1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý động vật hại rừng ngập mặn tại xã thụy trường huyện thái thụy tỉnh thái bình

73 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sinh viên: Phạm Văn Minh Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Thế Nhã Mục tiêu: Đánh giá được hiện trạng các loài động vật hại RNM, mô tả đặc điểm sinh thái học của một số loài gây hại c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘNG VẬT HẠI RỪNG NGẬP MẶN TẠI XÃ THỤY TRƯỜNG,

HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG

MÃ NGÀNH: D62.02.11

Giáo viên hướng dẫn : GS.TS Nguyễn Thế Nhã

Sinh viên thực hiện : Phạm Văn Minh

Hà Nội, 2015

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Để hoàn thành chương trình đào tạo đồng thời giúp cho việc làm quen với công tác ngiên cứu khoa học, tôi được Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường cho phép thực hiện khóa luận:

“Nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý động vật hại rừng ngập mặn tại xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình”

Sau một thời gian nghiên cứu, đến nay bản khóa luận đã hoàn thành với một số kết quả nhất định Để thu được các kết quả này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các phòng, ban, các cán

bộ quản lý cũng như người dân tại địa phương nơi tôi thực hiện khóa luận nghiên cứu; các thầy cô giáo trong khoa và đặc biệt là thầy giáo Nguyễn Thế Nhã, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này

Do thời gian nghiên cứu ngắn, trình độ bản thân có hạn và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên bản khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót và tồn tại

Tôi rất mong nhận được những ý kiến chỉ đạo, đóng góp của các thầy,

cô giáo cùng bạn bè đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Xuân Mai, tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Phạm Văn Minh

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu về côn trùng và động vật hại trên thế giới 3

1.2 Tình hình nghiên cứu về côn trùng và động vật gây hại ở Việt Nam 6

1.2.1 Các nghiên cứu về sâu hại cây trồng lâm nghiệp 6

1.2.2 Các nghiên cứu về rừng ngập mặn 8

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 14

2.1 Điều kiện tự nhiên 14

2.1.1 Vị trí địa lý 14

2.1.2 Đất đai và địa hình 14

2.1.3 Khí hậu và thủy văn 15

2.1.4 Sự đa dạng về sinh học, động thực vật 15

2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 16

2.2.1 Dân số và lao động 16

2.2.2 Giao thông 17

2.2.3 Giáo dục, đào tạo 17

2.2.4 Y tế 18

2.3 Nhận xét chung 18

2.3.1 Thế mạnh và tiềm năng 18

2.3.2 Khó khăn 19

Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 20

Trang 4

3.1.1 Mục tiêu tổng quát 20

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 20

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu 20

3.3 Nội dung nghiên cứu 20

3.4 Phương pháp nghiên cứu 21

3.4.1 Phương pháp kế thừa 21

3.4.2 Phương pháp phỏng vấn 21

3.4.3 Phương pháp điều tra thực địa 22

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 25

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

4.1 Xác định hiện trạng các loài côn trùng và động vật hại RNM trong khu vực nghiên cứu 27

4.1.1 Thành phần loài 27

4.1.2: Các loài côn trùng và động vật gây hại RNM chủ yếu 34

4.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài động vật hại rừng ngập mặn 36 4.2.1 Bọ nẹt 36

4.2.2 Sâu róm 4 túm lông 37

4.2.3: Sâu đo 39

4.2.4 Sâu róm ổi 39

4.2.5 Ngài mặt trăng 40

4.2.6 Ốc aberrans 41

4.2.7 Ốc angunifera 41

4.2.8 Ba khía 42

4.2.9.Cáy lông 42

4.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý côn trùng và động vật hại rừng ngập mặn tại xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 46

Trang 5

4.3.1 Thực trạng các giải pháp quản lý sử dụng tài nguyên rừng ngập mặn ở

khu vực nghiên cứu 46

4.3.2 Đề xuất các giải pháp quản lý côn trùng và động vật hại rừng ngập mặn 46

4.3.3 Biện pháp phòng trừ chung cho một số loài sâu hại chủ yếu 48

4.3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả phòng trừ sâu hại 49

4.3.5 Mô hình quản lý tổng hợp côn trùng và động vật hại rừng ngập mặn 50

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 52

1 Kết luận 52

2 Kiến nghị 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: THỐNG KÊ CÁC SINH VẬT VÙNG BIỂN THÁI THỤY 16

Bảng 2.2: PHÂN BỐ LAO ĐỘNG THEO NGÀNH NGHỀ 17

Bảng 3.1: Đặc điểm tuyến điều tra động vật hại rừng ngập mặn 23

Bảng 3.2: Điều tra động vật gây hại trên các tuyến điều tra 24

Bảng 3.3: Kết quả điều tra động vật hại cây rừng ngập mặn 25

Bảng 4.1 Các loài côn trùng và động vật gây hại cho khu vực nghiên cứu 27

Bảng 4.2 Danh sách các loài côn trùng gây hại cho rừng ngập mặn 31

Bảng 4.3: Danh lục các loài động vật gây hại cho RNM 34

Bảng 4.4: Các loài côn trùng và động vật gây hại chủ yếu cho RNM 35

Bảng 4.5 Danh lục các nhóm thiên địch của sâu hại RNM tại địa phương 47

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 3.1: Sơ đồ tuyến điều tra 22

Hình 4.1 Bọ nẹt (Parasa (Latoia) lepida)) 44

Hình 4.2 Sâu róm 4 túm lông (Dasychira sp.) 44

Hình 4.3 Sâu đo (Disphania militaris) 44

Hình 4.4 Sâu róm (Trabala vishnou) 44

Hình 4.5 Ngài mặt trăng (Actias luna (Linnaeus)) 44

Hình 4.6 Ốc (Littoraria aberrans (Philippi, 1846)) 45

Hình 4.7 Ốc (Littorina angunifera (Lamarck, 1822)) 45

Hình 4.8 Ba khía (Sesarma mederi Mikolów) 45

Hình 4.9 Cáy lông (Chiromantes dehaani (H Milne Edwards, 1853)) 45

Trang 9

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (BÁO CÁO TÓM TẮT)

Tên khóa luận: “Nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý động vật hại rừng ngập mặn tại xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình”

Sinh viên: Phạm Văn Minh

Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Thế Nhã

Mục tiêu:

Đánh giá được hiện trạng các loài động vật hại RNM, mô tả đặc điểm sinh thái học của một số loài gây hại chính và đề xuất được biện pháp quản lý phù hợp

Nội dung nghiên cứu:

(1) Xác đinh hiện trạng các loài động vật hại rừng ngập mặn trong khu

- Đề xuất các biện pháp quản lý động vật hại rừng ngập mặn

Kết quả nghiên cứu:

Qua thời gian thực tập tại địa phương và tham khảo các tài liệu, đề tài

đã ghi nhận được 8 loài côn trùng và 2 loài giáp xác và 2 loài ốc gây hại cho rừng ngập mặn tại xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Trong

đó, côn trùng thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) và bộ Cánh cứng (Coleoptera)

là hai bộ có số lượng và gây hại nhiều nhất Các bộ phận của cây bị các loài côn trùng và động vật gây hại chủ yếu là lá và chồi non

Trang 10

Căn cứ vào số lượng và mức độ gây hại qua thời gian điều tra về côn trùng và động vật hại, đề tài đã xác định được 3 loài côn trùng, 2 loài ốc và 1 loài cua đang gây hại chủ yếu tại khu vực nghiên cứu Trong đó, các loài Sâu

róm 4 túm lông (Dasychira sp.), Sâu róm ổi (Trabala vishnou Lefebure), Ba khía (Sesarma mederi Mikolów) là 3 loài gây hại nhiều nhất tại khu vực Từ

đó, mô tả được đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài gây hại chính

Qua việc điều tra về tình hình quản lý rừng ngập mặn tại địa phương, nghiên cứu được đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài gây hại chính,

từ đó đề xuất các giải pháp quản lý côn trùng và động vật gây hại thông qua điều kiện thực tế ở khu vực nghiên cứu

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là quốc gia nằm ở Đông Nam Á châu Á, bên bờ biển Đông,

có vùng biển rộng lớn trên 1 triệu km2, chiều dài bờ biển là 3.260 km Cảnh núi rừng trùng điệp, biển rộng trải dài từ Bắc vào Nam, phong cảnh thiên nhiên rất độc đáo và hùng vĩ Biển có tác động mạnh và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường của mọi miền đất nước Biển được coi là con đường chiến lược giao lưu thương mại quốc tế, trong đó Việt Nam là đầu mối quan trọng, là điều kiện trong giao lưu kinh tế, hội nhập và hợp tác quốc tế

Thái Bình là tỉnh ven biển đồng bằng Bắc Bộ, có hai huyện giáp biển Đó là Tiền Hải và Thái Thụy Huyện Thái Thụy có 27 km bờ biển, 3 cửa sông đổ ra biển với khoảng 12.500 ha diện tích bãi ngập nước, hàng chục nghìn ha rừng ngập mặn (RNM), có 5 xã và 1 thị trấn tiếp giáp với biển Cách thị trấn Diêm Điền 7

km về phía Đông Bắc, đi theo tuyến đê biển là xã Thụy Trường, xã ven biển của huyện Thái Thụy tiếp giáp với hai huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng (Thành phố (TP) Hải Phòng) Xã có diện tích tự nhiên là 903 ha, có bờ biển dài 4,5 km với 1500 ha diện tích RNM và 260 ha diện tích đầm ao nuôi trồng thủy sản, đa dạng về hệ sinh thái, số lượng loài lớn, là môi trường sinh thái của các loài sinh học động thực vật như chim, thú, côn trùng, các loài thủy – hải sản: tôm, cua, còng, cá, rong, tảo biển RNM là hệ sinh thái quan trọng cho năng suất cao ở vùng cửa sông ven biển nhiệt đới RNM không chỉ cung cấp nhiều lâm sản có giá trị mà còn là nơi sống và ươm mầm của nhiều loài thủy sinh vật RNM còn có tác dụng trong việc bảo vệ và điều hòa khí hậu như: chống xói mòn, sạ lở đất đai, đê điều, chống xâm thực của nước biển, cung cấp nguồn thức ăn cho nhiều loài sinh vật, bảo vệ đê biển, làm giảm độ cao của sóng khi triều cường, RNM còn là nơi bảo vệ các động vật khi nước triều dâng và sóng lớn Nhiều loài động vật đáy sống trong hang hoặc trên mặt bùn, khi thời tiết bất lợi, nước triều cao, sóng lớn đã trèo lên cây để tránh sóng như: cá lác, còng, cáy, Khi lặng gió và nước triều xuống thấp, chúng trở lại nơi cũ Chính vì thế cho nên RNM luôn phong phú và đa dạng

Tuy nhiên, hiện trạng RNM tại xã Thụy Trường đang đứng trước nguy

cơ suy giảm không chỉ do con người mà còn do côn trùng và động vật hại gây

Trang 12

ra Theo các thông tin cho thấy, mỗi năm huyện Thái Thụy tiến hành trồng

200 ha RNM, tuy nhiên tỷ lệ sống của cây chỉ đạt 15 % RNM là tài nguyên đem lại lợi nhuận cao cho người dân sinh sống bằng việc khai thác các nguồn lợi từ rừng như: nuôi trồng thủy sản, đánh bắt cua, còng, tôm… Với sự phát triển của các loài động vật gây hại sẽ làm cho diện tích RNM bị suy giảm và ảnh hưởng tới cảnh quan, sinh thái và cuộc sống của người dân vùng biển Diện tích RNM bị thu hẹp đã gây nên hiện tượng xâm thực của nước biển, đất đai bị phèn chua, nhiều loài thủy – hải sản không còn nơi sinh sống Vì vậy, việc quản lý tốt động vật gây hại cho RNM là một trong những vấn đề đang được quan tâm không chỉ ở xã Thụy Trường mà còn là vấn đề của tất cả các tỉnh có RNM trên cả nước cũng như thế giới

Hệ sinh thái RNM rất đa dạng và phong phú về thành phần loài động – thực vật Có rất nhiều loài động vật sinh sống trong RNM, chúng có vai trò trong việc cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường RNM Tuy nhiên, một số loài động vật trong hệ sinh thái RNM có thê gây hại cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài cây ngập mặn Vì vậy, các nhà quản lý cũng như chủ rừng cần có các biện pháp để trồng rừng đạt hiệu quả cao bằng việc sử dụng thuốc BVTV để bảo vệ cây khỏi sâu bệnh cũng như động vật hại mà không biết đến việc sử dụng thuốc BVTV làm ảnh hưởng tới các loài động vật khác sinh sống trong RNM Điều đó làm cho các HST động – thực vật trong RNM

bị phá vỡ dẫn đến suy giảm thành phần và số lượng loài, giảm tính đa dạng sinh học Không chỉ có thế, việc sử dụng không đúng thuốc BVTV còn gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống người dân Do

đó, việc bảo vệ RNM cần dựa trên quan điểm phòng trừ, quản lý động vật hại đúng phương pháp, thời điểm, đúng đối tượng gây hại và đặc biệt hạn chế ảnh hưởng tới các loài động vật khác sinh sống trong RNM

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu

đề xuất biện pháp quản lý động vật hại rừng ngập mặn tại xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình” được thực hiện nhằm xác định

được các loài côn trùng và động vật gây hại cho RNM, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý và bảo vệ RNM an toàn và hiệu quả cao

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu về côn trùng và động vật hại trên thế giới

Trên thế giới, những nghiên cứu về sâu bệnh hại nói chung, sâu bệnh hại cây lâm nghiệp nói riêng rất phong phú Đó là các nghiên cứu cơ bản về sinh học, sinh thái học của các loài sâu hại, loại bệnh hại và các biện pháp phòng trừ, trong đó có những nghiên cứu về côn trùng có ích, biện pháp sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích theo hướng quản lý sâu bệnh hại tổng hợp

Người ta dự đoán số loài côn trùng chưa được biết đến trong rừng nhiệt đới ước tính từ 5 – 30 triệu (May, 1992) Nếu con số 10 triệu loài côn trùng được chấp nhận thì có nghĩa là số lượng côn trùng tìm thấy tại các vùng nhiệt đới chiếm đến trên 90% số loài vi sinh vật trên trái đất Vai trò của côn trùng trong tự nhiên có hai mặt cơ bản là tích cực và tiêu cực

Theo Watson, More (1975) “Sổ tay chỉ dẫn về thực tiễn quản lý sâu bệnh hại tổng hợp (IPM)” đã đưa ra hướng dẫn sử dụng kỹ thuật sẵn có để hạn chế thiệt hại về mặt kinh tế cho hệ sinh thái nông nghiệp

Năm 1984, Neisses, Garner, Havey đã thảo luận về việc ứng dụng phương pháp phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp trong kinh doanh lâm nghiệp ở

Mỹ Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh sự cạnh tranh giữa các loài sâu bệnh hại (chủ yếu là sâu hại) và các loài cỏ dại có thể là nhân tố có tác dụng trong việc quản lý sâu bệnh hại

Sử dụng phương pháp mô phỏng trong quản lý côn trùng ký sinh phục

vụ phòng trừ sâu hại họ Ngài khô lá, Ravlin và Haynes (1987) đã xây dựng

mô hình trong đó có sự phối hợp giữa số liệu điều tra mật độ sâu hại, xu hướng phát triển của quần thể, mức độ ký sinh và nhiệt độ Mô hình nhấn mạnh sử dụng thiên địch để diệt trừ sâu hại nên không có ảnh hưởng xấu đến môi trường

Trang 14

Năm 1987, Thái Bàng Hoa và Cao Thu Lâm đã công bố công trình về phân loại và đặc điểm sinh học sinh thái của côn trùng rừng Vân Nam Nhiều loài sâu hại được mô tả trong tài liệu này cũng thấy xuất hiện ở Việt Nam như sâu hại thông, keo

Năm 1990, Murphy mô tả đặc tính sinh học của 102 loài côn trùng ăn thực vật rừng ngập mặn ở Singapore và các khu vực lân cận với Tây Malaysia Trong báo cáo cho thấy, ấu trùng của bướm đêm và ấu trùng lẫn bọ cánh cứng trưởng thành là các loài côn trùng ăn thực vật rất phổ biến ở rừng ngập mặn

Các nghiên cứu cơ bản về hình thái, tập tính của các loài sâu hại cây lâm nghiệp có thể tìm thấy trong tài liệu “Côn trùng rừng Trung Quốc” của Xiao Gangrou (1991), các loài côn trùng thiên địch trong “Sổ tay côn trùng thiên địch”, “Tạp chí bọ rùa Vân Nam” của Tào Thành Nhất

Năm 1989, Coulson, Sauders, Loh, Oliveria, Barry Drummond và Swain đã có công trình nghiên cứu về quản lý côn trùng hại rừng Thông qua các chương trình này IPM từng bước đã được hoàn thiện Các chương trình đã gắn sự hiểu biết về môi trường với sự trợ giúp của kỹ thuật vi tính để IPM giải quyết những vấn đề tồn tại và đưa ra quyết định thực hiện phù hợp với việc quản lý sâu bệnh hại lâm nghiệp và có thể cho cả ngành nông nghiệp

Năm 1989, Díaz và Conde đã có nghiên cứu về loài cua Aratus pisonii

(Grapsidae) trong rừng ngập mặn từ phía đông bắc Brazil Florida trên bờ biển Đại Tây Dương và từ Nicaragua đến Peru trên bờ biển Thái Bình Dương

Goyer (1991), “Phòng trừ tổng hợp loài sâu ăn lá thuộc miền Nam nước Mỹ” cho rằng: điều tra thường xuyên thực trạng sâu ăn lá rừng là rất quan trọng cho chiến lược sử dụng IPM Sử dụng bẫy Pheromone, từ đó tính ra mật

độ loài là rất quan trọng, ông cũng đã phê phán việc sử dụng thuốc hóa học truyền thống đã gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế và môi trường, đồng thời làm giảm đa dạng sinh học của hệ động vật rừng

Raske, Wickmn, “Hướng dẫn quản lý sâu bệnh hại tổng hợp ở rừng

Trang 15

rộng lá” đã khẳng định: IPM ở các nước khác nhau là khác nhau là khác nhau với từng vật gây hại cụ thể Đóng góp của IPM có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn Các vấn đề về kinh tế, xã hội (bao gồm cả chiến lược của các chính phủ) là rất quan trọng đối với IPM

Năm 1994, Evans, Fielding trong chương trình phòng chống loài

Dendrotonus micans hại vỏ cây Vân sam ở nước Anh đã nêu nên cơ sở của

việc phòng chống loài sâu này đó là sự phối hợp các biện pháp quản lý rừng như chặt vệ sinh rừng, vận chuyển nhanh sản phẩm khai thác và phương pháp

sinh học như sử dụng Hổ trùng ăn thịt Rhizophogus grandis nhập nội, chăm

sóc và thả vào rừng Hiện nay số lượng loài sâu này đã giảm đi rõ rệt chứng tỏ

tác dụng tích cực của loài Rhizophogus grandis là rất tốt, việc nhân rộng loài này là nhân tố quan trọng để điều chỉnh mật độ loài Dendrotonus micans

Một số còng là loài vật leo cây, suốt ngày tìm nhặt tảo bám trên rễ lộ thiên và thân cây, đôi khi trèo lên tận trên tán lá để gắp thức ăn ở mặt dưới

của lá (Hogath, 2007) Tuy nhiên, nhóm còng Grapsid, bao gồm chi Sesarma

và các họ gần gũi, đóng vai trò rất quan trọng trong việc phân hủy vật rụng (xác thực vật chết và mục rữa) trên thảm rừng (Robertson và đồng sự, 1992) Mặc dù lá cây chiếm khối lượng lớn trong khẩu phần của các loài Còng ăn cỏ nhưng chúng còn tiêu thụ cả hoa và trụ mầm của cây (Smith, 1987, 1989) Do

đó, sản phẩm của cây rừng ngập mặn có thể chiếm tới 80% hoặc nhiều hơn nữa trong khẩu phần của nhiều loài Còng ăn cỏ này (Hogarth, 2007)

Năm 2008, Stefano Cannicci, Damien Burrow, Sara Fratini, Thomas J Smith III, Joachim Offenberg, Farid Dahdouh – Guebas trong cuốn “Faunal impact on vegetation structure and ecosystem function in mangrove forests”

mô tả cấu trúc hệ sinh thái rừng ngập mặn và các yếu tố tác động đến khu hệ RNM Từ đó đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển hệ sinh thái ven biển một cách toàn diện nhất

Năm 2010, “Pests of planted mangroves in peninsular Malaysia” của các tác giả Su – ping Ong, Shawn Cheng, Ving – Ching Chong, Yee – Siang

Trang 16

Tan đã có kết quả nghiên cứu về côn trùng và động vật gây hại cho một số loài cây trong rừng ngập mặn ở vùng bán đảo Malaysia

Kết quả của các nghiên cứu trên đã góp phần làm giàu kho tàng kiến thức quản lý côn trùng Tuy nhiên, ở mỗi loài sâu hại, mỗi loài cây và mỗi quốc gia khi vận dụng cần phải sáng tạo và đặt yêu cầu thực tiễn cụ thể của từng khu vực lên hàng đầu

1.2 Tình hình nghiên cứu về côn trùng và động vật gây hại ở Việt Nam

1.2.1 Các nghiên cứu về sâu hại cây trồng lâm nghiệp

Nghiên cứu về côn trùng ở nước ta nhìn chung chưa nhiều, đặc biệt là côn trùng lâm nghiệp Một số nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nhóm côn trùng có hại, phổ biến là nghiên cứu các đặc tính sinh vật học, sinh thái học,

từ đó đề ra các biện pháp phòng trừ mang tính chất chung Thực tế ở nước ta chưa có tài liệu đầy đủ về côn trùng để phục vụ cho khâu nghiên cứu, tra cứu ứng dụng trong công tác quản lý, sử dụng côn trùng

Sau trận dịch Sâu róm thông ở Đò Cấm – Nghệ An năm 1960 – 1961

có một số bài viết đề cập về Sâu róm thông của Nguyễn Hồng Đàn, Trần Kiểm (1962), Phạm Ngọc Anh (1963), Nguyễn Hữu Liêm (1968) Các nghiên cứu bổ sung này tập trung mô tả hình thái của Sâu róm thông và đề xuất sử dụng một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ loài sâu hại này

Công tác dự tính, dự báo loài Sâu róm thông được Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp thực hiện năm 1967 làm cơ sở cho viêc sử dụng phương pháp sinh học trong phòng trừ Dự báo thời kỳ xuất hiện của các lứa sâu trong năm,

dự báo mật độ sâu và khả năng hình thành dịch và dự báo mức độ gây hại

Năm 1979, Nguyễn Trung Tín đã có công trình tương đối hoàn thiện nghiên cứu về loài Ong cắn lá mỡ và từ công trình này Bộ Lâm nghiệp đã ban hành quy trình phòng trừ Ong cắn lá mỡ phục vụ thiết thực cho nhu cầu sản xuất gỗ nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy sợi và công nghiệp chế biến

gỗ

Trang 17

Gần đây, do yêu cầu của thực tiễn sản xuất và sinh thái môi trường, các nghiên cứu về côn trùng đã được chú ý hơn Hệ thống các khu bảo tồn đã được nghiên cứu cơ bản về tài nguyên côn trùng

- Từ năm 1987, các Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng số I (Quảng Ninh),

Số II (Thanh Hóa) đã tiến hành nghiên cứu các loài sâu hại, phát hiện một số loài côn trùng sinh, côn trùng ăn thịt của Sâu róm thông như các loài Bọ ngựa, các loài Bọ xít, kiến, các loài ruồi, Ong ký sinh Nghiên cứu sản xuất một số

chế phẩm sinh học như nấm Bạch cương, nấm Lục cương (Beauveria

bassiana và Metazhizium) cho việc phòng trừ Sâu róm thông từ Thừa Thiên

Huế đến Quảng Ninh

- Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã (1997) trong cuốn “Côn trùng rừng” đã viết rất kỹ về đặc điểm hình thái, đặc tính sinh vật học, sinh thái học

và phân loài côn trùng lâm nghiệp, đồng thời nêu ra một số phương pháp dự tính, dự báo sâu hại và các biện pháp phòng trừ chúng bằng thuốc hóa học Tuy vậy chưa đề cập đến nguyên lý phòng trừ tổng hợp

- Năm 1990 với báo cáo kết quả: “Nghiên cứu biện pháp dự tính, dự

báo và phòng trừ tổng hợp Sâu róm thông Dendrolimus punctatus Wallker ở

miền Bắc Việt Nam”, Lê Nam Hùng đã cụ thể hóa nguyên lý phòng trừ tổng hợp loài sâu hại này Tuy nhiên, các phương pháp dự tính, dự báo được đề cập trong nghiên cứu phần lớn dựa vào một số đặc tính sinh vật học của Sâu róm thông nhưng chưa chú ý tới đặc điểm dịch cuả nó, mặt khác phạm vi ứng dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp ở công trình này đang ở phạm vi hẹp của miền Bắc Việt Nam

Năm 1999, Phan Nguyên Hồng, “Rừng ngập mặn Việt Nam” cho thấy cấu trúc và chức năng của HST RNM là rất quan trọng, sự đa dạng về thành phần loài động – thực vật, vai trò và đa dạng về các HST ngập nước Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên này

Gần đây, Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh và Trần Văn Mão (2001)

Trang 18

đã xuất bản giáo trình “Điều tra dự tính, dự báo sâu bệnh trong Lâm nghiệp” Các tác giả nhấn mạnh điều tra và dự tính, dự báo sâu bệnh hại rừng là công việc có liên quan chặt chẽ với nhau Điều tra là cơ sở của dự tính, dự báo, điều tra sâu bệnh hại tiến hành càng kịp thời, chính xác thì kết quả dự báo càng đảm bảo độ tin cậy Dự tính, dự báo là cơ sở của việc phòng trừ sâu bệnh hại và quản lý hữu hiệu nguồn tài nguyên côn trùng và vi sinh vật có ích

Năm 2002, Nguyễn Thế Nhã và Trần Công Loanh đã xuất bản cuốn

“Sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích – tập I” Đây là tài liệu được nghiên cứu và biên soạn công phu giúp cho những người làm công tác quản lý tài nguyên rừng có cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp thích hợp trong việc phòng trừ sâu bệnh hại rừng theo nguyên lý của quản lý sâu bệnh hại tổng hợp IPM, lợi dụng được sự khống chế tự nhiên của các loài côn trùng là thiên địch của sâu hại rừng, giữ gìn sự cân bằng sinh thái tự nhiên và an toàn cho môi trường

Năm 2002, Nguyễn Thế Nhã và cộng sự ở Trường Đại học Lâm nghiệp

đã xây dựng mô hình định lượng nguồn dinh dưỡng của sâu bệnh hại để xác định ngưỡng kinh tế trong dự tính, dự báo sâu bệnh hại rừng Keo tai tượng Đây là một vấn đề đang làm các nhà quản lý, sản xuất kinh doanh Lâm nghiệp rất quan tâm Nếu được phát triển thì đề tài sẽ mang lại hiệu ích to lớn trong quản lý tài nguyên rừng, trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp của nước ta

Theo Trần Văn Mão (2002), trong quản lý côn trùng quản lý dịch hại tổng hợp có ý nghĩa rất lớn trong đó nhấn mạnh vai trò của phân tích hệ thống Từ những nguyên lý sinh thái và động thái quần thể côn trùng rừng, chúng ta có thể tìm hiểu sự phát sinh quần thể sâu hại, các loại dịch sâu hại rừng, các đưa ra quyết sách quản lý thích hợp

1.2.2 Các nghiên cứu về rừng ngập mặn

1.1.1.1 Khái niệm

Rừng ngập mặn (Mangrove) là kiểu rừng phát triển trên vùng đất lầy, ngập nước mặn vùng cửa sông, ven biển, dọc theo các sông ngòi, kênh rạch

Trang 19

có nước lợ do thủy triều lên xuống hàng ngày Rừng ngập mặn là thuật ngữ

mô tả một hệ sinh thái thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tạo thành trên nền các thức vật vùng triều cường với tổ hợp động – thực vật đặc trưng

Rừng ngập mặn không những có tác dụng to lớn trong việc bảo vệ bờ biển, hạn chế tác hại của thiên tai mà nguồn lợi trong hệ sinh thái RNM cũng rất quan trọng; ngoài các lâm sản, phải kể đến tài nguyên thủy sản, được khai thác trực tiếp không chỉ trong các hệ thóng kênh rạch, mà còn cả một vùng ven biển rộng lớn xung quanh Tuy nhiên, nhận thức về vai trò của HST RNM vẫn chưa đầy đủ, tình trạng phá RNM còn diễn ra ở một số nơi Cho nên, việc quản lý bền vững hệ sinh thái này là trách nhiệm của chính quyền địa phương, các ngành nông – lâm ngư nghiệp và cộng đồng ven biển

1.1.1.2 Đặc điểm một số loài cây chính sống trong rừng ngập mặn tại xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

* Vẹt dù (Bruguiera gymnorhiza), họ Đước (Rhizophoraceae)

Đặc điểm hình thái: Vẹt dù là cây gỗ trung bình đến lớn, có thể cao tới

30m, đường kính thân đạt 40-50cm, có bạnh gốc Rễ hô hấp hình đầu gối (rễ khuỷu) mọc trồi lên khỏi mặt đất, xung quanh gốc Vỏ thân màu xám đen, xù

xì và có nhiều lỗ vỏ lớn Lá đơn, mọc đối, hình trái xoan thuôn, gốc hình nêm, đỉnh nhọn, mép nguyên, khá lớn (kích thước 10-20x 6-8cm), dày, chất da, xanh bóng ở mặt trên và nhạt ở mặt dưới; gân lá 9-10 đôi; cuống lá dài 2-4,5cm, màu đỏ nhạt; lá kèm dài 4cm, màu đỏ Hoa mọc đơn độc ở nách lá Đài màu đỏ, thường chia nhiều thùy nhỏ ở phía trên (10-14 thùy) Cánh hoa màu trắng, sớm rụng, chia 2 thùy ở phía trên, đỉnh mỗi thùy lại chia 3-4 sợi nhỏ, mép cánh hoa có nhiều lông tơ Nhị gấp đôi số cánh hoa Bầu dưới Quả mang đài tồn tại Trụ mầm hình thuôn nhọn đầu, có nhiều cạnh dọc, dài 15-20cm, rộng 1,5-2cm, khi chín chuyển từ màu lục sang nâu-lục, không có vòng

cổ (annulus)

Đặc điểm sinh học: Cây mọc trên bãi ngập triều cao hoặc triều cường

từ từ giữa tới phía trong rừng ngập mặn; ưa đất bùn hơi rắn hoặc đất có nhiều

Trang 20

sỏi đá Cây chịu bóng và nhạy cảm với độ mặn cao (bị chết khi độ mặn trên 3%) Trong rừng ngập mặn, Vẹt dù thường mọc lẫn với một số loài cây khác

như Đước đôi (Rhizophora apiculata), Dà (Ceriop tagal), Su (Xylocarpus

molluca), nhưng đôi khi cũng mọc thành rừng thuần loài Cũng như một số

loài cây ngập mặn khác trong họ Đước (Rhizophoraceae), ở Vẹt dù có hiện

tượng “sinh con” (viviparous), nghĩa là hạt nảy mầm ngay khi đnag còn ở trên cây mẹ Khi chín, trụ mầm rơi xuống bùn, cố định ở đó và phát triển thành cây Cây ra hoa nhiều vào đầu mùa mưa, từ tháng 4 đến tháng 5 Trụ mầm chín: tháng 4 đến tháng 10

Phân bố: Ở Việt Nam: Vẹt dù phân bố ở vùng ven biển cả 3 miền Bắc,

Trung, Nam Tất cả các tỉnh ven biển từ Hải Phòng trở vào đến Cà Mau đều

có Vẹt dù phân bố

Trên thế giới: Vẹt dù phân bố khá rộng rãi; từ vùng nhiệt đới Đông Phi

và Madagascar qua Nam và Đông Nam Á (Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Campuchia ) tới vùng đông bắc Australia, Micronesia, Polynesia

và quần đảo Ryukyu Vùng Nam và Đông Nam Á có thể là trung tâm phát sinh của loài này

* Đước vòi (Rhizophora stylosa Griff), họ Đước (Rhizophoraceae)

Đặc điểm hình thái: Các loài đước là cây thân gỗ cao từ 20-35m,

đường kính thân (D1,3): 30-45cm, có khi tới 70cm Ở một số nơi đất cao ngập triều, nghèo dinh dưỡng, không ngập triều thường có kích thước nhỏ hơn và tăng trưởng chậm

Rễ có đặc trưng điển hình cho thực vật sống trong vùng có thủy triều lên xuống, thường xuyên bị tác động bởi sóng biển, kết cấu của đất chưa ổn định Rễ cọc ít phát triển, chú yếu là hệ thống rễ chống (rễ chân nôm) gồm từ 8-12 rễ Ngoài nhiệm vụ giữ cho cây đứng vững trước gió bão còn có nhiệm

vụ hút nước và chất dinh dưỡng nuôi cây Rễ thở hay rễ khí sinh cũng thường thấy ở loài đước, chúng mọc trực tiếp trên thân cây nơi ít khi ngập nước làm chức năng hô hấp

Trang 21

Thân đước tròn thẳng, vỏ dày màu nâu xám đến nâu đen và có nhiều vết nứt dạng ô vuông Là cây có đặc tính phân cành và có tán lá hình dù (1-5 tuổi), biến đổi thành hình trụ khi cây từ 6 tuổi trở đi, cành thường nhỏ và có khả năng tỉa cành tự nhiên tốt Lá đơn, mọc đối từng đôi một, phiến lá dày hình thuôn dài, cuống là dài 1,5-2cm Cụm hoa hình tán, mỗi cặp có 2 hoa mọc từ nách lá, hoa không cuống, màu đỏ lợt

Quả hình trái lê, dài 20-25cm Hạt nảy mầm ngay sau khi chín và không có thời gian nghỉ ngay ở trên cây mẹ tạo ra cây con nối liền với quả gọi

là trụ mầm.Trụ mầm có hình dạng thuôn, phần trong hơi phình to sau nhọn dần, màu lục có nhiều lỗ vỏ, khi chin già thì xuất hiện một vòng cổ (giữa quả

và trụ mầm) dài 1,5-2cm, vòng cổ chuyển từ màu xanh lục sang màu vàng là trụ mầm bắt đầu chín và sắp rời quả và cây mẹ Cây thường ra hoa vào tháng 4-5, chín vào tháng 7-10, nhưng cuối mùa rất dễ bị sâu, mọt đục quả

Sự đẻ thân của cây Đước: đối với rừng đước tái sinh tự nhiên vấn đề đẻ thân của cây Đước hầu như rất ít và khi tái sinh tự nhiên mật độ cây Đước ban đầu là rất dày, không đủ không gian cho việc đẻ thân Đối với rừng trồng hay rừng tự nhiên mọc ở những vùng đất trũng nội địa, việc đẻ thân của cây Đước diễn ra bình thường Đước đẻ thân càng nhiều khi rừng trồng càng thưa Yếu

tố ánh sáng quyết định đến việc đẻ thân của cây Đước Khi trồng rừng ở mật

độ thưa từng cá thể vươn ra bằng cách đẻ thân để chiếm không gian sống Việc đẻ thân của Đước xuất hiện khi rừng trồng được 3-4 tuổi và định hình về mật độ ở 5-6 tuổi

Đặc điểm sinh thái: Các loài đước ưa khí hậu nóng ẩm, có cường độ

chiếu sáng mạnh, có lượng mưa hàng năm cao từ 1.500-2.500mm Độ mặn biến động từ 5-60%o, nhưng thích hợp nhất vào khoảng 25-30%o Độ ngập triều trung bình từ 100-300 ngày/năm thích hợp cho sự sinh trưởng của Đước,

độ ngập triều thấp như: bãi bồi ven biển, vùng trũng nội địa… thời gian ngập trên 300 ngày/năm và độ ngập triều cao dưới 100 ngày/năm không thích hợp cho sự sinh trưởng của Đước

Trang 22

Phân bố: Ở Việt Nam: cây mọc trong rừng ngập mặn ven biển, từ

Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh trở vào Tập trung nhất ở các rừng ngập mặn thuộc các tỉnh ven biển vùng Đông và Tây Nam Bộ, từ TP Hồ Chí Minh đến

Cà Mau

Trên thế giới: Là loài cây của vùng cựu nhiệt đới, từ Đông Phi, qua Madagascar, các đảo của Ấn Độ Dương, vùng Nam và Đông Nam châu Á, Indonesia và Philippin, đến phần Đông Bắc châu Úc và các đảo Nam Thái Bình Dương

* Bần trắng (Sonneratia alba), họ Bần (Sonneratiaceae)

Đặc điểm hình thái: Cây gỗ cao 10 – 15 m, có khi cao tới 25 m Cành

non màu đỏ, 4 cạnh, có đốt phình to Cây có nhiều rễ thở mọc thành từng khóm quanh gốc lá đơn, mọc đối, dày, giòn, hơi mọng nước, hình bầu dục hoặc hình trái xoan, đầu tròn, đôi khi nhọn, gốc hình nêm Cuống và một phần gân chính màu đỏ, gân giữa nổi rõ ở cả 2 mặt, cuống dài 0,5 – 1,5 cm Cụm hoa ở đầu cành, có 2 – 3 hoa Đài hợp ở gốc, có 6 thùy dài và dai, mặt ngoài màu lục, mặt trong màu tím hồng Cánh tràng 6, màu trắng đục, hình dải, thuôn về hai đầu Nhị có chỉ hình sợi, bao phấn hình thận Bầu hình cầu dẹt, vòi dài, đầu hơi tròn Quả mọng, đường kính 3 – 5 cm, cao 1,5 – 2 cm, gốc có thùy đài xòe ra Hạt nhiều, dẹt

Phân bố: Cây phân bố ở rừng ngập mặn Việt Nam, Campuchia, Thái

Lan, Mianma, Indonesia, Philippines, Bắc châu đại dương, Niughinia, Việt Nam cây mọc ở nước lợ gần các cửa sông ngập một mùa trong năm Cây thường mọc chung với các loài cây khác như Trang, Sú, Giá, Nấm, Cóc Cũng có khi mọc thành rừng gần như thuần loài như ở Hải Phòng, Nghệ An,

Hà Tĩnh Sự phong phú của quần thụ này tùy theo mức nước lợ và chế độ thủy triều

* Trang ( Kandelia candel), họ Đước (Rhizophoraceae)

Đặc điểm nhận biết: Cây gỗ nhỏ, gốc thường có bạnh vè nhỏ hoặc rễ

chống Cành nhiều sẹo tròn, 1 bó mạch nổi rõ ở sẹo Lá đơn mọc đối, hình trái

Trang 23

xoan, đầu tròn hơi lõm ở đỉnh, đuôi nêm, dài 5 – 12 cm, rộng 2,5 – 6 cm, gân bên nổi rõ ở mặt dưới và nổi gần nhau ở gần mép lá Cuống lá dài 0,5 – 1 cm

Lá kèm sớm rụng Hao tự xim 2 ngả ở nách lá, mỗi cụm thường 3 – 5 hoa Cuống hoa tự dài 2 – 4 cm, mỗi hoa có 2 lá bắc mọc đối Đài hợp thành ống, phía trên xẻ 5 – 6 thùy hình giải Cánh tràng 5 – 6, xẻ 2 thùy sâu, mỗi thùy xẻ

3 – 4 sợi dài Nhị 20 – 25, bao phấn 2 ô Bầu dưới, 1 ô, vòi nhụy dài, đầu nhụy xẻ 3 Quả mọng hình trứng, dài 2 cm Đài sống dai trên quả và quặp về phía cuống Thân mầm dài 25 – 40 cm

Đặc tính sinh học và sinh thái: Cây ưa sáng Mùa hoa tháng 5 – 6 Mùa

quả tháng 10 – 11 Mọc được trên đất bùn lầy nước lợ ven biển, hằng ngày có thủy triều lên xuống Thường sống chung với Đước, Bần và Sú

Phân bố: Cây mọc ở rừng ngập mặn ven biển từ Bắc vào Nam

* Nhận xét

Rừng ngập mặn xã Thụy Trường đa dạng về thành phần động – thực vật, tuy nhiên trong những năm gần đây, diện tích rừng ngập mặn đang bị suy giảm nghiêm trọng Do đó, để có thể bảo vệ cũng như phát triển diện tích rừng ngập mặn, chúng ta cần có biện pháp quản lý cũng như bảo vệ tốt thảm thực vật và động vật; đặc biệt là các loài thực vật chính có trong RNM như: Vẹt dù, Đước, Bần, Trang… Vì vậy, nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản

lý và phòng trừ các loài côn trùng, động vật cho rừng ngập mặn là vấn đề cần thiết để có thể bảo vệ được bức tường xanh ngoài bờ biển của chúng ta

Trang 24

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA KHU VỰC

Thụy Trường có tổng diện tích tự nhiên là 903 ha, có bờ biển dài 4,5

km với 1500 ha rừng ngập mặn sinh thái

+ Phía Đông tiếp giáp với biển Đông

+ Phía Tây tiếp giáp với xã Thụy An

+ Phía Nam tiếp giáp với xã Thụy Xuân

+ Phía Bắc tiếp giáp với xã Thụy Tân và 2 huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng (TP Hải Phòng)

Trang 25

+ Độ pH trung bình từ 5 – 8%

+ Độ mặn từ 0,9 – 1,1‰ độ rit – te

* Địa hình

Tương đối bằng phẳng, thể hiện qua 3 đặc trưng sau:

- Địa hình chân vàn cao: Bao gồm các cồn và bãi cát ven sông, ven biển khu Tam Trì, Đồng Xuân, Trường Xuân chiếm tỷ lệ 25% trên tổng diện tích

Độ cao so với mực nước biển là +0,5 m

- Địa hình chân vàn: Chiếm tỷ lệ 50%, bao gồm toàn bộ đất canh tác, chất đất tốt rất thích hợp cho trồng cây màu

- Địa hình chân vàn trũng: Chiếm tỷ lệ 25% gồm toàn bộ diện tích đầm bãi nơi cửa sông, ân từ 0,4 – 1m so với chân vàn cao Diện tích này rất thích hợp cho quy hoạch chuyển đổi nuôi trồng thủy – hải sản

2.1.3 Khí hậu và thủy văn

* Khí hậu

Thụy Trường nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, do vậy có đặc trưng là nóng ẩm mưa nhiều:

+ Mùa mưa thường từ tháng 5 – tháng 8 Lượng mưa trung bình từ

1600 đến 1800 mm Thời kỳ này thường hay có giông bão, trong năm thường

bị ảnh hưởng của 1 – 2 cơn bão Bão lớn có thể lên đến cấp 12

+ Mùa khô thường từ tháng 9 đến hết tháng 12 Thời tiết khô hanh, giá lạnh, chủ yếu là do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, đôi khi có sương muối

là môi trường sinh thái của các loài sinh học, động thực vật như chim, thú,

Trang 26

côn trùng, các loài thủy – hải sản tôm, cua, ghẹ, cá, rong, tảo biển

Bảng 2.1: THỐNG KÊ CÁC SINH VẬT VÙNG BIỂN THÁI THỤY

Rừng bần 308,25 2,3 Thụy Trường, Thụy Xuân, Thụy Hải,

Thái Đô

Cây trang 2587,50 18,9 Thụy Trường, Thụy Xuân, Thụy Hải,

Thái Thượng, Thái Đô

Đầm tôm 593,75 4,3 Thụy Trường, Thụy Xuân, Thụy Hải,

Thái Đô

Bãi bùn 6806,50 49,7 Thụy Trường, Thụy Hải, Thái

Thượng, Thái Đô

Kênh rạch 1800 13,1 Thụy Trường, Thụy Hải, Thụy Xuân,

Thái Đô Tổng 13666,50 100,0

(Nguồn: Báo cáo hiện trạng rừng ngập mặn Thái Thụy, Vũ Tiến Thiện, năm 2007)

2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

2.2.1 Dân số và lao động

Thụy Trường là xã có dân số tương đối đông của huyện Thái Thụy Theo số liệu điều tra, báo cáo năm 2006 toàn xã có 9499 khấu phân bố theo 9 đơn vị thôn, trong đó:

+ Nam: 4508 nhân khẩu

Trang 27

+ Nữ: 4941 nhân khẩu

Số nhân khẩu trong độ tuổi lao động có 4635 người chiếm tỷ lệ 46,1%

Số lao động này chủ yếu tham gia vào sản xuất nông nghiệp khoảng 70 – 75% Còn lại là ở các lĩnh vực hoạt động khác

Tỷ lệ sinh bình quân hàng năm là 1,24%, tỷ lệ tăng dân số là 0,56% Toàn xã có 2540 hộ gia đình

Bảng 2.2: PHÂN BỐ LAO ĐỘNG THEO NGÀNH NGHỀ

Ngành

nghề

Trồng trọt

Nuôi trồng thủy sản

Ngư nghiệp

Lâm nghiệp

Nghề khác Tổng

2.2.3 Giáo dục, đào tạo

Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của các ban ngành chức năng trong xã, các bậc học thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra, có quy mô trường lớp, cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng theo hướng chuẩn hóa Chất lượng giáo dục tiếp tục được giữ vững, không ngừng bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên

Trang 28

Quy mô trường lớp tiếp tục được duy trì và phát triển, tỷ lệ phòng học kiên cố cao tầng trong xã chiếm trên 90%

Chất lượng học sinh lên lớp đạt tỷ lệ cao trên 95%, cả 3 trường học đều đạt tiên tiến xuất sắc

để dịch bệnh xảy ra

Triển khai thực hiện kế hoạch hóa gia đình, tỷ lệ sinh là 1,3%, sinh con thứ 3 dưới 13%, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ nhỏ, đạt danh hiệu trạm chuẩn quốc gia trong nhiều năm

từ sản xuất nông nghiệp, từ sản phẩm hoa màu, chăn nuôi và một phần từ các ngành tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại Để cho đời sống của người

Trang 29

dân được cải thiện, thu nhập của họ ngày càng tăng thì ta phải gắn người dân gần gũi với RNM hơn nữa vì địa bàn xã có diện tích rừng ngập mặn rộng lớn, thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủy hải sản và khai thác các nguồn lợi từ biển Do đó, cần có phương án quy hoạch, sử dụng, khai thác tài nguyên rừng ngập mặn cũng như bảo vệ rừng RNM tại địa phương

2.3.2 Khó khăn

Tuy điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thuận lợi cho cuộc sống của người dân, nhưng vẫn có nhiều vấn đề tác động tới rừng ngập mặn gây khó khăn cho việc trồng rừng và bảo vệ rừng như: môi trường, sâu bệnh hại, động vật hại, các hoạt động của con người Vì vậy cần có biện pháp phòng trừ và bảo vệ phù hợp

Trang 30

Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu

3.1.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá được hiện trạng các loài động vật hại rừng ngập mặn, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý góp phần bảo vệ RNM và phát triển Lâm nghiệp bền vững tại xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài côn trùng và động vật gây hại cho rừng ngập mặn

3.3 Nội dung nghiên cứu

(1) Xác đinh hiện trạng các loài động vật hại RNM trong khu vực

nghiên cứu:

- Xác định thành phần loài động vật hại rừng ngập mặn

- Đặc điểm phân bố của các loài động vật hại rừng ngập mặn

- Xác định các loài động vật chính hại RNM

Trang 31

(2) Mô tả một số đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài động vật chính hại rừng ngập mặn

(3) Nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý động vật hại RNM tại xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình:

- Đánh giá thực trạng các biện pháp quản lý và sử dụng tài nguyên RNM ở địa phương nghiên cứu

- Đề xuất các biện pháp quản lý động vật hại rừng ngập mặn

3.4 Phương pháp nghiên cứu

- Số lượng loài động vật gây hại cho RNM mà người dân biết được

- Số lượng loài động vật gây hại hiện có tại khu vực

- Một số loài gây hại chính

- Hoạt động sinh kế của người dân và công tác phòng chống, quản lý động vật gây hại ở địa phương

- Thành lập được danh sách phỏng vấn cán bộ quản lý và người dân

Trang 32

3.4.3 Phương pháp điều tra thực địa

Trước khi điều tra thực địa cần chuẩn bị dụng cụ và vật tư:

- Bản đồ hiện trạng rừng ngập mặn, bản đồ địa hình khu vực điều tra

- Thiết lập các tuyến điều tra, trên đó bố trí các điểm điều tra trên bản

đồ và khảo sát trên thực địa

- Tìm hiểu điều kiện thời tiết, khí hậu trước khi tiến hành điều tra

- Chuẩn bị dụng cụ: hộp đựng mẫu vật, máy ảnh, sổ ghi chép, bút và bảng biểu

3.4.3.1 Phương pháp điều tra theo tuyến

Điều tra theo tuyến nhằm ghi nhận nhanh các loài côn trùng và động vật gây hại trên diện tích rộng lớn Điều tra nhằm tăng khả năng phát hiện loài cũng như phân bố của các loài động vật gây hại trên các tuyến điều tra

Hình 3.1: Sơ đồ tuyến điều tra

Tiến hành điều tra theo 3 tuyến, tuyến điều tra phụ thuộc vào diện tích khu vực và phải đi qua các sinh cảnh, trạng thái khác nhau, các loài cây khác nhau

Trang 33

Bảng 3.1: Đặc điểm tuyến điều tra động vật hại rừng ngập mặn

TT Sinh cảnh chính Độ dài tuyến (km) Tuyến I I1 Ngập nước thường xuyên 1,3

III

III1 Ngập nước theo mùa 1,0 III2 Ngập nước thường xuyên

III3 Ngập nước thường xuyên III4 Ngập nước thường xuyên III5 Ngập nước thường xuyên

Trên tuyến, tiến hành điều tra 18 điểm điều tra tỉ mỉ về tần suất bắt gặp

1 loài, số lượng cá thể của các loài thuộc đối tượng nghiên cứu Điểm điều tra phải đại diện cho một sinh cảnh nào đó Điểm điều tra có dạng hình tròn bán kính 10 m sao cho đủ điều kiện để ước tính về mật độ côn trùng, động vật hại, tần suất bắt gặp 1 loài (số cá thể quan sát thấy trong một thời gian nhất định, thường là 30 phút) Hai điểm điều tra liền kề phải khác nhau về dạng sinh

Trang 34

cảnh hoặc cách nhau ít nhất 100m

Dạng sinh cảnh chính của khu vực điều tra bao gồm:

- Vùng ngập nước thường xuyên là những sinh cảnh ngập triều hàng tháng

- Vùng ngập nước theo mùa là những sinh cảnh ngập triều khi mực nước cao nhất trong tháng

Trong quá trình điều tra, các thông tin về dấu vết và sự có mặt của các loài động vật hại cần được chụp ảnh và ghi chép lại Nếu có các mối đe dọa đến RNM cần ghi chép lại làm cơ sở đưa ra giải pháp quản lý

Thông tin thu thập được ghi chép vào bảng sau:

Bảng 3.2: Điều tra động vật gây hại trên các tuyến điều tra

Tuyến điều tra: Chiều dài tuyến điều tra: Người điều tra: Ngày điều tra: Thời tiết: Địa điểm điều tra: Thời gian bắt đầu: Thời gian kết thúc: Thời gian Loài Số lượng Dấu hiệu Hoạt động Ghi chú

3.4.3.2 Phương pháp điều tra động vật trong các điểm điều tra

Dụng cụ cần thiết cho công việc này bao gồm:

- Hộp đựng mẫu thu được

- Sổ ghi chép

- Bản đồ hiện trạng rừng ngập mặn

- Các mẫu biểu, bảng biểu

Mẫu động vật hại được thu bắt bằng tay: bắt các loài ẩn nấp trong rừng ngập mặn trong khi điều tra tại các điểm điều tra Trong các điểm điều tra, tiến hành điều tra 30 cây/1 điểm điều tra Các cây được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống Kết quả thu được ghi vào bảng sau:

Trang 35

Bảng 3.3: Kết quả điều tra động vật hại cây rừng ngập mặn

Điểm điều tra: ……… Ngày điều tra: ……… STT Loài Số lượng Thời tiết Ghi chú

3.4.3 Xác định đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài động vật gây hại cho RNM

Từ kết quả thu được về thành phần, số lượng và mức độ gây hại của các loài côn trùng và động vật hại rừng ngập mặn, tiến hành lựa chọn ra các loài gây hại chính Việc xác định loài gây hại chính phụ thuộc vào: tỷ lệ có sâu bệnh (P%), mật độ (M), mức độ gây lớn đối với đối tượng điều tra

Các loài gây hại chính được mô tả đặc điểm sinh học, sinh thái theo mẫu thu bắt và quan sát và theo kế thừa tài liệu có sẵn Việc xác định đặc điểm sinh học, sinh thái của loài gây hại chính dựa vào mô tả mẫu vật thu được từ kết quả điều tra và tham khảo các tài liệu mô tả về côn trùng và giáp xác

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu

3.4.4.1 Phân loại

Việc phân loại động vật hại dựa vào tài liệu phân loại côn trùng dựa theo tài liệu Cẩm nang ngành lâm nghiệp (2006) Giáp xác và côn trùng còn được mô tả theo mẫu vật và hình ảnh điều tra được

3.4.4.2 Thống kê các loài động vật gây hại chính

Các loài gây hại chính là những loài có mức độ gây hại nặng Tiêu chí đánh giá các loài gây hại phụ thuộc vào số lượng bắt gặp, thông tin thu thập được từ người dân địa phương, vùng phân bố của chúng và mức độ gây hại

của loài đối với rừng ngập mặn

3.4.4.3 Phương pháp xác định mật độ và mức độ tác động của

Trang 36

động vật hại rừng ngập mặn

- Tỷ lệ có động vật hại tại khu vực điều tra:

P% = x 100 Trong đó: P% = Tỷ lệ có động vật hại tại khu vực điều tra

n = số điểm điều tra có động vật hại

m = tổng số điểm điều tra

- Mật độ là giá trị trung bình cộng đƣợc tính theo công thức:

Ms = ∑ Trong đó: Ms = Mật độ động vật hại tại điểm điều tra

Si = Số lƣợng động vật cần tính của đơn vị điều tra thứ i

n = Tổng số đơn vị điều tra của điểm điều tra

- Mức độ tác động của động vật hại rừng ngập mặn:

Dựa vào thành phần, số lƣợng loài gây hại, gây hại cho những loài cây gì, quan sát đánh giá mức độ gây hại của các loài động vật hại Từ đó đánh giá mức độ tác động của động vật hại rừng ngập mặn theo các cấp hại: nặng, trung bình, nhẹ Qua đó, đề xuất giải pháp quản lý cho phù hợp

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm