1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn tại khu lễ hội đền hùng thành phố việt trì tỉnh phú thọ

67 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Hy Cương, Ban quản lý khu lễ hội Đền Hùng cùng toàn thể khách du lịch và các công nhân vệ sinh môi trường đã nhiệt tình cung cấp thông

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, bộ môn Quản lý môi trường và ThS Trần Thị Hương nhất trí, đề tài xin tiến hành thực hiện đề tài:

„„Đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn tại khu lễ hội Đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” - Chuyên ngành Khoa học môi trường

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của các thầy, cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp và các cơ quan, tổ chức, người dân tại địa phương

Nhân dịp này đề tài xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu nhà trường, khoa Quản lý Tài nguyên Rừng và Môi trường – trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo mọi điều kiện cho đề tài trong suốt quá trình thực tập và nghiên cứu Đặc biệt, đề tài xin bày tỏ lòng biết ơn tới ThS Trần Thị Hương đã hết lòng giúp đỡ đề tài trong suốt quá trình thực hiện, xin cám ơn các thầy cô trong bộ môn Quản lý Môi trường đã đóng góp những ý kiến quý báu giúp đề tài hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Đề tài xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Hy Cương, Ban quản lý khu lễ hội Đền Hùng cùng toàn thể khách du lịch và các công nhân vệ sinh môi trường đã nhiệt tình cung cấp thông tin cần thiết để đề tài hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Do bản thân còn nhưng hạn chế nhất định về mặt chuyên môn và thực tế, thời gian thực hiện khóa luận có hạn nên sẽ không thể tránh khỏi những thiếu xót, kính mong nhận được sự góp ý của các Thầy, Cô giáo và các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà nội, ngày 10 tháng 05 năm 2018

Sinh viên Trần Minh Tiến

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tổng quan về du lịch và lễ hội 3

1.1.1.Khái niệm du lịch và lễ hội 3

1.2 Chất thải rắn và quản lý CTR 4

1.2.1 Khái niệm về chất thải rắn 4

1.2.2 Khái niệm quản lý CTR và vai trò công tác quản lý CTR trong lễ hội 5

Khái niệm quản lý CTR: 5

1.3 Thực trạng công tác quản lý môi trường tại các khu du lịch lễ hội ở Việt Nam 5

1.3.1 Mặt được 5

1.3.2 Những bất cập tồn tại trong quản lý, tổ chức lễ hội 7

1.4 Một vài nét về khu lễ hội Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ 8

1.4.1 Thời gian tổ chức 8

1.4.2 Địa hình tuyến tham quan lễ hội 9

1.4.3 Khai hội Đền Hùng 10

1.4.4 Nghi thức tổ chức 11

1.4.5 Một số nghiên cứu liên quan 13

CHƯƠNG II: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 14

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 14

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 14

2.3 Nội dung nghiên cứu 14

Trang 3

2.4 Phương pháp nghiên cứu 14

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu thực trạng các hoạt động tại khu lễ hội Đền Hùng 14

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực trạng chất thải rắn tại khu vực lễ hội Đền Hùng 15

2.4.3 Phương Pháp nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại khu vực nghiên cứu 17

2.4.4 Phương pháp đề xuất giải pháp nâng cao công tác quản lý chất thải rắn tại khu lễ hội Đền Hùng, Phú Thọ 17

CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI 18

3.1 Điều kiện tự nhiên khu lễ hội Đền Hùng 18

3.1.1 Vị trí địa lý 18

3.1.2 Đặc điểm địa chất, địa hình 18

3.1.3 Khí hậu 19

3.1.4 Thủy văn 20

3.1.5 Thổ nhưỡng 21

3.2 Điều kiện văn hóa xã hội 21

CHƯƠNG: IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

4.1 Thực trạng các hoạt động lễ hội và du lịch tại lễ hội Đền Hùng 24

4.1.1.Thời gian diễn ra các dịp lễ hội 24

4.1.2 Tuyến tham quan Đền Hùng 24

4.1.3 Các hoạt động tại Đền Hùng 25

4.1.4 Thực trạng du khách tại lễ hội Đền Hùng 27

4.1.5 Công tác quản lý khu lễ hội Đền Hùng 30

4.2 Hiện trạng chất thải rắn tại lễ hội Đền Hùng 32

4.2.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn 32

4.3 Công tác quản lý CTR tại lễ hội Đền Hùng 37

4.3.1 Sơ đồ quản lý CTR tại khu du lịch lễ hội Đền Hùng 37

4.3.2 Hoạt động thu gom 39

Trang 4

4.3.3 Đánh giá hiệu quả công tác quản lý CTR tại lễ hội Đền Hùng 43

4.3.4 Những hạn chế trong công tác quản lý CTR tại lễ hội Đền Hùng 45

4.4 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTR tại lễ hội Đền Hùng 47

4.4.1 Giải pháp về công tác quản lý 47

4.4.2 Giải pháp về thu gom, vận chuyển 49

4.4.3 Giải pháp về Giáo dục môi trường 50

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Tồn tại 52

5.3 Kiến nghị 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

CTR: Chất thải rắn

VSMT: Vệ sinh môi trường

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Mẫu ghi thành phần, khối lƣợng chất thải rắn 16

Bảng 4.1: Số liệu khách du lịch 27

Bảng 4.2: Kết quả điều tra về kết cấu tuổi và giới tính của khách du lịch 28

Bảng 4.3: Kết quả điều tra về nghề nghiệp của khách du lịch 29

Bảng 4.4: Tỷ lệ phần trăm các nguồn phát sinh CTR 33

Bảng 4.5: Kết quả điều tra về việc mang đồ vào khu vực lễ hội 34

Bảng 4.6: Khối lƣợng rác thải tại Khu du lịch Đền Hùng 35

Bảng 4.7: Khối lƣợng rác thải tại Đền Thƣợng, đền Trung và Đền Hạ 36

Bảng 4.8: Thành phần rác thải 36

Bảng 4.9: Đánh giá của du khách về chất lƣợng VSMT tại Đền Hùng 44

Bảng 4.10: Kết quả đánh giá du khách về hiệu quả của công tác thu gom 46

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Lƣợng khách du lịch đến Đền Hùng từ năm 2012-2017 27

Hình 4.2: Tỷ lệ % về kết cấu tuổi của khách du lịch 28

Hình 4.3: Tỷ lệ % cơ cấu nghề nghiệp khách du lịch 29

Hình 4.4: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý khu di tích Đền Hùng 31

Hình 4.5: Thành phần rác thải tại khu lễ hội Đền Hùng 34

Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện % thành phần rác thải 37

Hình 4.7: Sơ đồ quản lý CTR tại khu di tích lịch sử Đền Hùng 38

Hình 4.8: Sơ đồ khái quát quá trình thu gom rác thải rắn tại khu lễ hội Đền Hùng 39

Hình 4.9: Quy trình vận chuyển rác thải 42

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, kinh tế xã hội ngày một phát triển, áp lực công việc càng nhiều, nhu cầu du lịch của con người tăng cao trong đó có du lịch lễ hội Bên cạnh sự phát triển của du lịch lễ hội thì song hành với nó luôn là các vấn đề môi trường, nhất là chất thải rắn Với số lượng đông du khách tập trung trong các ngày lễ chính tạo ra một lượng lớn chất thải rắn đã gây ra ô nhiễm khu vực lễ hội, ảnh hưởng tới con người, cảnh quan, hình ảnh của lễ hội

Công tác quản lý CTR khu vực lễ hội đang rất được quan tâm, các thùng rác, xe rác, nhà vệ sinh công cộng được đặt ở rất nhiều vị trí trên các tuyến đường di chuyển ở khu vực lễ hội Công tác thu gom được huy động tối đa trong các ngày lễ chính của lễ hội Tuy nhiên việc bùng nổ lễ hội như hiện nay cộng với ý thức, thói quen không tốt của một thành phần du khách đã thải ra lượng lớn chất thải rắn ở khắp các khu vực lễ hội, làm cho công tác quản lý gặp nhiều khó khăn, gây ra các tác động tiêu cực tới môi trường và cảnh quan lễ hội

Lễ hội Đền Hùng là một lễ hội lớn mang tính quốc gia để tưởng nhớ các vua Hùng đã có công dựng nước Phong tục giỗ tổ Hùng Vương đã trở thành truyền thống văn hoá lâu đời ở nước ta Đó là ngày hội toàn quốc, toàn dân và trong tâm thức dân gian Việt Nam nó mang tính thiêng liêng cao cả nhất Vì thế

mà lễ hội được tổ chức long trọng hàng năm với nghi thức đại lễ quốc gia, với

sự hành hương “trở về cội nguồn dân tộc” của hàng chục vạn người từ khắp các nơi trong nước và kiều bào sống ở nước ngoài Hội đền Hùng kéo dài từ mùng 8 đến ngày 11 tháng 3 âm lịch, trong đó mùng 10 là chính hội Lễ hội diễn ra tại đền Hùng, Phú Thọ Giỗ tổ Hùng Vương là ngày lễ lớn trong năm, mỗi năm đón hàng triệu lượt khách, bởi vậy các hoạt động kinh tế-văn hóa diễn ra hết sức phong phú như: Du lịch, dịch vụ ăn nghỉ, hoạt động thương mại, hoạt động vui chơi giải trí, các hoạt động liên quan đến lễ thức Công tác quản lý chất thải rắn khu vực lễ hội góp phần rất lớn đảm bảo vệ sinh, cảnh quan, môi trường lễ hội.Tạo ra một hình ảnh đẹp cho du khách không chỉ ở trong và ngoài nước Tuy nhiên việc bùng nổ lễ hội như hiện nay thì công tác quản lý gặp nhiều khó khăn,

Trang 9

theo ước tính lượng rác thải vào các ngày lễ chính của lễ hội có thể lên tới 10-15 tấn rác một ngày.Không kể đến ý thức không tốt của một lượng lớn du khách đã

xả thải rác thải một cách bừa bãi trên khắp các tuyến đường quanh khu vực lễ hội gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường, mỹ quan của lễ hội Nhận thấy mức độ cấp thiết và tầm quan trọng của vấn đề, tôi quyết định chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp “Đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn tại khu lễ hội Đền

Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”

Trang 10

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về du lịch và lễ hội

1.1.1.Khái niệm du lịch và lễ hội

+ Theo tổ chức du lịch thế giới (World tourist organization), một tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc, du lịch bao gồm mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm, hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề

và các mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư, nhưng loại trừ các du hành với mục đích chính

là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn khu đinh cư.[4]

- Theo Luật du lịch của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [4]

+ Lễ hội là sinh hoạt văn hóa có nhiều người tham gia gồm có 2 phần: 1 là phần lễ có tính cách nghiêm trang để tưởng niệm công lao của người mà ngày lễ hội đó đề cập đến, hai là phần lễ hội tổ chức vui chơi cho cộng đồng Ví dụ lễ hội Đền Hùng vào mùng mười tháng ba âm lịch ở Phú Thọ là một lễ hội, Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu là lễ hội

- Lễ hội (Danh từ): Là cuộc vui chung có tổ chức, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống, là loại hình văn hóa tiêu biểu nhất trong sinh hoạt cộng đồng của người Việt Nam, lễ hội mang tính tổng hợp của truyền thống văn hóa Việt Nam Lễ hội bao gồm hai phần: Lễ (Tế rước mang màu sắc tâm linh) và hội (Các trò chơi dân gian, vừa thể hiện tính khéo léo vừa nêu cao tinh thần thượng võ, tính đoàn kết của cộng đồng); Lễ là nghi lễ, Hội là sự tập trung đông người, vui vẻ Như vậy, Lễ hội là sự tập hợp đông người, nhằm thực hiện nghi lễ bày tỏ sự tôn kính và thực hiện các hoạt động vui chơi, giải trí

Trang 11

1.2 Chất thải rắn và quản lý CTR

1.2.1 Khái niệm về chất thải rắn

Chất thải rắn (CTR) là thuật ngữ để chỉ các chất thải thông thường ở dạng rắn được phát sinh trong quá trình sinh hoạt, sản xuất và các hoạt động khác của con người CTR có thể bao gồm cả cặn bùn, nếu tỉ lệ nước trong cặn bùn ở mức

- Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt cá nhân,

hộ gia đình, nơi công cộng.[5]

CTR là thuật ngữ để chỉ những chất tồn tại ở dạng rắn Vật chất mà con người thải bỏ trong khu vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt

bỏ đó được gọi là chất thải rắn Chât thải được coi như chất thải rắn đô thị nếu như nhìn nhận nó là một thứ mà thành phố có trách nhiệm thu gom và phân hủy CTR mặc dù có tác động tiêu cực tới môi trường sống, như ngày nay nhiều phần đáng kể trong CTR có thể thu hồi, tái chế và tái sử dụng lại được.[3]

+ Nguồn gốc và thành phần CTR khu vực lễ hội

- Rác nhà nghỉ, cơ quan quản lý lễ hội: Thành phần chủ yếu rác thải sinh hoạt như thực phẩm, túi nilon

- Rác chợ: Phát sinh chủ yếu từ các hoạt động mua bán ở chợ Thành phần chủ yếu là rác hữu cơ bao gồm rau, quả hư hỏng

- Rác khu thương mại: Phát sinh từ các hoạt động buôn bán của các cửa hàng bách hóa, nhà hàng ăn uống, các địa vui chơi Thành phần chủ yếu túi nilong, thực phẩm

- Rác từ khách du lịch: phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt, mua bán Thành phần chủ yếu là túi nilon, giấy, vỏ hoa quả, thức ăn thừa, vỏ bánh kẹo

Trang 12

1.2.2 Khái niệm quản lý CTR và vai trò công tác quản lý CTR trong lễ hội Khái niệm quản lý CTR:

Quản lý CTR là hoạt động của các tổ chức và cá nhân nhằm giảm bớt ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người, môi trường hay mỹ quan Các hoạt động đó liên quan đến việc thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế chất thải… Quản

lý chất thải rắn cũng có thể góp phần phục hồi các nguồn tài nguyên lẫn trong chất thải

Vai trò của công tác quản lý CTR đối với khu vực lễ hội:

- Giải quyết được vấn đề thu gom rác thải và VSMT, giúp cải thiện được

ý thức của du khách, mức độ hài lòng về chất lượng, dịch vụ lễ hội

- Giữ gìn được mỹ quan, cảnh quan lễ hội, đảm bảo trong thời gian tổ chức lễ hội được diễn ra một cách trang nghiêm, thành kính

- Giữ gìn được VSMT, hạn chế được tác động của chất thải tới khu lễ hội nhất là du khách và thảm thực vật

- Tạo được sự thoải mái, bầu không khí trong lành cho du khách khi về dâng hương tưởng nhớ tới công ơn các Vua Hùng, nâng cao được chất lượng trong công tác quản lý

- Tạo được ấn tượng tốt đối với du khách trong và ngoài nước

1.3 Thực trạng công tác quản lý môi trường tại các khu du lịch lễ hội ở Việt Nam

1.3.1 Mặt được

Trong những năm gần đây, công tác quản lý và tổ chức lễ hội cơ bản đã thực hiện nghiêm các quy định về quản lý và tổ chức lễ hội của của Đảng và Nhà nước Lễ hội quy mô Quốc gia đến các lễ hội nhỏ phạm vi làng, xã đều đảm bảo an ninh trật tự

- Nhiều lễ hội có chuyển biến tích cực, khắc phục được nhiều hạn chế, tồn tại như mê tín dị đoan, cờ bạc, lưu hành ấn phẩm trái quy định Do phát huy vai trò chủ thể của người dân hoạt động lễ hội đã được xã hội hoá rộng rãi, huy động được nguồn lực lớn từ nhân dân, nguồn tài trợ, cung tiến ngày càng tăng,

Trang 13

nguồn thu qua công đức, lệ phí, dịch vụ phần lớn đã được sử dụng cho tôn tạo di tích, tổ chức lễ hội nhằm bảo tồn các phong tục, tập quán truyền thống và hoạt động phúc lợi công cộng

- Phần lễ tổ chức trang trọng, linh thiêng và thành kính, chương trình tham gia phần hội phong phú hấp dẫn, bảo tồn có chọn lọc những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc theo xu hướng lành mạnh, tiến bộ, tiết kiệm, tổ chức các hoạt động văn hóa dân gian, diễn xướng dân gian, dân ca, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc để quảng bá, giới thiệu những giá trị văn hóa của các dân tộc Việt Nam Gắn kết các hoạt động văn hóa, thể thao truyền thống với quảng bá du lịch, giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và mỹ tục truyền thống văn hoá lâu đời tốt đẹp, độc đáo của dân tộc ta, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, tâm thức hướng về nguồn cội của 6 cộng đồng Đồng thời các sinh hoạt lễ hội truyền thống đã góp phần giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn, tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng, làm nên vẻ đẹp của các công trình tín ngưỡng, tôn giáo

- Một số lễ hội tổ chức với quy mô ngày càng lớn, hình thức tổ chức với nhiều nội dung, nhiều hoạt động, các địa phương đã dựa vào nội lực là chính, nhiều lễ hội đã chinh phục được du khách, tôn vinh di sản, nâng cao uy tín của thương hiệu du lịch hấp dẫn của địa phương

- Kinh nghiệm tổ chức một số Lễ hội Văn hóa, thể thao, du lịch đã dần dần mang tính chuyên nghiệp hóa góp phần tạo ra doanh thu và hiệu quả đầu tư, góp phần đẩy mạnh và nâng cao đời sống văn hóa cho nhân dân ở các địa phương Đặc biệt loại hình lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch đã tạo ra sự đột phá tuyên truyền quảng bá những tiềm năng thế mạnh, thành tựu kinh tế xã hội của địa phương, góp phần quảng bá hình ảnh và đất nước con người Việt Nam, tôn vinh các giá trị văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong văn hóa du lịch, tạo dấu ấn với du khách trong nước và quốc tế (Festival Huế, Lễ hội bắn pháo hoa Đà Nẵng, Festival trái cây Nam Bộ )

Trang 14

- Thông qua tổ chức lễ hội đã huy động được nguồn lực lớn từ nhân dân, phần lớn kinh phí tổ chức lễ hội (đặc biệt là lễ hội dân gian) đều do nhân dân và

du khách thập phương tự nguyện đóng góp Trong nhiều lễ hội, nhân dân đã đóng góp nguồn kinh phí lớn có thể tính được bằng tiền tỷ để trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, bảo tồn các phong tục, tập quán truyền thống

1.3.2 Những bất cập tồn tại trong quản lý, tổ chức lễ hội

- Công tác tuyên truyền, hướng dẫn cho quần chúng nhân dân hiểu rõ giá trị truyền thống trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong công tác tổ chức lễ hội còn hạn chế; Không ít lễ hội do nặng về hình thức quy

mô phải hoành tráng với chương trình nghệ thuật sân khấu hóa hiện đại, nặng về trình diễn nghệ thuật, đạo cụ, phô diễn tốn kém nhưng nội dung chưa đảm bảo, còn đơn điệu, chung chung, ít được đầu tư từ đó giám tính tích cực, hấp dẫn của

lễ hội

- Một số lễ hội còn có biểu hiện lãng phí Còn xuất hiện hiện tượng bói toán, lên đồng, cờ bạc, thương mại hóa trong hoạt động dịch vụ lễ hội, tệ nạn bán hàng rong, bán sách ngoài luồng, xem tướng số, tử vi, lôi kéo khách hành hương, nâng giá trị dịch vụ, đặt tiền công đức - giọt dầu tùy tiện, tệ nạn ăn xin,

ăn mày làm giảm đi tính tôn nghiêm và những nét đẹp văn hóa trong hoạt động

lễ hội

- Lễ hội dân gian lớn được tổ chức quy mô và cầu kỳ hơn trước nhưng cơ

sở vật chất, hệ thống hạ tầng, đặc biệt là hình thức dịch vụ chưa đáp ứng nhu cầu mật độ đông của du khách, văn hóa tâm linh có xu hướng thiếu lành mạnh

- Lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch có chiều hướng phát triển nhanh về số lượng và quy mô tổ chức dẫn đến sự lúng túng trong công tác chỉ đạo quản lý hướng dẫn của địa phương Việc tổ chức lễ hội nghiêng về lợi ích kinh tế, do đó

ý nghĩa văn hóa tinh thần mờ nhạt

Một số nơi tổ chức những ngày kỷ niệm của địa phương, ngày truyền thống của ngành còn có biểu hiện phô trương, lãng phí nặng về hình thức, chưa

Trang 15

khai thác hết tiềm năng sáng tạo văn hóa của nhân dân và vốn truyền thống văn hóa dân gian vốn có ở địa phương

- Do tác động của mặt trái kinh tế thị trường đã dẫn đến nhận thức sai lệch

về mục đích tổ chức lễ hội, coi di tích và lễ hội là nguồn lợi riêng của địa phương nên tập trung khai thác giá trị kinh tế, thương mại hóa các loại hình hoạt động dịch vụ, làm giảm giá trị truyền thống của lễ hội

- Nếp sống văn hóa - văn minh của người phục vụ và người tham gia lễ hội còn yếu Sự bùng nổ nhu cầu tham gia lễ hội của đông đảo nhân dân ngoài

dự kiến đã dẫn đến tình trạng lộn xộn không kiểm soát được tại một số lễ hội lớn

- Trình độ quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức hoạt động lễ hội của cán

bộ văn hóa cơ cở và những người trực tiếp quản lý di tích và điều hành lễ hội còn hạn chế

- Việc phân cấp quản lý lễ hội và di tích chưa thống nhất: Có nhiều chủ thể cùng tham gia quản lý (Ủy ban nhân dân xã, phường, Ban quản lý di tích, nhà chùa, nhà đền, công ty khai thác dịch vụ), việc phân cấp quản lý lễ hội, di tích của từng địa phương cũng khách nhau, có nơi do Ủy ban nhân dân huyện, thị xã tổ chức và quản lý lễ hội; có nơi giao cho Ủy ban nhân dân xã, phường tổ chức và quản lý; có nơi do Ban quản lý chuyên môn, công ty kinh doanh khai thác các hoạt động vận chuyển và dịch vụ

- Hiện đang xuất hiện xu hướng tự nâng cấp, tự đặt tên lễ hội thành Lễ hội cấp Quốc gia, Lễ hội Quốc tế

1.4 Một vài nét về khu lễ hội Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ

1.4.1 Thời gian tổ chức

Hội đền Hùng kéo dài từ mùng 8 đến ngày 11 tháng 3 âm lịch, trong đó mùng 10 là chính hội Lễ hội Đền Hùng là một lễ hội lớn mang tính quốc gia để tưởng nhớ các vua Hùng đã có công dựng nước Phong tục giỗ tổ Hùng Vương đã trở thành truyền thống văn hoá lâu đời ở nước ta Đó là ngày hội toàn quốc, toàn dân và trong tâm thức dân gian Việt Nam nó mang tính thiêng liêng

Trang 16

cao cả nhất Vì thế mà lễ hội được tổ chức long trọng hàng năm với nghi thức đại lễ quốc gia, với sự hành hương “trở về cội nguồn dân tộc” của hàng chục vạn người từ khắp các nơi trong nước và kiều bào sống ở nước ngoài

1.4.2 Địa hình tuyến tham quan lễ hội

Đền Hùng Phú Thọ là quần thể di tích đền chùa, thờ phụng các Vua Hùng

và tôn thất, nằm từ chân đến đỉnh ngọn núi Nghĩa Lĩnh cao 175 mét, bao quanh

là khu rừng cấm linh thiêng, thuộc xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Nơi đây gắn với lưu truyền dân gian: "dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ

tổ mùng mười tháng ba"

Theo sự tích đền Hùng Phú Thọ, đây là nơi người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang Được xây vào thế kỷ 15, khu di tích lịch sử đền Hùng là một quần thể kiến trúc thâm nghiêm, bao gồm các công trình chính:

- Ðền Hạ: Từ chân núi rẽ qua cổng đền, leo lên 225 bậc thang là đến đền

Hạ và chùa Thiên Quang Trước cửa đền Hạ có cây thiên tuế, bên cạnh là nhà bia có kiến trúc hình lục giác với 6 mái Nơi đây có đặt tấm bia đá khắc dòng chữ quốc ngữ: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" - đây là câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến viếng thăm Đền Hùng Phú Thọ vào ngày 19 tháng 9 năm 1954

- Ðền Trung: Từ đền Hạ leo thêm 168 bậc đá nữa là tới đền Trung Tương

truyền, đây là nơi các vua Hùng ngắm cảnh và bàn việc với các lạc hầu, lạc tướng Cũng ở nơi đây hoàng tử Lang Liêu đã dâng bánh chưng, bánh giầy lên cho vua cha nhân dịp tết cổ truyền

- Ðền Thượng: Từ đền Trung đi tiếp 102 bậc đá là đến đền Thượng, nơi

các vua Hùng làm lễ tế Trời đất, thần Núi và thần Lúa Ðây cũng là nơi Thục Phán sau khi được vua Hùng thứ 18 truyền ngôi, dựng cột đá thề sẽ trông nom ngôi đền và giữ gìn cơ nghiệp vua Hùng

- Lăng Vua Hùng: là ngôi mộ vua Hùng Vương thứ 6, tọa lạc ở phía đông

đền Thượng, mặt quay theo hướng Đông Nam Xưa kia, đây là một mộ đất, đến

Trang 17

thời vua Tự Đức năm thứ 27 (1870) đã cho xây mộ dựng lăng Tiếp thời vua Khải Định, tháng 7 năm 1922 lăng mộ được trùng tu lại

- Ðền Giếng: Từ lăng đi xuống, đền ở chân núi phía Ðông Nam Trong

đền có giếng Ngọc, bốn mùa đầy nước, trong vắt như gương soi Ðền thờ Ngọc Hoa và Tiên Dung là con gái của vua Hùng thứ 18 Tương truyền hai nàng công chúa thường vấn tóc và soi gương ở giếng này

- Đền Tổ Mẫu Âu Cơ: là đền mới trong quần thể đền Hùng Phú Thọ, xây

dựng năm 2001, khánh thành 2004 Đền Quốc Tổ Lạc Long Quân xây dựng

2007, khánh thành 2009 Ngoài ra, ở gần Công Quán (nơi tiếp khách thập phương) có Bảo tàng Hùng Vương, trưng bày nhiều hiện vật thời kỳ vua Hùng

dựng nước như đồ đá, đồ đồng, đồ sắt

1.4.3 Khai hội Đền Hùng

Lễ hội Đền Hùng và giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hằng năm vào ngày mùng mười tháng ba âm lịch Những ngôi đền thờ các vị vua Hùng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Nơi đây thể hiện một cách vô cùng sâu sắc những hình thức sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống của nhân dân Lễ hội được bắt đầu cũng từ chính thời đại của vua Hùng Vương trong quá trình dựng nước và giữ nước Cũng chính bởi những lí do như vậy mà việc chúng ta suy trì lễ hội này và được tổ chức với quy

mô lớn qua các năm càng chứng tỏ tấm lòng của nhân dân, những người thuộc thế hệ đi sau vẫn luôn nhớ tới với niềm biết ơn sâu sắc những vị cha ông ta đã hi sinh để bảo vệ cho đất nước

Ngày 02/4/2007, Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Luật Lao động cho người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch)

Kể từ đây, ngày 10/3 âm lịch hàng năm đã trở thành ngày lễ lớn - QUỐC LỄ mang ý nghĩa bản sắc văn hóa dân tộc

Ngày giỗ Tổ Hùng Vương hằng năm là ngày hội chung của toàn dân, ngày mà mọi trái tim dù đang sống và làm việc ở muôn nơi vẫn đập chung một

Trang 18

nhịp, mọi cặp mắt đều nhìn về cùng một hướng Trong ngày này, nhân dân cả nước còn có điều kiện để tham gia vào các hoạt động văn hóa thể hiện lòng thành kính tri ân các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân đã vì dân giữ nước

Ngày 6/12/2012, UNESCO đã chính thức công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ”, biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết, truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng còn là dịp để giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn sâu sắc các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân kiên cường chống giặc ngoại xâm giữ nước, đồng thời còn là dịp quan trọng để chúng ta quảng bá ra thế giới về một Di sản

vô cùng giá trị, độc đáo, đã tồn tại hàng nghìn năm, ăn sâu vào tâm hồn, tình cảm, trở thành đạo lý truyền thống của đồng bào cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài, là ngày để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cùng nguyện một lòng mãi mãi khắc ghi lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước - Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”

1.4.4 Nghi thức tổ chức

Nội dung của lễ hội giỗ Tổ Hùng Vương chủ yếu gồm hai phần: Phần Lễ

và phần Hội Phần lễ được tiến hành với nghi thức trang nghiêm tại Đền thượng; phần Hội được diễn ra xung quanh dưới chân núi Hùng

Trong phần lễ:

Nghi thức dâng hoa của các đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ, các tỉnh thành được tổ chức long trọng trên Đền Thượng Từ chiều mùng 9, làng nào được Ban tổ chức cho phép rước kiệu dâng lễ bánh dầy, bánh chưng đã tập trung đông đủ dưới cổng Công Quán Sáng sớm hôm sau, các đoàn đại biểu xếp hàng chỉnh tề đi sau cỗ kiệu rước lễ vật lần lượt đi lên đền trong tiếng nhạc lễ của phường bát âm và đội múa sinh tiền Tới trước cửa Đền Thượng (Kính Thiên lĩnh điện), đoàn đại biểu dừng lại, kính cẩn dâng lễ vào Thượng cung của Đền

Trang 19

Thượng Đồng chí lãnh đạo tỉnh thay mặt cho tỉnh và nhân dân cả nước (năm chẵn là đồng chí nguyên thủ quốc gia hoặc đại biểu của Bộ Văn hóa) kính cẩn đọc diễn văn Lễ Tổ Toàn bộ nội dung hành lễ được các hệ thống phát thanh, truyền hình đưa tin để đồng bào cả nước theo dõi lễ hội Trong thời gian tiến hành nghi lễ, toàn bộ diễn trường hội ngừng các hoạt động để theo dõi nghi thức giỗ Tổ cũng là để tăng thêm tính nghiêm trang của lễ hội

Phần hội:

Diễn ra tưng bừng, náo nhiệt xung quanh khu vực Núi Hùng Hội Đền Hùng ngày nay có nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa phong phú hấp dẫn hơn hội Đền Hùng xưa Trong khu vực của hội, nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, văn hóa phẩm, các quán bán hàng dịch vụ ăn uống, các khu hoạt động biểu diễn văn nghệ, thi đấu thể thao được tổ chức và duy trì trật tự, quy củ

Tại khu Văn – Thể, các trò chơi dân gian được Ban Tổ chức chọn lọc đưa vào phục vụ lễ hội như đấu vật, bắn nỏ, rước kiệu, thi giã bánh dày gói bánh chưng, thi kéo lửa thổi cơm, trò diễn “bách nghệ khôi hài” và Trò Trám của làng

Tứ Xã, rước lúa Thần Cạnh đó là sân khấu của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp như Chèo, kịch nói, hát quan họ, hát xoan, chiếu bóng, có cả hội diễn văn nghệ quần chúng để tuyển chọn nhân tài Trên khu Công quán thì âm vang tiếng trống đồng và tiếng giã đuống rộn ràng của các nghệ nhân dân gian người dân tộc Mường ở Thanh Sơn ra phục vụ lễ hội

Ngoài các hoạt động văn hóa, văn nghệ trong diễn trường hội, mọi người

về dự hội còn được tham quan Bảo tàng Hùng Vương, nơi lưu giữ và trưng bày các hiện vật phản ánh thời kỳ Hùng Vương dựng nước để tìm hiểu lịch sử truyền thống dựng nước trên quê hương Đất Tổ

Thời đại của chúng ta hôm nay đang ngày càng góp sức tô điểm và phát huy sức sống trường tồn của giỗ Tổ Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng Ý nghĩa tâm linh của cuộc hành hương trẩy hội Đền Hùng đã trở thành nếp nghĩ, nét văn hóa truyền thống không thể thiếu được của mỗi con người Việt Nam Tất cả mọi người, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, dân tộc, tôn giáo đang sinh sống trên

Trang 20

mọi miền Tổ quốc đều bình đẳng trước Mộ Tổ, đều có quyền tự hào mỗi khi về

dự giỗ Tổ Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng

1.4.5 Một số nghiên cứu liên quan

- Tác giả: Hoàng Thị Thu Phương: Quản lý du lịch tại khu di tích lịch sử Đền Hùng (LV năm 2015) Đề tài tập trung nâng cao chất lượng du lịch cũng như công tác quản lý dịch vụ, môi trường tại lễ hội

- Tác giả: Nguyễn Vân Anh: Khóa luận “Quản lý hoạt động dịch vụ tại lễ hội Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ” năm 2015 Đề tài nêu thực trạng công tác quản lý dịch vụ tại Đền Hùng và đưa ra các giải pháp về công tác quản lý dịch vụ và vấn

đề về CTR

Trang 21

CHƯƠNG II: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung:

Mục tiêu chung của đề tài là góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn tại khu lễ hội Đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Mục tiêu cụ thể:

- Đánh giá được thực trạng chất thải rắn tại khu lễ hội Đền Hùng

- Đề xuất được giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn của khu vực nghiên cứu

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất thải rắn tại khu lễ hội Đền Hùng

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn tại khu lễ hội Đền Hùng, Phú Thọ

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu thực trạng các hoạt động tại khu lễ hội Đền Hùng

- Nghiên cứu hiện trạng chất thải rắn tại khu lễ hội Đền Hùng

- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại khu lễ hội Đền Hùng

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn tại khu lễ hội Đền Hùng

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu thực trạng các hoạt động tại khu lễ hội Đền Hùng

2.4.1.1 Phương pháp thu thập, kế thừa tài liệu

Tìm hiểu các thông tin từ các tài liệu đã công bố (sách, báo, tạp chí, báo cáo khoa học, các trang web )

Trang 22

Kế thừa các tài liệu về khách du lịch, thời gian, nghi thức tổ chức lễ hội, các hoạt động kinh tế-văn hóa và một số tài liệu liên quan khác do trung tâm quản lý lễ hội cung cấp

2.4.1.2 Phương pháp điều tra khảo sát hiện trường

Tiến hành khảo sát các hoạt động được diễn ra trong lễ hội bao gồm các hoạt động về kinh tế, văn hóa, du lịch Nghi thức tổ chức lễ hội, ước tính số lượng du khách trong dịp chính lễ và các ngày bình thường từ đó rút ra nhận xét

và kết luận về thực trạng hoạt động lễ hội, du lịch tại lễ hội Đền Hùng, Phú Thọ

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực trạng chất thải rắn tại khu vực lễ hội Đền Hùng

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu

Kế thừa các tài liệu về số lượng khách du lịch, khối lượng chất thải rắn qua các năm (2012-2017), khối lượng chất thải rắn giữa các tháng trong năm, nguồn phát sinh chủ yếu và một số tài liệu khác có liên quan do các phòng ban của cơ quan quản lý lễ hội cung cấp

- Phương pháp điều tra khảo sát hiện trường:

Tiến hành khảo sát các tuyến đường ở khu vực lễ hội, sự phát sinh chất thải, sự phân bố, các điểm tập kết rác, điểm trung chuyển rác từ đó rút ra nhận xét, kết luận chất thải rắn trên địa bàn khu vực nghiên cứu

Điều tra theo các mùa khác nhau: Mùa đông (trước tết), mùa xuân (sau tết, mùa lễ hội dịp 10/3) Điều tra về số lượng khách du lịch, khối lượng và thành phần CTR

Quan sát các điểm xả thải rác không theo quy định, điều tra nhận thực, ý thức của du khách về môi trường, CTR khi đi đến điểm du lịch

2.4.2.2 Phương pháp lấy mẫu: Xác định thành phần CTR

- Đặt túi nilon vào các thùng chứa rác cần thu gom vào khoảng thời gian 16h- 17h ngày đầu tiên của đợt khảo sát

- 16h- 17h ngày hôm sau đến thu gom rác (nhấc túi rác rác khỏi thùng và đặt túi mới)

Trang 23

- Sau khi thu gom, rác được đổ ra bạt để phân loại thành phần theo phân loại rác đã chuẩn bị trước

- Sau khi phân loại tiến hành xác định khối lượng mỗi loại rác thải bằng cân và ghi kết quả vào biểu mẫu đã chuẩn bị trước

- Tần suất lấy mẫu: Thực hiện 2 lần trước và trong thời gian chính diễn

Ghi chú

Trang 24

2.4.3 Phương Pháp nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại khu vực nghiên cứu

2.4.3.1 Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu

Tài liệu về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý chất thải rắn của lễ hội bao gồm: + Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý chất thải, số lượng công nhân tổ chức thu gom, chức năng nhiệm vụ của tổ thu gom, phí vệ sinh và nhân công (chế độ bảo hiểm, mức thu nhập của công nhân)

+ Tần suất thu gom

+ Công tác vận chuyển

2.4.3.2 Phương pháp điều tra khảo sát hiện trường

- Khảo sát số lượng thùng rác, điểm tập trung trong khuân viên lễ hội từ

đó rút ra nhận xét

- Khảo sát công tác thu gom: Thời gian, phương tiện, tần suất thu gom, các điểm tập kết rác công tác vận chuyển Phỏng vấn trực tiếp công nhân đi thu gom rác thải tại khu vực lễ hội

- Phỏng vấn người dân và du khách đánh giá về công tác quản lý môi trường , CTR tại khu du lịch

- Điều tra về công tác vận chuyển và xử lý CTR

- Điều tra những thuận lợi và khó khăn trong quản lý CTR

2.4.4 Phương pháp đề xuất giải pháp nâng cao công tác quản lý chất thải rắn tại khu lễ hội Đền Hùng, Phú Thọ

Sau khi có đầy đủ các thông tin về hiện trạng CTR và Công tác Quản lý CTR ở Đền Hùng Đề tài tiến hành xử lý và phân tích thông tin nhằm đề xuất giải pháp nâng cao hướng công tác QLCTR tại khu vực lễ hội Đền Hùng

Trang 25

CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI

3.1 Điều kiện tự nhiên khu lễ hội Đền Hùng

3.1.1 Vị trí địa lý

Khu di tích lịch sử Đền Hùng nằm trong vùng đất thấp phía Tây Bắc thành phố Việt Trì Tổng diện tích tự nhiên trên 1.000ha (theo quyết định 48/2004/QĐ-TTg ngày 30 tháng 3 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ) thuộc phần đất trong địa giới hành chính của 7 xã: Hy Cương, Chu Hóa, Tiên Kiên, Thanh Đình - huyện Lâm Thao; Phù Ninh; Kim Đức và xã Vân Phú - thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Khu di tích lịch sử Đền Hùng được xác định trong tọa độ địa lý: từ 21°24ph 08 giây đến 21°28‟76‟, từ 104°77‟15‟ đến 104°81‟68‟ kinh độ đông, được chia thành 2 vùng: Vùng trung tâm và vùng điều chỉnh xây dựng Rừng quốc gia Đền Hùng được bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích là 538ha, chủ yếu thuộc 2 xã Hy Cương, huyện Lâm Thao và Phù Ninh, huyện Phù Ninh Vùng đệm có diện tích hơn 500ha gồm 7 xã nói trên

3.1.2 Đặc điểm địa chất, địa hình

Khu vực Đền Hùng nằm trong vùng địa chất biến chất, nâng lên và uốn nếu với 3 kiểu: địa mạo đồi gò (đá mẹ chủ yếu là đá Gnai), địa mạo đồi gò phù

sa cổ và bậc thềm thung lũng tích lũy

Tương ứng là các kiểu địa hình đồi gò (đá mẹ là chủ yếu), sau đó đến gò đồi trung bình và thung lũng bồi tích Đây chính là tiểu vùng đồi xen ruộng nước

Do cấu tạo địa mạo như trên nên địa thế ở khu vực này đại bộ phận là sườn dốc thoải Vì vậy sinh ra các kiểu mẫu chất sườn tiến, phù sa cổ và phù sa mới

Hầu hết các gò đồi khu vực Đền Hùng đều thấp (chiếm 70 - 80 diện tích), trừ núi Nghĩa Lĩnh (cao 175m) và núi Vặn (cao 171m) Độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Khu trung tâm được chia thành tiểu vùng theo độ dốc sau:

Trang 26

cả năm Mùa lạnh bắt đầu từ thagns 11 đến tháng 4 năm sau thường ít mưa và có gió lạnh

- Nhiệt độ: không khí trong bình năm: 23,1°C

Nhiệt độ không khí trung bình tháng thấp nhất: 15,7°C (tháng 1)

Nhiệt độ không khí trung bình tháng cao nhất tuyệt đối: 40,7°C (tháng 5/1931)

Nhiệt độ không khí trung bình tháng thấp nhất tuyệt đối: 3,5°C (tháng 12/1934)

- Nắng: Hầu hết các tháng trong năm đều có nắng, tuy nhiên phân bố

không đều Số giờ nắng nhiều nhất và nóng nhất tập trung vào tháng 4 đến tháng

10 (mùa nóng) Số giờ nắng ít nhất và nóng nhất tập trung vào tháng 11 đến tháng 4 năm sau (mùa lạnh)

Tổng số giờ nắng trong năm: 1.662 giờ

- Độ ẩm: Không khí tương đối trung bình năm là: 82 - 84%

Độ ẩm không khí trung bình cao nhất: 85 - 87% (vào tháng 3, 4)

Độ ẩm không khí trung bình thấp nhất: 79 - 81% (vào tháng 11,12)

- Mây: Số ngày trời nhiều mây nhất là tháng 3 (25,9 ngày)

Số ngày trời ít mây nhất là tháng 10 (10,7 ngày)

Tổng số ngày nhiều mây trung bình là 170 ngày

- Mưa: Chủ yếu vào mùa nóng, thỉnh thoảng có mưa đá Lượng mưa cao nhất vào tháng 7 -8 Tổng số lượng mưa trung bình năm là 1.850mm Lượng mưa

Trang 27

trung bình cao nhất: 382,5mm (tháng 7), Lượng mưa trung bình thấp nhất: 24,9mm (tháng 12)

- Gió: Gió bị phân hướng do điều kiện địa hình Gió chủ đạo trong khu

vực là Đông - Đông Nam và gió Tây Bắc với tần suất đáng kể Tốc độ gió trung bình năm là 1,8m/S

Tốc độ gió trung bình tháng lớn nhất: 2,4m/S (tháng 4)

Tốc độ gió mạnh nhất: 40/S (tháng 6)

- Bão và lốc xoáy: Bão thường xuyên xảy ra vào tháng 5 đến tháng 10 và

thường kéo theo mưa to Tháng 6 và tháng 8 đôi khi có lốc xoáy, gây đổ cây, đổ nhà cửa và các công trình kiến trúc xây dựng

3.1.4 Thủy văn

Khu vực Đền Hùng có hệ thống ao hồ khá phong phú, dễ kiến tạo, đặc biệt có nhiều hồ vừa có tiềm năng thủy lợi vừa có giá trị cảnh quan và điều hòa khí hậu như: hồ Gò Cong, hồ Lạc Long Quân, hồ Khuôn Muồi, đập Nhà Chìa,

hồ Hóc Trai, hồ Ka Im, hồ Nhà Nhen mực nước hồ không ổn định, mùa khô mực nước giảm đáng kể

Các suối trong khu vực phát triển thành 2 hệ thống: Bắt nguồn từ trung tâm là trục uốn nếp núi Hùng tạo nên đường phân thủy tự nhiên, từ dây hệ thống suối phía Tây đổ ra rông Hồng, hướng chảy Đông Bắc - Tây Nam; hệ thống suối phía Đông chảy ra sông Lô, hướng chảy Tây Nam - Đông Bắc, lòng suối hẹp có dạng chữ U Độ dốc của suối tương đối thoải, tốc độ chảy chậm, phần lớn các suối đều được cải tạo để sử dụng tưới tiêu nhỏ

- Sông: Có 2 con sông lớn, sông Lô cách Đền Hùng khoảng 6,5km về phía

Đông Bắc, sông Hồng (sông Thao) cách Đền Hùng 5,5km về phía Tây Nam

Trữ lượng nguồn nước ngầm trong khu vực là 1/25000 Nước ngầm mạch sâu rất hạn chế và phân bố không đều trong vùng Do ở đây là kiến tạo núi trẻ, dưới sâu là đá gốc không chứa nước và thấm nước Vì vậy dù kẹp giữa hai con sông nhưng nước mạch ngầm sâu cũng rất ít Trữ lượng nước ngầm mạch nông cũng không lớn, khối lượng nước thay đổi mãnh liệt theo mùa Mùa mưa ở các

Trang 28

vùng rộng nước ngầm cách mặt đất khoảng 0,5m, mùa khô xuống thấp cách mặt đất 5 - 7m Nguồn nước này chủ yếu sử dụng cho nhu cầu nhỏ và cho các nhu cầu sinh hoạt của dân cư

3.1.5 Thổ nhưỡng

Dựa vào nguồn gốc phát sinh của đất, khu vực Đền Hùng được chia làm

ba loại đất chính:

- Đất Feralit phát triển trên Gnai: Phân bố hầu hết trên diện tích các đồi

gò trong khu vực Đất có màu đỏ vàng, màu này thay đổi phụ thuộc vào kiểu địa hình, lớp phủ thực bì và tuổi khai thác sử dụng đất Loại đất này đại bộ phận có

độ tơi xóp cao, tầng đất mỏng, 1 số diện thích nhỏ có hiện tượng kết von

- Đất Feralit nâu vàng phát triển trên phù sa cổ: Thường xuất hiện ở vị trí

của đỉnh và sườn đồi Do nguồn gốc là phù sa được nâng lên bởi quá trình tạo núi nên đất có độ phì kém, nghèo mùn, nghèo đạm, lân, kali, dễ tiêu, độ chua cao (PH = 4,1% - 4,5%) Thành phần cơ giới là đất thịt trung bình và đất thịt nhẹ Kết von là quy luật đặc thù của đất này, độ kết von 30 - 60%, đất xấu khô kiệt không thuận lợi cho cây trồng

- Đất dốc tụ dưới các chân đồi gò: Lập địa được hình thành từ các thung

lũng bồi tụ bởi tổ hợp các đất: đất phù sa (là sản phẩm bồi tụ lũy tích) đất dốc (là sản phẩm bồi tụ sườn tích do lũ tích gây ra) Đất thung lũng phụ thuộc rất nhiều vào tính chất đồi gò tiếp giáp, nhưng do rửa trôi bào mòn theo chiều ngang của dòng chảy mặt cho nên đất cũng bị ảnh hưởng xấu đến độ phì nhiêu Do sự tích lũy của thung lũng nên đất này luôn có dộ phì cao hơn đất đồi gò Sự tụ thủy của thung lũng đã tạo ra cho đất phù sa và đất dốc tụ ngập nước thường xuyên theo mùa nên xảy ra quá trình Glây, đất nhão nhuyễn không có kết dính và đất chỉ thích hợp cho cây trồng chịu nước

3.2 Điều kiện văn hóa xã hội

- Dân số: Xã có diện tích 7,03 km² trong đó có hơn 5,00 km² thuộc khu di tích lịch sử Đền Hùng, dân số năm 2006 là 4.760 người, mật độ dân số đạt 595 người/km²Hy Cương là 1 xã miền núi nằm ở phía Tây Bắc thành phố Việt Trì

Trang 29

Xã cách trung tâm thành phố khoảng 15km, với tổng diện tích tự nhiên trên 700ha, trong đó có 500ha thuộc quy hoạch khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Đền Hùng Xã có 1.672 hộ với 5.546 nhân khẩu, chia ra làm 8 khu hành chính, nguồn thu nhập chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp, kinh doanh dịch vụ và lao động tại các khu chế xuất Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 702,98 ha, trong

đó đất nông, lâm nghiệp, thủy sản là 314,05 ha Đất lâm nghiệp là 186,73 ha Đất phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản là 197,20 ha Số lượng trang trại của

xã có 3 trang trại

- Kinh tế: Là một xã nông nghiệp, Hy Cương đã thực hiện quy hoạch và thực hiện vùng sản xuất tập trung để nâng cao năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp địa phương Đối với chăn nuôi, ngoài việc duy trì và phát triển đàn gia súc, gia cầm, xã đã khuyến khích người dân cải tạo hệ thống ao hồ, mặt nước để kết hợp nuôi trồng thủy sản, xây dựng trang trại tổng hợp, vận động nhân dân chuyển đổi đất sản xuất 1 vụ lúa sang trồng các loại cây rau màu phù hợp, cho hiệu quả kinh tế cao Cùng với đó, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn cũng được xã quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện khuyến khích phát triển, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông thôn, từng bước chuyển đổi theo hướng tăng giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ góp phần giải quyết nhu cầu việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn Một số ngành nghề tiêu biểu như: sản xuất bánh củ mài, chế biến chuối khô, trồng rau an toàn và chăn nuôi Tận dụng lợi thế xã có khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Đền Hùng, hàng năm đón hàng triệu lượt khách về thăm viếng, các hoạt động thương mại, dịch vụ tại khu vực này ngày càng phát triển Hiện nay có trên 400 hộ kinh doanh với các ngành nghề như: lưu trú, chụp ảnh, bán hàng, vận hành xe điện… phục vụ nhu cầu của du khách thập phương

và nhân dân với doanh thu 8,5 tỷ đồng Từ mức thu nhập 5,4 triệu đồng/ người/năm (năm 2010), đến nay, thu nhập bình quân đầu người của xã đã tăng lên 29 triệu đồng/ người/năm Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 là 11% thì đến hết năm

2016 còn 2,74%

Trang 30

- Văn hóa: Trong những năm qua, trên địa bàn xã Hy Cương công tác xã

hội hóa các hoạt động văn hóa đã đạt được những thành tựu nổi bật: việc đầu tư sửa chữa, cải tạo chùa Am Đường, đình Cổ Tích, một số nhà văn hóa trên địa bàn xã Các câu lạc bộ thơ, ca nhạc, hát xoan được nhân dân tự nguyện tham gia đóng góp chủ yếu các tiết mục cho các chương trình ca múa nhạc nhân các sự kiện lớn tại địa bàn xã Tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào việc quản lý Tiếp tục bảo tồn và phát huy di tích Ban khánh tiết và cụ từ Đình tiếp tục làm công tác trông coi, giữ gìn và bảo vệ, hướng dẫn nhân dân hành lễ tại di tích Đền Hùng Tuyên truyền các cá nhân, tập thể tiếp tục tham gia cuộc vận động đóng góp vốn nhằm tu bổ các di tích trên địa bàn

Trang 31

CHƯƠNG: IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Thực trạng các hoạt động lễ hội và du lịch tại lễ hội Đền Hùng

4.1.1.Thời gian diễn ra các dịp lễ hội

Hội đền Hùng kéo dài từ mùng 8 đến ngày 11 tháng 3 âm lịch, trong đó mùng 10 là chính hội Ngoài thời điểm lễ hội, Đền Hùng vẫn mở cửa tất cả các ngày còn lại trong năm phục vụ các nhu cầu du lịch, tín ngưỡng, tham quan, nghiên cứu của du khách Thời điểm đầu năm, thời gian được nghỉ tết dài cộng với văn hóa đi lễ đầu xuân nên số lượng du khách đến với Đền Hùng khá nhiều, chỉ kém thời gian diễn ra lễ hội

4.1.2 Tuyến tham quan Đền Hùng

Cổng Đền: Được xây năm Khải Định thứ hai( 1917), cổng xây cao 8,5m,

rộng 4,5m, nóc cổng có hình dáng tám mái nhỏ, hai bên có đắp phù điêu hai võ

sỹ, một cầm dao, một cầm chùy

Đền Hạ: Đền Hạ được xây dựng vào thế kỷ thứ XVII theo kiểu chữ nhị

gồm hai tòa, mỗi tòa ba gian Tương truyền nơi đây mẹ Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở thành 100 người con, nghĩa đồng bào được bắt đầu từ đây

Chùa Thiền Quang: Nằm ở phía bên phải Đền Hạ, kiến trúc chủ yếu là

cột gỗ có đá kê Chùa được xây dựng vào thời Lý và thời Trần Chùa dựng lại vào thời nhà Lê 1427-1573, chùa thờ Phật theo phái đại thừa, trước cửa chùa có cây thiên tuế khoảng 700 năm tuổi

Đền Trung (Hùng Vương Tổ Miếu): Đền Trung được xây sớm nhất trên

núi Nghĩa Lĩnh Đến thế kỷ XVII được xây dựng lại như kiểu dáng hiện nay Tương truyền nơi đây các Vua Hùng thường họp bàn việc nước Đền Trung cũng là nơi Vua Hùng thứ 6 nhường ngôi cho Lang Liêu, đã có công làm ra bánh chưng, bánh dầy

Đền Thượng (Kính Thiên Lĩnh Điện): Đền Thượng được trùng tu vào

năm Khải Định thứ 2( 1917), đền làm theo kiểu chữ “ Vương” Phía trước đền

có bốn cột trụ được trang trí, điêu khắc “ Lưỡng Long Chầu Nguyệt” Đền

Trang 32

Thượng là nơi các Vua Hùng thường làm lễ tế trời đất, mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, muôn dân được ấm no hạnh phúc

Lăng Vua Hùng: Lăng được xây bên trái phía trước Đền Thượng, Lăng

hình vuông, cột liền tường, tám mái có đao cong, trong Lăng có mộ khối hình chữ nhật

Đền Giếng: Được xây dựng vào thế kỷ thứ XVII ở chân núi phía Nam

Nghĩa Lĩnh, gồm ba lớp nhà và hai nhà oản hai bên Trong Đền có Giếng Ngọc, tương truyền là nơi hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa thường soi gương, chải tóc Nước Giếng trong không bao giờ cạn, Đền gồm hai tòa không

- Phần hội gồm các hoạt động được tổ chức tại Khu Di tích lịch sử Đền Hùng và một số xã, phường của thành phố Việt Trì như: triển lãm tư liệu ảnh, hiện vật của đồng bào cả nước cung tiến; hội thi gói, nấu bánh chưng và giã bánh dày liên tỉnh; Liên hoan dân ca và hát Xoan Phú Thọ; Hội chợ du lịch Tây Bắc; Hội trại văn hóa, bắn pháo hoa; Đêm thơ nhạc các vùng kinh đô Việt Nam; Giải bóng chuyền tranh cúp Hùng Vương, Giải quần vợt hữu nghị Hùng Vương, Hội bơi Chải trên sông Lô…

* Sửa chữa, tu bổ cơ sở hạ tầng:

- Kiểm tra, duy tu, sửa chữa kịp thời các tuyến đường nội bộ, bổ sung biển chỉ dẫn, tổ chức các phương án phân luồng giao thông; tăng cường quản lý thị trường, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ, việc trông giữ phương tiện, ứng phó kịp thời trong mọi tình

Trang 33

huống xảy ra nhằm đảm bảo an toàn, thuận tiện cho người dân và du khách về

dự giỗ Tổ

* Hoạt động dịch vụ:

- Nâng cao sự đa dạng của sản phẩm, dịch vụ, bao gồm: Dịch vụ sắm lễ, trong đó bánh chưng, bánh dày được đặt tại xã Hùng Lô với chất lượng đảm bảo, mẫu mã đẹp và giá cả hợp lý; đồ lưu niệm với trống đồng, đĩa đồng…; nông, lâm sản các loại (bánh củ mài, chè lam, bánh rau sắng, cốm nếp nương…)

- Dịch vụ thuyết minh và hướng dẫn tham quan, tổ chức hội nghị và các tour du lịch… Nâng cao đảm bảo chất lượng, giá cả hợp lý, niêm yết rõ ràng, du khách hoàn toàn yên tâm sử dụng hoặc mua về làm quà cho gia đình

- Dịch vụ ăn nghỉ : Hiện Trung tâm có khu nhà nghỉ với 20 phòng đầy đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch và khu nhà hàng có sức chứa khoảng 800 khách Đội ngũ nhân viên phục vụ được tuyển dụng, đào tạo đúng chuyên ngành, có kinh nghiệm trong công tác quản lý và phục vụ

- Dịch vụ sắm lễ, bán hàng lưu niệm: Chú trọng đến hàng lưu niệm, quà tặng với việc đa dạng hóa các đặc sản vùng miền, liên kết thêm với các tổ chức,

cơ sở sản xuất để có thêm nguồn hàng lưu niệm, quà tặng thay thế cho những mặt hàng không phải sản xuất tại Việt Nam, không mang bản sắc văn hóa Việt; tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ đầu vào, đầu ra, giá niêm yết và quy định các mặt hàng được bày bán và không được bày bán tại quầy

- Dịch vụ xe điện, chụp ảnh: Hiện nay, tại Di tích lịch sử Đền Hùng có 32

xe ô tô điện hoạt động thường xuyên phục vụ khách Hệ thống xe điện chỉ hoạt động trong phạm vi khu di tích với mục đích đưa - đón khách từ các bãi đỗ xe đến các điểm tham quan trong khu di tích và ngược lại với mức giá từ 10.000đ - 20.000đ/1 người/1 lượt”

- Tổ chức các hội nghị, hội trại, tour du lịch: Tổ chức các hội trại văn hóa nhằm quảng bá, giới thiệu nét đẹp truyền thống

- Trung tâm Dịch vụ du lịch Đền Hùng đã phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức tập huấn, bổ sung, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ hướng

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w