LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành chương trình đào tạo Đại học khóa học 2014 – 2018, đồng thời nhằm nâng cao trình độ hiểu biết, kiến thức chuyên môn và áp dụng những kiến thức đó vào thực tiễn,
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo Đại học khóa học 2014 – 2018, đồng thời nhằm nâng cao trình độ hiểu biết, kiến thức chuyên môn và áp dụng những kiến thức đó vào thực tiễn, được sự đồng ý của Khoa Quản lý Tài nguyên Rừng
& Môi trường, được sự hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô trường Đại học
Lâm Nghiệp, em đã thực hiện khóa luận: “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp
ở xã Tân Long, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An”
Để hoàn thành khóa luận này, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cô Thái Thị Thúy An và Cô Đặng Thị Thúy Hạt đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp
đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ UBND xã Tân Long, cán bộ HTX
và nhân dân trong địa bàn xã đã cung cấp cho em những thông tin, tài liệu liên quan đến đề tài để hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp
đỡ và tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình làm khóa luận và trong những năm học vừa qua tại trường Đại học Lâm Nghiệp
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 7 tháng 5 năm 2018 Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Trang
Trang 22 iáo viên hướng dẫn: ThS Thái Thị Thúy An
ThS Đặng Thị Thúy Hạt
3 Sinh viên thực hiện: Hoàng Thị Trang
4 Mục tiêu nghiên cứu
5 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp ở xã Tân Long, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An
- Nghiên cứu đánh giá công tác buôn bán và quản lý thuốc bảo vệ thực vật
và phân bón hóa học tại khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến con người và môi trường tại khu vực nghiên cứu
Trang 3- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học tại khu vực nghiên cứu
vệ thực vật đa số người dân không trang bị đầy đủ bảo hộ lao động Sau khi phun xong có tới 76,19% số hộ vứt bao bì sau sử dụng ngay trên bờ ruộng, dưới sông, mương gây ô nhiễm môi trường Về phân bón hóa học, người dân xã Tân Long chủ yếu sử dụng phân NPK, Kali, phân đạm Các loại phân này chủ yếu để bón lót và bón thúc, khi sử dụng còn với liều lượng tự ước lượng và theo kinh nghiệm nên lượng phân bón vượt quá liều lượng quy định
Tình trạng buôn bán và quản lý thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học còn lỏng lẽo, vẫn còn có cửa hàng chưa có giấy phép kinh doanh, và còn có một số sản phẩm không rõ nguồn gốc được bày bán ở cửa hàng
Do lạm dụng, sử dụng không đúng phương pháp kỹ thuật khi dùng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trong sản xuất nên gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường và con người, một phần do người dân chưa có kiến thức và trình độ hiểu biết về thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học nên trong quá trình sử dụng đã gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi trường
Đề xuất một số giải pháp cho việc quản lý, sử dụng, buôn bán thuốc bảo
vệ thực vật và phân bón hóa học trên địa bàn là biện pháp về chính sách, công tác quản lý, tập huấn, tuyên truyền, nâng cao trình độ vai trò của cán bộ khuyến nông và người kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học và các giải pháp về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học, cách xử lý bao bì sau sử dụng một cách hiệu quả
Trang 4MỤC LỤC
L CẢM ƠN i
T M T T KH A LU N T T N H P ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ CỤM TỪ V ẾT T T vii
DANH MỤC CÁC BẢN viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, B ỂU ĐỒ x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠN TỔN QUAN VẤN ĐỀ N H N CỨU 3
1.1 Tổng quan về thuốc bảo vệ thực vật 3
1.1.1 Khái niệm thuốc BVTV 3
1.1.2 Phân loại thuốc BVTV 3
1.1.3 Quy trình kỹ thuật 4
1.1.4.Vai trò của thuốc BVTV 5
1.1.5 Tình hình sản xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam 5
1.2 Tổng quan về phân bón hóa học 7
1.2.1 Khái niệm phân bón hóa học 7
1.2.2 Phân loại phân bón hóa học 7
1.2.3 Quy trình kỹ thuật trong nông nghiệp 8
1.2.4 Vai trò của phân bón hóa học 11
1.2.5 Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón hóa học ở Việt Nam 12
1.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV và phân bón hóa học 14
1.3.1 Ảnh hưởng của thuốc BVTV 14
1.3.2 Ảnh hưởng của phân bón hóa học 15
1.4 Một số nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học………… 17
1.4.1 Đối với thuốc BVTV 17
1.4.2 Đối với phân bón hóa học 18
Trang 5N H N CỨU 19
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 19
2.1.1 Mục tiêu chung 19
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 19
2.2 Phạm vi nghiên cứu 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 20
2.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 20
2.4.3 Phương pháp phỏng vấn 21
2.4.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 23
CHƯƠN Đ ỀU K N TỰ NH N - K NH TẾ - XÃ HỘ 24
CỦA KHU VỰC N H N CỨU 24
3.1 Điều kiện tự nhiên 24
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 27
3.2.1 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 27
3.2.2 Kinh tế 27
3.2.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội 28
CHƯƠN V KẾT QUẢ N H N CỨU V THẢO LU N 32
4.1 Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp ở xã Tân Long, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An 32
4.1.1 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã 32
4.1.2 Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp ở xã Tân Long 34
4.1.3 Hiện trạng sử dụng phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp ở xã Tân Long 41
4.2 Thực trạng buôn bán và quản lý sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp tại khu vực nghiên cứu 43
4.2.1 Thực trạng kinh doanh, quản lý sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn xã 43
4.2.2 Thực trạng kinh doanh, quản lý sử dụng phân bón hóa học trên 45
Trang 6địa bàn xã 45
4.3 Ảnh hưởng của hoạt động sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học đến con người và môi trường tại khu vực nghiên cứu 47
4.3.1 Ảnh hưởng cửa hoạt động sử dụng thuốc BVTV 47
4.3.2 Ảnh hưởng cửa hoạt động sử dụng phân bón hóa học 49
4.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học tại khu vực nghiên cứu 51
4.4.1 iải pháp chung 51
4.4.2 Đối với thuốc BVTV 53
4.4.3 Đối với phân bón hóa học 53
4.4.4 Phương pháp xử lý bao bì thuốc BVTV và phân bón hóa học 53
KẾT LU N - K ẾN N HỊ 56
1 Kết luận 56
2.Tồn tại 57
3 Kiến nghị 57
T L U THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7D N MỤC CÁC TỪ CỤM TỪ VIẾT T T
PTNT Phát triển nông thôn
Trang 8D N MỤC CÁC BẢN
Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã Tân Long 32 Bảng 4.2 Diện tích, năng suất và sản lượng cây trồng của xã 33 Bảng 4.3 Một số loại thuốc BVTV được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp tại
xã Tân Long 35 Bảng 4.4 Số lần phun thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp tại xã Tân Long 36 Bảng 4.5 Khoảng cách giữa các lần phun thuốc BVTV 38 Bảng 4.6 Kết quả điều tra về thời điểm phun thuốc BVTV trên địa bàn xã Tân Long năm 2018 39 Bảng 4.7 Phương thức sử dụng thuốc BVTV của người dân địa phương xã Tân Long 39 Bảng 4.8 Liều lượng sử dụng thuốc BVTV của xã Tân Long 40 Bảng 4.9 Lượng phân bón hóa học cho một số cây trồng chính trên địa bàn xã Tân Long 42 Bảng 4.10 Thực trạng buôn bán, kinh doanh thuốc BVTV trên địa bàn xã Tân Long năm 2018 44 Bảng 4.11 Thực trạng kinh doanh buôn bán phân bón hóa học trên địa bàn xã Tân Long năm 2018 45 Bảng 4.12 Tình hình sử dụng bảo hộ lao động khi phun thuốc BVTV của các hộ dân tại xã Tân Long 47 Bảng 4.13 Đánh giá của người dân về sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học 51
Trang 9D N MỤC CÁC ÌN
Hình 4.1 Phân bón đầu trâu NPK 20-20-5 giả 46Hình 4.2 Hình ảnh người dân sử dụng bảo hộ lao động không đầy đủ khi phun thuốc 48Hình 4.3 Hình ảnh vỏ đựng thuốc BVTV sau sử dụng 49Hình 4.4 Bể thu gom vỏ bao bì thuốc BVTV sau sử dụng 55
Trang 10D N MỤC CÁC SƠ Ồ, BIỂU Ồ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ quá trình khảo sát thực địa tại địa bàn xã Tân Long 21 Biểu đồ 4.1 Các triệu chứng ngộ độc thuốc BVTV của người dân xã Tân Long 48 Biểu đồ 4.2 Biểu đồ phương pháp xử lý bao bì phân bón hóa học sau sử dụng tại xã Tân Long 50
Trang 11ẶT VẤN Ề
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, điều kiện tự nhiên thuận lợi
cho phát triển sản xuất nông nghiệp, mang lại lợi nhuận cao cho sản xuất Trong
những năm gần đây sự bùng nổ dân số đã làm nảy sinh vấn đề an ninh lương thực và
gây sức ép lên các vùng đất nông nghiệp trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày
càng bị thu hẹp Do đó để đáp ứng nhu cầu lương thực của con người thì việc sử
dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp rất quan trọng
nhằm tăng năng suất cao và sản lượng nông sản lâu dài
Phân bón và thuốc bảo vệ thực vật là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn
đến năng suất cây trồng Bón phân đầy đủ, cân đối và sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật an toàn hợp lý sẽ thu được năng suất cây trồng cao và chất lượng sản phẩm
tốt, không làm suy kiệt đất và ô nhiễm môi trường đồng thời người sản xuất lại
thu được lợi nhuận cao
Tuy nhiên, hoạt động sản xuất nông nghiệp đang tồn tại một vấn để đáng
lo ngại, đó là việc người dân sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật
một cách tự phát, bừa bãi, không theo chỉ dẫn, thậm chí cả các loại hóa chất đã
bị cấm sử dụng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt làm suy thoái
môi trường đất, nước, không khí, hệ sinh thái, trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng
Tân Long là một xã có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời, kinh tế người
dân chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp nên có mức đầu tư phân bón hóa học và
thuốc bảo vệ thực vật cao Sản phẩm nông nghiệp mà xã sản xuất ra không chỉ
phục vụ nhu cầu cho người dân mà còn phục vụ nhu cầu cho các vùng lân cận
Trong những năm gần đây do điều kiện thời tiết bất lợi, dịch bệnh, sâu hại phát
triển nhanh, khó kiểm soát đã dẫn tới tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật
và phân bón hóa học diễn ra phổ biến, liều lượng sử dụng ngày càng cao và phần
lớn người dân chưa có nhiều kiến thức về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân
bón nên hiệu quả sử dụng không cao Vì vậy tình hình quản lý, sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật và phân bón hóa học là vấn đề cần được quan tâm
Xuất phát từ thực tế địa phương, khóa luận: “Đánh giá hiện trạng sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp
Trang 12ở Xã Tân Long, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An” được thực hiện Khóa luận thực
hiện nhằm đánh giá tình hình sử dụng, quản lý, ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trên địa bàn xã và đưa ra các giải pháp thích hợp trong
sử dụng cũng như quản lý để tăng năng suất và giảm thiểu tác động do phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp
Trang 13C ƯƠN I TỔN QU N VẤN Ề N IÊN CỨU 1.1 Tổng quan về thuốc bảo vệ thực vật
1.1.1 Khái niệm thuốc BVTV
Ngay từ khi mới ra đời thuốc bảo vệ thực vật được đánh giá cao và được coi là một trong những thành tựu lớn của khoa học kỹ thuật
Thuốc BVTV là những chế phẩm có nguồn gốc hóa chất, thực vật, động vật, vi sinh vật và các chế phẩm khác dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật [8]
Thuốc BVTV gồm: các chế phẩm dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, các chế phẩm điều hòa sinh trưởng thực vật, chất làm rụng lá hay khô lá, các chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt [6]
1.1.2 Phân loại thuốc BVTV
Hiện nay, thuốc BVTV rất đa dạng và phong phú về cả chủng loại và số lượng Việc phân loại thuốc BVTV có thể thực hiện cụ thể như sau:
a Phân loại theo đối tượng phòng trừ [8]
b Phân loại dựa vào nguồn gốc hóa học [8]
Thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc: bao gồm thuốc BVTV làm từ cây hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại, có độ độc cấp tính cao, mau phân hủy trong môi trường
Thuốc có nguồn gốc sinh học: gồm các loài sinh vật (các loài ký sinh thiên địch), các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật (như các loài kháng sinh…) có khả năng tiêu diệt dịch hại
Thuốc có nguồn gốc vô cơ: bao gồm các hợp chất vô cơ (như dung dịch boocđô, lưu huỳnh…) có khả năng tiếu diệt dịch hại
Trang 14Thuốc có nguồn gốc hữu cơ: gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khả năng tiêu diệt dịch hại Cụ thể:
- Nhóm clo hữu cơ: DDT, 666 … có độ độc cấp tính tương đối thấp những tồn tại lâu trong môi trường và cả trong cơ thể người, động vật, gây độc mãn tính nên nhiều sản phẩm bị cấm hoặc hạn chế sử dụng
- Nhóm lân hữu cơ: Wofatox Bi-58,… có độ độc cấp tính tương đối cao, mau phân hủy trong cơ thể và môi trường hơn nhóm clo hữu cơ
- Nhóm Carbamate: Mipcin, Basa, Sevin,… có độ độc cấp tính tương đối cao, khả năng phân hủy tương tự nhóm lân hữu cơ Đây là thuốc được sử dụng rộng rãi vì tương đối rẻ tiền mà lại hiệu lực cao
- Nhóm Pyrethoide: Decis, Sherpa, Sumicidine,…dễ bay hơi, tương đối mau phân hủy trong cơ thể người và môi trường
- Các hợp chất Pheromone: là những hóa chất đặc biệt do sinh vật tiết ra để kích thích hành vi của những sinh vật khác cùng loài Các chất điều hòa sinh trưởng côn trùng (Nomolt, Applaud,…) là những chất dùng để biến đổi sự phát triển của côn trùng Chúng ngăn cản côn trùng biến thái hoặc ép chúng phải trưởng thành từ rất sớm Loại này ít độc với người và môi trường
c Phân loại dựa vào cách tác động của thuốc đến dịch hại: Tiếp xúc, vị
độc, xông hơi, thấm sâu, nội hấp [8]
1.1.3 Quy trình kỹ thuật
Khi sử dụng thuốc BVTV cần thức hiện đúng theo 4 nguyên tắc [13]:
- Đúng thuốc: khi chọn mua thuốc BVTV nông dân cần biết rõ loại dịch hại phòng trừ Cần mua những loại thuốc có tác động chọn lọc ( có tác dụng trừ sâu bệnh cao nhưng tương đối ít độc đối với sinh vật có ích như ong mật, cá tôm, ký sinh và thiên địch) Chọn thuốc an toàn đối với cây trồng, ít nguy hại đối với người tiêu thụ sản phẩm Chọn thuốc có thời gian cách ly ngắn, không lưu tồn dài trong nguồn nước và trong đất
- Đúng liều lượng và nồng độ: pha đúng nồng độ và phun đúng lượng nước quy định để đảm bảo thuốc trải đều và tiếp xúc với dịch hại nhiều nhất Khi
Trang 15đong thuốc, không ước lượng bằng mắt, không bốc thuốc bằng tay Phun hết lượng thuốc đã tính toán trên diện tích định phun thuốc
- Đúng lúc: phun thuốc đúng lúc đúng vào thời điểm dịch hại trên đồng ruộng dễ bị tiêu diệt và theo dự tính, dự báo, điều tra của cơ quan chuyên môn BVTV
- Đúng cách: pha thuốc đúng cách, làm thế nào để chế phẩm thuốc được hòa tan thật đều vào nước Phun thuốc đúng cách là phun rãi đều làm cho thuốc tiếp xúc với dịch hại nhiều nhất, tập trung vào nơi sinh vật gây hại
1.1.4.Vai trò của thuốc BVTV
Trong lĩnh vực trồng trọt, thuốc BVTV đóg vai trò rất quan trọng trong việc giữ vững năng suất, chất lượng cây trồng và đảm bảo an ninh lương thực
Thuốc BVTV đóng vai trò quan trọng với những ưu điểm nổi trội:
Có thể diệt dịch hại nhanh, triệt để, đồng loạt trên diện rộng và chặn đứng những trận dịch trong thời gian ngắn
Đem lại hiệu quả phòng trừ rõ rệt, kinh tế bảo được năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng nông sản và mang lại hiệu quả kinh tế
Thuốc BVTV xâm nhập, dịch chuyển và tồn tại trên các bộ phận của cây trồng, tác động đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây như rút ngắn thời gian sinh trưởng làm cho cây sớm ra hoa, kết quả, tăng chất lượng nông sản,…
1.1.5 Tình hình sản xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam
Tại Việt Nam, việc sử dụng thuốc BVTV chỉ phổ biến từ thế kỷ thứ X X Trước đó, việc sử dụng thuốc trừ sâu, bệnh chủ yếu bằng phương pháp bắt sâu vào những lúc phát hiện trên mùa vụ hay biện pháp mang tính chất mê tín, bùa phép
Đầu thế kỷ XX, khi nền nông nghiệp Việt Nam bắt đầu phát triển đến một mức nhất định, hình thành các đồn điền, trang trại nông nghiệp lớn thì việc sử dụng thuốc BVTV bắt đầu gia tăng Trong thời kỳ này, Việt Nam cũng sử dụng chủ yếu các hợp chất hóa học vô cơ như các nước trên khu vực và thế giới
Theo đánh giá của các chuyên gia quốc tế, có tới 80% thuốc BVTV tại nước ta đang được sử dụng không đúng cách, không cần thiết , rát lãng phí và
Trang 16sai liều lượng Khi sử dụng lượng thuốc BVTV còn bám lại trên vỏ bao bì bình quân chiếm 1,85% tỷ trọng bao bì Trong khi đó, người dân hoàn toàn không có
ý thức xử lý lượng thuốc BVTV còn tồn lại trên vỏ bao bì Có tới 65% người dân khẳng định họ vứt vỏ bao bì ngay tại nơi pha thuốc
Tình hình sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam có những bước chậm hơn so với các nước phát triển Thập niên 70 và 80 Việt Nam còn sử dụng hợp chất hóa học gốc Clor hay gốc Photpho hữu cơ (DDT thuộc nhóm Clor hữu cơ, Metyl Parathion, Monocrophos thuộc nhóm lân hữu cơ, Furadan thuộc nhóm Carbamate) thì các nước phát triển đã sử dụng các loại hợp chất này Ví dụ như
ở Mỹ đã cấm sử dụng DDT từ năm 1992, mà ở Việt Nam tận năm 1993 mới có lệnh cấm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có chứa nhóm Clor hữu cơ
Trong những năm qua, cùng với việc mở rộng diện tích sự chuyển dịch cơ cấu và quá trình đầu tư thâm canh tăng năng suất các loại cây trồng , đặc biệt là
sử dụng nhiều giống lúa, ngô, mía mới cho năng suất cao, bên cạnh đó diện tích sâu bệnh ngày cũng tăng, do đó lượng thuốc BVTV được dùng cũng có xu hướng tăng lên
Theo thống kê của Tổng cục Môi Trường (2012), hiện nay gần 1005 diện tích đất canh tác nông nghiệp ở Việt Nam đều có sử dụng thuốc thuốc BVTV, ước tính có khoảng hơn 1000 chủng loại thuốc BVTV được sử dụng Theo thống kê của Cục tài nguyên môi trường, lượng thuốc BVTV được sử dụng ở Việt Nam từ năm 1986 đến năm 1993 khoảng 13 đến 15 nghìn tấn và thống kê của Viện Bảo vệt thực vật Việt Nam, năm 1990 lượng thuốc BVTV từ 10.300 tấn lên tới 33000 tấn, đến năm 2003 tăng lên 45.000 tấn và năm 2005 là 50.000 tấn Đây là những con số đáng báo động [1]
Theo thống kê của Cục Bảo vệ thực vật, tổng cục thống kê và tổng cục hải quan thì lượng thuốc nhập khẩu vào Việt Nam năm 1998 là 42.738 tấn, tăng gấp
2 lần so với năm 1991 Lượng thuốc trừ sâu không có xu hướng tăng lên và cũng không có xu hướng giảm đi, trong khi đó lượng thuốc trừ bênh tăng từ 2.600 tấn năm 1991 lên 7.532 tấn năm 1996 và 10.406 tấn năm 1998 Lượng thuốc trừ cỏ
Trang 17có xu hướng tăng nhanh và đến nay đã cao hơn thuốc trừ bệnh Đây là con số thống kê theo đường nhập khẩu chính thức
Mạng lưới sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV tăng nhanh và khó kiểm soát Đến năm 2010, cả nước có trên 200 công ty sản xuất kinh doanh thuốc BVTV, có 93 nhà máy, cơ sở sản xuất và 28.750 của hàng, đại lý buôn bán thuốc BVTV Trong khi đó, hệ thống thanh tra BVTV mềm mỏng, yếu, cơ chế hoạt động khó khăn [9]
Bên cạnh đó, tình trạng thuốc nhái, giả, nhập lậu trà lan trên thị trường cũng là vấn đề “nhức nhối” trong vấn đề quản lý và sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam
1.2 Tổng quan về phân bón hóa học
1.2.1 Khái niệm phân bón hóa học
Phân bón hóa học là những loại hóa chất có chứa các nguyên tố dinh dưỡng, được bón cho cây trồng nhằm tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản và độ phì nhiêu của đất [15]
1.2.2 Phân loại phân bón hóa học
Hiện nay, phân bón hóa học có mặt trên thị trường rất đa dạng và có hiệu quả khác nhau
a Phân loại phân bón hóa học theo thành phần các chất chính trong phân bón đối với cây trồng [4]
Theo NĐ 108/2017/ND - CP phân loại như sau như sau:
- Phân bón đa lượng là phân bón trong thành phần chất chính chứa ít nhất một nguyên tố dinh dưỡng đa lượng, bao gồm phân bón đơn, phân bón phức hợp, phân bón hỗn hợp, phân bón khoáng hữu cơ, phân bón khoáng sinh học
- Phân bón trung lượng là phân bón hóa học trong thành phần chất chính chứa ít nhất 01 nguyên tố dinh dưỡng trung lượng, không bao gồm vôi, thạch cao, đá macnơ, đá dolomite ở dạng khai thác tự nhiên chưa qua quá trình xử lý, sản xuất thành phân bón;
- Phân bón vi lượng là phân bón trong thành phần chất chính chứa ít nhất
01 nguyên tố dinh dưỡng vi lượng
Trang 18- Phân bón đất hiểm là phân bón trong thành phần có chứa nguyên tố Scandium (số thứ tự 21) hoặc Yttrium (số thứ tự 39) hoặc một trong các nguyên
tố thuộc dãy Lanthanides (số thứ tự từ số 57-71: Lanthanum, Cerium, Praseodymium, Neodymium, Promethium, Samarium, Europium, Gadolinium, Terbium, Dysprosium, Holmium, Erbium, Thulium, Ytterbium, Lutetium) trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học (bảng tuần hoàn Mendeleev)
- Phân bón cải tạo đất vô cơ là phân bón có tác dụng cải thiện tính chất lý, hóa, sinh học của đất để tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển, được sản xuất từ nguyên liệu chính là các chất vô cơ hoặc hữu cơ tổng hợp
b Phân loại theo chức năng
Phân bón rễ: là các loại phân được bón trực tiếp vào đất hoặc vào nước để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây thông qua bộ rễ
Phân bón lá: là các loại phân bón được tưới hoặc phun trực tiếp vào lá hoặc thân để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua thân lá
Chất cải tạo đất: là chất bón vào đất có tác dụng cải tạo độ phì nhiêu, cải thiện đặc điểm lý tính, hóa tính, sinh tính đất, tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lương nông sản tốt
1.2.3 Quy trình kỹ thuật trong nông nghiệp
Phân đạm
Trong 13 loại dưỡng chất thiết yếu cho cây trồng thì đạm đứng vị trí hàng đầu về lượng hấp thụ và tầm quan trọng cao nhất, chiếm 2 - 3% tổng vật chất khô của cây trồng Tuy nhiên đây lại là loại phân bón dễ thất thoát, đặc biệt qua con đường bay hơi khiến lượng đạm mà cây trồng hấp thụ được chỉ từ 30 - 40% lượng cung cấp Việc sử dụng phân đạm sao cho hiệu quả, tránh lãng phí và ô nhiễm môi trường là quan tâm hàng đầu của tất cả bà con nông dân nói chung và người tiêu dùng nói riêng
Khi đạm và trong cây trồng sẽ được cây trồng tổng hợp để giúp tạo thành các loại protein từ đơn giản đến phức tạp, hay còn gọi là chất thịt, thành phần cơ
Trang 19bản của cơ thể sống Nó tham gia vào cấu tạo của axit nucleic và có vai trò quan trọng trong việc trao đổi chất của cơ thể cây trồng
Ngoài ra, đạm còn là thành phần của diệp lục tố tạo nên màu xanh cho lá cây, đây chính là yếu tố thiết yếu giúp thực vật quang hợp, biến đổi năng lương của ánh sáng để chuyển đổi nước và cacbonic thành đường bột, nuôi sống thế giới động vật
Phân đạm chính là thức ăn chính của cây trồng, giúp cho chồi, cành lá phát triển, lá có kích thước to sẽ tăng khả năng quang hợp từ đó làm tăng năng suất cây trồng
Cách thức bón như sau:
Rắc trực tiếp xuống đất: hình thức này được sử dụng nhiều đối với cây lúa
và cây ngô Sau đó vào từng đợt sinh trưởng và tình trạng lúa và ngô tốt hay xấu
mà rắc thêm nhiều hay ít Tuy nhiên nếu nước trong ruộng bị rò rỉ, không được kiểm soát tốt sẽ gây thất thoát đạm, làm giảm hiệu quả và tác dụng của đạm
Vùi đạm vào gốc đối với một số loại cây trồng rau màu Khi trồng người dân vùi đạm vào gốc rồi phủ đất lên Cách này làm giảm thất thoát đạm, tuy nhiên bón nhiều gây ra hiện tượng tích lũy nitrat trong cây
Rắc trực tiếp lên bề mặt luống cây sau khi trời mưa hoặc người dân dùng vòi phun tưới ẩm lên mặt luống làm cho đạm tan Đây là phương pháp đỡ tốn sức lao động và rất nhanh, nhưng đây cũng là phương thức mất đi lượng đạm lớn do bốc hơi hoặc do rửa trôi dễ gây ô nhiễm đất, nước, không khí và lượng đạm mà cây trồng hấp thụ được rất ít
Ngoài ra, người dân thường hòa đạm vào nước sau đó dùng ôroa hoặc gáo để tưới cho rau hoặc cây trồng Việc này giúp rễ cây dễ hấp thụ hơn nhưng mất nhiều thời gian và nhân công lao động, khó đảm bảo sự đồng đều khi tưới
Tùy thuộc vào từng loại cây trồng và mức độ sinh trưởng của cây mà liều lượng bón và thời điểm bón phân đạm cũng khác nhau Lúa thường bón ít nhất 2 lần/vụ, tùy thuộc sự phát triển mà có thể 3 đến 4 lần, ngô, mía cũng tương tự như vậy Còn đối với cây rau màu thường bón đạm khi cây còi cọc, lá vàng,
Trang 20chậm phát triển Thời tiết cũng ảnh hưởng tới số lần bón đạm, mưa nhiều làm rửa trôi dinh dưỡng trong đất, người dân thường bổ sung đạm cho cây sau khi mưa xong Ngoài ra còn một số hộ trồng rau cũng sử dụng phân đạm sát với thời điểm thu hoạch để rau xanh hơn, non hơn, dễ tiêu thụ Việc sử dụng đạm trong mỗi lần bón của các hộ chỉ mang tính chất tương đối, lượng đạm chủ yếu được xác định bằng kinh nghiệm của bản thân và hỏi người khác
Phân kali và phân lân
Ngoài phân đạm thì phân kali và phân lân là 2 loại phân không thể thiếu đối với các loại cây trồng
Phân lân tham gia vào quá trình hình thành mầm non, đẻ nhánh, phân hoa, đậu quả, tăng cường sự vận chuyển đường và tích lũy bột Theo điều tra, loại phân này được sử dụng cho tất cả các loại cây hoa màu Lân có thể sử dụng để bón lót và bón thúc, có thể bón cùng với đạm bón lót trước khi trồng Ngòai ra, phân lân còn dùng để ủ kết hợp với phân chuồng để bón lót cho lúa và mía Theo cách này ta thấy, phân lân ủ với phân chuồng tốt hơn là bón trực tiếp cho cây trồng, giúp bổ sung lân cho phân, nâng cao dinh dưỡng trong phân chuồng
và giúp được phân chuồng tránh được hiện tượng mất đạm trong khi ủ Lân cũng dùng để bón thúc cho cây trồng trong giai đoạn phát triển với cách bón trực tiếp
Phân kali thường được sử dụng nhiều trên các loại cây trồng, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của rễ, ra hoa kết quả sớm, kích thích quá trình quang hợp tạo chất đường bột trong cây nên người ta thường gắn liền kali khi trồng cây lấy quả Vì vậy người nông dân thường bón nhiều clorua kali vào lúc cây hình thành nụ và hoa Tập quán sử dụng tro bếp kết hợp phân chuồng cũng là nguồn cung cấp kali cho cây trồng, đây là nguồn cung cấp kali rất hữu ích, mang lại hiệu quả cao
Trang 211.2.4 Vai trò của phân bón hóa học
Phân bón hóa học có vai trò rất quan trọng và không thể thiếu được đối với sản xuất nông nghiệp, là cơ sở cho sản xuất nông nghiệp thâm canh đạt hiệu quả cao và bền vững
- Vai trò của phân bón hóa học đối với năng suất và sản lượng cây trồng: phân bón hóa học cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sinh trưởng và phát triển iúp tăng năng suất cây trồng, giúp nông dân thu được lợi nhuân cao hơn do sản xuất có hiệu quả [14]
- Đối với chất lượng sản phẩm: Nhờ bộ rễ, cây trồng hút các chất dinh dưỡng có trong đất và phân bón để cung cấp các nguyên tố cần thiết cho mọi hoạt động sống, tạo nên năng suất và chất lượng sản phẩm
Phân kali: có nhiều ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm của cây trồng,
đặc biệt có ảnh hưởng tới hàm lượng đường, bột và chất lượng sợi Theo kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, bón phân kali làm tăng tỷ lệ bột, giảm mạnh hàm lượng HCN (axit xianhidric) trong củ sắn; tăng hàm lượng và năng suất protein, năng suất dầu trong các hạt cây đậu đỗ; tăng tỷ lệ đường trong mía, cam, dứa, tăng tỷ lệ tananh và chất hòa tan trong chè; tăng tỷ lệ đường và nhựa thơm trong lá thuốc lá, giảm chất xơ trong cải bắp, [5]
Phân lân: tham gia vào quá trình hình thành mầm non, đẻ nhánh, ra hoa
kết quả, đồng thời tăng cường sự vận chuyển đường và bột tích lũy về dạng hoạt động Lân tăng cường khả năng chống lạnh, chịu nóng cho cây trồng, giúp cây chịu được đất chua hoặc kiềm Lân làm tăng rõ phẩm chất các loại rau, cỏ làm thức ăn gia súc, và chất lượng hạt giống
Phân đạm: làm tăng rõ hàm lượng protein và caroten trong sản phẩm, và
làm hàm lượng xenlulozơ giảm xuống
Trang 22Bảng 1.1 Bón phân đạm làm tăng năng suất và hàm lượng protein trong
hạt ngô Lượng đạm bón
(kg/ha)
Năng suất hạt (tấn/ha)
(Nguồn: Nguyễn Như Hà và Lê Thị Bích Đào, 2010)
- Vi lượng: vai trò chủ yếu là hình thành và kích thích hoạt động chủ yếu của men trong cây, xúc tiến, điều tiết toàn bộ các hoạt động sống trong cây như: quang hợp, hô hấp, hút khoáng, hình thành, chuyển hóa và vận chuyển các hợp chất hữu cơ trong cây Ví dụ: khi thiếu S thì khả năng hình thành protit bị giảm, hàm lượng chất đạm hòa tan trong cây tăng lên
Vậy: bón phân hóa học cân đối và hợp lý cho cây trồng không chỉ làm tăng năng suất mà còn tăng chất lượng sản phẩm về hàm lượng các chất khoáng, protein, đường và vitamin
1.2.5 Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón hóa học ở Việt Nam
Xu hướng phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay là giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, đồng thời đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, dù đang cố đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp, nhưng hiện tại và trong tương lai gàn nước ta vẫn đang là một nước nông nghiệp Vì vậy, an toàn lương thực là điềun kiện tiên quyết để ổn định xã hội và tạo tiền đề phát triển đất nước Do đó, sản xuất nông nghiệp vẫn đang được nhà nước rất quan tâm
Trong những năm gần đây diện tích đất canh tác của nước ta không những không tăng lên mà còn có xu hướng giảm đi bởi hai nguyên nhân chính:
Thứ nhất, khả năng tăng thêm diện tích đất canh tác của nước ta là không đáng kể
Thứ hai, cùng với xu hướng chuyển dịch kinh tế, quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa đất nước thì một diện tích khá lớn đất nông nghiệp đã được chuyển sang đất sản xuất công nghiệp, đất xây dựng và đất nhà ở Đó là chưa kể đến
Trang 23một diện tích không nhỏ đất nông nghiệp bị thoái hóa và mất dần khả năng sản xuất do nhiều lý do khác nhau
Trong khi diện tích đất canh tác có xu hướng giảm đi thì nhu cầu lương thực, thực phẩm lại không ngừng tăng do: dân số tăng nhanh, nhu cầu nông sản xuất khẩu ngày càng lớn iải pháp đúng đắn và hợp lý nhất là thâm canh và sử dụng phân bón Trong quá trình này nông nghiệp nước ta bắt buộc phải chuyển
từ một nền nông nghiệp truyền thống “chủ yếu dựa vào đất” sang một nền nông nghiệp thâm canh “dựa vào phân bón” [7]
Lượng phân bón hóa học sử dụng năm 1985 - 2007 ở Việt Nam được tóm tắt ở bảng 1.2:
Bảng 1.2: Lượng phân bón vô cơ được sử dụng ở Việt Nam qua các năm
Xét về tỷ lệ sử dụng phân bón hóa học cho các nhóm cây trồng khác nhau cho thấy tỷ lệ phân bón hóa học sử dụng cho cây lúa chiếm cao nhất đạt trên 65%, các cây trồng công nghiệp lâu năm chiếm 15%, ngô khoảng 9%, còn lại là cây trồng khác Tuy nhiên so với các nước trong khu vực và trên thế giới, lượng phân bón sử dụng trên một đơn vị diện tích gieo trồng ở nước ta vẫn còn thấp, năm cao nhất chỉ mới đạt khoảng 195kg NPK [11]
Trang 241.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV và phân bón hóa học
1.3.1 Ảnh hưởng của thuốc BVTV
Về cơ bản thuốc BVTV được sử dụng để bảo vệ vụ mùa chống lại sâu bệnh
và cỏ dại, nhưng do sử dụng lạm dụng và không đúng quy trình và liều lượng sử dụng đã mang lại ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, con người và sinh vật
- Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường:
Môi trường thành phần như đất, nước, không khí là những môi trường chính có tương tác và tương hỗ lẫn nhau Sự ô nhiễm của môi trường này sẽ gây
ô nhiễm đến môi trường kia Và các thuốc trừ sâu khi phun rải lên nông sản, lúa… chịu tác động của nhiều yếu tố môi trường làm giảm hiệu lực và thất thoát Một phần thuốc bị phân hủy bởi các yếu tố vô sinh và các yếu tố sinh học và đi vào môi trường, một phần bị tồn lưu trong cơ thể của sinh vật, sâu hại
+ Môi trường đất
Đất canh tác là nơi tập trung nhiều dư lượng thuốc BVTV Đất nhận thuốc BVTV từ các nguồn khác nhau.Tồn lượng thuốc BVTV trong đất đã để lại các tác hại đáng kể trong môi trường Thuốc BVTV đi vào đất do các nguồn: Phun
xử lý đất, các hạt thuốc BVTV rơi vào đất, theo mưa lũ, theo xác sinh vật đất Lượng thuốc BVTV tồn dư trong đất gây hại đến sinh vật đất (các sinh vật làm nhiệm vụ phân hủy, chuyển hóa chất hữu cơ thành chất khoáng đơn giản cần cho dinh dưỡng cây trồng) là một cách gián tiếp tác động tiêu cực tới cây trồng
Theo kết quả điều tra, thống kê về các điểm tồn lưu hóa chất BVTV từ năm
2007 đến năm 2009 đã phát hiện 1.153 khu vực gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn 35 tỉnh, thành phố Trong số này, có khoảng 864 khu vực môi trường đất bị ô nhiễm do hóa chất BVTV tồn lưu trên địa bàn 17 tỉnh, thành phố và 289 kho hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trên địa bàn 35 tỉnh, thành phố Trong đó, 189 khu vực bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng và ô nhiễm nghiêm trọng, 87 khu vực bị ô nhiễm và 588 khu vực đất có ô nhiễm hóa chất BVTV tồn lưu nhưng vẫn chưa đánh giá chi tiết mức độ ô nhiễm
Trang 25+ Môi trường nước:
Thuốc BVTV trong nước có thể tồn tại bền vững và duy trì được đặc tính lý hóa của chúng trong khi di chuyển và phân bố trong môi trường nước Các chất bền vững có thể xâm nhập vào môi trường nước khi nông dân đổ thuốc thừa hoặc tráng rửa bình phun xuống ao, kênh mương Hoặc phun thuốc BVTV cho cây trồng gần mép nước Hoặc cũng có thể từ môi trường đất qua quá trình rò rỉ, xói mòn, rửa trôi Hoặc từ không khí bị ô nhiễm qua hiện tượng mưa và sương mù
+ Môi trường không khí:
Thuốc BVTV có nhiều loại, trong đó, có một số loại có thể bay hơi sau khi phun Tuy nhiên có ít bằng chứng về sự tiếp xúc với thuốc BVTV trong không khí gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên sức khỏe con người trừ những nơi mà thuốc BVTV được sử dụng trong những khu vực quây kín, thông khí không được thông thoáng
- Ảnh hưởng đến con người:
Sử dụng thuốc BVTV với nồng độ cao, số lượng lớn, không tuân theo liều lượng hướng dẫn và thời gian cách ly không đảm bảo làm cho dư lượng thuốc trong sản phẩm lớn, gây ảnh hưởng tới sức khỏe người sử dụng và người tiêu dùng
- Ảnh hưởng đến hệ sinh thái:
Thuốc BVTV làm đảo lộn hệ sinh thái nông nghiệp là nguyên nhân chủ yếu gây lên những đợt dịch sâu bệnh trầm trọng trên cây trồng những năm sau
1.3.2 Ảnh hưởng của phân bón hóa học
- Ảnh hưởng tích cực đến môi trường tự nhiên:
Trong trồng trọt cần bón phân hóa học cho cây trồng nhằm đạt năng suất cây trồng cao thỏa đáng với chất lượng tốt, hiệu quả sản xuất cao, đồng thời để
ổn định, bảo vệ được đất trồng Để bón phân hóa học cân đối, người trồng phải tuân thủ nguyên tắc bón phân hay định luật sử dụng phân bón Bản chất của nguyên tắc này là: trả lại các chất dinh dưỡng cây trồng lấy đi theo sản phẩm thu hoạch tránh làm kiệt quệ đất, khắc phục yếu tố hạn chế của độ phì nhiêu đất,
Trang 26tránh sự mất cân đối của đất trong cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Các nguyên tắc sử dụng phân bón này vừa có tác dụng bảo vệ môi trường vừa giảm thiểu khả năng ảnh hưởng xấu của sử dụng phân bón sản xuất nông nghiệp tới
môi trường
Bón phân (đặc biệt là bón cân đối) trong trồng trọt tạo cho cây trồng phát triển nhanh và tốt, do đó che phủ đất tốt hơn, hạn chế quá trình xói mòn, rửa trôi đất
- Ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và con người:
Để tăng năng suất cho cây trồng con người đã dùng nhiều loại phân bón hóa học trong nông nghiệp Trong quá trình sử dụng các chất dư thừa hoặc không được cây hấp thụ đã ảnh hưởng tới chất lượng đất và gây ô nhiễm đất, đồng thời gián tiếp gây ô nhiễm nước và không khí
vực đó bị phú dưỡng, nước ngầm thì bị ô nhiễm và chứa các kim loại nặng
+ Môi trường không khí:
Quá trình phản ứng nitrat hóa biến NO3-
trong đất thành NOx, N2, … hoặc khi bón phân vào ngày nắng thì NH4-
biến thành NH3 bay vào khí quyển gây mùi hôi thối trong không khí và góp phần giữ nhiệt trên bề mặt trái đất, tham gia vào sự làm nóng lên trên toàn cầu một cách tích cực
Quá trình phân huỷ các chất vô cơ trong phân hóa học tạo ra các khí nhà kính Các quá trình phân hủy hảo khí tạo ra CO2, phân hủy kỵ khí tạo ra các khí như CH4, H2S, NOx, SO2, … đều là những khí nhà kính mạnh
+ Môi trường đất:
Phân bón bị rửa trôi theo chiều dọc xuống tầng nước ngầm chủ yếu là phân đạm vì các loại phân lân và kali dễ dàng được giữ lại trong keo đất Ngoài
Trang 27phân đạm đi vào nguồn nước ngầm còn có các loại hóa chất cải tạo đất như vôi, thạch cao, hợp chất lưu huỳnh, Nếu như phân đạm làm tăng nồng độ nitrat trong nước ngầm thì các loại hóa chất cải tạo đất làm tăng độ mặn, độ cứng nguồn nước Phân bón trong quá trình bảo quản hoặc bón vãi trên bề mặt gây ô nhiễm không khí do bị nhiệt làm bay hơi khí amoniac có mùi khai, là hợp chất độc hại cho người và động vật Mức độ gây ô nhiễm không khí trường hợp này nhỏ, hẹp không đáng kể so với mức độ gây ô nhiễm của các nhà máy sản xuất phân đạm nếu như không xử lý triệt để
Tăng hàm lượng kim loại nặng trong đất Ví dụ: bón nhiều phân vi lượng
sẽ tích lũy trong đất nhiều kim loại nặng như Cu, Zn, Mn, …nếu bón nhiều phân lân làm đất tích nhiều Cd
+ Ảnh hưởng đến con người:
Đạm dư thừa bị chuyển thành dạng Nitrat (NO3-) hoặc Nitrit (NO2
-) là những dạng gây độc trực tiếp cho các động vật thuỷ sinh, gián tiếp cho các động vật trên cạn do sử dụng nguồn nước Đặc biệt gây hại cho sức khoẻ con người thông qua việc sử dụng các nguồn nước hoặc các sản phẩm trồng trọt, nhất là các loại rau quả ăn tươi có hàm lượng dư thừa Nitrat
1.4 Một số nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học
1.4.1 Đối với thuốc BVTV
Đã có khá nhiều nghiên cứu liên quan tới ảnh hưởng của thuốc BVTV cũng như bao bì đựng thuốc BVTV tới môi trường và sức khỏe con người Trong đó có nghiên cứu sau:Luận văn Thực trạng dư lượng thuốc bảo
Nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với sức khỏe con người là
rất cần thiết Năm 2006, một nghiên cứu về “Khả năng, mức độ tích tụ thuốc BVTV trong cơ thể người khi tiếp xúc với thuốc” đã được Phạm Bích Ngân và
Đinh Xuân Thắng tiến hành Phương pháp y-sinh học đã sử dụng trong phương pháp này Máu được lấy ở tĩnh mạch để tiến hành phân tích men Cholinesterase trong huyết tương (chỉ tiêu để xem xét khả năng nhiễm thuốc BVTV gốc lân
Trang 28hữu cơ) đối với người phun thuốc Trên cơ sở đó để đánh giá khả năng nhiễm độc thuốc BVTV khi tiếp xúc, hít thở và các triệu chứng bệnh tật đối với con người [10]
1.4.2 Đối với phân bón hóa học
Có nhiều nghiên cứu về phân bón hóa học đã được tiến hành, nhằm đóng góp thiết thực cho sử dụng hiệu quả hợp lý các loại phân Một số kết quả nghiên cứu như sau:
Trong các năm 1991 - 1992, đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng tương hỗ giữa N-K trên một số loại đất trồng trọt ở miền Nam” do Công Doãn Sắt và Phạm
Văn Biên thực hiện kết quả đã cho thấy 2 nguyên tố dinh dưỡng đa lượng (N, K) mỗi quan hệ tương hỗ giữa Kali và đạm khác nhau ở các nhóm đất [2]
Đề tài “Nghiên cứu chế độ phân bón cân đối cho 2 cơ cấu cây trồng chính lúa - lúa - lạc và lúa - lúa - ngô trên đất xám vùng Đông Nam Bộ” do Đỗ
Trung Bình, Cồ Khắc Sơn, Đỗ Đình Đan (2005) tiến hành đã chứng minh bón phân cân đối, hợp lý và cày vùi rơm rạ trên hai cơ cấu cây hàng năm ở Đông Nam Bộ vừa làm tăng hiệu quả, vừa cải thiện được độ phì nhiêu đất [3]
Trang 29C ƢƠN II MỤC TIÊU, P M VI, NỘI DUN VÀ P ƢƠN P ÁP
N IÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Đề tài đƣợc thực hiện nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá đƣợc hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vât và phân bón hóa
học trong sản xuất nông nghiệp ở xã Tân Long, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An
- Đánh giá đƣợc thực trạng buôn bán và quản lý sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật và phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất đƣợc các giải pháp sử dụng hợp lý thuốc bảo vệ thực vật và phân
bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp tại khu vực nghiên cứu
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Thực hiện đề tài tại địa bàn 7 xóm thuộc xã Tân
Long, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An bao gồm: xóm Tân Thành, xóm Tân Hồ,
xóm Tân Thắng, xóm Tân Lập, xóm Tân Long, xóm Tân Minh, xóm Tân Phúc
Phạm vi thời gian: từ 8/1/2018 đến 7/5/2018
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân
bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp ở xã Tân Long, huyện Tân Kỳ, tỉnh
Nghệ An
Hiện trạng sản xuất nông nghiệp của xã Tân Long
Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp tại xã
Hiện trạng sử dụng phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp tại xã
- Nghiên cứu đánh giá công tác buôn bán và quản lý thuốc bảo vệ thực vật
và phân bón hóa học tại khu vực nghiên cứu
Thực trạng kinh doanh, quản lý sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn xã
Thực trạng kinh doanh, quản lý sử dụng phân bón hóa học trên địa bàn xã
Trang 30- Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến con người và môi trường tại khu vực nghiên cứu
Ảnh hưởng của hoạt động sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp
Ảnh hưởng của phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học tại khu vực nghiên cứu
Giải pháp chung
Giải pháp đối với thuốc BVTV
Đối với phân bón hóa học
Phương pháp xử lý bao bì thuốc BVTV và phân bón hóa học giúp giữ gìn và bảo vệ môi trường
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Kế thừa tài liệu là một trong những phương pháp phổ biến, phương pháp này nhằm giảm tải công việc và tiết kiệm thời gian trong quá trình nghiên cứu Dựa trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các nguồn tài liệu ở dạng văn bản, hình ảnh, thông tin trực tiếp mang tính khách quan Những tài liệu được thu thập và phục
vụ cho quá trình nghiên cứu khóa luận cụ thể như sau:
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Tân Long, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An
- Tài liệu có liên quan về tình hình phân phối, sử dụng và quản lý thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trong địa bàn xã
- Các bài báo cáo khoa học, khóa luận và công trình nghiên cứu có liên quan đến tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học
- Tài liệu nternet, các giáo trình liên quan, sách báo…
2.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Khảo sát thực địa là một trong những phương pháp quan trọng để tiến hành nghiên cứu và hoàn thành khóa luận Đây là phương pháp giúp khảo sát
Trang 31thực tế, chính xác và khách quan đối tượng cần nghiên cứu, quá trình khảo sát thực địa tại khu vực xã Tân Long cụ thể là:
Chia khu vực nghiên cứu làm 3 tuyến để thuận tiện cho việc khảo sát:
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ quá trình khảo sát thực địa tại địa bàn xã Tân Long
Khi khảo sát thực địa lần lượt 3 tuyến với các nội dung như sau:
Tiến hành khảo sát tình hình sử dụng, quản lý thuốc BVTV và phân bón hóa học trên khu vực nghiên cứu:
- Khảo sát, điều tra quy trình sử dụng, liều lượng của người dân khi sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học cho cây trồng trên thực địa
- Chụp ảnh: hình ảnh người dân khi sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học, bao bì sau sử dụng… và một số hình ảnh khác
- Quan sát cách người dân xử lý bao bì sau sử dụng và số lượng bao bì rải rác trên các kênh, mương rãnh
2.4.3 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này nhằm đánh giá sự quan tâm, hiểu biết của các đối tượng trong việc sử dụng và quản lý thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học, nhận thức về tác động tích cực và tiêu cực của vấn đề nghiên cứu
Khóa luận sử dụng 3 mẫu câu hỏi có cấu trúc đã chuẩn bị
Xã Tân Long
Tuyến 1
xóm Tân Thành (ngày 2/2/2018 )
xóm Tân Hồ (ngày 3/2/2018 )
xóm Tân Long (ngày 4/2/2018)
Tuyến 2
xóm Tân Lập (ngày 5/2/2018)
xóm Tân Thắng (ngày 6/2/2018)
Tuyến 3
xóm Tân Minh (ngày 7, 8/2/2018) xóm Tân Phúc (ngày 8, 9/2/2018)
Trang 32Tiến hành phỏng vấn đối với các đối tượng sau:
Mẫu 1: đối tượng là cán bộ xã, tiến hành phỏng vấn 02 phiếu
Cán bộ xã, người có trình độ chuyên môn chính, phỏng vấn nhằm tham khảo ý kiến về tình hình sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp Câu hỏi phỏng vấn tập trung vào một số nội dung sau:
Loại thuốc BVTV và phân bón hóa học người dân thường sử dụng?
Số lượng BVTV và phân bón hóa học người dân sử dụng trong 1 năm?
Lượng phân bón năm mới so với năm cũ như thế nào?
Công tác tuyên truyền, tập huấn cho người dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trên địa bàn xã
Mẫu 2: đối tượng phỏng vấn là chủ cửa hàng kinh doanh trên địa bàn xã, tiến hành phỏng vấn 4 phiếu
Hiện nay trên địa bàn xã có 4 cửa hàng kinh doanh thuốc BVTV và phân bón hóa học nằm rải rác trên địa bàn xã, trong đó có 3 cửa hàng do cá nhân đứng
ra kinh doanh và 1 cửa hàng do HTX quản lý Câu hỏi phỏng vấn tập trung vào một số nội dung như sau:
Nguồn nhập thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học?
Những loại thuốc BVTV và phân bón hóa học bán chạy tại cửa hàng?
phỏng vấn tập trung vào một số nội dung như sau:
Diện tích canh tác đất nông nghiệp của hộ gia đình?
Loại cây trồng chủ yếu?
Trang 33 Loại thuốc BVTV và phân bón thường dùng (liều lượng, cách sử dụng,
thời điểm sử dụng)?
Ảnh hưởng của thuốc BVTV và phân bón hóa học?
Cách xử lý bao bì, vỏ đựng sau sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học?
Năng suất khi sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học?
Nhìn chung, các thông tin thu thập được trong quá trình phỏng vấn bao gồm các thông tin về người trực tiếp sử dụng thuốc BVTV, phân bón hóa học,
về cách sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học của người dân, ảnh hưởng của thuốc BVTV và phân bón hóa học đối với người dân và môi trường và một
số thông tin khác liên quan tới thuốc BVTV và phân bón hóa học
2.4.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Tổng hợp các số liệu ở phiếu phỏng vấn, xử lý các thông tin, tài liệu thu thập được bằng phần mềm Exel (làm biểu đồ để thấy rõ sự thay đổi, )
Báo cáo khóa luận được hoàn thành bằng phần mềm World
Trang 34C ƯƠN III IỀU I N TỰ N IÊN - IN TẾ - XÃ ỘI
CỦ U VỰC N IÊN CỨU 3.1 iều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Tân Long là xã nằm ở phía Đông Nam của huyện Tân Kỳ, cách trung tâm huyện 5 km, có tổng diện tích là 2764,1 ha và số dân năm 2017 là 2.739 người thuộc 730 hộ dân toàn xã Có vị trí tiếp giáp như sau:
Phía Bắc: xã Nghĩa Hoàn
Phía Nam giáp: xã Kỳ Tân
Phía Tây giáp: xã Nghĩa Phúc
Phía Đông giáp: xã Nghĩa Dũng
Địa hình, địa mạo
Xã Tân Long là xã có địa hình tương đối bằng phẳng, cốt đất trung bình chênh lệch không quá 0,5 – 1,0m Địa hình nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng của đồng bằng châu thổ Sông Hồng Nhìn chung địa hình của xã tương đối thuận lợi cho quá trình sản xuất nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng
Khí hậu
Mang đặc trưng khí hậu của tỉnh Nghệ An, xã Tân Long nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa với một mùa nóng ẩm, lượng mưa lớn (từ tháng 4 đến tháng 10) và một mùa khô lạnh, ít mưa (từ tháng
11 đến tháng 3 năm sau) những đặc điểm chính của khí hậu như sau:
- Chế độ nhiệt:Tân Long nằm trong khu vực có nền nhiệt cao, nhiệt độ trung bình khoảng 23C - 24C, mùa đông nhiệt độ trung bình là 15C - 20C, mùa hè nhiệt độ trung bình là 29C - 33C, tháng nóng nhất là tháng 6, 7( 35C - 38C)
- Gió, bão: xã Tân Long nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chủ đạo là: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam ió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thường kèm theo nền nhiệt độ thấp gây lạnh, rét ió mùa Đông Nam xuất hiện trung bình từ tháng 4 tới đầu tháng
Trang 359 thường kèm theo nắng, khô nóng, độ ẩm không khí thấp, mỗi đợt kéo dài từ 10
12, 1 và tháng 2
Thủy văn
Trên địa bàn xã có Sông Hiếu và các tuyến sông nội đồng phân bố đều khắp trên địa bàn xã theo hình xương cá, rất thuận lợi cho việc tưới tiêu, sinh hoạt dân sinh Ngoài ra sông ngòi còn là đường giao thông thủy thuận lợi, là nơi sản xuất cung cấp thủy sản dồi dào
Các nguồn tài nguyên
- Tài nguyên đất
Căn cứ vào tính chất nông hóa thổ nhưỡng, đất đai của xã được chia thành
3 loại chính sau:
Đất phù sa được bồi hàng năm: phân bố chủ yếu ở khu vực phía Đông của
xã Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình khá tơi xốp Độ dày tầng đất trên 100
cm, do phân bố ở chân vàn và thường bị ngập nước nên có tính glây yếu Do được bồi tụ hàng năm sau bão lũ nên hàm lượng chất dinh dưỡng của đất khá cao thích hợp với nhiều loại cây trồng đặc biệt là cây lương thực và cây màu
Đất phù sa không được bồi tụ: chiếm 2/3 diện tích của xã Phân bố hầu hết ở khắp trên địa bàn Đất được hình thành do quá trình bồi lắng của các sông trên địa bàn Đất có tầng dày trên 100 cm, thành phần cơ giới trung bình đến thịt
Trang 36nhẹ Hàm lượng các chất hữu cơ trong đất ở mức trung bình Đất phù hợp cho trồng cây lúa và cây màu lương thực
Đất phù sa úng nước bị glây: có diện tích tương đối ít, phân bố dọc hệ thống kênh đào và một số vùng trũng của xã Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình Do phân bố ở khu vực vùng trững của xã nên có hiện tượng glây hóa Hàm lượng các chất dinh dưỡng khá cao Diện tích đất phù sa ngập úng hiện chủ yếu đang được trồng lúa và nuôi tôm, cá
Nhìn chung đất đai của xã khá thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp đặc biệt phát triển các cây lương thực, cây màu ngắn ngày và cây công nghiệp ngắn ngày
- Tài nguyên nước
Nước mặt: xã Tân Long có nguồn tài nguyên nước mặt rất phong phú và dồi dào, hệ thống sông ngòi dày đặc, với diện tích lưu vực sông lớn như Sông Hiếu Nguồn nước mặt mang lại nhiều ích lớn trong phát triển kinh tế, sinh hoạt hằng ngày Tuy nhiên gian gần đây hầu hết các địa phương đang diễn ra tình trạng nước thải, nước rác chưa qua xử lý đã xả trực tiếp ra nguồn nước, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt
Nước ngầm: tài nguyên nước ngầm rất phong phú tầng khai thác chủ yếu sâu từ 6 - 10m, chủ yếu là giếng đào nhằm cung cấp nước sinh hoạt cho các hộ gia đình và tập thể
Thực trạng môi trường
Song song với những thành tựu đạt được thì mức độ ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp và nông thôn đang ở mức cảnh báo và cần được hoạch định chính sách kinh tế nông nghiệp cùng toàn dân nâng cao nhận thức, dồn sức tham gia ngăn ngừa ô nhiễm để bảo vệ môi trường
Do tập quán nuôi trâu bò chăn thả đã tạo ra một lượng lớn phân hữu cơ phát tán trong tự nhiên, tình trạng xả nước thải, đổ rác vào lòng sông, kênh mương diễn ra phổ biến ở khắp địa bàn toàn xã gây ô nhiễm trực tiếp và nghiêm
Trang 37trọng đến môi trường nước, không khí Đây chính là nguyên nhân gây các bệnh
về đường hô hấp và tiêu hóa nếu không có các biện pháp phòng trừ hữu hiệu
Mức độ ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn không chỉ điểm qua các làng nghề, chất thải chăn nuôi gia súc gia cầm, mà ô nhiễm đó, theo thống kê của cục bảo vệ thực vật hiện nay lượng thuốc BVTV sử dụng không đúng nguyên tắc khoa học, sai chỉ dẫn của nhà sản xuất và cán bộ kỹ thuật cũng đang gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
3.2 iều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
ký kết hôn ký cam kết không vi phạm kế hoạch hóa gia đình
- Tuyên truyền, vận động lồng ghép cung cấp dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe sinh sản, ký cam kết thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình
Lao động, việc làm và thu nhập
Trong thời gian gần đây ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn xã
có chiều hướng tăng nhanh, dịch vụ khu vực chợ được mở rộng, đa dạng các hình thức kinh doanh thu hút nhiều lao động Lao động trên địa bàn xã, lao động
đi làm xa trong và ngoài nước có thu nhập ổn định góp phần nâng cao thu nhập kinh tế hộ gia đình và chiếm tỷ trọng trong tổng giá trị thu nhập toàn xã
3.2.2 Kinh tế
Trong cơ cấu kinh tế năm 2017 của xã thì sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ 73,7%, công nghiệp – xây dựng chiếm 8%, thương mại dịch vụ chiếm 18,8% Tổng giá trị thu nhập năm 2017 đạt 57,6 tỷ đồng Tăng 5,3 tỷ so với năm 2016
Trang 38 Về sản xuất nông nghiệp
Giá trị gia tăng bình quân đầu người theo giá hiện hành năm 2017 đạt 21 triệu người, tăng 1,9 triệu đồng/người/năm so với năm 2016 (năm 2016 là 19,1 triệu đồng)
Năm 2017 giá trị ngành sản xuất nông nghiệp đạt 42,3 tỷ đồng tăng 3,7 tỷ so với năm 2016 Và nông nghiệp là ngành chủ đạo của xã Tân Long
Về kinh tế công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
Khu vực kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển, quy mô chủ yếu là các cơ sở sản xuất nhỏ của hô gia đình Trong đó tập trung chủ yếu là các nghề tiểu thủ công nghiệp như xay xát, rèn, mộc, sửa chửa máy móc, nông cụ,… đáp ứng nhu cầu của người dân và thu hút hàng trăm lao động tại chỗ của xã
Kinh tế thương mại – dịch vụ
Hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn xã chủ yếu do tư thương kinh doanh dọc đường 48 và trục đường liên xã, chợ trung tâm và tại gia Dịch vụ vận tải phát triển nhanh nhằm đáp ứng yêu cầu lưu thông hàng hóa Dịch vụ bưu chính viễn thông nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin liên lạc của nhân dân trong xã
3.2.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
Giao thông
Hệ thống giao thông đường bộ của xã tương đối phát triển, tổng chiều dài đường giao thông liên xã là 16km, được nhựa hóa 100% Đường trục xóm, liên xóm với tổng chiều dài là 14,2 km (cứng hóa 65% = 9,32 km) Đường ngõ xóm với tổng chiều dài là 55,7 km (cứng hóa 50% = 27,85 km)
Nhìn chung hệ thống giao thông của xã khá phát triển đáp ứng tổng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong những năm trước mắt nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Thủy lợi
Toàn xã thường xuyên tổ chức nạo vét kênh mương tưới tiêu, sửa đắp các
Trang 39đang từng bước hoàn thành Hệ thống các công trình thủy lợi được củng cố và xây dựng mới đảm bảo phục vụ tưới tiêu, phòng chống ngập úng, phục vụ sinh hoạt cho nhân dân Hệ thống kênh mương tưới là 24,55 km, trong đó đã xây kiên
cố bê tông là 11,5km đạt 46,8% Xã có 02 trạm bơm đảm bảo nhu cầu cấp nước sản xuất Nhìn chung hệ thống thủy lợi của xã đáp ứng tốt yêu cầu, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tăng hệ số sử dụng đất
Giáo dục - đào tạo
Công tác giáo dục chuyển biến mạnh, cơ sở vật chất, trang thiết bị tiếp tục được bổ sung xây dựng, đáp ứng cơ bản về dạy và học Hiện tại địa phương đã
và đang duy trì tốt phong trào xã hội hóa giáo dục, chất lượng dạy học và học được nâng cao Công tác xã hội hóa giáo dục đã đạt được nhiều tiến bộ, bước đầu đã huy động được nhân dân tham gia phát triển giáo dục với nhiều hình thức phong phú như xây dựng quỹ khuyến học, khuyến tài, học bổng cho con em hộ nghèo, Đến nay xã có 1 Trường tiểu học, 2 Trường mầm non đươc xây dựng kiên cố đáp ứng cho nhu cầu dạy và học Trường mầm non Tân Long, tiểu học Hoàn Long tiếp tục giữ vững danh hiệu trường đạt chuẩn quốc gia
Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân
Chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao, đã làm tốt công tác khám và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, tuyên truyền, tổ chức thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế trên địa bàn Làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh, công tác y tế công cộng, vệ sinh môi trường iữ vững danh hiệu trạm y tế đạt chuẩn quốc gia
Phối hợp với 2 trường tiểu học Hoàn Long và mầm non Tân Long khám sức khỏe cho các cháu tiểu học đạt 100% và mầm non đạt 97%, tổ chức cho các cháu dưới 6 tuổi uống Vitaminn A đạt 100% và cấp thuốc cho các cụ 80 tuổi trở lên đạt 100%
Năm 2017 đã thực hiện được 1630 lượt khám chữa bệnh