1.2 Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được mức độ tích lũy chì từ môi trường đất và trong nước của cây rau muống trong quy mô thí nghiệm và ngoài tự nhiên.. Kết quả nghiên cứu Qua thời gian t
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Thời gian thực hiện nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp là khoảng thời gian rất có ý nghĩa đối với cá nhân mỗi sinh viên, đây được xem là đợt thực tập cuối cùng của sinh viên trước khi bắt tay làm quen với những công việc thực tế Bản thân em cũng đã lĩnh hội và trau dồi được rất nhiều kiến thức
trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “ Đánh giá khả năng
tích lũy Chì (Pb) của cây rau muống trong quy mô thí nghiệm và ngoài tự
nhiên tại Xã An Mỹ - huyện Mỹ Đức - TP Hà Nội.”
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự động viên, giúp đỡ rất nhiều của các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè
Em xin chân gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu Trường đại học Lâm Nghiệp, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên rừng và môi trường cùng toàn thể quý thầy cô giáo trong khoa, đã tạo điều kiện, truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích để em có thể hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình, giúp cho quá trình học tập, nghiên cứu tại trường và công việc của em sau này
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Th.S Bùi Văn Năng - Bộ môn Kỹ thuật môi trường, Khoa Quản lý Tài nguyên rừng và môi trường đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù, em đã cố gắng làm việc với tinh thần khẩn trương và nghiêm túc, song do thời gian nghiên cứu, kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm thực tế của bản thân còn hạn chế nên đề tài nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, em kính mong sự góp ý kiến của các thầy, các cô để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn!
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, Ngày 18 tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Vũ Văn Uẩn
Trang 2TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài “Đánh giá khả năng tích lũy Chì (Pb) của cây rau muống trong quy mô thí nghiệm và ngoài tự nhiên tại Xã An Mỹ - huyện Mỹ Đức -
TP Hà Nội.”
Giáo viên hướng dẫn: ThS Bùi Văn Năng
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Uẩn
1.Mục tiêu
1.1 Mục tiêu chung
- Nghiên cứu khả năng tích lũy chì của cây rau muống Từ đó, góp phần nâng
cao nhận thức cho người dân về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và ô nhiễm môi trường
1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được mức độ tích lũy chì từ môi trường đất và trong nước của cây
rau muống trong quy mô thí nghiệm và ngoài tự nhiên
- Đề xuất được một số biện pháp trồng rau an toàn giảm thiểu tích lũy chì tại địa phương
2.Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát phương pháp xác định chì trong rau bằng phương pháp so mầu quang điện
- Đánh giá mức độ tích lũy chì trong đất và trong nước của hai loại cây rau muống trắng và rau muống đỏ
- Bước đầu nghiên cứu hàm lượng chì trong rau muống tại xã An Mỹ - huyện
Mỹ Đức - TP Hà Nội
- Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu khả năng tích lũy chì trong rau
3 Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu
2 Phương pháp điều tra khảo sát và lấy mẫu ngoài tự nhiên
3 Phương pháp bố trí thí nghiệm
4 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
Trang 34 Kết quả nghiên cứu
Qua thời gian thực hiện đồ án tốt nghiệp tại phòng phân tích môi trường
Trường Đại Học Lâm Nghiệp với đề tài “Đánh giá khả năng tích lũy Chì (Pb)
của cây rau muống trong quy mô thí nghiệm và ngoài tự nhiên tại Xã An
Mỹ - huyện Mỹ Đức - TP Hà Nội.” Tôi đã thu được các kết quả sau:
- Sự hấp thu và tích lũy của Pb trên mẫu rau muống là tỷ lệ thuận theo hàm lượng Pb bổ sung vào môi trường sống của rau, hàm lượng Pb bổ xung càng lớn thì mức độ tích lũy càng cao
- Xác định được phương trình tương quan của hàm lượng chì trong đất và trong rau như sau: y = 119x-128,95, Hệ số tương quan R2
đều vượt quá giới hạn tối đa cho phép QCVN 8-2:2011/BYT Với hàm lượng
Pb tích lũy trong các mẫu rau ở các nồng độ trên đều gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người tiêu dùng
- Trong môi trường đất rau muống trắng phát triển tốt hơn và cũng tích lũy chì tốt rau muống đỏ Hàm lượng chì tích lũy trong cả 2 loại rau đều vượt giới
hạn cho phép QCVN 8-2:2011/BYT khi bổ sung từ 70mg/kg chì trở lên vào đất
- Trong môi trường nước rau muống đỏ phát triển tốt hơn và cũng tích lũy chì tốt rau muống trắng Hàm lượng chì tích lũy trong cả 2 loại rau đều vượt giới hạn
cho phép QCVN 8-2:2011/BYT khi bổ sung từ 0.05mg/l chì trở lên vào nước
- Từ các phương trình tương quan cho ta thấy hàm lượng chì trong đất hoặc nước tăng thì hàm lượng chì tích lũy trong rau cũng tăng theo
- Hàm lượng chì trong rau ngoài tự nhiên thì hàm lượng Pb tích lũy trong rau
ở một số mẫu vượt quá so với hàm lượng quy định trong QCVN 8-2:2011/BYT
Đó là các mẫu được lấy ở ao tù hay rãnh nước thải của làng Còn các mẫu rau
Trang 4được hái ở vườn nhà và ven đường đều phù hợp với hàm lượng cho phép của
QCVN 8-2:2011/BYT
- Trên các môi trường đất và nước bị nhiễm chì thì rau muống phát triển kém
hơn, nếu đất và nước chức hàm lượng chì càng cao thì cây càng kém phát triển
* Dấu hiệu nhận biết rau muống nhiễm chì:
- Thân rau muống thường to hơn so với mức bình thường
- Rau muống nhiễm độc chì thường giòn hơn và lá thường có màu xanh đen
do hấp thụ nhiều kim loại và chủ yếu là chì
- Khi luộc rau, bạn sẽ thấy nước rau còn nóng có màu xanh nhạt, khi để nguội thì thành màu xanh đen, có vẩy đen kết tủa
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1.TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan về chì và ô nhiễm chì ở Việt Nam 3
1.1.1 Các dạng tồn tại của chì trong môi trường 3
1.1.2 Tình hình ô nhiễm chì ở Việt Nam [6],[7],[14] 7
1.2 Kim loại nặng đối với con người và cây trồng 10
1.2.1 Vai trò của kim loại và cây trồng 10
1.2.2 Quá trình hấp thu kim loại nặng trong đất của thực vật [16] 10
1.2.3 Cơ chế xâm nhập, phân bố và tích tụ của chì trong cơ thể con người 13
1.3 Tác động của chì đến sức khỏe con người 14
1.4 Tổng quan về tình hình nghiên cứu kim loại nặng trong rau xanh ở Việt Nam 15
Chương 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 18
2.1.1 Mục tiêu chung 18
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 18
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
2.4.1 Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu 19
2.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát và lấy mẫu ngoài thực địa 19
Trang 62.4.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
2.4.4 Phương pháp phân tích chì trong các mẫu nghiên cứu 23
2.4.5 Quy trình phân tích 25
2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu [6] 29
CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Quy trình phân tích Pb bằng phương pháp trắc quang 30
3.2 Hàm lượng kim loại trong đất và nước 32
3.3 Mức độ tích lũy chì ở môi trường đất, nước trong điều kiện thí nghiệm 33
3.3.1 Mức độ tích lũy chì ở môi trường đất trong điều kiện thí nghiệm 33
3.3.3 Hàm lượng chì tích lũy ở một số mẫu được lấy ngoài tự nhiên xã An Mỹ-Huyện Mỹ Đức-TP Hà Nội 40
3.4 Giải pháp giảm thiểu khả năng tích lũy chì trong rau 41
Chương 4 KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 43
4.1 Kết luận 43
4.2 Tồn tại 44
4.3 Kiến nghị 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Giới hạn hàm lượng tổng số của chì trong một số loại đất 9
Bảng 2.1 Một số vị trí lấy mẫu ngoài tự nhiên 20
Bảng 2.2 Hàm lượng chì bổ xung trong thí nghiệm 21
Bảng 2.3: Các lô thí nghiệm trên môi trường đất 23
Bảng 2.4: Các lô thí nghiệm trên môi trường nước 23
Bảng 2.5: Danh mục hóa chất sử dụng cho phân tích 25
Bảng 3.1: Hàm lượng kim loại trong đất và nước 33
Bảng 3.2: Hàm lượng Pb tích lũy trong cây rau muống trong điều kiện thí nghiệm trên đất 33
Bảng 3.3: Hàm lượng Pb tích lũy trong cây rau muống trong điều kiện thí nghiệm 37
Bảng 3.4: Hàm lượng Pb tích lũy trong rau muống mọc ngoài tự nhiên xã An Mỹ-Huyện Mỹ Đức-TP Hà Nội 40
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Sự di chuyển kim loại nặng đến bề mặt rễ cây [16] 11
Hình 1.2 Tích lũy chất ô nhiễm trong cây [16] 12
Hình 2.1 Các chậu cây sau 30 ngày thí nghiệm 22
Hình 2.2: Máy phá mẫu kendal và cân phân tích 24
Hình 2.3: Mẫu rau sau khi tro hóa, lọc và định mức 25
Hình 2.4: Phễu chiết và máy so mầu DR3900 27
Hình 2.5 : Phức chì trong một số mẫu sau chiết 28
Sơ đồ 3.1: Quy trình chiết lần 1 30
Sơ đồ 3.2: Quy trình chiết lần 2 31
Hình 3.1: Bước sóng hấp thụ cực đại của phức chì 32
Hình 3.2: Hàm lượng Pb tích lũy trong mẫu rau trồng trong đất 34
Hình 3.3: Tương quan Pb trong đất và Pb trong rau 35
Hình 3.4: Các chậu rau muống trên đất sau 30 ngày thí nghiệm 36
Hình 3.5: Hàm lượng Pb tích lũy trong mẫu rau trồng trên nước 38
Hình 3.6: Phương trình tương quan của hàm lượng chì trong nước với hàm lượng chì trong rau trong điều kiện thí nghiệm 39
Hình 3.7: Các chậu rau muống trên nước sau 30 ngày thí nghiệm 39
Hình 3.8: Hàm lượng Pb tích lũy trong mẫu rau mọc ngoài tự nhiên xã An Mỹ-Huyện Mỹ Đức-TP Hà Nội 41
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Thực phẩm là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu đối với đời sống của con người Trong quá trình phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, con người đã tạo ra nhiều sản phẩm vật chất tốt đặc biệt là các sản phẩm về thực phẩm, đó là cơ sở
để tạo nên một cuộc sống no đủ và dinh dưỡng cho con người Và nhu cầu của con người càng ngày càng thay đổi từ “ ăn no mặc ấm” sang “ăn ngon mặc đẹp”, cân bằng và đầy đủ về dinh dưỡng Tuy nhiên hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thực phẩm không an toàn cho người tiêu dùng, có chứa hàm lượng kim loại nặng như: Fe, Zn, Pb, Cu, Cr, Mn, As, Hs, Cd, Ni…vượt quá mức cho phép
KLN là thuật ngữ dùng để chỉ các kim loại có tỉ trọng lớn hơn 4 hoặc 5 Bao gồm : Pb (tỷ trọng 11,34), Cd (tỷ trọng 8,6), Ag (tỷ trọng 10,5), Cu, Cr, Chúng có thể tồn tại trong khí quyển (dạng hơi), thủy quyển (các muối hòa tan), địa quyển (dạng rắn không tan, dạng muối, ) và sinh quyển (trong cơ thể người và động, thực vật) Cũng như nhiều nguyên tố khác, một số kim loại nặng
có thể cần thiết cho sinh vật, chúng được xem là nguyên tố vi lượng Một số không cần thiết cho sự sống, khi đi vào cơ thể sinh vật có thể không gây độc hại
gì hoặc gây độc hại khi hàm lượng của chúng vượt quá tiêu chuẩn cho phép KLN là một loại độc bản chất có ảnh hưởng quan trọng trong môi trường sinh thái
Ô nhiễm môi trường nước, đất bởi kim loại nặng ngày càng gia tăng và đang ở mức báo động Theo tổ chức bảo vệ môi trường của Mỹ (USEPA) thì 8 nguyên tố kim loại được xếp vào danh sách các chất độc hại hàng đầu: Pb, As,
Hg, Cd, Cr, Ni, Cu, Be Đồng, kẽm là những nguyên tố vi lượng cần thiết cho đời sống con người và thực vật, tuy nhiên ở hàm lượng cao chúng có thể gây độc, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của con người Chì là kim loại không cần thiết gây độc ngay khi ở nồng độ thấp Những năm gần đây, vấn đề ngộ độc thực phẩm trong đó có ngộ độc rau xanh đang bùng phát, sự ngộ độc đã gây ra các bệnh cấp tính hay mãn tính ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người Rau xanh là nguồn thực phẩm quan trọng không thể thiếu trong bữa ăn
Trang 11hàng ngày của dân Việt Nam Do đó, việc đảm bảo chất lượng và an toàn về rau xanh cần phải được quan tâm hàng đầu Sử dụng rau an toàn vừa là nhu cầu, vừa
là quyền lợi của người dân Vì vậy, nghiên cứu về ảnh hưởng và tích lũy kim loại nặng lên thương phẩm rau xanh là cần thiết nhằm góp phần giải quyết vấn
đề đảm bảo an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng Để hiểu sâu hơn về quá trình tích lũy KLN và mong muốn đề xuất một số biện pháp trồng và sử dụng rau an toàn đối với vấn đề ô nhiễm KLN, em đã tiến hành
nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá khả năng tích lũy Chì (Pb) của cây rau muống trong quy mô thí nghiệm và ngoài tự nhiên tại Xã An Mỹ - huyện Mỹ Đức -
TP Hà Nội” Đề tài vừa là một minh chứng cho khả năng tích lũy chì của rau
muống, đồng thời đưa ra các biện pháp sử dụng rau an toàn và hiệu quả
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về chì và ô nhiễm chì ở Việt Nam
1.1.1 Các dạng tồn tại của chì trong môi trường
Về tính chất vật lý: Chì là một nguyên tố hóa học trong bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học, viết tắt là Pb (Latin: Plumbum) và số thứ tự nguyên tử là 82 Chì là kim loại nặng (M = 207,1;d = 11,34 g/cm3) nóng chảy ở nhiệt độ 327°C, sôi ở nhiệt độ 1744°C và bay hơi ở 550 - 600°C Chì có màu xám nhạt, không mùi, không vị, không hòa tan trong nước, không cháy, dẫn điện kém
so với các kim loại khác Chì có tính mềm, dễ dát mỏng, dễ cắt và dễ định hình
Về tính chất hóa học: Chì khó bị tác dụng bởi HCl, H2SO4 loãng nhưng
H2SO4 đặc đun nóng tác dụng với Chì thì tạo thành PbSO4 và tỏa khí SO2
Chì và các hợp chất của Chì đều độc, các hợp chất của chì càng dễ hòa tan thì độc tính càng cao Ngay cả các muối không tan của chì như cacbonat, sunfat khi vào đường tiêu hóa cũng bị axit HCl ở dạ dày hòa tan một phần và gây độc.[8]
Chì trong môi trường:[3],[6],[8],[9]
- Chì tồn tại trong môi trường bao gồm chì tự nhiên có trong các khoáng của vỏ Trái Đất và chì phát phải từ các hoạt động của con người Chì không bị phân hủy trong môi trường, chỉ chuyển hóa từ dạng hợp chất này sang dạng hợp chất khác và được vận chuyển giữa các thành phần trong môi trường theo một chu trình khép kín
Chì trong môi trường không khí:
- Chì trong môi trường không khí xuất phát từ các nguồn chủ yếu sau:
- Động đất, núi lửa;
- Gió cuốn bụi chì từ đất;
- Khí thải công nghiệp;
- Khói thải giao thông;
Trang 13Chì phát thải vào môi trường không khí từ công nghiệp ở dạng các hợp chất vô cơ như oxit, nitrat, sulfat Tetraelkyl chì trong xăng qua quá trình đốt cháy ở các động cơ đốt trong bị chuyển một phần thành các muối vô cơ như các halide, hydroxit, oxit và một phần nhỏ cacbonat và sulfat Ngoài ra, tetraelkyl được phát thải ra ngoài không khí sẽ bị phân hủy dần dần, trước tiên tạo thành các ion chì hữa cơ, cuối cùng tạo thành các hợp chất chì vô cơ Như vậy, chì trong không khí chủ yếu tồn tại dưới dạng các hợp chất vô cơ, còn gọi là các hạt bụi chì vô cơ Trong điều kiện tự nhiên, hàm lượng chì trong khí quyển thường trong khoảng 5.10-5 mg/m3, trong khi đó hàm lượng chì trung bình tại các đô thị
có mật độ giao thông lớn thường trong khoảng 3.10-3 mg/m3 Bụi chì trong không khí được gió phát tán đi rất xa khu vực phát thải Do đó, ô nhiễm chì trong không khí có tầm ảnh hưởng rộng Bụi chì sau đó được lắng xuống dưới tác dụng của trọng lực hoặc do được kéo theo các hạt mưa hoặc tuyết, tham gia vào khí quyển và địa quyển Bụi chì ở lớp bên dưới, ngang tầm hoạt động cuả con người còn có khả năng xâm nhập vào cơ thể con người và động vật Theo tính toán của các nhà khoa học, hàm lượng chì trung bình trong khí quyển từ thời kì tiền sử là 0,6 µg/m3 ; tới ngày nay đã tăng lên 3,7 µg/m3 ; chính là kết quả của các hoạt động nhân tạo Hàm lượng chì trong khí quyển đô thị trung bình nằm trong khoảng từ 0,5 – 10 µg/m3 Trong đó có tới 30 – 50% hơi chì được hô hấp vào cơ thể sẽ hấp thụ trong người, trong máu tuần hoàn, do đó hít thở không khí có bụi chì lớn sẽ bị ngộ độc chì Mức chì vào khoảng 20 – 40µg trên 100g máu (0,2 – 0,4 ppm) thì chưa gây tác hại gì đáng kể, nhưng nếu hàm lượng đó lên đến 0,8 ppm thì sẽ phát sinh bệnh thiếu máu , hồng cầu giảm rõ rệt
và gây rối loạn chức năng thận Chì từ khói thuốc lá làm ô nhiễm không khí trong phòng và gây nhiễm độc chì cho những người hút thuốc và cả những người ngửi thụ động khói thuốc, nhất là phụ nữ mang thai và trẻ em Trẻ em sống chung với người nghiện thuốc có hàm lượng chì trong máu cao gấp 4 lần trẻ không sống chung với người nghiện thuốc Trẻ em và phụ nữ hấp thụ chì rất mạnh
Trang 14Chì trong môi trường nước:
Chì trong môi trường nước là kết quả của các quá trình sau:
- Quá trình phong hóa vỏ trái đất;
- Quá trình xói mòn;
- Quá trình tiếp nhận các dòng thải chứa chì từ hoạt động của con người;
- Quá trình lắng đọng chì từ khí quyển;
- Quá trình hòa tan, rửa trôi các hợp chất chì từ đất;
Trong môi trường nước, chì tồn tại ở rất nhiều dạng hợp chất hóa học, tùy thuộc vào nguồn phát sinh Chì phát thải từ các điểm khai khoáng và nghiền quặng xâm nhập vào môi trường nước dưới dạng PbS, các oxit chì và các cacbonat chì Ngoài ra, PbSO4 và Pb3(PO4)2 cũng tồn tại trong khí quyển với lượng nhỏ Các hợp chất này ít tan trong nước, có xu hướng lắng đọng xuống lớp bùn đáy Như vậy, trong khí quyển, chì thường tồn tại ở dạng các hợp chất Pb2+ hòa tan, được hydrat hóa, hoặc ở dạng huyền phù… Các hợp chất này có
xu hướng tham gia vào các quá trình sau: - Tạo phức với các phối tử vô cơ hoặc hữu cơ - Hòa tan hoặc kết tủa hợp chất chì - Hấp phụ các hợp chất chì lên các hạt rắn lơ lửng có tính keo - Tạo bông hoặc keo tụ - Sa lắng xuống lớp trầm tích, gia nhập địa quyển - Xâm nhập vào sinh quyển, phân bố và tích tụ trong các sinh vật thủy sinh
Chì trong môi trường nước ngọt Trong nước thiên nhiên chì chiếm khoảng 0,001 – 0,02 mg/l Nguồn nước máy có dấu vết của chì là do đường ống nước bằng chì Nguồn ô nhiễm chì trong nước chủ yếu từ nước thải của công nghệ sản xuất chì, sản xuất molypden, và vonfram Nồng độ chì cho phép của nước uống < 0,01 mg/l; nước tưới trồng trọt < 0,5 mg/l (TCVN 5945-1995); nước dùng cho chăn nuôi < 0,05 mg/l Trong nước thải, chì có thể ở dạng hòa tan hoặc dạng khó tan lơ lửng như nước muối cacbonate, sunfua, sunfat Chì trong ống dẫn nước có chứa hàm lượng cacbonic khá cao Cacbonic tác dụng với chì làm ống dẫn trở thành cacbonat chì hòa tan trong nước Khi con người dùng loại nước nhiễm chì này, thì sẽ lưu lại trong cơ thể, phá hủy canxi trong xương
Trang 15và dẫn tới nhiều chứng bệnh mãn tính Nước mềm, nghèo canxi nên không tạo thành các lớp chì cacbonat ở mặt trong các ống nước bằng chì, vì thế chì tồn tại
ở trạng thái hòa tan trong nước
Chì trong môi trường nước biển
- Từ năm 1961, nồng độ chì trong nước biển đã đạt tới mức độ khá cao do hoạt động của con người Sự ô nhiễm chì nước biển gần bờ là do chất phụ gia trong xăng, nồng độ chì ở trong các đại dương đã tăng lên 3 – 5 lần từ khi con người đưa chất phụ gia xăng vào sử dụng Nước biển chứa khoảng 0,03 µg chì/lít; chủ yếu ở dạng các phức clorua
Chì trong đất:
Chì trong đất bao gồm các nguồn sau đây:
- Chì trong các khoáng chất thiên nhiên, điển hình là PbS - Chất thải rắn chứa chì từ các hoạt động của con người như khai khoáng, chôn lấp rác đô thị…
- Lắng đọng chì từ khí quyển
- Kết tủa và sa lắng các hợp chất của chì từ thủy quyển Hàm lượng chì trung bình trong đất tự nhiên ở vào khoảng 10 – 40 µg/g, phụ thuộc vào hàm lượng chì trong đá mẹ Đối với đất bị ô nhiễm, hàm lượng chì cao hơn và phụ thuộc vào khoảng cách tới nguồn gây ô nhiễm Chì được phát thải từ các nguồn gây ô nhiễm có khuynh hướng tích lũy một cách tự nhiên trong lớp đất mặt, với độ sâu
từ 0 – 15 cm Do đó, ở những vùng đất bị ô nhiễm, hàm lượng chì trong lớp đất mặt thường cao hơn so với lớp đất bên dưới Chì trong môi trường đất tồn tại ở các dạng sau: trong dung dịch đất, bị hấp thụ trên bề mặt của keo mùn sét, hoặc liên kết với Fe và Mn tạo ra các oxit thứ cấp, dạng cacbonat và trong mạng tinh thể aluminsilicat Tuy nhiên, phần quan trọng nhất là chì trong dung dịch đất vì đây là nguồn mà thực vật có thể hấp thụ chì một cách trực tiếp Chì trong đất có khuynh hướng tham gia các quá trình sau:
- Bị hấp thụ vào các hạt keo đất
- Bị phân giải vào dung dịch đất do sự thay đổi pH của đất
- Bị rửa trôi hoặc hòa tan bởi các dòng chảy bề mặt
- Theo nước trong đất thấm xuống tầng nước ngầm
- Bị hấp thụ vào thực vật và tích tụ trong hệ rễ, cành, lá
Trang 161.1.2 Tình hình ô nhiễm chì ở Việt Nam
Hiện nay dân số đang gia tăng trên thế giới cũng như Việt Nam, người ta cần có nhiều loại thực phẩm để cung cấp cho bữa ăn hàng ngày Trong đó rau xanh là loại thức ăn cần thiết và không thể thiếu trong bữa ăn của mọi gia đình Rau là nguồn thức ăn bổ dưỡng nuôi sống con người Rau không những chứa một lượng lớn các sinh tố A, B C… mà còn chứa các nguyên tố vi, đa lượng rất cần thiết trong cấu tạo tế bào Rau còn là một nguồn dược liệu quý góp phần bảo
vệ sức khỏe cho con người Trước quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng cao cùng với việc đô thị hóa phát triển và xây dựng cơ sở hạ tầng đã khiến diện tích đất vườn ngày càng bị thu hẹp nên người dân phải tận dụng từng tấc đất để trồng trọt Nước ta là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, được thiên nhiên ưu đãi nên có nguồn rau dồi dào quanh năm Rau được trồng ở nhiều nơi
để đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày, trong đó nổi bật cho một số khu vực trồng rau với sản lượng lớn như một số tỉnh ở ngoại thành Hà Nội… Tuy nhiên, hiện nay do chạy theo lợi nhuận để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, người ta phải tăng năng suất, tăng sản lượng rau để đạt mức thu nhập cao Do vậy người ta sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón bao gồm phân hữu cơ
và phân vô cơ (phân hóa học), hiện nay sử dụng rất nhiều phân hóa học Một số nơi còn sử dụng nước ở các kênh rạch, nước thải từ các xí nghiệp, nhà máy để tưới rau Với tình hình này, nó đã gây hậu quả lớn cho sức khỏe của người tiêu dùng, quan trọng là dư lượng các chất được tích lũy trong rau mà con người sử dụng hàng ngày trong đó có các kim loại nặng như: Cu, Pb, Zn, Fe, Cd, Cr… Những loại rau bị nhiễm kim loại nặng không thể nào xử lý hết chất độc trên rau cho dù đã được rửa bằng nước rửa rau, kể cả nấu chín cũng không có tác dụng Rau trồng ở các nơi có nhiều khu công nghiệp sẽ dễ bị nhiễm kim loại nặng từ các chất thải Theo đề tài ghiên cứu hàm lượng chì trong rau muống mọc ở sông nhuệ cho biết hầu hết rau mọc ở sông đều nhiễm chì ở các nồng độ khác nhau
Cụ thể kết quả xét nghiệm mẫu nước và mẫu thực phẩm cho thấy 100% mẫu nước sông Nhuệ, mẫu rau muống khai thác từ sông Nhuệ ô nhiễm Pb Các tác
Trang 17giả khẳng định, người dân có nguy cơ nhiễm Pb qua đường ăn uống từ những thực phẩm này Và qua đánh giá cá thể các tác giả cho biết, 14,08% người dân được khảo sát đã nhiễm Pb do ăn rau muống trồng tại sông Nhuệ vượt ngưỡng khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Các tác giả cũng nhận định, hiện nay việc ô nhiễm các kim loại nặng (như chì, Cadimi) trong nước và thực phẩm tại sông Nhuệ chảy qua lưu vực Hà Nội và Hà Nam, trong đó có rau muống và
cá rô phi đang là mối nguy cơ đe dọa lớn đối với sức khỏe nhiều người tiêu dùng
và cộng đồng [6],[7]
Các hoạt động gây ra ô nhiễm Chì trong đất
Để đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày một nâng cao, con người không ngừng tham gia sản xuất nhưng song song với những hoạt động này là sự phát thải các chất độc hại đến môi trường Trong đó, vấn đề ô nhiễm KLN trong đất xảy ra do các nguyên nhân chính như sau:
Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp nặng làm góp phần gia tăng nồng độ các KLN như Zn, Pb, As, vào trong môi trường Trong số các hoạt động công nghiệp gây ô nhiễm Chì trong đất phải kể đến một số hoạt động như: Chì đựơc sử dụng trong pin, trong bình acquy, trong một số dụng cụ dẫn điện Một số hợp chất Chì đựơc thêm vào trong sơn, thuỷ tinh, đồ gốm như chất
tạo màu, chất ổn định, chất kết gắn [10]
Các dạng của chì có thể là PbClBr, PbSO4, PbS, PbCO3 (phát sinh từ hoạt động khai khoáng); PbCO3, Pb(OH)2, PbCrO4 (phát thải từ ngành công nghiệp sơn) , các dạng trên được chuyển vào trong đất bằng quá trình vi sinh học và lan truyền Pb vào hệ sinh thái đất Bên cạnh đó, việc mở rộng các làng nghề tái chế kim loại như : Làng nghề tái chế pin, ác quy,…cũng là nguyên nhân gây ra ô nhiễm Chì trong đất.[11]
Hoạt động sản xuất nông nghiệp: Việc sử dụng phân bón ,thuốc bảo vệ thực vật để nâng cao năng suất nông sản cũng là một nguồn phát thải Pb đáng
kể vào trong đất
Trang 18Hoạt động giao thông cũng phát thải một lượng Chì tương đối lớn vào trong khí quyển Khi khí quyển bị ô nhiễm sẽ trở thành nguồn chính dẫn vào đất theo con đường lắng đọng Theo ước tính của Ủy ban bảo vệ môi trường nhà nước Trung Quốc thì từ năm 1986 - 1995, trên các tuyến đường cả nước đã
có hơn 15.800 tấn Pb thải ra do các phương tiện giao thông Một nghiên cứu khác tại Balan cũng chỉ ra rằng , đất gần đường giao thông có hàm lượng Pb cao hơn so với các vùng đất ở xa
Bùn thải: Đây là sản phẩm của quá trình xử lý thứ cấp nước thải, trong bùn thải có chứa khá nhiều chất độc hại trong đó có các KLN điển hình như:
Pb, Zn, Cu, Cd, Nếu bùn thải không được quản lý và xử lý thì chính là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm KLN trong đất
Do rác thải sinh hoạt: Rác thải sinh hoạt rất phức tạp, chủ yếu là các chất hữu cơ và một phần nhỏ là kim loại, khi không được phân loại và xử lý hợp vệ sinh sẽ trở thành tác nhân gây ô nhiễm KLN trong đất.[23]
Trên đây, là các nguyên nhân chính dẫn đến vấn đề ô nhiễm chì trong đất Đất ô nhiễm chì là đất có hàm lượng chì vượt mức giới hạn cho phép được quy định trong QCVN 03: 2008/ BTNMT
Bảng 1.1 Giới hạn hàm lượng tổng số của chì trong một số loại đất
Đơn vị tính: mg/ kg đất khô
Thông số Đất nông
nghiệp
Đất lâm nghiệp
Đất dân sinh
Đất thương mại
Đất công nghiệp
( Nguồn: QCVN 03: 2008/ BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn
kim loại nặng cho phép trong đất)
Trang 191.2 Kim loại nặng đối với con người và cây trồng
1.2.1 Vai trò của kim loại và cây trồng
- Nhiều nguyên tố kim loại có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của sinh vật, trung bình hàm lượng kim loại trong sinh khối khô của sinh vật khoảng từ 1 đến 100ppm Ở hàm lượng cao hơn thường gây độc hại cho sinh vật Khoảng cách từ đủ đến dư thừa là rất hẹp Một vài kim loại như: Ca, Co, Cr, Cu, Fe, K,
Mg, Mn, Na, Ni, và Zn là những nguyên tố cần thiết trong thực vật , được sử dụng cho các quá trình oxy hóa khử, ổn định phân tử, là thành phần của rất nhiều loại enzym, điều chỉnh áp lực thẩm thấu Còn một số kim loại không có vai trò sinh học, không cần thiết như : Ag, Al, Au, Pb, Hg… sẽ gây độc lâu dài đối với sinh vật Các kim loại không cần thiết này sẽ thay thế vào vị trí của các kim loại cần thiết Ở nồng độ cao, cả hai nguyên tố kim loại cần thiết và không cần thiết đều có thể làm tổn hại màng tế bào, thay đổi đặc tính của enzym, phá
vỡ cấu trúc và chức năng của tế bào
Thực vật hấp thu tất cả các nguyên tố nằm ở xung quanh vùng rễ Để xem kim loại (Men+) cần thiết hay không cần thiết cho cây thì phải loại bỏ kim loại
đó ra khỏi môi trường để tìm hiểu:
(1) Khả năng hoàn chỉnh chu trình sống của thực vật
(2) Men+ có thể thay thế kim loại cần thiết (vi, đa lượng)
(3) Sự liên quan trực tiếp của Men+ đến quá trình trao đổi chất
Thực vật hấp thụ kim loại ở cả 3 dạng: cation (Ca2+), anion (MnO4
2-) và dạng khí (Hg, Se) qua khí khổng của lá Dạng hóa học của kim loại rất quan trọng bởi vì có liên quan tới khả năng hấp thụ của thực vật Ví dụ: Cd tạo phức với clorua làm cho cây khó hấp thụ [1,3]
1.2.2 Quá trình hấp thu kim loại nặng trong đất của thực vật [16]
Quá trình hấp thu kim loại nặng từ đất của thực vật là một quá trình phức tạp, nó trải qua các quá trình sau:
- Quá trình di chuyển các kim loại nặng trong đất đến bề mặt của bộ rễ thực vật Quá trình này có thể do sự khuếch tán kim loại nặng trong đất từ nơi có
Trang 20nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp nhằm chống lại gradien nồng độ hoặc do dòng chảy khối tức là quá trình di chuyển dung dịch đất có chứa kim loại nặng đến bề mặt rễ thực vật Tại bề mặt rễ, thực vật làm giảm tính linh động của kim loại nặng dẫn đến một số kim loại nặng có thể tập trung nhiều tại vị trí tiếp xúc với rễ cây trong môi trường đất Nếu là các chất ô nhiễm hữu cơ, khi tiếp xúc và tập trung nhiều tại bề mặt rễ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật phân giải các hợp chất hữu cơ thành những chất không độc hại hoặc ít độc hại hơn các hơp chất ban đầu
- Quá trình xâm nhập kim loại nặng vào trong cây:
+ KLN đi vào vùng tự do của rễ: KLN đi vào khoảng không giữa bề mặt
rễ và đất (1-2mm), nấm Mycorrhizae làm gia tăng hiệu quả việc hấp thụ của rễ Tại vùng màng tế bào các ion dương có thể khuếch tán tự do hoặc liên kết với các ion âm (nhóm cacboxylic) theo thứ tự Pb>Cu>Cd>Zn; Các ion KLN hấp thu vào rễ có sự cạnh tranh nhau (Zn bị hạn chế bởi Cu và H+)
Hình 1.1 Sự di chuyển kim loại nặng đến bề mặt rễ cây [16]
Ở trong tế bào rễ KLN có thể mất tính linh động, độc tính do tạo phức với các hc hc hoặc bị sa lắng vào khu vực giàu electron
Trang 21+ Vận chuyển KLN trong cây: KLN đi vào mao dẫn đến các bộ phận trong cây Nó có thể phản ứng với các nhóm mang điện của thành tế bào mao dẫn: làm cản trở quá trình vận chuyển KLN
+ Tích lũy trong các bộ phận của cây: Trong rễ tích lũy đến 80-90% kim loại nặng (Javis và cs), nó nằm ở trong không gian bào, liên kết với các hợp chất pectin, protein của thành tế bào Bằng việc sử dụng thực vật tích lũy kim loại, chúng di chuyển và tập trung kim loại từ môi trường đất vào trong rễ, lá và các cơ quan khí sinh, sau đó được lấy đi khỏi môi trường thông qua việc thu hoạch Hình thức xử lý này có thể được áp dụng đối với môi trường đất đặc biệt
là đất bị ô nhiễm KLN (Pb, Cd, Zn, Ni, Cu) do chất thải công nghiệp
Hình 1.2 Tích lũy chất ô nhiễm trong cây [16]
Quá trình cố định các chất ô nhiễm (Phytostabilisation): Thực vật làm giảm tính linh động và tiếp xúc sinh học của chất ô nhiễm trong môi trường bằng cách cố định hoặc ngăn chặn sự di chuyển của các chất ô nhiễm Hình thức
xử lý này có thể áp dụng đối với đất bị ô nhiễm các KLN như Pb, Cd, Zn, As,
Cu, Cr, U, các chất hữu cơ kị nước PCBs Khi các chất hóa học được thực vật lấy đi, một số trong chúng không biến đổi nhiều mà di chuyển qua gỗ và mô thực vật, nếu các chất ô nhiễm bay hơi được thì chúng sẽ bay hơi ở các dạng khí qua các mô lá, kể cả những chất hữu cơ bay hơi cũng khuếch tán nhanh qua mô
Trang 22thân cây và bay hơi vào khí quyển Nhưng nhìn chung, số lượng các chất bay hơi qua mô thực vật ở điều kiện thực tế là nhỏ hơn so với lượng lấy đi, lượng chuyển hóa sinh học qua vùng quyển rễ Hình thức xử lý này có thể áp dụng đối với môi trường đất, bùn lắng bị ô nhiễm Se, As, Hg, hợp chất hữu cơ bay hơi (VOCs)
1.2.3 Cơ chế xâm nhập, phân bố và tích tụ của chì trong cơ thể con người
Đường ăn uống Số lượng và tốc độ hấp thụ chì qua đường tiêu hóa của
cơ thể phụ thuộc vào dạng tồn tại hóa học của chì, kích thước hạt bụi chì, trạng thái no hoặc đói của cơ thể, chế độ dinh dưỡng và độ tuổi Cơ thể người trưởng thành có khả năng hấp thu 5% hàm lượng chì có trong thức ăn hoặc nước uống Con số này có thể tăng tới 50% tùy thuộc vào trạng thái no hoặc đói của cơ thể Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ là những đối tượng nhạy cảm với chì, khoảng 50% lượng chì có trong thức ăn và nước uống được cơ thể trẻ hấp thụ Chế độ ăn nghèo canxi, sắt, đồng, kẽm, photpho sẽ làm tăng khả năng hấp thu chì qua đường tiêu hóa
Hấp thụ qua da: Khả năng hấp thụ chì qua da của cơ thể rất kém.[13]
1.2.3.2 Phân bố chì trong cơ thể
Sau khi được hấp thụ qua đường hô hấp hoặc đường ăn uống, chì tiếp tục xâm nhập vào máu và từ đó được phân bố tới nhiều bộ phận của cơ thể nhờ tế bào hồng cầu và huyết tương Tốc độ phân bố chì trong cơ thể không đều và phụ thuộc vào hướng phân bố Đầu tiên, chì được chuyển nhanh tới các mô mềm như
Trang 23cơ, não, đặc biệt là gan và thận sau đó được bài tiết qua đường phân, nước tiểu
và mồ hôi Đối với người trưởng thành, khoảng 99% lượng chì hấp thụ vào trong cơ thể được thải ra ngoài qua con đường bài tiết, đối với trẻ em dưới 2 tuổi con số này là 30 – 40% Chì được chuyển tới các mô cứng của cơ thể như xương, răng, tóc, móng với tốc độ chậm, khoảng vài tuần Có tới khoảng 94% lượng chì vào cơ thể người trưởng thành và 73% trong cơ thể trẻ em được tích tụ
trong xương và răng.[14]
1.3 Tác động của chì đến sức khỏe con người
- Sự tác động của chì trong cơ thể phụ thuộc vào sự phân bố của chì, các ái lực của nó đối với các liên kết, cấu tạo tế bào, cấu trúc của mô
- Theo EPA, 1986: chì có khả năng làm thay đổi quá trình vận chuyển ion trong cơ thể, cản trở sự phát triển và chức năng của nhiều cơ quan, đặc biệt là hệ thần kinh trung ương => từ đó gây ra rất nhiều bệnh
Các bệnh gây ra bởi nhiễm chì
+ Khi bị nhiễm chì, cơ thể rơi vào trạng thái hưng phấn, mất ngủ, gây mệt mỏi Về lâu dài sẽ làm rối loạn thần kinh, tuần hoàn và ảnh hưởng nhiều bộ phận khác; đối với trẻ em, chì có thể gây chậm phát triển trí tuệ
+ Bệnh thiếu máu: thường xảy ra khi bị nhiễm độc chì vô cơ và thưởng xảy
ra trong giai đoạn cuối, nhưng ngay khi tiếp xúc với chì, người ta đã phát hiện ra rối loạn tổ hợp máu
+ Chì gây giảm hệ số thông minh (IQ) ngay cả với mức máu bị nhiễm chì thấp Máu nhiễn chì quá cao sẽ làm tổn thương não
+ Chì tác động đến tủy xương, thay thế canxi trong xương và tác động đến
sự hình thành huyết cầu tố do sự liên kết với sắt trong máu
+ Chì tác động lên hệ men cơ bản, đặc biệt là men vận chuyển hydro, ngăn cản một số enzyme trong quá trình tổng hợp hồng cầu, ngăn sự oxy hóa của gluco và oxy
Trang 24 Khi bị nhiễm độc chì thường bị rối loạn bộ phận tạo huyết, rối loạn não, viêm thận, liệt, đau khớp, cao huyết áp… xuất hiện biểu hiện khi lượng chì trong máu
là 0,3ppm
Đối với hệ sinh thái nước
- Các sinh vật sống trong môi trường nước có khả năng tích tụ chì từ đó ảnh hưởng đến cơ thể sinh vật
- Ở nước biển do chì tồn tại nhiều ở dạng PbCl2 do vậy các sinh vật ở biển bị ảnh hưởng ít hơn so với các nguồn nước gần nguồn thải
- Đối với chì tồn tại lơ lửng trong nước, các loài sinh vật ở tầng giữa như cá
sẽ bị tác động
- Chì tồn tại nhiều ở bùn đáy do đó các sinh vật như lươn, cua, 1 số loài tôm
bị ảnh hưởng rất lớn, có thể dẫn đến chết hàng loạt
Đối với hệ sinh thái đất
- Chì kết hợp với các chất dinh dưỡng trong đất, dẫn tới suy giảm chất lượng đất
- Bị rễ của các loài cây hấp thụ vào trong cơ thể rồi sau đó sẽ chuyển đến các loài sinh vật khác trong mạng lưới thức ăn
- Chì kiềm chế các vi sinh vật khoáng hóa nitơ và phân giải cellulose.[3],[5]
1.4 Tổng quan về tình hình nghiên cứu kim loại nặng trong rau xanh ở Việt Nam
Các nghiên cứu tập trung vào đánh giá hiện trạng kim loại nặng trong nước sử dụng trong nông nghiệp và sự hấp thụ tích lũy một số kim loại nặng lên các thực phẩm khác nhau Sự hấp thụ và tích lũy kim loại nặng lên thực vật còn được ứng dụng trong các công nghệ xử lý nhằm loại bỏ các kim loại nặng tồn dư trong đất, nước
- Lê Đức và các cộng sự (2000), nghiên cứu khả năng hút thu và tích lũy
Pb trong cây bèo tây và rau muống trồng trên nền đất bị ô nhiễm
- Nhóm tác giả Lương Thị Hồng Vân và Nguyễn Mai Huệ (2002), đã điều tra hàm lượng Pb, As trong rau, quả (rau muống, mồng tơi, cải xanh, ngải cứu, rau ngót, khoai lang, chuối, đu đủ ) trồng tại các vùng xung quanh xưởng luyện kim màu Thái Nguyên và thu được kết quả như sau: hàm lượng Pb và As trong
Trang 25rau quả ăn được trồng tại vùng có xưởng luyện kim màu Thái Nguyên cao hơn mức an toàn cho phép từ 2 đến 6 lần
- Vũ Đình Tuấn và cộng sự (2004), cũng đã điều tra hiện trạng kim loại nặng trong đất và cây rau vùng ngoại thành Hà Nội, kết quả cho thấy: lượng Pb trong
13 mẫu rau và lượng Cd trong 11 mẫu rau trồng tại Từ Liêm đặc biệt là nhóm rau gia vị và rau ăn lá nấu chín (tía tô, mùi, hành, tỏi, kinh giới, rau ngót, cải ngọt, mồng tơi ), vượt khỏi tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam
- Lê Đức và các cộng sự (2005) đã nghiên cứu ảnh hưởng của Pb2+ , Cu2+ đến giun đất, rau cải và ảnh hưởng của Pb, Cu, Zn, Cd đến cây mạ trên nền đất phù sa sông Hồng Kết quả cho thấy, ảnh hưởng trực tiếp của Pb2+ , Cu2+ đến
sự nảy mầm của hạt rau cải cũng như sự sinh rễ, sinh lá và chiều cao trung bình của cây cải, tùy thuộc vào độc tính của từng nguyên tố (Pb,Cu, Zn, Cd) ở những nồng độ lớn nhỏ khác nhau đã ảnh hưởng đến bộ rễ cũng như gây chết cây mạ
- Phạm Ngọc Thuỵ và các cộng sự (2006) đã điều tra hiện trạng về Pb, Hg,
As, Cd trong đất nước và một số rau trồng ở khu vực Đông Anh, Hà Nội Kết quả điều tra cho thấy một số mẫu rau như xà lách, rau muống, cải cúc, cải bắp, cải ngọt, hành hoa, cải thảo bị ô nhiễm Pb và Cd, rất ít mẫu rau bị ô nhiễm As
và Hg
- Mặc dù các cách diễn đạt của các quan điểm này là khác nhau nhưng chung quy lại ta có thể thấy được rau muống có thể tích KLN nói chung và đối với Pb nói riêng là khá tốt nếu được trồng tại những môi trường bị ô nhiễm KLN, mà rau muống lại là một loại thực phẩm thông dụng trong bữa ăn hàng ngày nên các nghiên cứu về vấn đề này càng trở nên cần thiết và quan trọng hơn để nâng cao
vệ sinh an toàn thực phẩm của chúng ta
- Nội dung nghiên cứu của đề tài ngoài việc cho chúng ta thấy được khả năng tích lũy Pb của cây rau muống còn cho chúng ta hiểu thêm về mức độ tích lũy của rau muống đỏ và rau muốn trắng trong các môi trường đất và trong môi trường nước, mức độ tích lũy chì của cả hai loại rau muống đỏ và trắng khi được trồng trong cùng môi trường.[23]
Trang 27Chương 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
- Nghiên cứu khả năng tích lũy chì của cây rau muống Từ đó, góp phần
nâng cao nhận thức cho người dân về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và ô nhiễm môi trường
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được mức độ tích lũy chì từ môi trường đất và trong nước của cây
rau muống trong quy mô thí nghiệm và ngoài tự nhiên
- Đề xuất được một số biện pháp trồng rau an toàn giảm thiểu tích lũy chì tại địa phương
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Rau muống (Ipomoea aquatica) là một loài thực vật nhiệt đới bán thủy sinh
thuộc họ Bìm bìm (Convolvulaceae), là một loại rau ăn lá Rau muống dễ trồng, trồng được trên nhiều loại đất trồng và trồng quanh năm
- Nghiên cứu trên 2 loại rau muống là:
+ Rau muống đỏ: chủ yếu được trồng trong môi trường nước
+ Rau muống trắng: chủ yếu được trồng trong môi trường đất
* Phạm vi nghiên cứu: rau được trồng trong quy mô phòng thí nghiệm và rau
mọc ngoài tự nhiên trên địa bàn xã An Mỹ - huyện Mỹ Đức - TP Hà Nội
* Kim loại nghiên cứu
Pb gây ô nhiễm được lấy từ muối Pb(NO3)2 với nồng độ được trình bày trong phần thiết kế thí nghiệm
Trang 282.3 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát phương pháp xác định chì trong rau bằng phương pháp so mầu quang điện
- Đánh giá mức độ tích lũy chì trong đất và trong nước của hai loại cây rau muống trắng và rau muống đỏ
- Bước đầu nghiên cứu hàm lượng chì trong rau muống tại xã An Mỹ - huyện
Mỹ Đức - TP Hà Nội
- Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu khả năng tích lũy chì trong rau
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu
Phương pháp này rất cần thiết và được nhiều người sử dụng trong quá trình nghiên cứu Thông qua số liệu này giúp đề tài thừa kế có chọn lọc các thành quả nghiên cứu từ trước đến nay Những tài liệu được thu thập phục vụ cho quá trình làm khóa luận bao gồm:
+ Tài liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu;
+ Tài liệu về đặc tính sinh học và sinh thái học của cây rau muống;
+ Các tài liệu khác phục vụ cho quá trình làm luận văn: Giáo trình, luận văn tốt nghiệp, thông tin trên mạng internet ;
+ Một số báo cáo về thực trạng ô nhiễm KLN trong thực phẩm của các ban, ngành
2.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát và lấy mẫu ngoài thực địa
+ Điều tra, khảo sát: khu vực lấy mẫu trên toàn địa bàn xã An Mỹ - huyện
Mỹ Đức - TP Hà Nội
+ Điều tra, lựa chọn nơi phân bố chủ yếu của loài cây nghiên cứu tại khu vực
xã để tiến hành lấy mẫu cây về nghiên cứu
- Đối với mẫu đất lấy một lượng đất nông nghiệp về để xử lý và bố trí thí nghiệm Lượng đất lấy khoảng 30kg về phơi khô nghiền nhỏ chia đều vào 4 thùng, môi thùng 4kg