Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng sử dụng nước sinh hoạt tại xã Thái Phương, Huyện Hưng Hà, Tỉnh Thái Bình - Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại xã Thái Phương, Huyện Hưng
QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tổng quan về nước sinh hoạt
1.1.1 Một số khái niệm về nước sinh hoạt
Nước sinh hoạt là nước sạch hoặc nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con người.[14]
Nguồn nước sinh hoạt là nguồn nước có thể cung cấp nước sinh hoạt hoặc có thể xử lý thành nước sinh hoạt.[14] Hiện nay, nguồn cấp nước cho sinh hoạt chủ yếu gồm có nước dưới đất, nước mặt, nước mưa
Nước sinh hoạt đảm bảo (nước sạch) là nước có các tiêu chuẩn đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt QCVN 02:2009/BYT Về cơ bản nước đạt các yêu cầu: không màu, không mùi, không vị lạ, không có các thành phần gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người
1.1.2 Các nguồn cấp nước sinh hoạt a Nước mặt
Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo.[14]
Nguồn nước mặt, thường được gọi là tài nguyên nước mặt, tồn tại thường xuyên hay không thường xuyên trong các thuỷ vực ở trên mặt đất như: sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng và băng tuyết Tài nguyên nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, được sử dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất Do đó, tài nguyên nước nói chung và tài nguyên nước mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia
Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất Sự bốc hơi nước trong đất, ao, hồ, sông, biển; sự thoát hơi nước ở thực vật và động vật , hơi nước vào trong không khí sau đó bị ngƣng tụ lại trở về thể lỏng rơi xuống mặt đất hình thành mưa, nước mưa chảy tràn trên mặt đất từ nơi cao đến nơi thấp tạo nên các dòng chảy hình thành nên thác, ghềnh, suối, sông và đƣợc tích tụ lại ở những nơi thấp trên lục địa hình thành hồ hoặc đƣợc đƣa thẳng ra biển hình thành nên lớp nước trên bề mặt của vỏ trái đất
Thành phần hóa học của nước mặt phụ thuộc vào tính chất đất đai mà dòng nước chảy qua đến các thủy vực, chất lượng nước mặt còn chịu ảnh hưởng bởi các quá trình tự nhiên cũng như các hoạt động của con người
Trong nước mặt thường xuyên có các chất khí hòa tan chủ yếu là oxy Nước mặt thường có hàm lượng chất rắn lơ lửng đáng kể với kích thước khác nhau, một trong số chúng có khả năng lắng tự nhiên, một số là các chất lơ lửng có kích thước hạt keo thường gây ra độ đục của nước Ngoài ra, trong nước còn có nhiều rong rêu, tảo, động vật nổi và chất hữu cơ do sinh vật phân hủy
Chất lượng nước mặt thay đổi theo không gian, thời gian Ngày nay, dưới tác động của các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người nguồn nước mặt đang bị suy giảm về cả số lượng và chất lượng b Nước dưới đất
Nước dưới đất hay đôi khi còn được gọi là nước ngầm, là thuật ngữ chỉ loại nước nằm bên dưới bề mặt đất trong các không gian rỗng của đất và trong các khe nứt của các thành tạo đá, và các không gian rỗng này có sự liên thông với nhau [14]
Nước dưới đất là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất Nước dưới đất có diện tích phân bố rộng rãi từ vùng ẩm ướt cho đến các sa mạc, ở núi cao, vùng cực của Trái Đất Có 4 con đường hình thành nước dưới đất:[13]
- Do nước mưa, nước mặt trong sông hồ, đầm lầy, ngấm xuống các tầng đất đá bên dưới khi những tầng này có đới độ rỗng cao Phần lớn nước dưới đất thuộc dạng này
- Trong trầm tích, khi lắng đọng thì ở dạng bùn ƣớt Quá trình trầm tích tiếp theo tạo ra lớp đè lên trên, gây nén kết đá và nước bị tách ra thành vỉa Các vỉa nước dưới đáy mỏ dầu khí thuộc dạng này
- Nguyên sinh: Do magma nguội đi thì quá trình kết tinh xảy ra, lƣợng dư hydro và oxy nếu có sẽ tách ra, rồi kết hợp thành nước Đây là quá trình chính thời viễn cổ khi Trái Đất từ dạng khối vật chất nóng chảy nguội dần, nước tách ra từ magma tạo ra khí hơi nước, mây rồi tích tụ tạo ra các đại dương cổ Nguồn nước từ magma đã giảm nhiều, do vỏ rắn Trái Đất hiện dày hơn, và hydro là nguyên tố nhẹ nên ít nằm lại trong lòng Trái Đất
- Thứ sinh: Các hoạt động xâm nhập làm nóng đất đá, gây biến chất các lớp trầm tích bên trên, dẫn đến giải phóng nước từ trầm tích
Nước dưới đất được phân chia thành nhiều loại trong đó nước ngầm là một dạng của nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cát, sạn, cát bồ kết, trong các khe nứt, hang karxto dưới bề mặt Trái Đất Nguồn nước ngầm cũng chính là nguồn cung cấp nước chính cho các hoạt động sinh hoạt
So với nước mặt, chất lượng nước dưới đất thường tốt hơn và ít chịu ảnh hưởng bởi các tác động của con người Vì vậy, thành phần và tính chất của nước dưới đất cũng khác so với nước mặt Trong nước dưới đất hầu như không chứa rong tảo, các chất rắn lơ lửng một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước Thành phần đánh quan tâm trong nước dưới đất là các tạp chất hòa tan do ảnh hưởng của điều kiện địa tầng, thời tiết, các quá trình phong hóa và sinh hóa ở khu vực Nước dưới đất thường có pH thấp hơn so với nước mặt, trong nước thường xuyên tồn có mặt các ion Mn 2+ , Fe 2+ , Ca 2+ , Mg 2+ ,…
Ngoài ra, nước dưới đất cũng có thể bị nhiễm bẩn do các tác động của con người Các chất thải của con người và động vật, các chất thải sinh hoạt, chất thải hóa học, việc sử dụng phân bón hóa học,… tất cả những chất thải đó theo thời gian nó sẽ ngấm xuống đất vào nguồn nước, tích tụ và làm ô nhiễm nguồn nước dưới đất c Nước mưa
Hiện trạng cấp nước sinh hoạt ở Việt Nam và trên thể giới
1.2.1 Hiện trạng cấp nước sinh hoạt tại Việt Nam a Giếng khoan
Giếng khoan là công trình dạng hình trụ đi sâu vào phẩn vỏ của Trái đất do con người tạo nên bằng các loại máy móc chuyên dụng
Giếng khoan được sử dụng ở các vùng thiếu nước ngầm tầng nông hoặc không đủ diện tích mặt bằng để đào giếng Đặc điểm chung của giếng khoan là sâu và có chất lượng nước đảm bảo hơn nước giếng đào
Hiện nay, các giếng khoan thường đi kèm với hệ thống bể lọc đơn giản sử dụng các vật liệu lọc nhƣ cát, sỏi, than hoạt tính,… nhằm nâng cao chất lƣợng nước ngầm
Giếng khơi hay giếng đào – đây là hình thức đƣợc áp dụng rộng rãi ở các vùng nông thôn Việt Nam Giếng khơi thường có độ sâu không lớn do đó nguồn nước vẫn bị ảnh hưởng của nguồn nước mặt và nguồn nước thải Đặc biệt, giếng khơi có thể mất khả năng sử dụng trong một khoảng thời gian khi xảy ra lũ lụt, lũ quét nếu biện pháp xử lý thích hợp Đặc điểm chính của nguồn nước giếng khơi là có chứa hàm lƣợng lớn các chỉ tiêu nhƣ: nitrat, chất hữu cơ, sắt, độ đục, …, có thể có chứa các vi sinh vật lạ c Bể chứa nước mưa
Bể chứa nước mưa cũng là một hình thức sử dụng rộng rãi ở các vùng nông thôn, đặc biệt là ở các vùng nông thôn miền núi và đƣợc coi là an toàn Nước mưa đực lấy bằng cách người dân đặt đường ống trên mái nhà và sau mỗi trận mưa nước được thu vào bể chứa được tích lũy dùng dần Tuy nhiên hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí đang ngày càng gia tăng đã làm suy giảm chất lượng nước mưa, mặt khác do biến đỏi khí hậu lượng nước mưa cũng thay đổi thất thường không đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng d Hệ thống cấp nước
Hệ thống cấp nước là tổ hợp những công trình có chức năng thu nước, xử lý nước, vận chuyển, điều hòa và phân phối nước.[12] Hệ thống này được áp dụng cho các thành phố, đô thị, cộng đồng nông thôn, khu công nghiệp,… nhằm mục đích phục vụ cho các hoạt động sinh hoạt, sản xuất, chữa cháy Nước được lấy từ các nguồn nước mặt, nước ngầm qua các khâu xử lý và được chứa trong các bể chứa nước sạch có dung tích lớn Sau đó, nước được bơm lên đài nước hoặc trực tiếp đẩy đi đến từng hộ sử dụng e Hiện trạng
Việt Nam là quốc gia có tài nguyên nước dưới đất khá lớn, đúng thứ 34 so với 155 quốc gia và vùng lãnh thổ theo liệt kê của 4 tổ chức quốc tế: WRI, UNDP, UNEP, WB đăng trên sách World Resource xuất bản năm 2001 nhƣng việc khai thác sử dụng nước dưới đất ở Việt Nam còn ở mức thấp so với nước mặt ( 90% là tháng 2, tháng 3
Lượng mưa: Lƣợng mƣa hàng năm trung bình 1700 - 1800mm, trong năm lƣợng mƣa phân bố không đến, mƣa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm khoảng 75% lượng mua cả năm, đặc biệt là vào tháng 7, 8, 9 Do lượng nước mưa không đều nên vào mùa mưa thường có úng, lụt gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa này lượng nước mƣa chiếm khoảng 25% lƣợng mua cả năm, tháng ít mƣa nhất là tháng 12, tháng
Nắng: Hàng năm có tới 250 ngày nâng, tổng số giờ nắng từ 1650 đến
1800 giờ Mùa hè có giờ nắng cao khoảng 1100 - 1200 giờ, chiếm 70% số giờ nắng trong năm
Bão: Do nằm trong vịnh Bắc Bộ nên hằng năm phải chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 1-2 trận/ năm
Thủy văn: Chế độ thủy văn của xã chịu ảnh hưởng chính của hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình Ngoài ra trên địa bàn xã còn có sông Sa Lung và các tuyến sông nội đồng phấn bồ đều khắp trên địa bàn xã theo hình xương cá, rất thuận lợi cho việc tưới tiêu, sinh hoạt dân sinh Sông ngòi đã mang lại nguồn lợi kinh tế đáng kể cho xã, thuận lợi về nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, Ngoài ra sông ngòi còn là đường giao thông thuỷ thuận lợi, là nơi sản xuất, cung cấp nguồn thuỷ sản dồi dào phong phú
- Tài nguyên đất: Diện tích đất tự nhiên của xã là 667,87 ha, trong đó đất nông nghiệp 509,38 ha, đất trồng lúa 377,37 ha, bình quân diện tích đất canh tác là 610 m 2 /khẩu Đất ở xã chủ yếu là đất Đất phù sa trung tính không đƣợc bồi đắp hàng năm, phần lớn ở độ cao 1-2m, thoát ảnh hưởng của thủy triều do hệ thống thủy lợi tốt và nước ngọt từ các sông đưa về, ngăn chặn mặt ngầm Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến nặng, có màu nâu đỏ, phản ứng pH 4,5-
5 Đây là loại đất có dinh dưỡng khá Chế độ nước ngầm tầng nông tương đối ổn định, ít bị nhiễm mặn
Nguồn nước mặt: Thái Phương có nguồn tài nguyên nước mặt rất phong phủ dồi dào, hệ thống sông ngòi dầy đặc, với diện tích lưu vực sông lớn như sông Sa Lung Nguồn nước mặt mang lại nhiều lợi ích lớn trong phát triển kinh tế xã hội, sinh hoạt hàng ngày Tuy nhiên trong thời gian gần đây hầu hết các địa phương đang diễn ra tình trạng nước thải, rác thải chưa được xử lý xả trực tiếp vào nguồn nước, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt
Nguồn nước ngầm: Nguồn nước rất phong phú tầng khai thác sâu từ 6- 30m, chủ yếu là các giếng khoan nhằm cung cấp nước sinh hoạt cho các hộ gia đinh và tập thể Tuy nhiên chất lượng nước chưa đảm bảo độ an toàn trong sinh hoạt của nhân dân
- Tài nguyên nhân văn: xã Thái Phương được hình thành từ một xã thuần nông vẫn mang sắc thái của người dân lao động cần cù, thông minh trong lao động và trong xây dựng quê hương đất nước, anh dũng trong đấu tranh chống phong kiến, chống giặc ngoại xâm Nếp sống văn hoá ngày càng đƣợc giữ gìn và cũng cố, các sinh hoạt, phong tục tập quân lành mạnh vẫn đƣợc nhân dân bảo tồn và phát triển.
Điều kiện kinh tế, xã hội
Hiện tại trong xã có 3078 hộ Tổng số khẩu 10294 người Tỷ lệ tăng dân số mấy năm gần đây đã giảm xuống còn 1, 09 % Dân cƣ của xã đƣợc bố trí ở 5 làng ( Phương La, Hà Nguyên, Nhân Xá, Trắc Dương, Xuân La) và phân bố ở tập trung đa phần ở trục đường giao thông chính của xã.[16]
Thái Phương hiện có 5233 lao động trong độ tuổi , trong đó có 995 lao động nông nghiệp, chiếm 19% tổng số lao động và 4238 lao động phi nông nghiệp, chiếm 81% tổng lao động trong xã
3.2.3 Hiện trạng phát triển kinh tế
Nền kinh tế chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh Với điều kiện cụ thể của địa phương, Thái Phương tập trung chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế theo tinh thần nghị quyết BCH huyện ủy Hƣng Hà
Năm 2010 giá trị sản xuất đạt 339 tỷ 237 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng 9,1% thu nhập đầu quân đầu người đạt 27 triệu đồng/ năm.[16]
Nông nghiệp thủy sản đạt 52 tỷ 002 triệu đồng, CNTTCN, xây dựng 239 tỷ 407 triệu đồng, TMDV 47 tỷ 828 triệu đồng:
- Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp thủy sản 15%; CNTTCN, XD 71%; TMDV 14%
Việc áp dụng cơ giới hóa nông nghiệp đạt 50% , chăn nuôi còn nhỏ lẻ chƣa có vùng sản xuất tập trung
- Về cơ cấu lao động: Lao động nông nghiệp 19%, lao động tiểu thủ công nghiệp và xây dựng 73%, lao động thương mại dịch vụ 8%
3.2.4 Hiện trạng phát triển sản xuất a Sản xuất nông nghiệp Đất nông nghiệp chiếm 460,5 ha trong đó: đất trồng lúa hàng năm 393,4 ha; diện tích nuôi trồng thuỷ sản 57,1 ha.[15]
- Về trồng lúa: Năng xuất bình quân: 117,62 tạ/ha, tổng sản lƣợng: 4239,6 tấn Bình quân lương thực trên đầu người/năm: 900 kg
- Về chăn nuôi: Phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp tương đối ổn định, đàn trâu bò thường xuyên có trên 60 con, đàn lợn có từ 950 con trở lên trong đó có hơn 100 con lợn nái, đàn gia cầm duy trì 19000 đến 20000 con
- Diện tích nuôi trồng thủy sản vẫn đảm bảo ổn định
Giá trị thu nhập từ sản xuất nông nghiệp năm 2017 đạt 56,1 tỉ đồng, chiếm 9.68 % tổng thu nhập của toàn xã
25 b Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Đặc điểm xã Thái Phương là 1 xã nghề, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển rất mạnh Tại xã có Làng Phương La là 1 làng nghề làm khăn đã hoạt động từ lâu đời đã giúp tạo công ăn việc làm cho tất cả các khu dân cƣ lân cận , tính đến nay xã đã có trên 2000 máy dệt khăn, trong đó trên 350 máy dệt kiếm và 310 máy may khăn xuất khẩu Đến nay vẫn duy trì làng nghề và xã nghề
Giá trị thu nhập từ công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp năm 2017 đạt 443,223 tỷ đồng, chiếm 76,52% tỷ trọng cơ cấu kinh tế và trở thành ngành kinh tế đầu tàu của xã c Thương mại, dịch vụ
Giá trị ngành dịch vụ qua các năm đều tăng khá nhanh , năm 2017 giá trị thu nhập từ dịch vụ thương mại đạt 80,35 tỷ đồng chiếm 13,8 % tỷ trọng cơ cấu kinh tế của xã
Trên địa bàn xã hiện có chợ Mẹo nằm ở Làng Phương La họp vào buổi sáng và Chợ Hà có quy mô nhỏ hơn nằm ở làng Hà Nguyên họp vào buổi chiều, tổng diện tích 2 chợ là 2300 m 2
3.2.5 Hiện trạng cơ sở hạ tầng a Hiện trạng về giáo dục và đào tạo
Tổng toàn xã có 3 trường: trường THCS, trường tiểu học, trường mầm non Hiện tại thì cả 3 trường đã được sở Giáo Dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 1
Diện tích trường THCS là 5760 m 2 , trường tiểu học là 8600 m 2 , trường mầm non là 5760 m 2 , đủ diện tích để đảm bảo tổ chức tốt các hoạt động giáo dục, trường có đủ hệ thống tường rào, cổng trường, biển trường, khuôn viên bố trí đảm bảo xanh sạch đẹp, thoáng mát Các trường có đầy đủ phòng bộ môn, phòng chức năng, cố nối mạng internet, đáp ứng nhu cầu dạy và học [15] b Hiện trạng về y tế
Trạm y tế đƣợc đầu tƣ xây dựng mới đạt chuẩn Quốc Gia đáp ứng đƣợc nhu cầu khám chữa bệnh ban đầu cho người dân Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế là 7341 người/10294 người, đạt tỉ lệ 71,3% Công tác tiêm chủng mở rộng cho trẻ em vào ngày 25 hàng tháng đạt kết quả tốt với tỉ lệ 100% trẻ em
26 tiêm đủ mũi đúng liều theo quy định và uống viên năng A chống khô mắt vào ngày 1/6.[15] c Hiện trạng về cơ quan hành chính Ủy ban xã mới được xây lại nằm ở trung tâm của xã, cách trường C1,C2 và mầm non 100km, có đầy đủ các phòng ban, phục vụ tốt nhu cầu cho người dân tiến hành làm các thủ tục d Hiện trạng về giao thông
- Đường trục xã: dài 2,5 km đã hoàn thành 2,5/2,5 km đảm bảo đạt quy mô tiêu chuẩn kỹ thuật tại Quyết định sô 315/QĐ-BGTVT ngày 23/2/2011 của
Bộ Giao thông vận tải
- Đường trục thôn: có 12 tuyến với tổng chiều dài 6,611 km, đã được cứng hóa 100%, đạt tiêu chuẩn của Bộ Giao thông vận tải
- Đường nhánh cấp I của đườn trục thôn: có 94 tuyến với tổng chiều dài 11,975 km, dã bê tống hóa 100%
- Đường thông trục chính nội đồng: có 10 tuyến với tổng chiều dài 6038 km, đã cứng hóa 100%
- Đường ngõ xóm: 20km đã hoàn thành 100% được làm bằng vật liệu cứng, không lầy lội vào mùa mƣa.[15] e Hiện trạng về thủy lợi
Hệ thống thủy lợi: toàn xã có 6 trạm bơm, tổng công suất 9200 m 3 /h phục vụ tưới tiêu cho 377,7 ha được đảm bảo: hệ thống cống trên kênh hoạt động tốt Quản lí và khai thác hệ thống thủy lợi của xã thường xuyên được bảo dƣỡng đảm bảo đáp ứng nhu cầu dân sinh.[15]
Kiên cố 11 tuyến kênh mương cấp I, loại II: 8,436/ 8,436 km; đạt 100%
Hệ thống sông trục do xã quản lí giữ đƣợc mặt cắt luôn thông thoáng với
5 tuyến tổng chiều dài 6,1 km, đảm bảo chủ động về nhu cầu tưới tiêu, thoát nước cho toàn xã.
Hiện trạng về môi trường
Đạt 100% cơ sở sản xuất kinh doanh có 30/30 cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường
Không có việc xả chất thải, nước thải sai quy định, không có cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường, phong trào vệ sinh môi trường trong các khu dân
27 cư của toàn xã được thực hiện thường xuyên; đường thôn, ngõ xóm luôn thông thoáng, sạch, đẹp
Thường xuyên vận động nhân dân tròng cây xanh, từng hộ xây dựng cảnh quan môi trường, hàng rào, nhà vệ sinh theo xu hướng xanh, sạch, đẹp; không có hoạt động gây suy giảm môi trường
Nghĩa trang đƣợc xây dựng theo quy hoạch: xã đã quy hoạch đƣợc 2 nghĩa trang với diện tích 3,33 ha Xây dựng các quy chế về quản lý nghĩa trang nhân dân
Có khu xử lí rác thải hợp vệ sinh, có hệ thống thu gom rác, tiêu thoát nước đảm bảo vệ sinh môi trường khu dân cư Tuyên truyền vận động nhân dân tự giác phân loại rác thải sinh hoạt tại nhà trước khi mang đến khu tập kết rác thải, 100% hộ cam kết đổ rác đúng nơi quy định Thành lập 6 tổ/ 6 làng thực hiện thu gom rác thải , duy trì thường xuyên hoạt động thu gom vận chuyển và xử lí rác thải của xã tại khu tập trung.[15]
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thực trạng sử dụng nước sinh hoạt tại xã Thái Phương, huyện Hưng
4.1.1 Hiện trạng các nguồn cung cấp nước sinh hoạt
Theo kết quả thống kê từ phiếu điều tra cũng nhƣ theo khảo sát thực tế thì hiện tại nguồn nước cung cấp sử dụng trong sinh hoạt cho xã Thái Phương được chia ra làm 3 nguồn đó là: nước máy, nước mưa, nước giếng khoan
Hiện tại ở xã có 2650 giếng khoan, 2923 bể nước mưa và 1502 hộ dùng nước máy
Bảng 4.1: Kết quả dùng các loại hình nước sinh hoạt của các hộ dân xã
STT Thôn Số hộ Giếng khoan Nước máy Bể nước mƣa
( Số liệu cán bộ xã cung cấp năm 2017)
Người dân trong vùng nghiên cứu sử dụng 3 nguồn nước khác nhau cho mục đích sinh hoạt, cụ thể là:
- Nguồn nước mưa: Nước mưa nhà nào cũng có 1 bể dự trữ theo thói quen từ thời xa xưa Thông thường tất cả các hộ dân trong vùng nghiên cứu sẽ thu gom nước mưa trong những tháng có mưa Ta thấy số hộ có bể nước mưa là
2923 hộ trong tổng số 3024 hộ, chiếm tỉ lệ là 96,66% được người dân ở đây ưu tiên sử dụng nhiều nhất
Quy trình thu gom nước mưa của người dân rất đơn giản nhưng hiệu quả cao Vật liệu để thu gom chỉ là những ống nhựa 1 đầu kết nối với mái nhà, đầu còn lại sẽ để chảy qua một lớp màn lọc vào bể chứa Khi có mưa, họ sẽ bỏ nước
29 đầu vì đó thường là nước có cặn bẩn từ mái nhà xuống Chỉ một hoặc hai trận mưa to là người dân ở đây có thể thu gom một bể đầy nước mưa có thể sử dụng cho cả năm
- Nước giếng khoan sau xử lý: là nguồn nước chủ yếu nhất để cung cấp cho các mục đích sinh hoạt khác của người dân vùng nghiên cứu Nguồn nước này được bơm trực tiếp từ nguồn nước ngầm, thông qua bể lọc thô đơn giản rồi sử dụng Ta thấy có 2650 hộ trong tổng số 3024 hộ là dùng nước giếng khoan, chiếm tỉ lệ 87,63% được người dân ở đây ưu tiên sử dụng thứ hai
- Nước máy thì mới xuất hiện ở xã khoảng tầm 2 năm đổ lại với chi ban đầu bỏ ra để lắp nước máy là khá nhiều nên số hộ trong xã dùng nước máy chỉ khoảng 50% nguồn nước sinh hoạt chính của xã vẫn là nước giếng khoan kể cả những nhà đã lắp nước máy vẫn dùng nước giếng khoan xen kẽ vào trong quá trình sinh hoạt để giảm bớt chi phí dùng nước Ta thấy có 1502 hộ trong tổng số
3024 hộ là dùng nước máy, được người dân ở đây ưu tiên sử dụng cuối cùng
Từ kết quả phỏng vấn và điều tra khảo sát thực địa tại xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình cho thấy nguồn nước các hộ gia đình sử dụng cho mục đích sinh hoạt hiện nay là nước mưa, giếng khoan, nước máy Cũng như năm 2017 thì người dân tại khu vực nghiên cứu vẫn dùng xen kẽ các loại nước với nhau
- Nguồn nước mưa là được người dân sử dụng nhiều nhất là 49 hộ, chiếm 98%, nước mưa được dùng xen kẽ với nước giếng khoan và nước máy vì nhà nào cũng có bể nước mưa dự trữ
- Nguồn nước giếng khoan có 28 hộ sử dụng chiếm 56%, theo những hộ dân sử dụng nguồn nước giếng khoan cho mục đích ăn uống và sinh hoạt thì đa số các hộ chưa thực sự hài lòng về chất lượng nước giếng khoan
- Nguồn nước máy có 22 hộ sử dụng chiếm 44%
Qua kết quả điều ra, phỏng vấn người dân xã Thái Phương tổng số 50 hộ dân với tổng số 260 người thì thể tích nước trung bình sử dụng cho mục đích sinh hoạt của một người sử dụng trong 1 ngày là 157,37 lít/người/ngày
4.1.2 Hiện trạng các công trình cấp nước cho khu vực
- Nước máy: Hiện nay có nhà máy nước sạch Long Hưng, huyện Hưng
Hà đi vào hoạt động đƣợc tầm 2 năm Nhà máy đƣợc xây dựng tại xã Minh Tân
30 với diện tích 18.000m 2 , trong đó diện tích sử dụng 14.800m 2 , công suất nhà máy nước 13.700m 3 /ngày đêm Các trang thiết bị của Nhà máy do Nhật Bản sản xuất, hệ thống lọc nước sử dụng công nghệ của Pháp, nước được lấy từ sông Hồng và bể lắng với dung tích 40.000 m 3 , sau đó bơm vào bể lọc 3.000 m 3 Nhà máy nước Long Hưng, xã Minh Tân phục vụ 15.000 hộ gia đình gồm 7 xã; Minh Tân, Thái Phương, Hồng An, Tiến Đức, Thái Hưng, Phúc Khánh, Kim Trung và
18 doanh nghiệp thuộc cụm công nghiệp Phương La
- Hệ thống dẫn nước tự chảy (nước mưa): Hầu như mỗi hộ dân trong vùng nghiên cứu đều tự xây dụng cho gia đình mình một bể để chứa nước mưa khoảng 3 đến 8 khối Trong mỗi đợt mưa, nước được thu lại từ hệ thống đường ống thu gom và được tích trữ trong bể nước để lắng đọng chất bắn xuống đáy bổ và sử dụng nước bên trên để uống Dưới đây là quy trình thu gom và bể chứa nước mưa của người dân
Hình 4.1: Bể chứa nước mưa
- Nước giếng khoan: qua hệ thống bơm dẫn nước được đưa vào một bể chứa, thông qua một quá trình lọc thô rồi sử dụng cho các mục đích sinh hoạt của người dân
Hình 4.2: Bể nước giếng khoan 4.2 Đánh giá chất lượng nước ngầm tại xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tình Thái Bình
4.2.1 Đánh giá chất lượng nước ngầm trước khi xử lý Đánh giá chất lượng nước ngầm tại khu vực nghiên cứu, đề tài dựa trên kết quả phân tích các thông số: màu sắc, mùi vị, pH, độ cứng, COD, mangan, sắt tổng số, nitrit và amoni Kết quả phân tích được thể hiện ở bảng 4.3 dưới đây:
Bảng 4.2: Kết quả phân tích các thông số trong mẫu nước ngầm trước khi xử lý tại xã Thái Phương
Màu sắc Mùi vị pH Độ cứng
(Nguồn: Đề tài thực hiện năm 2018)
- QCVN 09:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lƣợng nước ngầm
Qua điều tra phỏng vấn thì thấy tại xã Thái Phương người dân không sử dụng nước chưa xử lí cho mục đích sinh hoạt và ăn uống Vì vậy để đánh giá ta so sánh kết quả phân tích của 5 mẫu nước ngầm trước xử lý với giá trị quy chuẩn đƣa ra tại quy chuẩn của QCVN 09:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm a Màu sắc, mùi vị