến sự phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng đến tài nguyên ĐVR
2.5.3 Xử lý, t ng hợp v phân tích số liệu
Số liệu thu thập qua bảng phỏng vấn bán định hướng được xử lý và phân tích bằng phương pháp phân tích tổng hợp, mô tả, so sánh, định tính và định lượng theo từng nội dung nghiên cứu, để tìm ra tiềm năng, hạn chế trong
quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng ở địa phương
Trang 24Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lí
Khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông có tọa độ địa lý:
+ Vĩ độ Bắc: Từ 20021’ - 22036’ + Kinh độ Đông Từ 105009’ - 105013’
- Phía Bắc: Giáp với xã Pù Pin, Noong Luông huyện Mai Châu
- Phía Tây Nam: Giáp với các xã ũng Cao, Cổ ũng, Hạ Trung, ương Nội, huyện Bá Thước và các xã Thạch Tượng, Thạch Lâm huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hoá
- Phía Đông Bắc: giáp với các xã ũng Vân, Quyết Chiến, Do Nhân, Lỗ Sơn, Gia Mô huyện Tân Lạc và các xã Phú ương, Chí Đạo, Định Cư, Hương Nhượng huyện Lạc Sơn và Vườn Quốc gia Cúc Phương
3.1.2 ịa hình
Hai huyện Lạc Sơn và Tân ạc là huyện miền núi có địa hình hiểm trở, phức tạp bị chia cắt bởi các dãy núi cao (đầu dãy Trường Sơn), thấp dần từ Tây bắc xuống Đông nam, độ dốc lớn (300 - 450), 7 xã vùng dự án thuộc vùng cao, là các xã vùng 3 (xã đặc biệt khó khăn), có độ cao trung bình 300 - 1.000
m, nơi cao nhất 1.200 m, cách thành phố Hoà Bình 80 km, cách Thủ đô Hà Nội 150 km
3.1.3 iều kiện khí h u
3.1.3.1 Khí hậu
Khu bảo tồn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa Có 2 mùa rõ rệt:
- ượng mưa bình quân hàng năm từ 1.800 - 2.500 mm, năm thấp nhất 1.250 mm
Trang 25+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 lượng mưa bình quân 1.500 mm, chiếm 84% lượng mưa cả năm
+ Mùa khô hanh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa bình quân 150mm, chiếm 16% lượng mưa cả năm
- Nhiệt độ không khí bình quân từ 220C - 240C, tháng 6 nóng nhất Nhiệt
độ cao tuyệt đối 390
C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối từ 30C - 50C vào tháng 12
và tháng 1 năm sau
- Độ ẩm không khí trung bình 82%, giữa các tháng trong năm biến thiên
từ 75 - 86%, thấp nhất vào tháng 4, 5 Các tháng khô có sương mù nên độ ẩn không khí khí khá cao
- Về gió: Hướng gió chủ yếu là hướng gió Đông Bắc tập trung vào tháng
11 đến tháng 3 năm sau các tháng còn lại là gió Nam, gió Tây Nam thường xuyên xuất hiện vào tháng 6, 7 khô nóng, ít ảnh hưởng của bão Sương muối thường xuất hiện vào tháng 12, tháng 1 năm sau và có ảnh hưởng đến con người, cây trồng, vật nuôi
Ngọc Lâu 22 01 03 Chiềng I, II, Đèn, Hầu III
Tự Do 63 04 Kháy, Khướng, Sát Hạ, Mu, Mòn,
Rì, Sát Thượng Ngọc Sơn 05 0 0 Khú, Rộc, Điện
Trang 263.1.4 Tình hình dân sinh, kinh tế xã hội
3.1.4.1 Dân số, dân tộc và lao động
3.1.4.1.1 Dân số
Dân cư sống trong 7 xã với tổng số 2.568 hộ, 13.409 nhân khẩu, số lao động là: 5792
Trong đó:
Huyện Tân Lạc có 1092 hộ 5320 nhân khẩu, số lao động là 1877
Huyện Lạc Sơn có 1476 hộ 8179 nhân khẩu, số lao động là 3915
3.1.4.1.2 Dân tộc
Trong 7 xã của khu Bảo tồn là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc Mường chiếm 98% Họ có tập quán cánh tác lúa nước, làm nương rẫy và chăn nuôi Nhiều công trình thuỷ lợi được được nhân dân tự tạo để cung cấp nước cho sản xuất và đời sống
3.1.4.1.3 ao động
Bình quân mỗi hộ có 5 người, mật độ dân số trung bình 57 người/km2 Tổng số lao động là 5792 chiếm 43,2% tổng số dân
3.1.4.2 Tình hình sản xuất, đời sống, thu nhập
3.1.4.2.1 Sản xuất nông nghiệp
Là nghề chính của nhân dân trong vùng Lúa và hoa mầu( ngô, sắn…) vẫn
là cây trồng chủ yếu Năng suất cây trồng không cao do trình độ thâm canh còn hạn chế nên các xã thuộc khu bảo tồn đều thuộc diện đặc biệt khó khăn 3.1.4.2.2 Đời sống và thu nhập
Dân cư sống trong 7 xã với tổng số 2.568 hộ
Trong đó:
Trang 273 xã Huyện Tân Lạc 1.092 hộ tỉ lệ nghèo chiếm 44,9 %
Cụ thể xã Ngổ Luông chiếm 47,1%, xã Bắc Sơn chiếm 47,2%, xã Nam Sơn chiếm 40,5%
4 xã Huyện Lạc Sơn có 1.476 hộ tỉ lệ nghèo chiếm 42,2%
Cụ thể xã Tự Do chiếm 46,7%, xã Ngọc Sơn chiếm 43%, xã Ngọc Lâu chiếm 43,5%, xã Tân Mỹ chiếm 40,8%
Thu nhập lương thực bình quân các xã như sau:
+ Huyện Tân Lạc: 476kg/người/năm
+ Huyện Lạc Sơn: 450kg/người/năm
3.1.4.3 Cơ sở hạ tầng hiện có
3.1.4.3.1 Về giao thông
Tất cả các xã trong khu bảo tồn đều là các xã trong vùng đặc biệt khó khăn, tuy đã có đường giao thông đến trung tâm xã nhưng chất lượng đường rất xấu, việc đi lại giữa các xã và khu vực rất khó khăn, đặc biệt là vào mùa mưa Rất nhiều xóm chỉ có thể đến trung tâm xã bằng đường đi bộ
3.1.4.3.2 Về thuỷ lợi
Các xã nằm trong vùng núi đá vôi nên nguồn nước rất thiếu Tuy đều đã có
hệ thống thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp nhưng chất lượng các công trình đang
bị xuống cấp Việc đấu tư cho thuỷ lợi, xây dựng thêm hồ chứa nước là những đòi hỏi cấp bách tạo điều kiện thâm canh, tăng vụ và chuyển đổi cơ cấu cây trồng
3.1.4.3.3 Về y tế
Mỗi xã đều có một trạm y tế tại trung tâm xã, ở các thôn bản có y tế thôn bản Trạm y tế là nhà cấp IV, phòng khám và giường bệnh chưa đủ tiêu chuẩn Trang thiết bị, thuốc chữa bệnh thiếu, trình độ cán bộ y tế chưa cao
Trang 283.1.4.3.4 Về Giáo dục
Hệ thống giáo dục ở các xã đã có từ mầm non đến trung học cơ sở Tỷ lệ trẻ em đến trường đạt 94,5% Tuy nhiên cơ sở vật chất, chất lượng giáo dục còn thấp Sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở chỉ một số ít học sinh con các gia đình có điều kiện kinh tế khá giả mới được gửi xuống thị trấn học tiếp trung học phổ thông
Tỉnh Uỷ có Nghị quyết về phát triển kinh tế lâm nghiệp
Tiềm năng đất đai, lao động còn nhiều, khí hậu, thời tiết phù hợp với nhiều loại cây trồng vật nuôi
Có các dự án trong nước và nước ngoài đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội thông quan khu BTTN Ngọc Sơn-Ngổ Luông
b Khó khăn
Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Diện tích đất lâm nghiệp, nhiều nhưng không có vốn đầu tư để phát triển nghề rừng, thu nhập từ sản xuất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng thấp Diện tích đất trồng cây công nghiệp, cây nông nghiệp quá ít không tự cân đối lương thực và nhu cầu chi tiêu phục vụ cuộc sống hàng ngày
Về văn hoá xã hội:
+ Các xã đều rất xa trung tâm huyện, bản sắc dân tộc Mường được giữ gìn, trình độ dân trí chưa cao Số người mù chữ còn nhiều Số trẻ em trong độ
Trang 29tuổi đi học nhưng không đến lớp còn cao ( huyện Tân Lạc: 109 em, chiếm 0,7%; huyện Lạc Sơn 620 em chiếm 2% Số em theo học các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp chiếm từ 5 đến 10%
+ Số người mắc bệnh biếu cổ, sốt rét còn cao, số người chưa được sử dụng nước sạch còn chiếm tỷ lệ lớn Cụ thể là:
* Số người mắc bệnh biếu cổ: 586 người( huyện Tân Lạc: 386 người chiếm 0,5% dân số; huyện Lạc Sơn: 200 người chiếm 1,5% dân số)
* Số người mắc bệnh sốt rét: 2710 người (huyện Tân Lạc 2320 người chiếm 3% dân số, huyện Lạc Sơn: 390 người chiếm 3% dân số)
* Số người chưa được dùng nước sạch hợp vệ sinh: 23.326 hộ (huyện Tân Lạc: 8.814 hộ chiếm 55% số hộ, huyện Lạc Sơn: 14.512 hộ chiếm 59% số hộ)
Về cơ sở hạ tầng, phúc lợi công cộng:
Còn ít chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân, một số công trình đã xuống cấp cần được tu sửa
3.3 Đặc điểm tài nguyên rừng và công tác quản lý bảo vệ tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, tỉnh Hòa Bình
3.3.1 Diện tích các loại rừng
Tổng diện tích đất tự nhiên của khu vực nghiên cứu là 15.890,63 ha Trong đó 82 % là diện tích đất âm nghiệp, và 15 % là diện tích đất nông nghiệp Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn 4 % tổng diện tích là đất chưa sử dụng, chủ yếu đất trống đồi núi trọc Ở khu vực có 6 loại hình sử dụng đất khác nhau, bao gồm: canh tác lúa nước ở các thung lũng; canh tác cây màu/lương thực ở các khu đồi các sườn núi; chăn nuôi; trồng rừng trên diện tích đất rừng
đã được giao; quản lý rừng cộng đồng, và làm vườn Chiến lược phát triển sinh kế và sản xuất ở mỗi xã có khác nhau do sự khác biệt về văn hóa (Người Thái và người Mường) và điều kiện đất đai ở mỗi xã