1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự đa dạng sinh học sinh thái của các loài nấm lớn tại núi luốt trường đại học lâm nghiệp việt nam

68 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn đồng thời giúp sinh viên làm quen với hoạt động nghiên cứu khoa học, được sự nhất trí của Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguy

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG

-o0o -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA CÁC LOÀI NẤM LỚN TẠI NÚI LUỐT - TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM

NGÀNH : QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Lâm nghiệp, chương trình đào tạo đại học niên khóa 2014 – 2018 đã bước vào giai đoạn kết thúc Để vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn đồng thời giúp sinh viên làm quen với hoạt động nghiên cứu khoa học, được sự nhất trí của Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, tôi tiến

hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu sự đa dạng sinh học của các loài nấm lớn tại núi Luốt - Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam”

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong trường, khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, bộ môn Bảo vệ thực vật rừng và đặc biệt là thầy Nguyễn Thành Tuấn - người đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng, khuyến khích và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã dành cho tôi những tình cảm và sự giúp đỡ nhiệt tình, quý báu để hoàn thành bản luận văn này

Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do bản thân còn những hạn chế nhất định

về mặt chuyên môn và thực tế, thời gian có hạn nên bản luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn

để khóa luận hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Đồng Thị Hải Yến

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tổng quan về nấm lớn 3

1.2 Nấm trên thế giới 4

1.3 Nghiên cứu về nấm ở Việt Nam 7

CHƯƠNG II : ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 13

2.1 Đặc điểm tự nhiên 13

2.1.1 Vị trí địa lý 13

2.1.2 Địa hình 13

2.1.3 Khí hậu thủy văn 13

2.1.4 Đất và thổ nhưỡng 15

2.1.5 Đặc điểm về động- thực vật 16

2.2 Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội 17

2.2.1 Thực trạng kinh tế - xã hội 17

2.2.2 Sản xuất nông – lâm nghiệp, thủy sản 17

2.2.3 Cơ sở hạ tầng, y tế - giáo dục 18

CHƯƠNG III: MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 19

3.2 Đối tượng nghiên cứu 19

3.3 Thời gian nghiên cứu 19

3.4 Địa điểm nghiên cứu 19

Trang 4

3.5 Nội dung nghiên cứu 19

3.6 Phương pháp nghiên cứu 20

3.6.1 Phương pháp kế thừa 20

3.6.2 Phương pháp điều tra thực địa 20

3.6.3 Phương pháp thu thập mẫu 21

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 25

4.1 Danh lục các loài nấm lớn tại khu vực nghiên cứu 25

4.2 Tính đa dạng thành phần các loài nấm lớn 27

4.3 Tính đa dạng hình thái của các loài nấm lớn 31

4.4 Một số loài nấm bắt gặp trong thời gian điều tra 34

4.5 Tính đa dạng về sinh thái của các lài nấm lớn 49

4.5.1 Tính đa dạng của các loài nấm lớn theo địa hình 49

4.5.2 Tính đa dạng của nấm theo sinh cảnh 51

4.5.3 Tính đa dạng về phương thức sống của nấm 52

4.5.4 Mức độ bắt gặp của các loài nấm lớn tại khu vực nghiên cứu 53

4.5.5 Giá trị, công dụng của nấm lớn tại khu vực nghiên cứu 54

4.6 Đề xuất giải pháp bảo vệ tính đa dạng của các loài nấm lớn 56

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ 57

5.1 Kết luận 57

5.2 Tồn tại 58

5.3 Kiến nghị 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2 1: Đặc điểm khí tượng khu vực nghiên cứu 14

Bảng 4 1: Danh lục các loài nấm lớn tại khu vực nghiên cứu 25

Bảng 4 2: Phân bố các taxon trong các ngành phụ nấm 27

Bảng 4 3: Phân bố các taxon trong các bộ nấm 28

Bảng 4 4: Đa dạng giữa số loài và các chi trong họ nấm 29

Bảng 4 5: Sự đa dạng loài giữa các chi nấm 30

Bảng 4 6: Tính đa dạng về loài của các ngành phụ nấm 31

Bảng 4 7: Đa dạng về hình thái thể quả 32

Bảng 4 8: Tính đa dạng về màu sắc mũ nấm 33

Bảng 4 9: Tính đa dạng về chất cấu tạo thể quả 34

Bảng 4 10: Phân bố số loài nấm lớn theo đai cao 49

Bảng 4 11: Tính đa dạng các loài nấm lớn theo hướng phơi 50

Bảng 4 12: Tính đa dạng của các loài nấm lớn theo sinh cảnh 51

Bảng 4 13: Phương thức sống của nấm 53

Bảng 4 14: Mức độ bắt gặp loài nấm 54

Bảng 4 15: Giá trị, công dụng của nấm lớn tại khu vực nghiên cứu 55

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1: Nấm Linh chi lưỡi cây (G applanatum) 35

Hình 2: Nấm Linh chi xám đen (G valesiacum) 36

Hình 3: Nấm mộc nhĩ lông (A polytricha) 37

Hình 4: Nấm Linh chi giả (A praetervisum) 38

Hình 5: Nấm Linh chi hình ô (G subumbraculum) 38

Hình 6: Nấm Linh chi giả da (A preussii) 39

Hình 7: Nấm lỗ hình phễu (P xanthopus) 40

Hình 8: Nấm lỗ nhỏ (M vernicipes) 41

Hình 9: Nấm bào tử bột (A campbellii) 42

Hình 10:Nấm lỗ vảy (F mollis) 43

Hình 11: Nấm lỗ tầng pinicola (F pinicola) 44

Hình 12: Nấm vỏ cầu đen (D concentrica) 45

Hình 13: Nấm phiến nứt (S comme) 46

Hình 14: Nấm đĩa da (E incarnata) 47

Hình 15: Nấm lỗ xanh (H fusco-violaceus) 48

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4 1- Phân bố số loài nấm lớn theo đai cao 50

Biểu đồ 4 2 - Tính đa dạng các loài nấm lớn theo hướng phơi 51

Biểu đồ 4 3 - Tính da dạng các loài nấm lớn theo sinh cảnh 52

Biểu đồ 4 4 -Phương thức sống của nấm 53

Biểu đồ 4 5 - Mức độ bắt gặp loài nấm 54

Biểu đồ 4 6 -Nhóm nấm có ích và có hại 55

Trang 7

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

1 Tên khóa luận: Nghiên cứu sự đa dạng sinh học, sinh thái của các loài nấm

lớn tại núi Luốt - Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam

2 Họ và tên sinh viên: Đồng Thị Hải Yến

3 Giáo viên hướng dẫn: Ts Nguyến Thành Tuấn

4 Mục tiêu nghiên cứu:

- Nâng cao khả năng nhận biết, bảo tồn tính đa dạng sinh học các loài nấm lớn

- Tìm hiểu về thành phần, đặc điểm hình thái, sinh thái của các loài nấm lớn

- Quản lý, lợi dụng hợp lý các loài nấm có ích và hạn chế các tác hại của các loài nấm lớn tại khu vực nghiên cứu

5 Nội dung nghiên cứu:

(1) Nghiên cứu tính đa dạng về thành phần loài nấm lớn tại khu vực

- Số loài thu được là 28 loài thuộc 22 chi, 8 họ, 5 bộ, 3 lớp, 2 ngành Trong

đó, ngành phụ nấm Đảm (Basidiomycota) chiếm tỷ lệ 96,4% trong tổng số loài thu được, bộ nấm có số lượng loài nhiều nhất là bộ nấm lỗ (Aphyllophorales) với 24 loài (chiếm 85,6%); họ nấm có số loài nhiều nhất là họ nấm lỗ (Polyporaceae) với

17 loài (chiếm 60,7%) Chi nấm Linh chi (Ganoderma) có 3 loài, chiếm tỷ lệ nhiều

nhất (10,4%)

(2) Hình thái thể quả:

Trang 8

- Trong các mẫu thu đƣợc loài nấm không có cuống 20 loài (chiếm tỷ lệ 71,4%), nấm có cuống 8 loài (chiếm tỷ lệ 28,6%) Mũ nấm trong các loài nấm thu đƣợc có 8 dạng mũ nấm khác nhau, trong đó mũ nấm hình quạt 7 loài, chiếm tỷ lệ lớn nhất với 25%, đứng thứ hai là mũ nấm có hình dạng khác (hình móng ngựa,…) 21,4%, tiếp đó lần lƣợt đến các dạng mũ nấm hình bán nguyệt, hình vỏ sò, hình tai, hình phễu; chiếm tỷ lệ thấp nhất là 3,6% (mũ nấm hình tròn, mũ nấm hình nón)

Màu sắc nấm:

- Màu sắc mũ nấm cũng rất đa dạng Các màu khác có số lƣợng loài nhiều nhất (màu hỗn hợp trên mũ nấm) 8 loài (chiếm 28,6% tổng số loài); tiếp theo là màu xám 7 loài (chiếm 25%), màu đen 5 loài (chiếm 17,8%), màu nâu 4 loài (chiếm 14,3%) Mũ nấm có màu hồng và màu vàng có số lƣợng loài ít nhất, mỗi màu có 1 loài (chiếm 3,6%)

- Trong 5 chất cấu tạo mô nấm thi chất gỗ chiếm tỷ lệ lớn nhất 42,8% (12 loài) Sau chất gỗ là chất da chiếm 28,6% (8 loài), chất thịt chiếm 17,8% (5 loài), còn lại chất keo 7,2% (2 loài) và chất than ít nhất chỉ có 1 loài (chiếm 3,6%)

- Trong 28 loài nấm thì có tới 17 loài có vai trò là nấm hoại sinh phá hủy

gỗ (chiếm 60,8%), có 3 loài làm thực phẩm (chiếm 10,7%) Các loài nấm có khả năng làm dƣợc liệu 6 loài (chiếm 21,4%), nấm ký sinh gây bệnh thực vật có 2

loài (chiếm 7,1%)

Trang 9

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nếu như trong hệ thống phân loại các loài sinh vật có năm giới, hai giới

khởi sinh (Monera) và nguyên sinh (Protista) là hai giới có độ tiến hóa thấp nhất

thì giới thực vật (Plantae) và động vật (Animalia) là hai giới tiến hóa nhất Và để chuyển hóa giữa hai cấp bậc trong thang bậc tiến hóa đó chính là giới nấm (Fungi) Với vai trò nối tiếp và chuyển hóa trong quá trình tiến hóa của sinh vật theo hai hướng là thực vật và động vật như vậy đủ thấy nấm có vai trò vô cùng quan trọng trong tiến hóa Đối với cuộc sống đời thường với đặc điểm là những sinh vật nhân thực, đơn bào hay đa bào, cấu trúc dạng sợi, phần lớn có thành tế bào chứa chitin, không có kujc lạp Phương thức sinh sống : dị dưỡng (hoại sinh hoặc kí sinh) Đại diện: Nấm men, Nấm sợi, Nấm đảm và Địa y

Nấm là thành phần của hệ sinh thái rừng, nó tạo nên sự đa dạng của hệ sinh thái Nhiều loài nấm giữ vai trò quan trọng phân giải chất hữu cơ và trả lại chất vô cơ cho đất, xúc tiến tuần hoàn của các chất C, N, S, P có tác dụng làm sạch môi trường nước, môi trường không khí, tạo nên hệ thống tự bón phân điều tiết dinh dưỡng cho rừng

Trong số các loài nấm lớn, nhiều loài nấm chứa axit amin, protein, lipit, vitamin

có tác dụng cung cấp thức ăn và thuốc chữa bệnh vô cùng quý giá cho con người như

nấm đông trùng hạ thảo (Cordyceps sinensis), nấm linh chi (Gannoderma lucidum) có loài nấm còn được sử dụng làm thực phẩm như nấm rơm (Volvaria volvacae), nấm sò (Pleurotus sp.), nấm mỡ (Agaricus bisporus Sing.)

Bên cạnh những loài nấm có ích chưa biết thì cũng có nhiều loài nấm có hại, gây độc cho con người, gây suy gan, suy thận, hôn mê,… thậm chí dẫn đến tử vong nếu ăn phải nấm độc Có một số loài nấm độc có thể kể đến là loài nấm độc tán trắng

(Amanita verna); nấm mũ đầu lâu mùa thu (Galerina marginata); nấm bắt ruồi (Amanita muscaria),…Nấm có rất nhiều loài, đa dạng về hình thái, màu sắc nên nhận

biết, phân biệt được giữa nấm độc và nấm ăn được không hoàn toàn dễ nếu chúng ta không biết

Trong những năm gần đây với sự gia tăng dân số, phá hủy tài nguyên rừng và sự biến đổi của môi trường sinh thái, cùng với đó là sự thiếu hiểu biết và

Trang 10

2

cách sử dụng nấm không đúng, dẫn đến nhiều loài nấm đã bị mất đi, thậm chí còn không biết sự tồn tại của nấm Vì thế việc nghiên cứu, bảo vệ và sử dụng hợp lý các loài nấm là rất cần thiết, là nhiệm vụ của các nhà khoa học và toàn thể người dân, là sự nghiệp vì thế hệ mai sau

Rừng thực nghiệm núi Luốt có hệ thực vật phong phú, đã tạo điều kiện tạo điều kiện tốt cho các loài nấm sinh trưởng và phát triển, đặc biệt là các loài nấm lớn Trước đây, cũng có những nghiên cứu về nấm lớn nhưng mỗi thời điểm khác nhau, sinh cảnh bắt gặp khác nhau và đặc điểm hình thái nấm lớn ở các giai đoạn phát triển khác nhau đã phần nào tạo nên sự đa dạng của nấm lớn tại khu vực này Chính vì vậy, để nhận biết và bổ sung thông tin về loài nấm lớn

và đưa ra các giải pháp quản lý, tôi đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp:

“Nghiên cứu sự đa dạng sinh học, sinh thái của các loài nấm lớn tại núi Luốt

- Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam”

Trang 11

chất diệp lục, chất dự trữ trong nấm không phải là tinh bột và glycogen như thực vật, động vật Nấm sinh sản bằng bào tử hoặc sinh sản sinh dưỡng (sợi nấm hay tơ nấm) Nấm là sinh vật hoại sinh chúng hấp thụ dinh dưỡng từ các thực vật hoặc động vật chết, một số ký sinh

Tơ nấm trong suốt không màu nhưng khi phát sinh bào tử có màu khác nhau (vàng, đỏ, đen, nâu ) nên người ta dễ nhầm lẫn màu của sợi nấm Với nhóm nấm lớn thì nấm mà ta thường gọi thực ra là quả thể của sợi nấm Quả thể có nhiều hình dạng và màu sắc khác nhau Một số nấm được biết đến có thể ăn được đã được chúng ta sử dụng từ lâu, nhưng vẫn còn rất nhiều loại nấm chưa xác định có độc tố rất mạnh nên chúng ta phải thật cẩn thận khi sử dụng những loại nấm lạ đặc biệt là có màu sắc sặc sỡ

Nấm là sinh vật không thể thiếu trong đời sống, không có nấm chu trình tuần hoàn vật chất sẽ bị mất một mắt xích quan trọng trong việc phân hủy chất

bã hữu cơ Nấm còn đem lại nguồn thực phẩm giàu đạm, đầy đủ các acid amin thiết yếu, hàm lượng chất béo ít và là những acid béo chưa bão hòa do đó tốt cho sức khỏe, giá trị năng lượng cao, giàu khoáng chất và các vitamin Ngoài

ra, trong nấm còn chứa nhiều hoạt chất có tính sinh học, góp phần ngăn ngừa

và điều trị bệnh cho con người, vì hầu như các loài nấm ăn đều có tác dụng phòng ngừa chống u bướu

Hiện nay các nhà khoa học đang nghiên cứu và phát hiện ra trong thành phần của nấm có những hoạt chất có dược tính rất mạnh với các căn bệnh nan

y hiện nay như viêm gan, ung thư, HIV v.v Việc đưa vào sử dụng rộng rãi các chế phẩm được tách chiết từ nấm sẽ giúp con người khỏe mạnh và phòng

chống được nhiều căn bạn tiềm ẩn nguy hiểm như cao huyết áp Các giống

Trang 12

Kluyveromyces, Pichia và Candida) và nhiều nấm sợi sống hoại sinh, kí sinh

và cộng sinh Nhiều loài nấm nang chỉ trải qua quá trình sinh sản vô tính (ở nấm gọi là anamorph), tuy nhiên, những dữ liệu phân tử đã giúp nhận dạng được những giai đoạn hữu tính (teleomorph) gần nhất của chúng ở nấm nang Bởi những sản phẩm của quá trình giảm phân được chứa trong nang nấm, nên vài loài nấm nang (như Neurospora crassa) được sử dụng để giải thích những nguyên lý của di truyền học

Ngành Basidiomycota (Nấm đảm), sản xuất ra những bào tử đảm chứa trong những thân hình dùi gọi là đảm Đa phần những loài nấm lớn đều thuộc ngành này, cũng như nấm than hay nấm gỉ sắt là những mầm bệnh chính ở ngũ cốc Những loài nấm đảm quan trọng khác bao gồm nấm Ustilago maydis gây bệnh cho ngô, chi nấm cộng sinh Malassezia gây nên gàu ở người, và nấm cơ hội gây bệnh viêm màng não, Cryptococcus neoformans

1.2 Nấm trên thế giới

Theo quan điểm 5 giới (Whittaker), cùng với giới động vật, giới thực vật, giới sinh vật nguyên sinh và giới sinh vật nhân nguyên thủy, nấm tạo thành một giới riêng biệt trong sinh giới và giới nấm có ý nghĩa to lớn trong tuần hoàn vật chất, trong hệ sinh thái địa cầu và trong nền kinh tế quốc dân

Nấm nói chung và nấm lớn nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống con người, chúng là nguồn thực phẩm giàu chất dinh dưỡng (Termitomyces albuminosus, Macrocybe gegantea), là nguồn thức ăn quý được

Trang 13

5

nhân dân ưa chuộng, chứa nhiều protein, các chất khoáng và vitamin (A, B, C,

D, E ) Nhiều loài nấm được sử dụng trong công nghiệp dược phẩm, là nguồn

nguyên liệu để điều chế các hoạt chất điều trị bệnh như Laricifomes officinalis là

nguyên liệu để chiết aragicin dùng trong chữa bệnh lao hoặc dùng làm thuốc

nhuận tràng Chiết xuất hoạt chất từ nấm linh chi (Ganoderma sp.) được dùng để

hỗ trợ điều trị nhiều bệnh như bệnh gan, tiết niệu, tim mạch, ung thư, AIDS

Trong thể quả của Ganoderma lucidum có các hoạt chất khác nhau có hoạt tính

kháng virus Chúng có tác dụng kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển của virus

HIV Các hoạt chất từ Ganoderma applanatum có hiệu lực chống khối u cao,

chúng được sử dụng trong điều trị ung thư: ung thư phổi, ung thư vú, ung thư dạ

dày Các dẫn xuất adenosine có trong Ganoderma capense và G amboinense có

tác dụng giảm đau, giãn cơ, ức chế kết dính tiền tiểu cầu Nhiều hoạt chất từ nấm Linh chi có khả năng đào thải phóng xạ, hạn chế và loại trừ những tổn thương do phóng xạ ở mô và tế bào

Những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng hộ quan điểm phân loại của Hibbett và M.C Aime (2006) trông cuốn “Kingdom Fungi” mà Kirk P.M., Cannon P.F., Stalpers J.A biên soạn trong cuốn “Từ điển Nấm” (Dictionary of the Fungi) xuất bản lần thứ 10 năm 2008 Chủ yếu là nâng ngành phụ nấm Đảm (Basidiomycotina) thì ngành chính (Basidio-mycota)

Theo Mao xiaogang (2000), Trung Quốc có khoảng 6000 loài, số loài đã biết có gần 2000 loài, phần lớn chúng thuộc các ngành nấm Lỗ Tại Ấn Độ, nhiều nhà nấm học đã nghiên cứu về nấm Lỗ ở một số vùng khác nhau như Radariv et al đã nghiên cứu phát hiện 256 loài nấm Lỗ ở Tây Ghats bang Maharashtra Trong danh mục nấm lỗ Israel, Daniel Tura (2010) và cộng sự đã ghi chép được 242 loài thuộc 11 chi Trong rừng mưa nhiệt đới Brazil năm

2002, Tatiana B Gibertoni cũng thông báo về số loài nấm Lỗ mọc trong rừng trên các dạng khác nhau như trên gỗ, trên cây sống, trên đất, Tại Litva một số tác giả đã nghiên cứu thành phần loài nấm Lớn và nấm Nhầy, năm 2013 công bố

326 loài nấm lớn tại vườn Asveja Regional (Lithuania)

Trang 14

đã công bố một số loài thuộc chi Epithele (bộ nấm Lỗ Polyporales) ở Thái Lan

và một số nước khác như Congo, Nam Phi và Đài Loan Đặc biệt, những năm

gần đây các nhà nấm học tập trung phân loại nấm Linh chi (Ganoderma sp.) ở

các nước nhiệt đới

Việc nhận biết đặc điểm hình thái của nấm đã có từ lâu, từ khi con người biết sử dụng nấm làm thức ăn Tuy vậy, khi đó nó chưa trở thành một môn khoa học Khoa học nghiên cứu nấm được hình thành từ thế kỷ XVIII Năm 1729, Michell lần đầu quan sát nấm bằng kính hiển vi và đăng bài trên tạp chí “Các chi thực vật” Năm 1772 trong cuốn “Hệ thống tự nhiên” Lineaus đưa ra 10 chi nấm mọc trên đất Nhiều nhà khoa học nổi tiếng thời kỳ sau này là Peron, Fries, Sweinitz, Corda, Berkley

Khoa học bệnh cây bắt đầu găn liền với nấm học từ năm 1851 Người sáng lập là A Debry Sau này, với sự phát triển đột phá của khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều loài nấm mới và nêu tên chúng trong danh lục các loài nấm Những căn cứ để phân loại nấm: dựa vào đặc điểm hình thái, phương thức dị dưỡng của nấm, quá trình sinh trưởng, phát triển của nấm

Năm 1881, nhà khoa học Phần Lan Karsten đã đề cập việc phân loại nấm dựa vào hình thái thể quẩ và mối quan hệ thân thuộc của chúng, đã được đông đảo các nhà nấm học trên thế giới công nhận như: Cunningham G.H (1947), Teng (1964), Leveilet J.H (1981)

Đến năm 1893, nhà nấm học Phần Lan Dork đã hoàn thiện cho hệ thống phân loại của Karsten Quan điểm phân loại này được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới công nhận như: Mayer E.I (1953), Kliusunhie P.I (1957), Parmasto

E (1979)

Năm 1971, Aisworth đã đưa ra hệ thống phân loại nấm một cách hoàn chỉnh Trong hệ thống phân loại này ông đã dựa và đặc điểm hình thái của thể

Trang 15

7

quả, đặc điểm giải phẫu và phương thức dinh dưỡng đã chia giới nấm (Mycota) thành hai ngành: Ngành nấm Nhầy (Myxomycota ) và ngành nấm Thật (Eumycota) Từ hai ngành trên , tác giả lại chia thành các lớp, lớp phụ, bộ, họ, chi và loài Như vậy, trong một taxon đơn vị phân loại nhỏ nhất là loài

Tại Tokyo (Nhật Bản), hiệp hội nấm quốc tế đã được thành lập năm 1971,

đã nêu ra hệ thống phân loại chia giới sinh vật thành 6 giới Nấm được chia vào giới riêng (dinh dưỡng hút) khác với giới thực vật (quang hợp) và động vật (dinh dưỡng nuốt) Trong giới sinh vật đa bào, loài sinh vật nhân thật có rất nhiều quan điểm và hệ thống phân loại, sắp xếp khác nhau Cho đến nay, hệ thống phân loại nấm của Ainsworth đã và đang được các nhà nấm học trên thế giới sử dụng

1.3 Nghiên cứu về nấm ở Việt Nam

Ở Việt Nam, từ lâu nhân dân đã biết dùng nấm làm thực phẩm và dược phẩm Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) trong tác phẩm “Vân đài loại ngữ

” và “Kiến văn tiểu lục” đã đánh giá “Linh chi là một sản vật quý hiếm của đất rừng Đại Nam” với các tác dụng lớn như: kiện não (tráng kiện), bảo can (bảo vệ gan), cường tâm (mạch tim), kiện vị (giúp tiêu hoá ở dạ dày), cường phế (giúp phổi), giải độc, giải cảm và giúp con người sống lâu, tăng tuổi thọ

Qua các công trình nghiên cứu nấm ở Việt Nam giai đoạn 1890 – 1928, tổng cộng có khoảng 200 loài, trong đó 28 loài phân bố ở Trung bộ và 37 loài ở

Bình Trị Thiên với 6 loài phân bố ở đèo Hải Vân: Amauroderma rude (Berk) Torrend, Hymenochaete adusta (Lév.) Bres, Laetiporus sulphureus (Bull Fr) Murr, Microporus affinis (Blume & Nees) O Ktze, Phylloporia fructica (Berk

& Curt) Ryv và Polyporus grammocephalus Berk

Phạm Hoàng Hộ (1953) là người Việt Nam đầu tiên có công trình nghiên cứu về nấm với tác phẩm “Cây cỏ miền nam Việt Nam” ông đã mô tả vắn tắt 48 chi, 31 loài nấm

Ở miền bắc Việt Nam, việc nghiên cứu nấm được bắt đầu vào năm 1954 tại Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc bấy giờ với các công trình tiêu biểu của Nguyễn Văn Diễn (1965) đã mô tả 28 loài nấm ăn được và 10 loài nấm độc,

Trang 16

8

Trương Văn Năm (1965) “Nghiên cứu nấm sống trên gỗ ở lâm trường Hữu Lũng”, Trịnh Tam Kiệt với đề tài “Bước đầu điều tra bộ Aphyllophorales vùng

Hà Nội” (1965) và “Sơ bộ điều tra nghiên cứu các loài nấm ăn và nấm độc chính

ở một số vùng miền Bắc Việt Nam” (1966) Tính đến năm 1978 đã có 618 loài thuộc 150 chi được ghi nhận ở miền Bắc Việt Nam Bên cạnh đó còn có các tác giả Lê Bá Dũng (1977) “Nghiên cứu họ Polyporaceae miền Bắc Việt Nam” đã

mô tả 22 loài; Lê Văn Liễu (1977) “Một số nấm ăn được và nấm độc ở rừng” với 118 loài; Năm 1978, Trịnh Tam Kiệt công bố “Những dẫn liệu về hệ nấm sống trên gỗ vùng Nghệ An”, tác giả đã mô tả 90 loài nấm sống trên gỗ

Trịnh Tam Kiệt đã công bố công trình “Nấm ở Việt Nam'' (tập 1), tác giả

đã mô tả 116 loài nấm thường gặp ở Việt Nam

Trần Văn Mão với đề tài “Góp phần nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số nấm phá gỗ ở vùng Thanh – Nghệ - Tĩnh” đã công bố

239 loài

Năm 1991, Phan Huy Dục công bố “Kết quả bước đầu điều tra

bộ Agaricales Clements trên một số địa điểm thuộc đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam” , tác giả đã nêu danh lục 56 loài Cùng năm 1991, Ngô Anh công bố công trình “Nghiên cứu nấm ở thành phố Huế” với 104 loài, “Dẫn liệu bước đầu về

họ Coriolaceae Sing ở Thừa Thiên Huế” đã nêu danh mục 60 loài

Năm 1992, Phan Huy Dục “Nấm Linh Chi - nguồn dược liệu quý hiếm cần được bảo vệ và nuôi trồng”

Năm 1993, Ngô Anh báo cáo “Một số kết quả nghiên cứu về trồng nấm

ăn” gồm 3 loài Volvariella volvacea, Auricularia polytricha và Pleurotus florida Phan Huy Dục công bố “Nấm phá hoại gỗ thường gặp trong rừng nhiệt

đới miền Bắc Việt Nam”, tác giả đã nêu danh lục 39 loài nấm phá hoại gỗ

Năm 1994, Phan Huy Dục công bố “Một số loài nấm hoang dại được dùng làm thực phẩm ở Việt Nam”, đã xác định được 16 loài Tiếp đó tại hội nghị Quốc tế về nấm Linh Chi được tổ chức tại Đại Học Y Khoa Bắc Kinh – Trung Quốc tác giả đã báo cáo “Research and culture of the mushroom Ganoderma lucidum (Leyss:Fr) Karst in Vietnam” Cùng năm này Phạm Quang Thu đã

Trang 17

9

nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của nấm Ganoderma lucidum ở vùng

Đông Bắc Việt Nam

Năm 1995, Trịnh Tam Kiệt và Lê Xuân Thám báo cáo “Những nghiên cứu về họ nấm Linh chi Ganodermataceae Donk ở Việt Nam”, tác giả đã nêu danh lục 43 loài nấm Linh chi, trong đó có 10 loài mới ghi nhận cho lãnh thổ Việt Nam và biên soạn chuyên san “Nấm Linh chi Ganodermataceae Donk – nguồn dược liệu quý ở Việt Nam”

Năm 1996, Trịnh Tam Kiệt và Ngô Anh báo cáo về họ nấm Linh chi Ganodermataceae Donk ở miền Trung Việt Nam tại hội nghị quốc tế về nấm tại Nhật Bản với đề tài “Study on the family Ganodermataceae Donk in the Central Region of Vietnam” với 30 loài Linh chi ở miền Trung Việt Nam, trong

đó có 20 loài mới ghi nhận lần đầu tiên cho khu hệ nấm ở miền Trung Việt Nam Cùng năm đó, Ngô Anh nghiên cứu thành phần loài nấm sống trên gỗ ở Thừa Thiên Huế đã công bố 172 loài nấm, trong đó có 6 loài mới ghi nhận lần đầu cho khu hệ nấm Việt Nam

Lê Xuân Thám nghiên cứu đặc điểm sinh học và quá trình hấp thu khoáng

của nấm Linh chi Ganoderma lucidum (Leys ex Fr.) Karst, bằng kỹ thuật hạt

nhân; Phan Huy Dục đã phân loại bộ Agaricales ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam đã công bố 113 loài, trong đó có 15 loài mới ghi nhận cho khu hệ nấm miền Bắc Việt Nam; Đàm Nhận nghiên cứu thành phần loài và một số đặc điểm sinh học họ nấm Linh chi Ganodermataceae Donk ở Việt Nam đã mô tả được

37 loài; Trịnh Tam Kiệt công bố “Danh lục nấm của Việt Nam” gồm 826 loài

Năm 1998, Ngô Anh và Lê Thức báo cáo “Dẫn liệu bước đầu về

họ Hymenochaetaceae Donk ở Thừa Thiên Huế” với 39 loài, trong đó 10 loài mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam Cũng năm đó, Ngô Anh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu cấp cơ sở “Nghiên cứu khu hệ nấm (Macrofungi) ở Thừa Thiên Huế” với 272 loài nấm, trong đó 46 loài mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam Trịnh Tam Kiệt (1998) công bố đặc điểm khu hệ nấm Việt Nam

“Charakteristika der GroBpilzflora Vietnams” và danh lục khu hệ nấm Việt

Trang 18

gồm 35 loài thuộc 2 chi Ganoderma và Amauroderma, trong đó 10 loài mới ghi

nhận cho khu hệ nấm Việt Nam; Lê Xuân Thám, Trần Hữu Độ và Hoàng Nghĩa Dũng công bố “Nghiên cứu công nghệ hoá tài nguyên nấm bào ngư, loài

mới Pleurotus blaoensis Thám sp nov & Antromycopsis blaoensis Thám anam

nov tìm được ở Bảo Lộc, Lâm Đồng”; Nguyễn Thị Chính, Kiều Thu Vân, Dương Đình Bi và Nguyễn Thị Đức Hiền báo cáo “Nghiên cứu một số hoạt chất

sinh học và tác dụng chữa bệnh của nấm Linh chi (Ganoderma lucidum)”

Cũng năm 2000, tại Hội nghị Sinh học Quốc Gia, những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu sinh học, Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, U Grafe và J Dorfelt đã công bố “Những dẫn liệu bổ sung về thành phần loài và hoá các hợp chất tự nhiên của khu hệ nấm Việt Nam”, trong đó các tác giả đã công bố 65 loài mới của khu hệ nấm Việt Nam và thông báo về các hợp chất tự nhiên được nghiên cứu ở 25 loài nấm Việt Nam, trong đó hơn 10 cấu trúc mới về các hợp chất tự nhiên ở nấm Việt Nam đã được xác định cho khoa học Phan Huy Dục và Nasakazu Hiraide báo cáo “Kết quả bước đầu điều tra nghiên cứu nấm phá hoại

gỗ ở rừng ngập mặn tại lâm - ngư trường Tam giang 3, huyện Ngọc Hiển, tỉnh

Cà Mau” đã công bố 20 loài

Hội nghị châu Á (2000) về thực vật dược ở Bangladesh, Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, P Kleinwachter và U Grafe đã báo cáo về các hợp chất nhóm Sterol

mới lạ được chiết từ loài Ganoderma colossum của Việt Nam “New unusual sterol – type metabolites from a Vietnamese mushroom, Ganoderma colossum”

Năm 2001, Lê Bá Dũng công bố “Thành phần loài của chi Hexagonia Fr

ở vùng Tây Nguyên” gồm 5 loài, trong đó Hexagonia rigida Berk là loài mới

cho khu hệ nấm Việt Nam Hội thảo quốc tế sinh học năm 2001 tại Hà Nội có các báo cáo như: Ngô Anh với công trình “Sự đa dạng về công dụng của khu hệ nấm ở Thừa Thiên Huế” gồm 326 loài trong 6 nhóm nấm có ích và có hại; Phan

Trang 19

11

Huy Dục báo cáo “Nấm (Macromyces) ở vườn Quốc Gia Tam Đảo Vĩnh Phúc” công bố 41 loài, 17 họ trong 2 lớp Ascomycetes và Basidiomycetes; Trịnh Tam Kiệt và Henrich Dorfelt báo cáo “Các taxon mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam và ý nghĩa của hệ thống sinh thái của chúng” công bố 9 loài mới cho lãnh thổ Việt Nam

Năm 2001, Kleinwachter P., Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, Schlegel B., Dahse H M, Hartl A và U Grafe đã công bố 7 hoạt chất mới nhóm Triterpenoid: Colossolactones A – G (1-7) được chiết từ loài Ganoderma colossum (Fr) C F Baker được thu thập ở Huế

Tổng kết cho đến năm 2001 đã có 1250 loài thuộc khu hệ nấm Việt Nam được công bố

Năm 2002, Ngô Anh báo cáo “Đa dạng nấm ở vườn Quốc gia Bạch Mã” Năm 2003 tại Huế, hội nghị toàn quốc lần thứ hai về “những vấn đề nghiên cứu

cơ bản trong khoa học sự sống” với nhiều báo cáo về nấm như: Phan Huy Dục, Norbert Arnold với công trình “Dẫn liệu bước đầu về tính đa dạng thành phần loài nấm (Macromycetes) ở Hà Giang”; Trịnh Tam Kiệt, U Grafe công bố

“Những nghiên cứu về Linh chi Hải Miên Tomophagus Murrill của Việt Nam”; Ngô Anh báo cáo “Sự đa dạng của khu hệ nấm Thừa Thiên Huế”

Năm 2003, Ngô Anh nghiên cứu thành phần loài nấm ở Thừa Thiên Huế

đã xác định được 346 loài thuộc 134 chi nằm trong 3 ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota

Năm 2004, Trịnh Tam Kiệt, Trịnh Thị Tam Bảo trong một số công trình:

“Nghiên cứu dưới chi Elfvingia và chi Tomophagus ở Việt Nam” đã xác định được 13 loài thuộc dưới chi Elfvigia và 1 loài thuộc chi Tomophagus; “Nghiên cứu chi Phellinus ở Việt Nam” đã xác định 22 loài thuộc chi Phellinus và 1 loài thuộc chi Phylloporia; “Nghiên cứu thành phần loài nấm đa niên thuộc

họ Coriolaceae” đã công bố 17 loài trong 8 chi

Một số loài thuộc họ Coriolaceae được sử dụng trong công nghệ dược

phẩm, chúng được dùng để tinh chế một số dược phẩm như loài Lariciformes officinalis từ xưa được dùng để chiết agaricin một dược phẩm dùng chữa một số

Trang 20

12

bệnh như bệnh Lao, và được dùng làm thuốc nhuận tràng, chất thay thế cho

quinine; Trametes vericolor, Pycnoporus sanguineus có chứa chất kháng sinh, vì vậy nhân dân một số nơi dùng chữa bệnh thối tai Loài Auricularia polytricha được dùng làm thuốc chữa táo bón, rong huyết, giải độc Pleurotus ostreatus được dùng làm thực phẩm và dược phẩm chữa bệnh béo phì Pisolithus tinctorius có tác dụng cầm máu

Gần đây (2005), nhóm nghiên cứu của Lê Thị Mai Hương và các cộng sự

đã nghiên cứu các hoạt chất từ một số loài nấm lớn, đã tách, tinh sạch và dặc

trưng tính chất của laccase từ Agarius blazei được nhân nuôi trên môi trường

MEA

Từ những công trình nghiên cứu của các nước trên thế giới và Việt Nam, trong tự nhiên còn có rất nhiều loài nấm dược liệu, cũng như thực phẩm mà chúng ta còn chưa được biết đến Chính vì vậy, nghiên cứu sự đa dạng sinh học của các loài nấm lớn tại núi Luốt, Trường Đại học Lâm nghiệp nhằm nâng cao khả năng nhận biết và giá trị bảo tồn, phát triển các loài nấm lớn tại khu vực

Trang 21

Thị trấn Xuân Mai nằm trên điểm giao nhau giữa Quốc lộ 6 và Quốc lộ 21A nay

là Đường Hồ Chí Minh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 33 km về phía tây, là một trong 6 đô thị vệ tinh của Hà Nội, bao gồm: Sơn Tây- Hòa Lạc- Phú Xuyên- Sóc Sơn- Mê Linh trong tương lai

- Phía Tây giáp với thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

- Phía Bắc giáp với xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, Hà Nội

- Phía Đông giáp với xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ

- Phía Nam giáp với xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ

Trong đó, trường đại học Lâm Nghiệp Việt Nam nằm gần ngã tư giao nhau của quốc lộ 6A và 21A Nằm trên một vùng bán sơn địa, có tọa độ địa lý 20º50’ Bắc và 105º30’ Đông

2.1.3 Khí hậu thủy văn

Theo kết quả nghiên cứu của trạm khí tượng thủy văn Ba Vì- Hà Tây từ năm 2000 cho thấy: Khu vực Xuân Mai hàng năm có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến thàng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Trong thời gian này lượng mưa nhỏ hơn lượng bốc hơi

Trang 23

15

( Nguồn: Trạm quan trắc khí tượng Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam)

+ Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm là 23,62°C Nhiệt độ tháng nóng nhất (tháng 6): 28,32°C Nhiệt độ tháng lạnh nhất (tháng 1): 17,41°C

+ Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm là 136,4mm Phân bố không đều các tháng trong năm Lượng mưa trung bình tháng cao nhất (tháng 7): 311,47mm Lượng mưa trung bình tháng thấp nhất (tháng 1): 15,89mm Số ngày mưa trong năm: 210 ngày

+ Độ ẩm không khí: Khu vực nghiên cứu có độ ẩm không khí tương đối cao nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm Độ ẩm không khí trung bình năm 82,43% Tháng có dộ ẩm không khí trung bình thấp nhất (tháng 12): 79,1 %

+ Chế độ gió: Khu vực nghiên cứu chịu arh hưởng của 2 luồng gió chính: Gió Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Gió Đông Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 7 Ngoài ra từ tháng 4 đến tháng 6 khu vực còn chịu ảnh hưởng gió phơn Tây Nam (gió Lào)

Với đặc điểm khí hậu thủy văn của khu vực Núi Luốt tương đối phù hợp cho nấm sinh trưởng và phát triển, với lượng mưa khá cao (136,4mm/năm) và

độ ẩm lớn (83,4%)

2.1.4 Đất và thổ nhưỡng

Nhóm đất của khu vực nghiên cứu là đất feralit màu nâu vàng phát triển trên đá mẹ Poocfiarit, tầng đất từ trung bình đến dày tập trung chủ yếu ở chân 2 quả đồi, sườn Đông Nam quả đồi thấp ( 76m so với mặt nước biển ), và sườn Tây Nam quả đồi cao (133m so với mặt nước biển) Tầng đất mỏng tập trung ở đỉnh đồi, sườn phía Đông Bắc quả đồi thấp, sườn Tây Bắc quả đồi cao Những nơi tầng đất mỏng tỷ lệ đá lẫn càng lớn Đá lộ đầu chủ yếu tập tủng ở khu vực gần đỉnh và đỉnh 133m

Nhìn chung đất khá chặt, đặc biệt là những lớp đất mặt ở khu vực chân đồi và những lớp đất sát khu vực đỉnh và yên ngựa Kết von thật và giả được thấy khắp nơi trong khu vực, có những nơi kết von thật chiếm tới 60%-70% trọng lượng đất Điều này chứng tỏ có sự tích lũy sắt khá phổ biến trong đất, ở

Trang 24

16

một số nơi, đá ong được phát hiện với mức độ nhiều Đá ong chủ yếu tập chung

ở chân đồi phía Tây Nam, Đông Nam đồi cao Hàm lượng mùn trong đất nhìn chung thấp, điều đó chứng tỏ quá trình tích lũy mùn rất kém

Những điều đã trình bày ở trên phần nào nói lên mức độ faralit hóa rất mạnh trong khu vực núi Luốt Điều kiện đất đai tại khu vực nghiên cứu nhìn chung vẫn mang tính chất đất rừng Tuy nhiên do tác động lớn của con người nên quá trình tái sinh tự nhiên diễn ra không mạnh mẽ

2.1.5 Đặc điểm về động- thực vật

Trước năm 1984, thực vật trong khu vực chủ yếu là cây bụi thảm tươi, những loài cây chủ yếu bao gồm: Sim, Mua, Bồ Đề, Cỏ Tranh, cỏ Lào, Trinh nữ…

Sau năm 1984, Trường Đại Học Lâm Nghiệp đã tiến hành trồng rừng với các loài cây chủ yếu như: Thông Mã vĩ, Keo lá tràm, Keo tai tượng, Bạch đàn trắng Một vài năm trở lại đây, trường đã tiến hành trồng bổ sung các loài cây có nguồn gốc từ rừng tự nhiên nhằm bảo tồn nguồn gen và bảo tồn đa dạng sinh học Độ che phủ và dộ tàn che ở đây khá cao lên đến 70%

Theo ghi nhận rừng thực nghiệm núi Luốt có khoảng 342 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 257 chi và 90 họ Thực vật trong khu vực rất đa dạng và

Chính nhờ sự đa dạng và phong phú của hệ động thực vật nơi đây cũng làm cho hệ nấm đa dạng hơn Từ những loài nấm ưa ẩm dưới tán cây rừng mọc

ở dưới đất, hay những loài nấm mọc trên chất thải của động vật, trên thân cây hay là trên cành lá cây

Trang 25

17

2.2 Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội

Thị trấn Xuân Mai gồm các 9 khu dân cư: Khu Bùi Xá, Khu Phố Xuân

Hà, khu Xuân Mai, khu Tiên Trượng, khu Đồng Vai, khu Tân Xuân, khu Tân Bình, khu Chiến Thắng và khu Tân Mai

Rừng thực nghiệm núi Luột thuộc thị trấn Xuân Mai và huyện Lương Sơn (Hòa Bình) nên núi Luốt chịu sức ép từ nhiều phía Ngoài các hoạt động tích cực vào rừng còn có các hoạt động tiêu cực như việc chăn thả gia súc tự do, chặt phá cây

Bên cạnh đó nằm trong khu vực thị trấn Xuân Mai còn có các đơn vị bộ đội, các trường học Đặc biệt là Trường Đại học Lâm Nghiệp – trung tâm đào tạo cán bộ kỹ thuật nghành, trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật Lâm Nghiệp, do vậy đã có ảnh hưởng tích cực đến bảo vệ và phát triển rừng tại khu vực nghiên cứu

2.2.1 Thực trạng kinh tế - xã hội

Khu nghiên cứu thực trạng núi Luốt – Trường Đại Học Lâm Nghiệp chủ yếu nằm trên địa bàn xã Hòa Sơn – huyện Lương Sơn – tỉnh Hòa Bình Đây là một xã miền núi với 3.822 nhân khẩu trong đó dân tộc Mường chiếm 58,85%, dân tộc Kinh chiếm 41,15% Người dân ở đây chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 543 ha, nghề rừng chưa được phát triển

2.2.2 Sản xuất nông – lâm nghiệp, thủy sản

a Sản xuất nông nghiệp

Trồng trọt: Đa số người dân nơi đây sử dụng đất nông nghiệp cho trồng

cây lúa nước và cây ngô Tuy nhiên, với chủ trương đô thị hóa của Thành ủy biến đổi Xuân Mai thành một vùng kinh tế mới thì hoạt đồng giao lưu buôn bán, xây dựng cơ sở hạ tầng của người dân nơi đây càng được chú trọng Cùng với sự phát triển và gia tăng về số lượng sinh viên trường Đại học Lâm Nghiệp trong những năm 2012 – 2016 thì nghề kinh doanh tự do đang ngày càng phát triển ở địa phương

Trang 26

18

Chăn nuôi – thú y: đây là một ngành nghề không phổ biến ở địa phương,

trong khi số người làm nghề chăn nuôi chỉ chiếm 1/3 dân số trong khu vực, với quy mô nhỏ lẻ, khoa học kỹ thuật chưa được áp dụng

b Về lâm nghiệp

Khu vực nghiên cứu là một vùng đất đồi núi, nhưng nghề rừng chưa phát triển Tuy vậy, từ khi Trường Đại học Lâm Nghiệp xây dựng và phát triển tại Xuân Mai thì núi Luốt luôn được quan tâm và phát triển, trong thời gian tới sẽ trở thành Vườn thực vật Quốc gia

Cùng với đó sự hình thành, sinh trưởng và phát triển của tài nguyên sinh vật, trong đó có tài nguyên nấm

c Công tác khuyến nông

Vẫn là một vùng nông nghiệp nên nơi đây công tác khuyến nông nơi đây vẫn diễn ra thường xuyên Hằng ngày các thông tin đều được tuyên truyền tới bà con nhân dân thông qua hệ thống kênh phát thanh của địa phương, qua các buổi họp Từ đó, các thông tin cần thiết luôn được truyền tải, phổ biến kịp thời đến người dân

2.2.3 Cơ sở hạ tầng, y tế - giáo dục

Y tế: Trường Đại Học Lâm Nghiệp luôn chú trọng trong việc đảm bảo sức

khỏe cho Cán bộ công nhân viên chức và sinh viên trong toàn trường Hằng năm Nhà trường đều tổ chức khám sức khỏe cho CBVC người lao động, sinh viên - học sinh trong trường Đầu mỗi khóa học, trường tổ chức các đợt khám sức khỏe định kì Trường có 1 cơ sở y tế để sẵn sáng phục vụ cho Cán bộ và các sinh viên Bên cạnh đó thị trấn Xuân Mai còn có cơ sở y tế với đầy đủ các trang thiết bị đảm bảo cho công tác khám chữa bệnh cho người dân quanh khu vực

Giáo dục: Trong khu vực có nhiều đơn vị bộ đội (Sư đoàn 308, trường Sỹ

quan đặc công,…), các trường đại học - cao đẳng (Trường Đại học Lâm nghiệp, trường Cao đẳng cộng đồng,…), trường phổ thông (Trường Trung học phổ thông Lâm nghiệp, Xuân Mai, Trường PTCS,…) Cơ sở hạ tầng về giáo dục luôn được đầu tư ở các cấp học Giáo dục phổ thông được phổ cập Trình độ dân trí được nâng cao

Trang 27

19

CHƯƠNG III: MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Nâng cao khả năng nhận biết, bảo tồn sự đa dạng sinh

học các loài nấm lớn

Mục tiêu cụ thể:

- Xác định thành phần, đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài nấm lớn tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất giải pháp quản lý các loài nấm lớn

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các loài nấm lớn tại núi Luốt – Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam

3.3 Thời gian nghiên cứu

Từ ngày 8 tháng 2 năm 2018 đến ngày 8 tháng 5 năm 2018

3.4 Địa điểm nghiên cứu

Khóa luận được tiến hành nghiên cứu tại núi Luốt – Trường Đại học Lâm nghiệp, thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

3.5 Nội dung nghiên cứu

Khóa luận thực hiện 4 nội dung sau:

(1) Nghiên cứu tính đa dạng về thành phần loài nấm lớn tại khu vực nghiên cứu

(2) Nghiên cứu tính đa dạng hình thái của các loài nấm lớn tại khu vực nghiên cứu

(3) Nghiên cứu tính đa dạng về sinh thái của các loài nấm lớn tại khu vục nghiên cứu

(4) Đề xuất giải pháp bảo vệ tính đa dạng các loài nấm lớn tại khu vực nghiên cứu

Trang 28

- Các loại bản đồ hiện trạng tài nguyên thiên nhiên khu vực nghiên cứu

- Các tài liệu về phương pháp điều tra tài nguyên nấm, điều tra lấy mẫu, giám định mẫu

- Tài liệu về phân loại nấm

3.6.2 Phương pháp điều tra thực địa

Công tác chuẩn bị: chuẩn bị bản đồ, dụng cụ thu thập mẫu (cồn 90º, túi

nilon, dao, máy ảnh), địa bàn, thước dây, túi đựng mẫu, phiếu điều tra,…

Công tác ngoại nghiệp: bao gồm điều tra sơ bộ và điều tra tỷ mỷ Điều tra

sơ bộ được điều tra theo tuyến, điều tra tỷ mỷ được thực hiện điều tra tại các ô tiêu chuẩn

Trên cơ sở bản đồ địa hình, quan sát thực địa và lập tuyến điều tra qua các dạng địa hình khác nhau Cứ một trạng thái rừng khác nhau chúng tôi lập 1 ô tiêu chuẩn Ô tiêu chuẩn có diện tích 1000m², hình chữ nhật, được phân bố đều trên tất các dạng địa hình đặc trưng của khu vực điều tra Tổng số ô tiêu chuẩn chúng tôi điều tra là 10 ô

Các tuyến điều tra tại khu vực nghiên cứu:

Với đặc điểm địa hình đặc biệt của rừng thực nghiệm núi Luốt là một vòng số 8, nên chỉ cần đi 1 tuyến là có thể đi hết được các tuyến đường xuyên qua các dạng địa hình chính để từ đó có thể thu thập được các mẫu nhất định cũng như xác định được các ô tiêu chuẩn để tiến hành điều tra thực tế Tuyến cụ thể được xác định bắt đầu từ phòng bảo vệ tổ điện nước đi qua ngã tư thứ nhất

về phía vườn ươm và nghĩa trang tiếp tục đi thẳng về phía đặc công vòng lên chòi canh lửa rồi vòng xuống Xuống đến ngã tư thứ hai đi thẳng xuống ngã tư thứ nhất về phía đường quốc lộ và kết thúc tại dốc lên trung tâm thí nghiệm phòng thực hành

Trang 29

21

Tại mỗi ô tiêu chuẩn phải xác định đặc điểm của ô, sau đó tiến hành mô tả mẫu thu thập, chụp ảnh tại thực địa, thu hái và bảo quản mẫu

3.6.3 Phương pháp thu thập mẫu

Tiến hành điều tra lập ô tiêu chuẩn và thu thập các mẫu trong ô tiêu chuẩn

đó, gặp mẫu tiến hành chụp ảnh, ghi chép đặc điểm lâm phần như: Loài cây, địa hình, độ che phủ, Trong quá trình điều tra, đồng thời tiến hành thu thập mẫu lớn, các mẫu nấm thu được ghi lại trong phiếu điều tra (biểu 01)

MẪU 01: PHIẾU ĐIỀU TRA NẤM LỚN

Ngày lấy mẫu: Số ô tiêu chuẩn:

Số hiệu mẫu: Tên nấm: Tên Việt Nam: Địa hình:

Độ cao: Hướng dốc: Độ dốc: Phương thức mọc (kiểu mọc):

Vị trí mọc trên cây chủ: Mọc trong, bìa hay ngoài rừng: Loài cây chủ:

Số lượng các thể quả nấm: Kiểu rừng: Gây mục:

Sau khi thu thập mẫu nấm cần chụp ảnh ngay và ghi lại đặc điểm của nơi thu lấy mẫu, đặc điểm hình thái của mẫu Các mẫu có cấu tạo thịt, keo cần tiến hành ngâm cồn 90º, các mẫu nấm có cấu tạo gôc, chất bần, chất than thì phơi khô cho vào túi nilon Sau đó đem mẫu nấm về Bộ môn Bảo vệ thực vật rừng để phân loại, giám định tên loài

3.6.4 Công tác nội nghiệp

a Phương pháp định loại mẫu nấm

Điều tra, thu lấy mẫu ở ngoài thực địa tôi chỉ mô tả đặc điểm hình thái của thể quả một cách sơ bộ Sau đó, mang mẫu nấm về Bộ môn Bảo vệ thực vật

Trang 30

22

rừng tiến hành mô tả chi tiết và đối chiếu với các tài liệu chuyên khảo như: Nấm lớn Trung Quốc của Mão Hiểu Cương (2000), Đa dạng nấm lớn Hải Nam của Đới Ngọc Thành (chủ biên), Nấm lớn Cúc Phương của Trần Văn Mão, Trương

Quang Bích, Đỗ Văn Lập Hệ thống phân loại của Ainsworth (1973) Các loài nấm thu được ngoài thực địa được phân loại dựa vào đặc điểm hình thái đặc trưng và so sánh với tài liệu chuyên khảo để định danh tên loài Đặc điểm hình thái thể quả nấm lớn được mô tả theo mẫu phiếu sau:

Mẫu 02 Phiếu mô tả mẫu nấm

Số hiệu mẫu:

Có cuống: Chiều dài cuống: Đường kính cuống: Cách mọc cuống: Đặc điểm cuống: Hình dạng tán: Màu sắc tán: Kích thước tán:

Số tầng ống nấm:

Số lỗ ống nấm/1mm2: Chất mô nấm (Gỗ, bần, thịt, da, keo, than): Đặc điểm của mô nấm: Đặc điểm lỗ nấm: Các đặc điểm khác:

b Tính đa dạng các loài nấm lớn tại khu vực nghiên cứu

Tính đa dạng của các loài nấm lớn được thể hiện thông qua các chỉ số về đặc điểm thành phần loài nấm, hình thái, sinh thái

Tần ấ ắ g p của các loài nấm: Để đánh giá tần suất bắt gặp của các

loài nấm dựa vào công thức:

A = n/N x 100%

Trong đó:

A là tần suất bắt gặp một loài nấm

n là số điểm điều tra có loài nấm

N là tổng số điểm điều tra

Trang 31

23

Nếu A ≤ 25% ít gặp, ký hiệu ( + )

Nếu 25% < A ≤50% thường gặp, ký hiệu ( ++ )

Nếu A > 50% rất hay gặp, ký hiệu ( +++ )

Tính đa dạng về thành phần loài: được thể hiện qua sự phân bố các taxon

trong các ngành, bộ, họ, chi, đa dạng về loài của các ngành phụ nấm lớn

Bảng 1 Danh lục các loài nấm lớn tại khu vực nghiên cứu

Ghi chú: TSBG: Tần suất bắt gặp (+ ít, ++ nhiều, +++ rất nhiều), PTS:

Phương thức sống

Tính đa dạng về hình thái: Đa dạng hình thái nấm được phân tích, thống

kê, tính bằng phần trăm số loài có các đặc điểm về cuống nấm (có cuống và không có cuống), hình dạng mũ nấm (bán nguyệt, quạt, hình phễu), màu sắc (xám, nâu, vàng, trắng và màu khác) so với tổng số loài nghiên cứu Về đặc điểm chất cấu tạo thể quả nấm thể hiện qua chất bần, chất da, chất gỗ

Tính đa dạng về sinh thái: Được thể hiện qua theo địa hình, trạng thái

rừng, phương thức sống của nấm

Bảng 2 Số loài nấm lớn trong sinh cảnh chính

Bảng 3 Số loài nấm theo các phương thức sống

Giá trị tài nguyên nấm lớn tại khu vực nghiên cứu: Giá trị tài nguyên nấm

lớn được thống kê theo giá trị sử dụng, như: thực phẩm, dược liệu, nấm độc dựa trên tài liệu chuyên khảo của Trịnh Tam Kiệt (1982), Mão Hiểu Cương (2000), Trần Văn Mão (2005), Đới Ngọc Thành (2010)

Bảng 4 Giá trị sử dụng các nhóm nấm điều tra được tại KVNC

Trang 32

Đề xuất giải pháp quản lý các loài nấm lớn tại khu vực nghiên cứu:

Hướng đề xuất sử dụng các loài nấm lớn trong khu vực nghiên cứu được đề xuất dựa trên giá trị và công dụng của các loài nấm, dựa trên đặc điểm sinh học và

đặc điểm phân bố của các loài nấm

Trang 33

25

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

4.1 Danh lục các loài nấm lớn tại khu vực nghiên cứu

Kết quả điều tra và giám định mẫu nấm tại khu vực nghiên cứu có 2 ngành phụ nấm, 3 lớp, 5 bộ, 8 họ, 22 chi và có 28 loài Qua đó cho thấy, nấm lớn tại nơi đây khá đa dạng về thành phần loài Số lượng loài nấm lớn được thể hiện trong bảng 4.1

Bảng 4 1: Danh lục các loài nấm lớn tại khu vực nghiên cứu

Y.C Dai & B.K.Cui Nấm lỗ thông la hán + Hoại sinh Chưa rõ

Trang 34

17

Hirschioporus

fusco-violaceus (Schrad.: Fr.)

Donk

Teng

Nấm lỗ sợi Trung

19 Lenzites betulina (L.) Fr Nấm lỗ hoa + Hoại sinh Dƣợc liệu,

23 Polystictus xanthopus Fr Nấm lỗ hình phễu ++ Hoại sinh Chƣa rõ

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w