Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: 1 Bèo lục bình có khả năng sản xuất ra giấy, hoặc kết hợp với Dướng tạo ra các loại giấy có nhiều ưu điểm đặc biệt nó rất thân thiện với môi trường, sẵn
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian miệt mài nghiên cứu, đến nay khóa luận tốt nghiệp
“Nghiên cứu sản xuất giấy từ bèo Lục Bình và cây Dướng bằng phương pháp thủ công”, đã hoàn thành
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo
CN Đặng Hoàng Vương và TS Nguyễn Hải Hòa, những người đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận
Đồng thời tôi xin trân trọng cảm ơn bác Nguyễn Văn Chúc chủ cơ sở sản xuất giấy dó thủ công đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện khóa luận tốt nghiệp một cách hoàn chỉnh nhất, song do thời gian và năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Kính thầy, cô giáo và các bạn đóng góp ý kiến để khóa luận được hoàn thiện hơn
Và sau cùng, tôi xin kính chúc quý thầy, cô công tác tại trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam sức khỏe dồi dào và niềm tin vững chắc để dẫn dắt, truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2017
Sinh viên
Trần Hương Giang
Trang 2TÓM TẮT
Bèo lục bình là một loài thực vật phổ biến ở Việt Nam Khi lượng bèo lục bình ít sẽ giúp làm sạch nước, làm thức ăn cho vật nuôi Nhưng khi nó phát triển mạnh thì thực sự là vấn nạn, ảnh hưởng rất lớn môi trường và đời sống của con người Bèo lục bình gây cản trở dòng chảy của nước, lưu trữ rác thải, tích tụ ô nhiễm Hiện nay việc hạn chế sự tác động xấu của bèo lục bình được nhiều địa phương tiến hành với nhiều hình thức khác nhau, nhưng nhìn chung hiệu quả đạt được là không cao, bởi vì sự phát triển quá nhanh của nó Bên cạnh đó nguồn gỗ rừng tự nhiên ngày càng cạn kiệt, trong khi đó nhu cầu
về sử dụng dụng gỗ và các sản phẩm từ gỗ ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng Đặc biệt là quá trình sản xuất giấy, quá trình này đòi hỏi một lượng lớn gỗ để sản xuất, gây lãng phí Lượng chất thải rắn cũng ngày càng ra tăng do nhu cầu của con người ngày càng lớn, ảnh hưởng xấu đến môi trường
tự nhiên Do đó, chúng ta bắt buộc phải chuyển hướng sử dụng từ gỗ tự nhiên sang các loài thực vật khác
Nhằm giải quyết vấn đề này, đề tài đã tiến hành nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất giấy từ bèo Lục Bình (Eichhornia Crassipes) và cây Dướng theo phương pháp thủ công Mục đích là vừa giảm được lượng bèo lục bình, vừa tạo nguồn lợi về kinh tế Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: (1) Bèo lục bình có khả năng sản xuất ra giấy, hoặc kết hợp với Dướng tạo ra các loại giấy có nhiều ưu điểm đặc biệt nó rất thân thiện với môi trường, sẵn sàng để thay thế các nguyên liệu khó phân hủy như nilon, polyme; (2) Sản phẩm thủ công được làm từ giấy lục bình đa dạng với nhiều mẫu mã, có khả năng ứng dụng cao
Từ khóa: bèo lục bình, môi trường, ô nhiễm, sản xuất giấy
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.Tổng quan về chất thải rắn 3
1.1.1.Khái niệm chất thải rắn 3
1.1.2.Phân loại chất thải rắn 3
1.1.3.Tác động của chất thải rắn 4
1.1.4.Biện pháp quản lý chất thải rắn 7
1.1.5.Thực trạng quản lý chất thải rắn ở nước ta 7
1.1.6.Hiện trạng thu gom, vận chuyển chất thải rắn 8
1.1.7.Hiện trạng xử lý và quản lý chất thải rắn 9
1.1.8.Đặc tính và tác hại của bao bì nilon 9
1.2.Bèo Lục Bình 12
1.2.1.Tên gọi và phân loại bèo Lục Bình 12
1.2.2.Lợi ích của bèo Lục Bình 13
1.2.3.Tác hại của bèo Lục Bình 14
1.2.4.Hiện trạng sử dụng bèo Lục Bình 15
1.3.Cây Dướng 16
1.3.1.Phân loại 16
1.3.2.Đặc điểm hình thái 16
1.3.3.Đặc điểm phân bố, sinh thái và sinh trưởng 16
1.3.4.Giá trị sử dụng 16
1.4 Một số nghiên cứu ở Việt Nam 17
Trang 4CHƯƠNG II: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 20
2.1.Mục tiêu nghiên cứu 20
2.1.1.Mục tiêu chung 20
2.1.2.Mục tiêu cụ thể 20
2.2 Đối tượng nghiên cứu 20
2.3.Nội dung nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1.Phương pháp kế thừa tài liệu 21
2.4.2.Phương pháp xử lý số liệu nội nghệp 21
2.4.3.Bố trí thí nghiệm 21
2.4.4.Phương pháp đánh giá chất lượng giấy 23
2.4.5.Hệ thống tiêu chuẩn sử dụng so sánh, đánh giá chất lượng của giấy 28
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1.Sản phẩm giấy thủ công sau thử nhiệm 29
3.2.Đánh giá chất lượng giấy sản xuất từ bèo Lục Bình và cây Dướng 32
3.2.1.Đánh giá chất lượng giấy sản xuất từ bèo Lục Bình và cây Dướng theo các tiêu chuẩn công nghiệp 32
3.2.2.Đánh giá các tính chất của các loại giấy thử nghiệm 39
3.3.Đề xuất hướng phát triển sản xuất và kinh doanh giấy bao gói làm từ bèo Lục Bình 40
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KHUYẾN NGHỊ 44
4.1.Kết luận 44
4.2.Tồn tại 44
4.3.Khuyến nghị 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn toàn quốc 8
Bảng 2.1 Bảng nguyên liệu dụng cụ, hóa chất, nhiên liệu nghiên cứu 21
Bảng 2.2 Bảng tỉ lệ nguyên liệu và hóa chất 22
Bảng 2.3 Bảng hệ thống tiêu chuẩn sử dụng so sánh đánh giá chất lượng của giấy 28
Bảng 3.1 Bảng so sánh các tính chất vật lý của các loại giấy theo CTTN 29
Bảng 3.2 Bảng đánh giá các chỉ tiêu của giấy thử nhiệm theo thang điểm 10 31
Bảng 3.3 Phân loại giấy theo định lượng 33
Bảng 3.4 Bảng giá trị chiều dài đứt của các CTTN 34
Bảng 3.5 Bảng giá trị độ bền xé của các CTTN 36
Bảng 3.6 Bảng giá trị độ chịu bục của các CTTN 38
Bảng 3.7 Bảng so sánh các chỉ tiêu của CTTN với các loại giấy hiện hành trên thị trường (theo tiêu chuẩn hiện hành) 39
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Các sản phẩm từ giấy Lục Bình 41
Hình 3.2 Đèn ngủ 41
Hình 3.3 Túi xách 42
Hình 3.4 Tranh vẽ trên giấy Lục Bình 43
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Giá trị định lƣợng của các loại giấy theo các CTNT 33
Biểu đồ 3.2 Chỉ số chiều dài đứt của các loại giấy thử nghiệm 35
Biểu đồ 3.2 Chỉ số độ bền xé của các loại giấy thí nghiệm 37
Biểu đồ 3.4 Biểu đồ thể hiện giá trị chỉ số độ chịu bục 38
của các loại giấy thí nghiệm 38
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, môi trường đang ngày càng ô nhiễm trầm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai
Một trong những tác nhân có ảnh hưởng lớn đến môi trường chính là túi nilon Túi nilon chứa nhiều thành phần độc hại với sức khỏe của con người
và môi trường, khi thải ra môi trường phải mất hàng trăm năm đến hàng nghìn năm mới bị phân huỷ hoàn toàn và túi nilon dùng một lần còn gây lãng phí
kinh tế cho toàn thế giới
Bên cạnh đó nguồn gỗ rừng tự nhiên ngày càng cạn kiệt, trong khi đó nhu cầu về sử dụng dụng gỗ và các sản phẩm từ gỗ ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng Đặc biệt là quá trình sản xuất giấy, quá trình này đòi hỏi một lượng lớn gỗ để sản xuất, gây lãng phí và ảnh hưởng xấu đến môi trường
tự nhiên Do đó, chúng ta bắt buộc phải chuyển hướng sử dụng từ gỗ tự nhiên sang các loài thực vật khác
Việt Nam là một nước có mạng lưới ao, hồ, sông ngòi dày đặc, kèm theo đó là sự sinh trưởng mạnh mẽ của bèo Lục Bình Loài thực vật này trôi nổi tự do, lan nhanh chóng trên bề mặt nước là môi trường thích hợp cho các loại kí sinh trùng, muỗi và nhiều loài côn trùng có hại khác Hiện nay tại một
số khu vực đã tiến hành giải quyết vấn nạn bèo Lục Bình bằng một số giải pháp như: chế biến bèo thành nhiều loại phân bón khác nhau, sử dụng bèo làm nguyên liệu để sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ… Tuy nhiên để thu gom một lượng lớn bèo phục vụ cho các hoạt động này cần một lượng kinh phí rất lớn, việc xử lý bèo rất tốn kém mà chưa đen lại hiệu quả cao Vấn
đề do bèo Lục Bình gây ra chưa được giải quyết triệt để
Với đề tài “Nghiên cứu sản xuất giấy từ bèo Lục Bình và cây Dướng bằng phương pháp thủ công” Đề tài mong rằng sẽ góp phần tìm ra một
hướng giải quyết mới giúp sử dụng loài thực vật xâm lấn này một cách tối ưu đồng thời tạo ra một sản phẩm xanh, có tính ứng dụng cao, có khả năng tự phân
Trang 8hủy và thân thiện với môi trường, giảm thiểu đến mức tối đa lượng bèo Lục Bình đang có trong tự nhiêm, đồng thời đề xuất hướng phát triển cho các sản phẩm giấy từ bèo Lục Bình Từ đó, xây dựng một lối sống xanh, nâng cao ý thức bảo
vệ môi trường, thay đổi hành vi của mỗi cá nhân, đặc biệt là quá trình sử dụng túi nilon và quá trình chặt phá rừng để giúp cuộc sống tốt đẹp hơn
Qua nghiên cứu, đề tài sẽ đề xuất hướng phát triển của sản phẩm giấy Lục Bình được sản xuất được và mong muốn đưa mô hình sản xuất giấy thủ công từ bèo Lục Bình và cây Dướng ra áp dụng trong thực tiễn Sản phẩmgiấy làm ra có tính thẩm mỹ cao, độc đáo và đặc biệt là có khả năng tự phân hủy hoàn toàn có thể thay thế cho thói quen sử dụng túi nilon của con người
Trang 9CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.Tổng quan về chất thải rắn
1.1.1.Khái niệm chất thải rắn
Chất thải rắn (rác thải): là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt và sản xuất của con người và sinh vật
Chất lượng và số lượng rác thải tại từng quốc gia và từng khu vực trong mỗi quốc gia là rất khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và khoa học kĩ thuật Bất kỳ một hoạt động sống nào của con người, tại nhà, trường học hay nơi công sở đều sinh ra một lượng rác thải đáng kể
1.1.2.Phân loại chất thải rắn
Phân hoại theo nguồn gốc phát sinh
Chất thải sinh hoạt phát sinh hằng ngày ở các đô thị, làng mạc, khu dân
cư, các trung tâm dịch vụ, công viên
Chất thải công nghiệp: phát sinh từ trong quá trình sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp (gồm nhiều thành phần phức tạp, đa dạng, trong đó chủ yếu là các dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí
Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ, vôi vữa, đồ gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra
Chất thải nông nghiệp: sinh ra do các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch
Phân loại theo mức độ nguy hại
Chất thải nguy hại: là chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, nhiễm khuẩn độc hại, chứa chất phóng xạ, các kim loại nặng Các chất thải này tiềm ẩn nhiều khả năng gây sự cố rủi ro, nhiễm độc, đe doạ sức khoẻ con người và sự phát triển của động thực vật, đồng thời là nguồn lan truyền gây ô
nhiễm môi trường đất, nước và không khí
Trang 10Chất thải không nguy hại: là các chất thải không chứa các chất và các hợp chất có các tính chất nguy hại Thường là các chất thải phát sinh trong sinh hoạt gia đình, đô thị…
Phân loại theo thành phần
Chất thải vô cơ: là các chất thải có nguồn gốc vô cơ như tro, bụi, xỉ, vật liệu xây dựng như gạch, vữa, thuỷ tinh, gốm sứ, một số loại phân bón, đồ dùng thải bỏ gia đình
Chất thải hữu cơ: là các chất thải có nguồn gốc hữu cơ như thực phẩm thừa, chất thải từ lò giết mổ, chăn nuôi cho đến các dung môi, nhựa, dầu mỡ
và các loại thuốc bảo vệ thực vật
Người dân sống gần bãi rác không hợp vệ sinh có tỷ lệ mắc các bệnh da
liễu, viêm phế quản, đau xương khớp cao hơn hẳn những nơi khác
b Môi trường nước
CTR không được thu gom, thải vào kênh rạch, sông, hồ, ao gây ô nhiễm môi trường nước, làm tắc nghẽn đường nước lưu thông, giảm diện tích tiếp xúc của nước với không khí dẫn tới giảm DO trong nước Chất thải rắn hữu cơ phân hủy trong nước gây mùi hôi thối, gây phú dưỡng nguồn nước làm cho
Trang 11thủy sinh vật trong nguồn nước mặt bị suy thoái.CTR phân huỷ và các chất ô nhiễm khác biến đổi màu của nước thành màu đen, có mùi khó chịu
c Môi trường đất
Các chất thải rắn có thể được tích lũy dưới đất trong thời gian dài gây
ra nguy cơ tiềm tàng đối với môi trường.Chất thải xây dựng như gạch, ngói, thủy tinh, ống nhựa, dây cáp, bê-tông trong đất rất khó bị phân hủy
Chất thải kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng như chì, kẽm, đồng, Niken, Cadimi thường có nhiều ở các khu khai thác mỏ, các khu công nghiệp Các kim loại này tích lũy trong đất và thâm nhập vào cơ thể theo chuỗi thức ăn và nước uống, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe
1.1.3.2.Tác động của chất thải rắn đối với sức khỏe con người
Việc quản lý và xử lý CTR không hợp lý không những gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ con người, đặc biệt đối với người dân sống gần khu vực làng nghề, khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải Người dân sống gần bãi rác không hợp vệ sinh thường xuyên phải chịu ảnh hưởng ở mức cao do bụi, mầm bệnh, các chất độc hại, côn trùng đốt/chích và các loại hơi khí độc hại trong suốt quá trình làm việc Vì vậy, các chứng bệnh thường gặp ở đối tượng này là các bệnh da liễu, viêm phế quản, đau xương khớp, bệnh về cúm, lỵ, giun, lao, dạ dày, tiêu chảy, và các vấn đề về đường ruột khác
Các bãi chôn lấp rác cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ khác đối với cộng đồng làm nghề này Các vật sắc nhọn, thuỷ tinh vỡ, bơm kim tiêm cũ, có thể là mối
đe dọa nguy hiểm với sức khoẻ con người (lây nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như AIDS, ) khi họ dẫm phải hoặc bị cào xước vào tay chân, Một vấn
đề cần được quan tâm là, do chiếm tỷ lệ lớn trong những người làm nghề nhặt rác, phụ nữ và trẻ em đã trở thành nhóm đối tượng dễ bị tổn thương
Hai thành phần chất thải rắn được liệt vào loại cực kỳ nguy hiểm là kim loại nặng và chất hữu cơ khó phân hủy Các chất này có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản, thực phẩm cũng như trong mô tế bào động vật, nguồn nước và tồn tại bền vững trong môi trường gây ra hàng loạt bệnh nguy hiểm đối với con người như vô sinh, quái thai, dị tật ở trẻ sơ sinh; tác động
Trang 12lên hệ miễn dịch gây ra các bệnh tim mạch, tê liệt hệ thần kinh, giảm khả năng trao đổi chất trong máu, ung thư và có thể di chứng di tật sang thế hệ thứ 3 Chất thải nông nghiệp, đặc biệt chất thải chăn nuôi đang là một trong những vấn đề bức xúc của người nông dân Có những vùng, chất thải chăn nuôi đã gây ô nhiễm cả không khí, nguồn nước, đất và tác động xấu đến sức khoẻ người dân ở nông thôn
1.1.3.3.Tác động của chất thải rắn đới với kinh tế xã hội
Chi phí xử lý chất thải rắn ngày càng lớn
Lượng CTR của cả nước ngày càng gia tăng, chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý CTR vì thế cũng tăng lên, chưa kể đến chi phí xử lý ô nhiễm môi trường liên quan đến CTR
Các chuyên gia về kinh tế cho rằng, với điều kiện kinh tế sãn có thì mức phí xử lý rác là 17 - 18 USD/tấn CTR dựa trên các tính toán cơ bản về tổng vốn đầu tư, chi phí vận hành, chi phí quản lý, khấu hao, lạm phát, v.v
Ảnh hưởng đến ngành du lịch
Xả rác bừa bãi, quản lý CTR không hợp lý còn gây ô nhiễm môi trường tại các địa điểm danh lam thắng cảnh, các khu di tích lịch sử văn hoá và các địa điểm du lịch, ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển du lịch Các địa danh thu hút khách du lịch như chùa Hương, vịnh Hạ Long, các bãi biển, cũng đang gặp phải vấn đề ô nhiễm môi trường do tình trạng xả rác thải bừa bãi.Phát triển du lịch tại các làng nghề truyền thống đang là một hướng phát triển kinh tế được nhiều địa phương lựa chọn Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường tại chính các làng nghề đã gây cản trở lớn tới các hoạt động phát triển
du lịch làng nghề, làm giảm lượng khách du lịch, dẫn đến giảm nguồn thu
từ hoạt động này tại các địa phương có làng nghề
Xung đột môi trường do chất thải rắn
Trong quản lý CTR, xung đột môi trường chủ yếu phát sinh do việc lưu giữ, vận chuyển, xả thải chôn lấp CTR không hợp vệ sinh Những xung đột giữa các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường với cộng đồng bị ô nhiễm ảnh
Trang 13hưởng đến sinh hoạt và sức khoẻ, hoặc ảnh hưởng đến các hoạt động văn hoá,
du lịch và cảnh quan khác cũng là loại xung đột môi trường có tính phổ biến Trong quá trình hoạt động, sản xuất, các làng nghề sản sinh nhiều chất thải rắn gây ảnh hưởng tới môi trường không những tại nơi diễn ra các hoạt động sản xuất mà còn ảnh hưởng tới các vùng lân cận Chính vì vậy, tại đây đã nảy sinh nhiều vấn đề xung đột môi trường Xung đột môi trường giữa các nhóm
xã hội trong làng nghề, giữa cộng đồng làm nghề và không làm nghề, giữa các hoạt động tiểu thủ công nghiệp và hoạt động nông nghiệp, giữa hoạt động sản xuất và mỹ quan, văn hoá,
1.1.4.Biện pháp quản lý chất thải rắn
Hoạt động quản lý CTR
Bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản
lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người
Xử lý chất thải:
Xử lý chất thải là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thải và không làm ảnh hưởng tới môi trường; tái tạo ra các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế
1.1.5.Thực trạng quản lý chất thải rắn ở nước ta
Cùng với sự gia tăng dân số mạnh mẽ và sự hình thành, phát triển vượt bậc của các ngành nghề sản xuất trong thời gian qua, một mặt thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, mặt khác đã làm gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu, năng lượng và cũng làm gia tăng nhanh chóng lượng chất thải rắn phát sinh Chất thải rắn tăng nhanh chóng về số lượng, với thành phần ngày càng phức tạp đã và đang gây khó khăn cho công tác quản lý, xử lý
Theo thống kê năm 2004, lượng CTR đô thị là 0,7 kg/người/ngày và nông thôn là 0,3 kg/người/ngày thì đến năm 2008 con số này đã tăng lên đáng
Trang 14kể, lượng CTR đô thị thống kê trong năm này là 1,45 kg/người/ngày và vùng nông thôn là 0,4 kg/người/ngày Chúng ta có thể thấy rằng tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra nhanh chóng, dân cư ngày càng đông đúc và lượng rác phát sinh ngày một diễn biễn phức tạp
Bảng 1.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn toàn quốc
CTR công nghiệp Tấn/năm 2.638.000 4.786.000
Phát sinh CTR sinh hoạt trung
bình tại khu vực đô thị
Kg/người/ngày 0,7 1,45
Phát sinh CTR sinh hoạt trung
bình tại khu vực nông thôn
Kg/người/ngày 0,3 0,4
Trên phạm vi toàn quốc, từ năm 2003 đến năm 2008, lượng CTR phát sinh trung bình từ 150 – 200%, CTR snh hoạt đô thị tăng lên 200%, CTR công nghiệp tăng lên 181% và còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới Dự báo của Bộ tài nguyên & môi trường đến năm 2015, khối lượng CTR phát sinh ước tính khoảng 44 triệu tấn/năm, đặc biệt là CTR đô thị và công nghiệp
1.1.6 Hiện trạng thu gom, vận chuyển chất thải rắn
Công tác thu gom và vận chuyển CTR đô thị vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu khi mà lượng CTR phát sinh không ngừng tăng lên, tỷ lệ thu gom trung bình không tăng tương ứng, đây là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường nước mặt, không khí, đất, cảnh quan đô thị và tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng
Mặc dù công tác thu gom và vận chuyển CTR ngày càng được chính quền các địa phương quan tâm những vẫn bộc lộ nhiều hạn chế Năng lực thu
Trang 15nhu cầu, mạng lưới thu gom còn yếu và thiếu Bên cạnh đó do nhận thức chưa cao của người dân trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường nên hiện tượng đổ rác thải bừa bãi vẫn còn diễn ra phổ biến không chỉ ở khu vực nông thôn mà còn tại các khu vực nội thị Tỷ lệ thu gom trung bình ở các đô thị trên địa bàn toàn quốc tăng lên từ 65% năm 2003 lên 72% năm 2004 và lên đến 80-82 % năm 2008 Đối với khu vực nông thôn, tỷ lệ thu gom đạt trung bình từ 40-55% (năm 2003, con số này chỉ đạt 20%) Hiện có khoảng 60% số thôn, xã tổ chức dọn vệ sinh định kỳ, trên 40% thôn, xã đã hình thành các tổ thu gom rác thải tự quản
1.1.7.Hiện trạng xử lý và quản lý chất thải rắn
Công nghệ xử lý CTR còn nhiều vấn đề bức xúc, việc lựa chọn các bãi chôn lấp, khu trung chuyển, thu gom chưa đủ căn cứ khoa học và thực tiễn có tính thuyết phục và công nghệ xử lý chất thải chưa đảm bảo kỹ thuật vệ sinh môi trường nên chưa thu được nhiều sự ủng hộ của người dân địa phương Các công trình xử lý CTR còn manh mún, phân tán theo đơn vị hành chính nên công tác quản lý chưa hiệu quả, suất đầu tư cao, hiệu quả sử dụng thấp, gây lãng phí đất…
Công tác xử lý CTR đô thị hiện nay vẫn là chôn lấp với số lượng trung bình là 1 bãi chôn lấp/1 đô thị ( Hà Nội và TP HCM, mỗi đô thị có từ 4-5 bãi chôn lấp/khu xử lý) Trong đó 85% đô thị (từ thị xã trở lên) sử dụng phương pháp chôn lấp chất thải không hợp vệ sinh Thống kê, hiện toàn quốc có 98 bãi chôn lấp chất thải tập trung đang vận hành nhưng chỉ 16 bãi thải được coi
là chôn lấp hợp vệ sinh ( tập trung ở các thành phố lớn) Các bãi còn lại, CTR phần lớn được chôn lấp sơ sài
1.1.8.Đặc tính và tác hại của bao bì nilon
Đời sống của con người càng phát triển thì nhu cầu sử dụng hàng hóa, thực phẩm … của con người càng tăng và cùng với nó là sự gia tăng chất thải sinh hoạt, trong đó có chất thải túi nilon
1.1.8.1 Đặc tính của bao bì nilon
Trang 16Theo PGS TS Phạm Gia Điềm, Giám đốc Trung tâm Công nghệ hóa dược, hóa sinh hữu cơ thì các chất độc trong túi nilon bao gồm chất hóa dẻo, kim loại nặng, phẩm màu,… là chất cực kỳ nguy hiểm Sau một thời gian tích
tụ đủ lượng, chúng sẽ nhanh chóng quay sang tấn công cơ thể con người Một
số loại túi nilon được làm từ chất dẻo polyvinyl có các phân tử đơn lẻ polyvinyl có khả năng gây ung thư như chất clohydric gây tác hại cho não và ung thư phổi
Túi nilon thường được sản xuất, tái chế ở nước ta chủ yếu bằng công nghệ thủ công.Trong quá trình sản xuất, người ta trộn thêm nhiều loại hóa chất để làm tăng độ dẻo và bền của sản phẩm, nhất là với hàng loạt lô hàng túi nilon giá rẻ thì nguy cơ chứa chất độc hại lại gia tăng đáng kể Sử dụng túi nilon để dựng thực phẩm chua có tính axit như dưa muối, cà muối có thể tạo
ra muối thủy ngân gây ngộ độc và ung thư
1.1.8.2.Tác hại của bao bì nilon
Túi nilon chứa nhiều thành phần độc hại với sức khỏe của con người và môi trường
Túi nilon gây tác hại ngay từ khâu sản xuất bởi vì việc sản xuất túi nilon phải sử dụng nguyên liệu đầu vào là dầu mỏ và khí đốt, và các chất phụ gia chủ yếu được sử dụng là chất hoá dẻo, kim loại nặng, phẩm màu… là những chất cực kỳ nguy hiểm tới sức khoẻ và môi trường sống của con người,
do đó trong quá trình sản xuất nó sẽ tạo ra khí CO2 làm tăng hiệu ứng nhà kính, thúc đẩy biến đổi khí hậu toàn cầu
Túi nilon góp phần làm ô nhiễm nguồn nước và làm đất bạc màu
Theo các nhà khoa học, túi nilon được làm từ những chất khó phân huỷ, khi thải ra môi trường phải mất hàng trăm năm đến hàng nghìn năm mới
bị phân huỷ hoàn toàn
Sự tồn tại của nó trong môi trường sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng
tới đất và nước bởi túi nilon lẫn vào đất sẽ ngăn cản ôxi đi qua đất, gây xói
Trang 17mòn đất, làm cho đất bạc màu, không tơi xốp, kém chất dinh dưỡng, từ đó làm cho cây trồng chậm tăng trưởng
Khi đốt túi nilon sẽ sinh ra những khí cực độc gây nhiều bệnh nghiêm trọng cho con người
Nghiêm trọng hơn các nhà khoa học còn phát hiện ra rằng từ đất và nước bị
ô nhiễm bởi túi nilon sẽ ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sức khoẻ con người
Thực tế nhiều loại túi nilon được làm từ dầu mỏ nguyên chất khi chôn lấp chúng dưới đất sẽ ảnh hưởng tới môi trường đất và nước còn đốt chúng sẽ tạo ra khí thải có chất độc dioxin và Fura gây ngộ độc, ảnh hưởng tuyến nội tiết, gây ung thư, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn chức năng tiêu hoá và các
dị tật bẩm sinh ở trẻ nhỏ,…và đặc biệt trong một số loại túi nilon có lẫn lưu huỳnh, dầu hoả nguyên chất khi đốt cháy gặp hơi nước sẽ tạo thành axít Sunfuric dưới dạng các cơn mưa axit rất có hại cho phổi
Rác thải từ túi nilon tạo thành nhiều ổ dịch bệnh
Túi nilon kẹt sâu trong cống rãnh, kênh rạch còn làm tắc nghẽn gây ứ đọng nước thải và ngập úng Các điểm ứ đọng nước thải sẽ là nơi sản sinh ra nhiều vi khuẩn gây bệnh, bên cạnh đó túi nilon còn làm mất mỹ quan tới cảnh quan
Túi nilon dùng một lần gây lãng phí kinh tế cho toàn thế giới
Trong trào lưu chung của Thế Giới các túi nilon chủ yếu sử dụng một lần rồi bị thải ra môi trường ngày một gia tăng Việc này không chỉ gây lãng phí về kinh tế mà còn là hiểm họa khôn lường cho nhân loại
Dùng túi nilon đựng đồ ăn nóng sẽ sinh ra nhiều chất độc hại cho cơ thể
Theo phân tích của ông Nguyễn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ hóa học: thì túi ni lông được làm từ nhựa PTE không độc nhưng các chất phụ gia thêm vào để làm túi ni lông mềm, dẻo, dai lại vô cùng độc hại Nếu đựng đồ nóng bắt đầu từ 70-80 độ C thì những chất phụ sẽ có phản ứng phụ và khó mà biết được nó độc hại đến đâu.Hàng ngày, chúng ta cũng ít biết đến thông tin: những túi ni lông nhuộm màu xanh đỏ đầy rẫy ngoài chợ nếu đựng thực phẩm đã
Trang 18chế biến sẽ gây độc cho thực phẩm do chứa các kim loại như chì, cadimi (những chất gây tác hại cho bộ não và là nguyên nhân chính gây ung thư)
1.2.Bèo Lục Bình
1.2.1.Tên gọi và phân loại bèo Lục Bình
Bèo Lục Bình có danh pháp khoa học là Eichhornia crassipes Ngoài ra còn có nhiều tên gọi khác nhau, tên tiếng Việt: Lục Bình, bèo tây, sen nhật, tên tiếng Anh: Water hyacinth, Floating water-hyacinth…
Bèo lục bình được phân loại như sau:
Giới (kingdom): Plantae
Ngành (division): Magnoliophyta
Lớp (class): Liliopsida
Bộ (order): Liliales
Họ (family): Vũ cửu hoa
Chi (genus): Echhiornia
Bèo Lục Bình có nguồn gốc từ Nam Mỹ, nên còn được gọi là bèo tây Thuộc nhóm những cây lưu niên mọc tự do, nổi trên mặt nước hoặc ở những vũng bùn lầy ẩm ướt, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới Điều kiện thích hợp cho bèo Lục Bình phát triển là nhiệt độ khoảng 15 – 300C, độ pH 5,5 – 9, ánh sáng cao Bèo lục bình được đưa vào nước ta vào khoảng năm 1905 Ở miền Nam nước ta bèo có thể sống quanh năm Ở phía Bắc do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc khá lạnh nên bèo bèo Lục Bình chỉ phát triển mạnh nhất trong khoảng từ tháng 4 đến tháng 10 Lục Bình thích nghi tốt với hầu hết các loại hình thủy vực khác nhau, chịu được những điều kiện khắc nghiệt như thiếu dinh dưỡng, độ pH thay đổi, nhiệt độ và ngay cả khi nước bị nhiễm độc (Nguyễn Đăng Khôi và Nguyễn Hữu Kiên, 1985)
Bèo Lục Bình là loài thực vật thân thảo, sống lâu năm, nổi trên mặt nước hay bám vào vùng bùn đất sinh lầy hoặc ẩm ướt Thân bèo Lục Bình có thể cao hơn 1m, có mô xốp phát triển, túi chứa đầy khí Kích thước cây thay đổi tùy thuộc vào môi trường có nhiều hay ít chất dinh dưỡng Lá đơn, mọc
Trang 19thành hoa thị, tán lá hình tròn hoặc hình trứng, bề ngang rộng từ 10 – 20 cm, dày, màu xanh lục, láng và nhẵn mặt Gân lá hình cung Lá uốn vào nhau như những cánh hoa Ba lá đài giống như ba cánh Cuống lá xốp phòng lên thành phao nổi lúc còn non, đến khi trưởng thành cuống thon dài Rễ bèo dài và nhiều, có màu đen hơi tía buông rủ vào trong nước Mùa hè cây bèo nở hoa Cụm hoa hay bông hoa hình chùy mọc ở ngọn bèo, dài khoảng 15cm, hoa có màu xanh nhạt có sắc tím nhạt điểm chấm màu lam, cánh hoa trên có 1 đốt vàng Đài và tràng hoa cùng màu, đính với nhau ở gốc
Lục Bình sinh sản vô tính bằng thân bò lan Từ các nách lá, đâm ra những thân dài và mỗi đỉnh cho một cây mới, sớm tách khỏi cây mẹ Chúng cũng có thể sinh sản bằng hạt Là một trong những cây có khả năng phát triển nhanh nhất thế giới, chúng có tốc độ tăng trưởng rất nhanh chóng với diện tích gieo trồng ban đầu là 1000 m2, sau một tháng có thể tăng trưởng từ 2300 đến 6200 m2 (Dellarossa et al., 2001) Trong điều kiện môi trường thích hợp
LB có thể gia tăng số lượng gấp đôi chỉ trong vòng 7 ngày (Tag El-Din, 1992)
và sản lượng có thể lên tới 140 tấn DM/ha/năm (Carina và Cecilia, 2007; Abdelhamid và Gabr, 1991)
1.2.2.Lợi ích của bèo Lục Bình
Thuốc chữa bệnh
Bèo Lục Bình có tính mát, vị nhạt Tác dụng sơ phong thanh nhiệt, lợi niệu, giải độc, tiêu sưng giảm đau Sử dụng chữa sưng tấy, viêm đau như sưng bắp chuối, chin mé, viêm khớp ngón tay… Trong y học dân gian bèo Lục Bình được sử dụng để làm thuốc có tên là phù bình, lá và thân có vị ngọt cay, có tác dụng giả độc lành da Hoa bèo Lục Bình hơi ngọt, tính mát, có tác dụng an thần, lợi tiểu, trừ phong nhiệt, Người cao huyết áp mãn tính dùn hoa chề trà uống mỗi ngày cũng có tác dụng bình ổn
Chống ô nhiễm nguồn nước
Bèo Lục Bình có thể làm sạch nước nơi chúng sinh trưởng, có khả năng làm giảm bớt ô nhiễm môi trường Chỉ cần 1/3ha bèo, mỗi ngày có thể lọc 25
Trang 20tấn nước bị ô nhiễm các tải sinh học và các hóa chất Lục bình còn có khả năng loại được các kim loại nặng như thủy ngân chì, kẽm,…
số sản phẩm từ bèo Lục Bình như sau: sản phẩm năng lượng từ hầm ủ biogas
để sưởi ấm, đun nấu, sử dụng cho động cơ máy nổ, sản phẩm phân hữu cơ, sử dụng bèo và rác thải nuooi trùn làm thức ăn cho cá và lấy phân bón cho cây, sản phẩm củi làm từ Lục Bình và trấu…
300 triêu đồng Với các mặt hàng như chậu hoa, chậu cây, túi xách… đã được xuất khẩu đi rất nhiều nước Đức, Séc, Hàn Quốc, Nhật Bản…
1.2.3.Tác hại của bèo Lục Bình
Tác hại của bèo Lục Bình đến đời sống xã hội
Lục Bình là loài cây sinh tưởng mạnh, trôi nổi tự do, lan nhanh chóng trên bề mặt nước Nếu không được kiểm soát thì Lục Bình sẽ chặn ánh sang mặt trời, làm giảm hàm lượng oxi trong nước làm chết các loại sinh vật thủy sinh Lục Bình còn gây ách tắc dòng chảy, giảm sự đa dạng sinh thái và cản trở giao thông đường thủy của con người
Trang 21Khu vực sinh trưởng của bèo Lục Bình còn là môi trường thích hợp cho các loại kí sinh trùng, muỗi và cũng là nơi ẩn náu của ốc bươu vàng Những loại kí sinh trùng này sẽ theo đường nước, không khí, thức ăn gây bệnh cho con người, đặc biệt nghiêm trọng là sự sinh sôi của ốc bươu vầng gây hại trên diện rộng đến nông nghiệp các khu vục xung quanh đó
Ở nước ta, tình trạng gây tắc nghẽn giao thông đường thủy, gây bệnh sốt rét, ô nhiễm môi trường thường xuyên xảy ra ở nhiều nơi.Việc xử lý bèo rất tốn kém mà không đen lại hiệu quả cao
Kinh tế
Hàng năm, riêng tại thành phố HCM phải chi gần 100 tỉ đồng cho công việc vớt bèo trên các kênh rạch Ở Tây Ninh, công ty khai thác công trình thủy lợi tỉnh cho biết “ Mỗi năm, riêng 2 kênh Đông và Tây thược hồ Dầu Tiếng đã tiêu tốn hơn 500 triệu đồng thuê nhân công vớt bèo Tính thêm sông Vàm Cỏ Đông và các kênh rạch khác, ngân sách tỉnh phải chi hơn gần 2 tỷ đồng để thuê nhân công”
1.2.4.Hiện trạng sử dụng bèo Lục Bình
Bèo Lục Bình co nhiều lợi ích và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực.Tuy nhiên, đối với lĩnh vực lượng bèo sử dụng không lớn Đa số chỉ sử dụng thân bèo là nhiều, đặc biệt là cây có thân dài, phần còn lại của bèo như
rễ lá, cây non lại thải ra môi trường Vì vậy chúng không giảm đi nhiều Nhiều khu vực tiến hành khoanh nuôi bèo sử dụng phân bón để bèo phát triển nhanh, làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng Việc thu gom, vận chuyển bèo khá tốn kém nên việc sử dụng bèo là nguyên liệu chính để phát triển kinh tế cũng gặp nhiều khó khăn
Qua đây ta thấy được, những bất lợi do bèo Lục Bình gây ra cho đời sống xã hội và kinh tế chưa được giải quyết triệt để Vì vậy cần tìm ra những phương pháp khác để sử dụng bèo Lục Bình, tăng nguồn lợi, giảm thiểu khả năng bất lợi từ bèo Lục Bình
Trang 22Theo Lê Mộng Châm (2000) mô tả: Vỏ cây màu nâu nhạt, nhiều xơ, vết đẽo có nhiều nhựa trắng Hoa đơn tính khác gốc, cụm hoa đực hình bông, đuôi sóc rủ, mang nhiều hoanhor, hoa đực mẫu 4 nhị ngắn, mọc đối với dài Cụm hoa hình cầu, đường kính 1,2 – 1,8 cm, đài hợp xẻ 3 – 4 răng, bầu trên, hai vòi nhụy ở bên, dài và cong Quả phức, hình cầu đường kính 3cm, khi chin màu đỏ Mùa hoa tháng 5 – 7, mùa quả chín tháng 10 -12
1.3.3.Đặc điểm phân bố, sinh thái và sinh trưởng
Dướng phân bố rất rộng gặp ở nhiều dạng địa hình khác nhau như ven rừng, đất bỏ hoang sau nương rẫy, rừng, ven đường quốc lộ… Là cây ưa sáng
và có khả năng thích ứng tốt Ưa đất ẩm, tơi xốp Tập chung nhiều ở các tỉnh phía Bắc Khả năng tái sinh hạt mạnh, đâm chồi gốc và rễ cũng tốt Có khả năng trồng rộng rãi
1.3.4.Giá trị sử dụng
Vỏ cây có đặc tính cho nhiều sợi làm giấy chất lượng tốt Giấy Dó nói chung và giấy Dướng nói riêng là loại giấy được con người sử dụng từ lâu trong lịch sử với nhiều mục đích khác nhau Một trong số đó là sử dụng loại giấy này làm tranh dân gian, làm đồ chơi trung thu, quà lưu niệm… Lá có thể
Trang 23làm thức ăn cho gia súc, thường sử dụng lá non, cành non băm nhỏ cho ăn trực tiếp hoặc nấu nên
Theo Đỗ Tất Lợi (1996): lá Dướng có vị ngọt, tính hàn công dụng trị tả, cầm máu, làm thuốc nhuận tràng sử dụng cho trẻ em, nấu xông chữa cảm mạo, trị tứ chi đau nhức do phong thấp, chữa viêm đường ruột… và được dùng trongg bài thuốc dân gian Việt Nam để chữa các bệnh hết sức hiệu quả
Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích mà cây Dướng mang lại thì loại cây này là loài xâm hại nguy hiểm, làm thay đổi hệ sinh thái tự nhiên của khu vực Phấn hoa từ cây Dướng với mật độ lớn là một trong những nguyên nhân gây ra các vấn đề dị ứng
1.4 Một số nghiên cứu ở Việt Nam
1.“ Nghiên cứu một số tính chất vật lý, hóa học của bèo Lục Bình và
định hướng sử dụng” Nguyễn Hữu Kha – ĐH Lâm Nghiệp Việt Nam
Đề tài của Nguyễn Hữu Kha đã nêu những vấn đề chủ yếu của bèo Lục Bình: thực trạng sử dụng, nguồn cung cấp, tính chất cơ học, vật lý, hóa học khả năng điều chế ván dăm công nghẹ từ bèo Lục Bình trong điều kiện trang thiết bị hiện có tại Việt Nam Đồng thời đề tài cũng có ý nghĩa thực tiễn lớn giúp giải quyết một số lượng lớn bèo Lục Bình đang gây hại đến môi trường cũng như hướng phát triển cho ngành sản xuất ván dăm từ nguồn nguyên liệu mới, tăng tính cạnh tranh với các sản phẩm ngoài thị trường
Tuy nhiên để thực hiện để tài đòi hỏi phải có một lượng nguyên liệu rất lớn, cùng với đó là hệ thống trang thiết bị máy móc khá phức tạp, nguồn kinh phí để thực hiện là không hề nhỏ Không phải bất kì cá nhân hay tổ chức nào cũng có thể thực hiện được vì vậy tính thiết thực và phổ biến của đề tài khi áp dụng vào thực tiễn là không lớn
2.“Nghiên cứu tạo ván dăm từ hỗn hợp gỗ cao su và bèo Lục Bình/ Trần Văn Chứ ”
Đề tài của Thầy Trần Văn Chứ đã nghiên cứu thành công ván dăm hỗn hợp từ gỗ cao su và bèo Lục Bình theo công nghệ sản xuất ván dăm Khi sử
Trang 24dụng hỗn hợp 2 loại nguyên liệu trên, chất lượng ván dăm đáp ứng tốt yêu cầu, chất lượng ngoại quan của ván đẹp Công nghệ sản xuất này có thể áp dụng vào thực tế sản xuất của nước ta với những trang thiết bị dùng trong sản xuất các loại ván dăm thông dụng hiện nay
Tuy nhiên đề tài đòi hỏi cần phải tính toán kiểm tra nhiều thông số kĩ thuật của cả bèo và cao su Các hóa chất phụ gia có chỉ tiêu kỹ thuật nghiêm ngặt, công nghệ tạo văn dăm khá phức tạp đòi hỏi người tiến hành cần phải có
kĩ năng chuyên môn tốt Cần có hệ thống trang thiết bị máy móc phúc tạp để thực hiện sản xuất vãn dăm Đối với sản phẩm phải kiểm tra khá kĩ lưỡng trước khi đưa vào sử dụng
3.“ Nghiên cứu tạo ván dăm từ hỗn hợp gỗ keo lai và thân cây bèo lục bình/Trần Văn Chứ”
Đề tài thay đổi nguyên liệu trong nghiệp sản xuất ván dăm, sản phẩm vãn dăm được tạo ra đáp ứng yêu cầu Ván có màu hanh vàng hoặc nâu, trên
bề mặt ván không có các vết đốm hoặc vùng chuyển màu, bề mặt ván phẳng không có xơ, xước Tuy nhiên công nghệ sản xuất vãn dăm từ hỗn hợp gỗ keo lai và thân cây bèo lục bình cũng gặp phải những khó khăn như đề tài trên
4.“ Nghiên cứu một số đặc tính của công nghệ ván mỏng từ bèo lục bình/ Hoàng Xuân Niên”
Đề tài đã nghiên cứu thành công việc diều chế dăm từ bèo lục bình, và cho thấy dăm từ bèo khô thuận lợi và chất lượng tốt hơn từ bèo tươi Tuy nhiên công nghệ , thiết bị tạo dăm công nghệ từ bèo lục bình khác với cách thức thông thường Đòi hỏi trang thiết bị phải được cải tiến hơn, chi phí cũng sẽ đắt hơn đối với tạo ván dăm thông thường Việc áp dụng đại trà vào thực tế là không khả thi
5.“Nghiên cứu và thử nghiệm quy trình sản xuất giấy từ lục bình” của Bùi Thị Kim Hoàng, sinh viên Bộ môn Giấy và Bột giấy, Khoa Lâm nghiệp, Trường ĐH Nông Lâm TPHCM
“Nghiên cứu và thử nghiệm quy trình sản xuất giấy từ lục bình” của Bùi Thị Kim Hoàng, sinh viên Bộ môn Giấy và Bột giấy, Khoa Lâm nghiệp,
Trang 25Trường ĐH Nông Lâm TPHCM Kết quả nghiên cứu đã tạo ra sản phẩm giấy
từ lục bình sử dụng cho giấy bao gói và giấy bao xi măng Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại tại những sản phẩm thô ban đầu và công nghệ chế tạo giấy từ thân lục bình mà không đi vào sản xuất thực tế Công nghệ này không được đưa vào thực tế là do quy trình sản xuất còn sử dụng nhiều loại hóa chất, kỹ thuật phức tạp, nhiều vấn đề môi trường phát sinh và giá trị, cũng như ứng dụng của giấy thành phẩm chưa cao Cùng một ý tưởng, nhưng đề tài này
sẽ áp dụng và tiến hành xây dựng quy trình sản xuất giấy hoàn toàn khác với nghiên cứu trên: sản xuất giấy theo phương pháp thủ công, quy trình đơn giản, có sự phối trộn 2 nguyên liệu bèo Lục Bình và Dướng Qua nghiên cứu, và tiến hành thử nhiệm, đề tài đề xuất hướng phát triển cho sản phẩm giấy thủ công đã sản xuất được và mong muốn đưa mô hình sản xuất giấy thủ công từ bèo Lục Bình và cây Dướng ra áp dụng trong thực tiễn Sản phẩm làm ra là giấy thủ công có tính thẩm mỹ cao, độc đáo và đặc biệt
là có khả năng tự phân hủy hoàn toàn có thể thay thế cho thói quen sử dụng túi nilon của con người
Trang 26CHƯƠNG II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Mục tiêu nghiên cứu
huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Nghiên cứu đánh giá chất lượng giấy từ bèo Lục Bình
- Nghiên cứu đề xuất hướng phát triền sản xuất và kinh doanh giấy thủ công làm từ bèo Lục Bình
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giấy sản xuất từ bèo Lục Bình và cây Dướng
2.3.Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài thực hiện một số nội dung như sau:
- Đánh giá tính chất vậy lý của giấy
- Đánh giá chất lượng giấy từ bèo Lục Bình và cây Dướng theo các
tiêu chuẩn hiện hành
- Đề xuất hướng phát triển sản xuất và kinh doanh giấy thủ công làm
từ bèo Lục Bình
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nội dung đã nêu trên, đề tài đã áp dụng môt số phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 272.4.1.Phương pháp kế thừa tài liệu
Thu thập tài liệu các công trình ngiên cứu liên quan đến sản xuất giấy thủ công, tài liệu liên quan đến cây bèo và cây Dướng
Tham khảo kết quả của một số công trình nghiên cứu
Tìm hiểu quy trình sản xuất giấy thủ công từ các làng nghề thủ công
có trên địa bàn
Các tiệu thu thập trên mạng internet, báo chí, giáo trình (các tài liệu liên quan đến bèo Lục Bình, giấy Dướng….)
2.4.2.Phương pháp xử số iệu nội nghệp
Ứng với mỗi nội dung, đề tài sẽ sử dụng các phương pháp phù hợp để tiến hành nghiên cứu nhằm đạt hiệu quả cao nhất.Tính toán các giá trị theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành
2.4.3.Bố trí thí nghiệm
2.4.3.1.Nguyên liệu, dụng cụ, hóa chất và nhiên liệu nghiên cứu
Bảng 2.1 Bảng nguyên liệu dụng cụ, hóa chất, nhiên liệu nghiên cứu
STT Tên nguyên liệu/ dụng cụ/
hóa chất/nhiên liệu
10 Mô tơ điện lắp cánh khuấy 01 cái
Trang 28- Đun bèo trong 5 giờ
- Sau khi đun bèo xong, để nguội (1h) rồi giã nát bằng chày và thớt gỗ
- Sau khi giã, lọc lấy bộ bèo bằng vải … để lấy bột mịn, tiếp tục dã đến khi bột mịn hoàn toàn
Bột Dướng
Vớt bột Dướng đã được dã mịn hòa vào chậu nước đã chuẩn bị sẵn
Bước 3: Quá trình đổ và xeo giấy
- Thử nhiệm với các tỉ lệ bèo và Dướng và hóa chất như sau:
Bảng 2.2 Bảng tỉ lệ nguyên liệu và hóa chất CTTN Tỉ lệ bèo/Dướng (%) Bột mò (kg)
Sản phẩm Phơi
Xeo giấy Nguyên
liệu
Trang 29- Trộn nguyên liệu vừa chuẩn bị ở trên với nhau theo các tỉ lệ trên Hòa loãng với nước sạch Khuấy trộn bằng một mô tơ điện có lắp cánh khuấy để trộn đều và đánh tơi hai nguyên liệu (Bột mò - chất nhầy từ cây mò thuộc chi Clerodendrum tạo chất kết dính thêm vào hỗn hợp nguyên liệu vừa trộn
Phương pháp xeo giấy
- Đổ nước ngập 2/3 bể ( nước sạch, không chứa các kim loại )
- Đổ hỗn hợp nguyên liệu vừa trộn vào bể theo tỉ lệ nhất định, khoắng bột cho tan đều bằng gậy gỗ
- Tiến hành xeo giấy bằng khuân xeo và liềm xeo
- Giấy sau khi xeo đem ép bằng bàn ép Bàn ép cấu tạo theo phương pháp đòn bẩy để tăng lực ép Giấy được ép trong 2h
Bước 4: Phơi giấy
Tập giấy sau khi ép kiệt nước ta đem bóc thành từng tờ và đem phơi cho giấy khô hẳn
Bước 5: Sản phẩm
Giấy được ép bằng vật nặng cho giấy thật phẳng và không quăn mép
2.4.4.Phương pháp đánh giá chất ượng giấy
2.4.4.1.Định lượng - TCVN 1270:2008
a.Cách tiến hành
Để xác định định lượng của mẫu đã được điều hòa, chuẩn bị và cân các mẫu thử trong môi trường có cùng điều kiện được sử dụng để điều hòa các mẫu thử.Dùng dao (5.1) để cắt ít nhất 20 mẫu thử trong tổng số ít nhất của năm tờ mẫu, nếu có thể thì cắt một số lượng như nhau trên mỗi tờ mẫu
Bất cứ khi nào có thể, mỗi mẫu thử phải có diện tích không nhỏ hơn
500 cm2 (kích thước phù hợp là 200 mm x 250 mm) và không lớn hơn 1 000
cm2, nếu cần thiết, nếu không thể cắt được diện tích đó, thì cho phép cắt các mẫu thử có diện tích nhỏ hơn
Trang 30Xác định diện tích của từng mẫu thử bằng cách tính theo các kích thước được đo chính xác đến 0,5 mm Cân khối lượng của từng mẫu thử trên cân (5.2) và lấy đến ba chữ số có nghĩa
Trong đó:
m là khối lượng của mẫu thử, tính bằng gam;
A là diện tích của mẫu thử, tính bằng centimet vuông
2.4.4.2 Chiều dài đứt, m (chiều dọc, chiều ngang) - TCVN 1862-2:2011
a.Cách tiến hành
Tiến hành các phép thử trong cùng điều kiện môi trường sử dụng để
điều hòa và chuẩn bị mẫu thử (xem 7.2 và 7.3) Kiểm tra vị trí 0 của bộ phận
đo và bộ phận ghi, nếu sử dụng
Điều chỉnh ngàm kẹo đến chiều dài thử ban đầu yêu cầu và đặt mẫu thử vào trong ngàm kẹp, bảo đảm không tiếp xúc tay trần với phần mẫu thử ở giữa hai đường kẹp Nên dùng găng tay sử dụng một lần hoặc găng tay bằng vải bông nhẹ khi cầm mẫu thử Kẹp chặt và thẳng mẫu thử sao cho mẫu thử không bị chùng, trượt nhưng không được ép bất kỳ một lực đáng kể nào lên mẫu Bảo đảm rằng mẫu phải được kẹp song song với chiều tác dụng của lực Bắt đầu phép thử và tiếp tục cho đến khi mẫu thử đứt Ghi lại lực kéo lớn nhất tác dụng lên mẫu thử và nếu cần ghi lại hoặc độ giãn dài, tính bằng milimet hoặc độ căng khi đứt tính bằng phần trăm, đối với thiết bị đọc trực tiếp
Thử ít nhất 10 mẫu, theo mỗi chiều (chiều dọc, chiều ngang) để có được mười kết quả hợp lệ theo mỗi chiều Loại bỏ tất cả các giá trị đọc được của các mẫu bị đứt cách các đường kẹp nhỏ hơn 10 mm Nếu lượng mẫu thử
bị đứt cách các đường kẹp nhỏ hơn 10 mm lớn hơn 20% thì phải kiểm tra lại
Trang 31cả các kết quả đo và phải sửa lại thiết bị đo Ghi số lượng mẫu thử bị đứt cách các đường kẹp nhỏ hơn 10 mm trong báo cáo thử nghiệm
b.Tính toán và báo cáo kết quả
T
F là lực kéo lớn nhất trung bình, tính bằng niutơn;
b là chiều rộng ban đầu của mẫu thử, tính bằng milimét (thông thường là 15 mm)
Báo cáo độ bền kéo đến ba chữ số có nghĩa
T
1000 (2) Trong đó w là định lượng, tính bằng gam trên mét vuông
Báo cáo chỉ số độ bền kéo đến ba chữ số có nghĩa
2.4.4.3 Độ bền xé, mN.m 2 / g (chiều dọc, chiều ngang) - TCVN 3229:2015
a.Cách tiến hành
Tiến hành thử nghiệm trong môi trườnggiống với môi trường dùng để điều hòa mẫu Chọn con lắc thích hợp hoặc tổ hợp con lắc/khối lượng tang thêm sao cho các giá trị đo đọc được nằm trong khoảng từ 20 % đến 80 % giá trịlớn nhất của thang đo Các giá trị nằm ngoài khoảng giới hạn này phải được ghi chú trong báo cáo thử nghiệm
Nâng con lắc lên vị trí bắt đầu và giữ con lắc bằng chốt Kẹp mẫu thử (gồm bốn tờ) vào các kẹp Nếu đường cắt được tạo trước thì nó phải ở chính
Trang 32giữa kẹp trên khung máy và kẹp trên con lắc Vặn chặt các kẹp Vận hành dao cắt để tạo đường cắt mồi ban đầu như quy định Đặt kim chỉ lực nếu có, tì vào thanh chặn Ấn ngay cơ cấu thả con lắc và để con lắc rơi xuống Dùng tay nhẹ nhàng bắt con lắc khi nó dao động trở lại mà không làm ảnh hưởng đến vị trí của kim chỉ lực Ghi lại giá trị đọc là độ bền xé hoặc giá trị trên thang đo
Để con lắc và kim chỉ lực trở lại vị tríban đầu và lấy mẫu đã được xé ra Lặp lại quy trình này đối với chín mẫu thửcòn lại, định hướng sao cho một mặt xác định của mẫu thử lần lượt hướng vào con lắc và hướng ngược lại Kiểm tra đường xé của mẫu thử Đường xé có thể bị lệch khỏi hướng cắt mồi ban đầu Nếu lệch quá 10 mm một hoặc hai lần trong mười lần thử thì bỏ các kết quả đó và tiến hành thửtiếp để thu được 10 giá trị đo Nếu có nhiều hơn hai lần đo lệch quá 10 mm thì lấy các giá trị đó và ghi vào báo cáo thử nghiệm
Khi máy đo có các khoảng áp lực đo để lựa chọn, thì phải lựa chọn khoảng áp lực phù hợp nhất bằng cách tiến hành đo trước một số mẫu thử tại khoảng áp lực cao nhất Điều chỉnh hệ thống kẹp sao cho có được áp lực kẹp thấp nhất ở trong khoảng 700 kPa đến 1200 kPa để không làm trượt mẫu trong khi thử Hướng dẫn việc sử dụng áp lực kẹp thích hợp cho các loại vật liệu khác nhau được chỉ ra ở bảng 1
Trang 33và chuẩn bị thiết bị để thử tiếp Bỏ các kết quả đo khi mẫu bị trượt trong khi thử (nhận biết được bằng các dấu hiệu có sự dịch chuyển của mẫu bên ngoài kẹp hoặc bằng các đường nhăn hình thành ở diện tích mẫu thử nằm trong đĩa kẹp), các mẫu thử bị hỏng do lực kẹp quá lớn hoặc các đĩa kẹp bị quay trong khi thử Các kết quả không được chấp nhận khi mẫu bị hỏng (ví dụ như đứt ở vùng chu vi mẫu thử), mẫu thử bị phá hủy do lực kẹp cao quá hoặc kẹp bị quay trong khi kẹp
p là độ chịu bục trung bình, tính bằng kilôpascal;
g là định lượng của cáctông, được xác định theo ISO 536, tính bằng gam trên mét vuông