- Đánh giá đặc điểm dòng chảy ven thây cây và lượng nước mưa qua tán lá của 2 trạng thái rừng chính : Rừng hỗn loài và rừng thuần loài.. Đặc điểm thành phần thủy văn của các trạng thái r
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp này tôi đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều các cá nhân và tập thể Trước hết, tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Bùi Xuân Dũng là người trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn khoa học trong quá trình nghiên cứu đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến quý báu của thầy cùng các thầy giáo, cô giáo, bạn bè và sự động viên quan tâm của gia đình
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học Lâm Nghiệp, Ban quản lý khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học núi Luốt, Trung tâm thí nghiệm thực hành, các thầy giáo, cô giáo khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường là các cá nhân, đơn vị đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thu thập số liệu, đặc biệt tôi muốn tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đến bố mẹ đã động viên,chăm sóc
và giúp đỡ tôi Cảm ơn bạn bè, anh chị em đã cùng tôi trực tiếp lắp đặt mô hình điều tra thực địa để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Với thời gian nghiên cứu hạn chế, sự hiểu biết có hạn, khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy giáo,cô giáo cùng với những người quan tâm để nội dung khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2017
Sinh viên thực hiện Trần Thị Nhài
Trang 2TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1 Tên đề tài khoá luận: “Đánh giá đặc điểm thủy văn của một số trạng thái rừng tại Núi Luốt - Xuân Mai - Hà Nội”
2 Giáo viên hướng dẫn: TS Bùi Xuân Dũng
3 Sinh viên thực hiện: Trần Thị Nhài
Lớp : 58C - QLTNTN ( C )
MSV: 1353101746
4 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài góp phần cung cấp cơ sở khoa học nhằm quản lý bền vững tài
nguyên nước và bảo vệ chống xói mòn đất
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài tiến hành nghiên cứu trên 2 đối tượng chính đó là rừng thuần
6 Nội dung nghiên cứu
- Xác định đặc điểm cấu trúc của các trạng thái rừng tại khu vực núi
Luốt,Xuân Mai,Hà Nội
- Đánh giá đặc điểm dòng chảy ven thây cây và lượng nước mưa qua tán
lá của 2 trạng thái rừng chính : Rừng hỗn loài và rừng thuần loài
- Xác định phương trình cân bằng nước của 2 trạng thái rừng nghiên cứu
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cải thiện chế độ
thủy văn của một số hệ sinh thái rừng tại Núi Luốt
Trang 37 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa số liệu
- Thu thập số liệu ngoài thực địa : lắp đặt các thiết bị đo ngoài thực địa
- Phương pháp nội nghiệp
8 Một số kết quả đạt được
8.1 Đặc điểm cấu trúc của các trạng thái rừng tại khu vực núi Luốt, Hà Nội
Đặc điểm cấu trúc một số trạng thái rừng tại núi được thu thập trên 2 ô tiêu chuẩn (OTC) rừng hỗn giao (Trẩu,Dẻ, giổi xanh và Trám) (OTC1-vị trí 1)
và thuần loài thông mã vĩ (OTC2-vị trí 2 ) (Hình 1) Ô tiêu chuẩn nghiên cứu có diện tích 500m2 (25mx20mm)
Rừng hỗn giao giữa các loài thuộc kiểu rừng có nhiều tầng, cao từ 25 - 30
m, tán kín rậm bởi những loài cây gỗ lớn lá rộng thường xanh Cấu trúc có 3 tầng thứ với độ tàn che là rất lớn 70-80%
8.2 Đặc điểm thành phần thủy văn của các trạng thái rừng tại Núi Luốt,
Hà Nội
Rừng hỗn giao :lượng mưa qua tán lớn nhất đạt 2.45mm, nhỏ nhất đạt 0.025mm và trung bình qua các trận mưa là 0.2mm, chiếm khoảng trung bình 25% lượng mưa thực tế Lượng nước ven thân lớn nhất đạt 14.8mm/trận, nhỏ nhất là 0.025mm/trận và giá trị trung bình đạt 0.2 mm Tính toán cho thấy lượng nước ven thân tại rừng hỗn giao chiếm 3% lượng mưa thực tế Và suy ra lượng mưa được giữ lại trên tán rừng hỗn giao khá cao, chiếm 72% lượng mưa thực tế Rừng thông : Lượng mưa qua tán lớn nhất đạt 14.6 mm, nhỏ nhất đạt 0.5mm, (lớn gấn 6-7 lần so với lượng nước qua tán tại rừng hỗn giao ) và trung bình qua các trận mưa là 2.4 mm, chiếm khoảng trung bình 70-80% lượng mưa thực tế Lượng nước ven thân lớn nhất đạt 4.6 mm/trận, nhỏ nhất là 0.05mm/trận và giá trị trung bình đạt 0.5 mm Tính toán cho thấy lượng nước ven thân tại rừng thông chiếm 7% lượng mưa thực tế (Lớn hơn 2 lần so với lượng nước ven thân của rừng hỗn giao ) Lượng mưa được giữ lại trên tán rừng thông khá thấp, chiếm 23% lượng mưa thực tế
Trang 48.3 Phương trình cân bằng nước của một số trạng thái rừng tại núi Luốt
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Trần Thị Nhài
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 3
1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 7
PHẦN II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG,PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 9
2.1.1 Mục tiêu chung 9
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 9
2.2 Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu 9
2.3 Nội dung nghiên cứu 9
2.4 Phương pháp nghiên cứu 10
2.4.1 Điều tra đặc điểm cấu trúc của các trạng thái rừng tại khu vực núi Luốt 10
2.4.2 Đánh giá đặc điểm dòng chảy ven thây cây và lượng nước mưa qua tán lá của trạng thái rừng chính tại khu vực núi Luốt 12
2.4.3 Xác định phương trình cân bằng nước của 2 trạng thái rừng nghiên cứu 16
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM VÀ ĐIỀU KIỆN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 17
3.1 Điều kiện tự nhiên 17
3.1.1 Vị trí địa lý 17
3.1.2 Địa hình địa mạo 17
3.1.3 Thổ nhưỡng 18
Trang 63.1.4 Khí hậu - thủy văn 19
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 19
3.3 Tài nguyên rừng và hoạt động sử dụng đất 20
3.3.1 Các loại đất ở núi Luốt 20
3.3.2 Tài nguyên rừng 20
3.3.3 Hoạt động sử dụng tài nguyên 21
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Đặc điểm cấu trúc của các trạng thái rừng tại khu vực núi Luốt,Hà Nội 22
4.2 Đặc điểm thành phần thủy văn của các trạng thái rừng tại Núi Luốt, Hà Nội27 4.2.1 Đặc điểm mưa trong thời gian nghiên cứu 27
4.2.2 Đặc điểm thành phần thủy văn của các trạng thái rừng tại Nuí Luốt 29
4.3 Phương trình cân bằng nước của 2 trạng thái rừng nghiên cứu 34
4.4 Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cải thiện chế độ thủy văn của một số hệ sinh thái rừng tại Núi Luốt 40
PHẦN V KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
4.2 Tồn tại 43
4.3 Kiến nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu/Viết tắt Nội dung diễn dải
CIFOR Trung tâm Lâm nghiệp quốc tế QXTV Quần xã thực vật
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Thông số điều tra đặc điểm cấu trúc của các trạng thái rừng 22
Hình 4.2 Trạng thái rừng Thông (OTC2) 24
Bảng 4.2 Phân bố số loài theo tầng tán của các trạng thái rừng núi Luốt 24
Bảng 4.3 Bảng thông số cây lắp đặt thí nghiệp đo dòng chảy ven thân tại 2 OTC 25 Bảng 4.4 Lượng mưa trong thời gian quan trắc 27
Bảng 4.5 Các đặc trưng mô tả lượng mưa 28
Bảng 4.6 Cường độ mưa qua các trận mưa quan trắc 29
Bảng 4.7 Đặc điểm thành phần thủy văn qua các trận mưa của rừng hỗn giao 34
Bảng 4.8 Đặc trưng mô tả thành phần thủy văn của rừng hỗn giao 35
Hình 4.4 Tỷ lệ các thành phần thủy văn rừng hỗn giao 36
Bảng 4.9 Đặc điểm thành phần thủy văn qua các trận mưa của rừng thông 36
Bảng 4.10 Đặc trưng mô tả thành phần thủy văn của rừng Thông 37
Bảng 4.11 Kết quả thí nghiệm của Rutter, và các cộng sự 1975 39
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Bố trí các ô đo đếm 11
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí OTC 12
Hình 2.3 Mô hình thành phần thủy văn trong rừng 13
Hình 2.4 Mô hình lắp đặt thí nghiệm 14
Hình 2.5 Ống đo mƣa; Hình 2.6 Máng đo dòng chảy ven thân 16
Hình 3.1.Vị trí khu vực nghiên cứu 17
Hình 4.1 Trạng thái rừng hỗn giao(OTC1) 23
Hình 4.2 Trạng thái rừng Thông (OTC2) 24
Hình 4.3 Bộ phận và chỉ tiêu đo dòng chảy ven thân cây 26
Hình 4.4 Tỷ lệ các thành phần thủy văn rừng hỗn giao 36
Hình 4.5 Tỷ lệ các thành phần thủy văn rừng Thông 38
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Phân bố số loài theo cấu trúc tầng thứ tại các trạng thái rừng 25 Biểu đồ 4.2 Đặc điểm lượng mưa của các trận điều tra tại núi Luốt 28 Biểu đồ 4.3 Biểu đồ đặc điểm lượng mưa và thành phần thủy văn của rừng hỗn giao 29 Biểu đồ 4.4 Biểu đồ đặc điểm lượng mưa và thành phần thủy văn của rừng Thông Mã Vĩ 30 Biểu đồ 4.5 So sánh lượng nước chảy ven thân của các trạng thái rừng tại núi Luốt 32 Biểu đồ 4.6 So sánh lượng nước qua tán của 2 trạng thái rừng tại núi Luốt 32 Biểu đồ 4.7 Quan hệ giữa lượng mưa và tỷ lệ lượng nước giữ lại trên tán của các trạng thái rừng 33
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Thủy văn học là ngành khoa học nghiên cứu về sự vận động, phân phối, và chất lượng của nước trên toàn bộ Trái Đất, và vì thế nó đề cập đến cả
vòng tuần hoàn nước và các nguồn nước (Wikipedia) Thủy văn gồm các quá
trình cơ bản như : Mưa-giáng thủy, các dòng chảy, quá trình bốc thoát hơi, quá trình thấm nước của đất, … các quá trình này có sự chi phối và có mối quan hệ qua lại với nhau Đặc điểm của qúa trình thủy văn diễn ra còn tùy thuộc vào từng lưu vực, hay từng loại hình sử dụng đất khác nhau Khi ở khu vực không có tán lá che phủ thì quá trình thủy văn diễn ra nhanh chóng, có sự tiếp xúc trực tiếp giữa hạt nước mưa xuống đất, dẫn đến hình thành nên các dòng chảy trực tiếp trên mặt đất là chiếm ưu thế Trong trường hợp này, đất sẽ
bị xói mòn trượt lở Ngược lại, với khu vực có rừng khi mưa xuống, thì toàn
bộ lượng nước mưa sẽ bị phân tán bởi một phần sẽ giữ lại trên tán lá và bốc hơi, hình thành các dòng chảy chảy ven thân cây, phần còn lại chảy qua tán lá Khi đó, khả năng hình thành các dòng chảy mặt là thấp và đất không xảy ra xói mòn hoặc là một lượng rất thấp Và tài nguyên nước được điều tiết, chất lượng nước cũng được cải thiện
Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thủy văn chủ yếu là sự thay đổi các loại hình sử dụng đất, ngoài ra còn cso sự góp mặt của các điều kiện thời tiết như nhiệt độ, độ ẩm… cũng ảnh hưởng lớn đến các quá trình thủy văn.Cụ thể như nhiệt độ càng cao thì quá trình bốc thoát hơi nước diễn ra cành nhanh chóng Hay đặc điểm mưa :số trận mưa, thời gian mưa, cường độ mưa,lượng mưa… cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến các quá trình thủy văn Ngoài ra đặc điểm của thực vật như diện tích lá, độ khô giáp, hình dạng , độ nghiêng của lá…cũng làm thay đổi cường độ mưa và phân bố của mưa khi qua lá và tán
Qua các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thủy văn đã đưa ra, nhận thấy đặc điểm của thực vật là nhân tố duy nhất mà con người có thể thay đổi được
để điều hòa các chế độ thủy văn Nó cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình
Trang 12hình thành dòng chảy và điều tiết nguồn nước Có thể quản lý nhằm điều tiết tốt nguồn nước và bảo vệ được tài nguyên đất Vì vậy các giải pháp quản lý vì thế sẽ tập chung nhiều vào nhân tố này
Nghiên cứu về các quá trình thủy văn đã được tiến hành nhiều bởi các nhà khoa học trên thế giới ( ví dụ Horton,1919 ) đã chứng minh lượng mưa thực tế phía dưới rừng cây nhỏ hơn rất nhiều so với vùng đất trống Thí nhiệm Mcmillan và Burgy,1960 cho thấy sự khác biệt giữa bốc hơi của tán lá ướt và
sự thoát hơi của cỏ không bị ướt được cung cấp một lượng nước thích hợp.Lượng nước mưa giữ lại trên tán là một trong những chỉ tiêu phản ánh khả năng giữ nước của rừng Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đề cho thấy tỷ lệ lượng nước mưa giữ trên tán rừng lá kim ôn đới chiếm 20 - 40% (Lương Lễ Tiên và Lý Á Quang, 1991) phạm vi biến động của tỷ lệ lượng nước mưa bị ngăn giữ lại trong khoảng 11,4 - 34,3%, hệ số biến động 6,68 - 55,05%, trong đó tỷ lệ nước mưa giữ lại trên tán của rừng lá kim thường xanh
á nhiệt đới, trên núi cao ở miền Tây là lớn nhất, của rừng hỗn giao cây lá rộng thường xanh với cây lá rộng rụng lá á nhiệt đới, miền núi là nhỏ nhất (Vu Chí Dân, Christoph Peisert, Dư Tân Hiểu, 2001)
Tại Việt Nam, cũng có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa hoc về quá trình thủy văn như : Nghiên cứu bốc hơi và thoát hơi của rừng (Phạm Văn Điển,2009), lượng nước chảy men thân đều cho kết quả là chúng thường chiếm từ 1 - 4% so với tổng lượng mưa Dựa vào phương trình cân bằng lượng nước trong hệ thống, thông qua đo lường lượng mưa, lượng nước thấm xuống các tầng đất sâu, lượng nước chảy trên mặt đất và biến đổi động thái của nước trong đất, để tính toán lượng nước bốc hơi và thoát hơi của hệ thống (Dư Tân Hiểu, 1991 Về đánh giá thành phần dòng chảy của lâm phần rừng vẫn chưa được quan tâm sâu sắc, chính vì thế để cung cấp thêm các cơ
sở khoa học, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá đặc điểm thủy văn của một số trạng thái rừng tại Nuí Luốt-Xuân Mai-Hà Nội” Hi vọng, kết quả đề
tài đạt được là cơ sở khoa học góp phần bảo vệ chống xói mòn đất của một số trạng thái rừng
Trang 13PHẦN I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về thủy văn rừng trên thế giới đã thu được nhiều thành quả, trong đó đáng chú ý là những thành quả liên quan đến việc định hướng các thành phần cân bằng nước trong hệ sinh thái rừng và xác định, dự báo xói mòn đất Những nghiên cứu về tỷ lệ lượng nước mưa ngăn bởi tán rừng ở các kiểu thảm thực vật rừng tương ứng với các đới khí hậu khác nhau ở Trung Quốc cho thấy, phạm vi biến động của tỷ lệ lượng nước mưa bị ngăn giữ lại trong khoảng 11,4 - 34,3%, hệ số biến động 6,68 - 55,05%, trong đó tỷ lệ nước mưa giữ lại trên tán của rừng lá kim thường xanh á nhiệt đới, trên núi cao ở miền Tây là lớn nhất, của rừng hỗn giao cây lá rộng thường xanh với cây lá rộng rụng lá á nhiệt đới, miền núi là nhỏ nhất (Vu Chí Dân, Christoph Peisert, Dư Tân Hiểu, 2001), nghiên cứu cũng đã chỉ rõ lượng nước mưa giữ lại bởi tán rừng phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó bao gồm loài cây, tuổi rừng, mật độ lâm phần, cấu trúc của tán rừng, tần suất mưa, cường độ mưa, thời gian mưa Cũng giống như hệ sinh thái và quá trình thủy văn, lượng nước mưa ngăn bởi tán rừng cũng biến động theo không gian và thời gian
Nhiều công trình nghiên cứ về lượng nước chảy men thân trên thế giới đều cho kết quả là chúng thường chiếm từ 1 - 3% so với tổng lượng mưa Đây
là một tỷ lệ thấp so với các thành phần cân bằng nước khác Nhiều nhà thủy văn rừng nhận xét rằng, trong không ít trường hợp lượng nước chảy men thân của cây có đường kính lớn lại ít hơn lượng nước chảy men thân của cây có đường kính bé Điều này có thể do sự khác nhau bởi cách phân cành hoặc do lượng nước rơi từ tán lá của cây ở tầng trên xuống cây ở tần dưới không như nhau (Bruijnzeel L.A, 1990)
Về xác định dòng chảy chảy trên bề mặt đất, thủy văn học truyền thống
đã phát triển lý luận về dòng chảy trên mặt đất của Horton vào những năm 30
và 40 của thế kỷ 20 để nghiên cứu cơ chế hình thành dòng chảy trên bề mặt
Trang 14đất Lý luận này chiếm địa vị thống trị trong lĩnh vực thủy văn học công trình kéo dài suốt khoảng 30 năm đã dựa vào những quan trắc thực nghiệm và chỉ
ra rằng trong hoàn cảnh rừng, cường độ mưa rất ít khi lớn hơn tốc độ thấm nước tiềm tàng của đất, đã nêu ra khung lý luận về động thái hình thành dòng chảy của mưa rào, sau đó đã triển khai nhiều nghiên cứu thực nghiệm nhằm tìm hiểu cơ chế hình thành dòng chảy do mưa gây ra, chủ yếu trên những khu vực ôn đới ẩm ướt của châu Âu và ở Mỹ (Bonell M, 1993)
Ở các nước phát triển trên thế giới, việc nghiên cứu về sinh thái rừng nói chung và sinh thái rừng trồng nói riêng đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và giới thiệu trong các tài liệu và diễn đàn quốc tế từ đầu thế kỷ 20 Các nghiên cứu tập trung vào ảnh hưởng của rừng trồng tới lập địa Mấy chục năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu về rừng đã bước đầu cho thấy sự thoái hóa lập địa do khai thác rừng Thông Pinus radiata với chu kỳ ngắn ở Úc Theo các tác giả, có tới 90% chất dinh dưỡng trong sinh khối bị lấy đi khỏi rừng khi khai thác Turvey (1983) cũng cho rằng sự thay thế rừng Bạch đàn tự nhiên bằng rừng Thông Pinus radiatan với chu kỳ chặt 15- 20 năm cũng làm giảm độ phì của đất do khai thác gỗ Mặt khác, tầng thảm mục dày và khó phân giải của Thông cũng làm chậm sự quay vòng của các nguyên
tố khoáng và đạm ở các lập địa này
Các nghiên cứu của các tác giả cũng quan tâm nhiều tới vai trò của rừng trong việc phòng hộ môi trường, đề cập tới vấn đề dinh dưỡng đất, chế
độ nước, khả năng ngăn cản xói mòn, dòng chảy Tác giả Gosh (1978) [35] đã đánh giá ảnh hưởng của rừng trồng Bạch đàn đến chế độ nước và chất dinh dưỡng trong đất tại Ấn Độ và nhiều vùng trên thế giới nhưng chưa có những kết luận khẳng định
Những nghiên cứu gần đây tập trung tìm hiểu về các chức năng sinh thái môi trường của rừng Theo Lee Soo-hwa (Lee-Soo-hwa, 2007) (http://www.korea.net/news/news) cho rằng đất rừng tốt có thể thấm được khoảng 250 mm nước mưa trong một giờ Tuy nhiên, theo ông thì rừng Thông
Trang 15qua tác động tới cấu trúc sẽ không tốt cho cải thiện nguồn nước thậm chí còn làm tăng sự thiếu nước do làm cho một lượng nước lớn bị ngăn giữ lại từ các tầng tán và bốc hơi Ngược lại, khi rừng được cải thiện tầng tán thì sẽ tạo điều kiện cho nước mưa thấm vào đất nhiều hơn, đất lưu giữ được nước tốt hơn và
sự chiếu sáng sẽ làm cho các vi sinh vật đất như giun hoạt động tốt hơn Vì vậy có tác dụng duy trì nguồn nước và cải thiện nguồn nước tốt hơn
Theo Farley và cộng sự (2005) đã chỉ ra rằng khi đất trảng cỏ và đất cây bụi chuyển sang rừng trồng thì lượng dòng chảy năm giảm đi 44% và 31% Tác động làm giảm dòng chảy kiệt của rừng trồng còn thể hiện rõ hơn
cả lượng dòng chảy trung bình năm Theo Nisbet (2001), rừng có thể có tác dụng làm giảm dòng chảy mặt và chống xói mòn tốt; tuy nhiên các hoạt động trồng rừng và tác động vào rừng như: làm đường giao thông, làm đất khi trồng rừng, chăm sóc rừng, khai thác có thể dẫn tới làm tăng dòng chảy mặt
và xói mòn cho lưu vực
Theo Zhang và cộng sự (2007) cho rằng, nếu các chỉ số về trạng thái thảm thực vật rừng (cấu trúc, loại đất, địa hình ) có ảnh hưởng đến dòng chảy của lưu vực thì phân bố không gian của rừng cũng ảnh hưởng quan trọng, nhất là khi rừng được phân bố ở những khu vực tiếp nối trực tiếp với hệ thống tích nước của thuỷ vực như sông, suối, hồ
Theo M Guardiola và cộng sự (2010), việc thay thế các rừng cây bản địa bằng rừng Cao su ở Nam Keng (Trung Quốc) và ở Pang Khum (miền Bắc Thái Lan) đã làm tăng lượng bốc thoát hơi nước, do đó làm giảm dòng chảy cũng như lượng nước được tích trữ trong lưu vực Mặc dù, việc trồng rừng và những biện pháp bảo tồn đất có những tác dụng nhất định trong việc giảm đỉnh lũ nhưng ít có trường hợp nào cho thấy các biện pháp đó có tác dụng làm tăng dòng chảy kiệt Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy việc trồng rừng đã làm giảm sản lượng nước bình quân và dòng chảy trong mùa khô của lưu vực Trong không ít trường hợp, dòng chảy kiệt bị giảm đáng kể sau khi trồng rừng Tuy nhiên, trong một số trường hợp nó lại tăng dòng chảy ngầm và
Trang 16dòng chảy kiệt nhờ có việc làm tăng tính thấm nước của đất Trung bình sự giảm sản lượng dòng chảy do trồng rừng biến động trong khoảng từ 50 mm/năm đối với vùng khô cho đến 300 mm/năm đối với vùng ẩm ướt Điều
đó có thể làm giảm sản lượng nước tương đối năm ở mức 20 - 40% (Ge Sun
và cộng sự, 2005)
Sự ảnh hưởng của rừng trồng tới dòng chảy không chỉ ở diện tích mà còn sự phân bố của nó và các biện pháp tác động vào rừng Ảnh hưởng sự phấn bố không gian của rừng tới nguồn nước đã được nghiên cứu một cách khá hệ thống trong công trình của Carsten và cộng sự (2007) Công trình này
đã thừa nhận vai trò của rừng đối với việc cải thiện nguồn nước và chu trình vật chất; đồng thời nghiên cứu này cũng khẳng định rằng ảnh hưởng của rừng tới nước trên quy mô rộng vẫn cần được nghiên cứu nhiều hơn nữa
Ngoài ra phải kể đến một số công trình nghiên cứu nổi tiếng về thủy văn rừng bởi các nhà khoa học: giáng thủy bị ngăn chặn lại bởi thảm thực vật
và bốc hơi với tốc độ lớn hơn sự thoát hơi từ một loại thảm thực vật trong cùng một điều kiện (Murphy và Knoerr,1975 ), và sự chênh lệch có thể khoảng 2-3 lần (Singh và Szeicz,1979 ), hoặc bằng 5 lần tốc độ thoát hơi (Stewart và Thom,1973 )
Trong những năm gần đây, Trung tâm Lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) đã tiến hành nghiên cứu về quản lý lập địa và sản lượng rừng cho rừng trồng ở các nước nhiệt đới CIFOR đã tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng là Bạch đàn, Thông, Keo trồng thuần loài tại các dạng lập địa ở các nước Brazil, Công gô, Nam Phi, Indonesia, Trung Quốc, Ấn Độ và nay bắt đầu nghiên cứu
ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy các biện pháp xử lý lập địa khác nhau và các loài cây trồng khác nhau đã có ảnh hưởng rất khác nhau đến một
số yếu tố độ phì đất, cân bằng nước, sự phân huỷ thảm mục và chu trình dinh dưỡng khoáng
Trang 171.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Tài nguyên rừng của nước ta khá phong phú và đa dạng Tuy nhiên, trong những năm gần đây cùng với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu gỗ của Việt Nam liên tục tăng lên khiến cho rừng luôn phải đối mặt với nguy cơ bị khai thác quá mức, kèm theo đó là sự suy giảm đáng
kể các chức năng sinh thái mà rừng đã và đang cung cấp trong việc bảo vệ
môi trường và phòng chống thiên tai
Tại Việt Nam, chưa thấy có nhiều công trình nghiên cứu chi tiết về thủy văn rừng Đặc biệt về các thành phần dòng chảy trong lâm phần rừng chưa được quan tâm sâu sắc,như lượng nước chảy men thân cây, lượng nước mưa giữ lại trên tán Các nghiên cứu chỉ tập chung nhiều về lượng nước chảy trên bề mặt đất, và có một vài công trình có nghiên cứu thêm về lượng bốc thoát hơi nước tại lâm phần rừng.Nghiên cứu về tổng thể ảnh hưởng của lâm phần rừng đến thủy văn Nhìn chung, đất rừng tự nhiên có khả năng thấm nước cao và ít khi xuất hiện dòng chảy bề mặt Tuy nhiên, khi rừng bị chặt hạ trở nên thưa thớt và độ dốc mặt đất lớn, có thể tạo ra nhiều lượng nước chảy
trên bề mặt (Phạm Văn Điển, 2009)
Từ năm 1973 đến năm 1981 Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp đã xây dựng các khu nghiên cứu thuỷ văn rừng định vị ở Núi Tiên (Hữu Lũng) và Tứ Quận (Hà Tuyên) Các công trình nghiên cứu trong thời gian này tập trung chủ yếu vào nghiên cứu một số các nhân tố khí hậu rừng, khả năng ngăn cản nước mưa của tán rừng, ảnh hưởng của độ tàn che rừng tới khả năng giữ đất và điều tiết dòng chảy mặt của rừng như công trình của Bùi Ngạnh và Nguyễn Danh
Mô (1984), của Hoàng Niêm (1994)…Đây là những công trình nghiên cứu khởi điểm rất quan trọng, tạo lập được một số cơ sở khoa học cho việc xây dựng rừng giữ nước, bảo vệ đất ở nước ta đồng thời cũng mở ra một hướng
nghiên cứu mới, định lượng về thuỷ văn rừng
Trang 18Để góp phần cơ sở khoa học làm rõ vai trò phòng hộ chống xói mòn và điều tiết nước của rừng, phải nhắc đến các công trình nghiên cứu của Võ Đại Hải cho thấy khi giảm độ tàn che từ 0,7 - 0,8 xuống mức 0,3 - 0,4 thì dòng chảy mặt tăng 30,4% đối với rừng tự nhiên và 33,8% đối với rừng Le Khi độ dốc tăng lên thì thì lượng dòng chảy cũng tăng lên Chẳng hạn khi độ dốc tăng
lên 2 lần thì lượng dòng chảy mặt tăng lên 58,1%
Một số tác giả khác đã tập trung nghiên cứu vai trò điều tiết nước, xói mòn của rừng, ảnh hưởng của thảm thực vật đến dòng chảy của các con sông, suối như công trình của Nguyễn Viết Phổ (1992), Vũ Văn Tuấn (1982) , Thái Phiên và Trần Đức Toàn (1988) Những nghiên cứu này đã cho ta thấy vai trò điều tiết nước hữu hiệu của thảm thực vật rừng, đặc biệt là việc cung cấp nước cho các con sông, suối vào mùa khô, dòng chảy kiệt ở những vùng có
rừng cao hơn những vùng không có rừng
Khi so với lượng mưa, dòng chảy mặt biến động rất lớn và thường dao động trong khoảng từ 3 - 5% đối với rừng Thông (Ngô Đình Quế, 2008) trong
đó cao nhất ở trảng cỏ đến thảm cây bụi, rừng trồng và thấp nhất ở rừng tự nhiên Lượng dòng chảy mặt phụ thuộc vào nhân tố lượng mưa, địa hình, tính chất đất, cấu trúc thảm thực vật và cả phương pháp quan trắc Hệ số dòng chảy mặt có liên hệ chặt chẽ với các nhân tố độ dốc mặt đất, hệ số xói mòn đất, độ giao tán hoặc độ tàn che tầng cây cao, độ che phủ của thảm tươi cây
bụi và độ che phủ của rừng (Phạm Thị Hương Lan, 2005 )
Trong nghiên cứu về vai trò bảo vệ nguồn nước của 4 dạng thảm thực vật (thảm cây bụi cao, thảm cây bụi thấp, rừng trồng Keo và rừng trồng Bạch đàn), Nguyễn Thế Hưng (2008) đã cho thấy khả năng giữ nước của các thảm thực vật giảm dần từ thảm cây bụi cao đến rừng trồng Keo, rừng trồng Bạch đàn và thấp nhất là thảm cây bụi thấp, với tổng lượng nước hàng năm giữ được trong các thảm thực vật tương ứng là 988,97 tấn/ha, 639,07 tấn/ha,
724,58 tấn/ha và 660,62 tấn/ha
Trang 19Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước về thủy văn rừng đã thu được nhiều kết quả khoa học bổ ích và thiết thực Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu vẫn chưa đi sâu và chi tiết vào từng thành phần thủy văn của hệ sinh thái rừng Hi vọng đề tài tôi chọn lựa sẽ góp một phần nhỏ vào cơ sở khoa học để giải quyết tính cấp thiết còn tồn đọng trong nghiên cứu về thủy văn rừng
PHẦN II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG,PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
- Đề tài góp phần cung cấp cơ sở khoa học nhằm quản lý bền vững tài
nguyên nước và bảo vệ chống xói mòn đất
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định được đặc điểm thủy văn của một số trạng thái rừng chính tại Núi Luốt, Xuân Mai,Hà Nội
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cải thiện chế
độ thủy văn của một số hệ sinh thái rừng
2.2 Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tiến hành nghiên cứu trên 2 đối tượng chính đó là rừng thuần loài và hỗn loài
- Lắp đặt nghiên cứu được tiến hành tại núi Luốt-Xuân Mai-Chương Mỹ-Hà Nội
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định đặc điểm cấu trúc của các trạng thái rừng tại khu vực núi Luốt,Xuân Mai,Hà Nội
- Đánh giá đặc điểm dòng chảy ven thây cây và lượng nước mưa qua tán lá của 2 trạng thái rừng chính : Rừng hỗn loài và rừng thuần loài
- Xác định phương trình cân bằng nước của 2 trạng thái rừng nghiên cứu
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cải thiện chế
độ thủy văn của một số hệ sinh thái rừng tại Núi Luốt
Trang 202.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Điều tra đặc điểm cấu trúc của các trạng thái rừng tại khu vực núi Luốt
- Nghiên cứu tập trung vào việc xác định một số đặc điểm về cấu trúc quần xã thực vật (QXTV) rừng hỗn giao (Trẩu,Dẻ, giổi xanh và Trám)
(OTC1-vị trí 1) và thuần loài thông mã vĩ (OTC2-vị trí 2 ) (Hình 1)
+ Cấu trúc tầng thứ : Sự phân bố theo không gian của tầng cây gỗ theo
chiều thẳng đứng
+ Cấu trúc mật độ: cấu trúc mật độ phản ánh số cây trên một đơn vị
diện tích
+ Độ tàn che : Là mức độ che phủ của tán cây rừng
+ Mức độ khép tán : Mức độ này thể hiện sự giao tán giữa các cá thể
Phương pháp sử dụng để thu thập các chỉ tiêu trên là điều tra,đo đạc ngoài hiện trường Mỗi một trạng thái rừng ta bố trí 1 ô tiêu chuẩn (ÔTC) điển hình với diện tích 500m2 (20m × 25m) (tùy thuộc diện tích cụ thể của các loại hình sử dụng đất mà diện tích và số lượng của ÔTC có thể tăng hoặc giảm) Trong ÔTC, các nhân tố điều tra đều thuộc tầng cây cao:Cấu trúc tầng thứ, cấu trúc mật độ, độ tàn che, mức độ khép tán được đo đếm theo quy trình điều tra rừng và lâm học nhằm đảm bảo mức độ tin cậy của các số liệu thu thập được
- Dụng cụ cần cho quá trình nghiên cứu :
Trang 21Hình 2.1 Bố trí các ô đo đếm
OTC cấp 1 chia ra 5 OTC cấp 2 với diện tích là (1m × 1m) đo đếm toàn bộ cây tái sinh của OTC
* Điều tra tầng cây tái sinh: Có chiều cao 0-5m, quan sát bằng mắt và
đếm số lượng cây tái sinh có trong các OTC cấp 2 Xác định tên cây và phẩm chất phát triển
* Điều tra tầng cây cao và tầng cây nhỡ toàn bộ OTC cấp 1 Quan sát
bằng mắt và ghi lại số lượng, tên loài và đo chiều cao
* Độ tàn che tầng cây cao xác định theo phương pháp cho điểm: Trong
các OTC chia thành các tuyến song song cách đều 4-5m một tuyến, trên mỗi tuyến đặt các điểm cách nhau 4-5m, tại các điểm này ngắm lên theo phương thẳng đứng, nếu gặp tán cây cho 1 điểm, gặp mép tán cây cho 0,5 điểm, không gặp tán cây cho 0 điểm, độ tàn che chung của OTC là trị số trung bình của các điểm ngắm
Bảng ghi số liệu điều tra đặc điểm cấu trúc của các trạng thái rừng
Ngày điều tra: Người điều tra:
TTR
STT
Rừng hỗn loài OTC 1
Rừng thuần loài thông OTC 2
Cấu trúc tầng thứ
Độ tàn che
Trang 22(Hình 1)
- Lượng mưa xuyên qua tán lá có thể đo đạc được bằng việc sử dụng các thiết bị đo mưa, thùng đo mưa … được đặt ngay bên dưới tán lá rừng Dòng chảy ven thân có thể thu thập bằng những máng nước gắn xung quanh chu vi của thân cây và dẫn vào một cái thùng chứa
- Do lượng nước mưa xuyên qua tán lá còn phụ thuộc rất nhiều đặc điểm của lá cũng như phần cành,tầng của thực vật rừng và nhiều những yếu tố khác : Diện tích lá, mức độ mọc lá, độ nghiêng, độ khô giáp của lá… Vì vậy, trong quá trình đo đạc phải có một số lượng lớn các thiết bị đo hoặc di chuyển thường xuyên thiết bị đo tại những vị trí ngẫu nhiên để có những đánh giá chính xác
-Và quá trình đo đạc là một thời gian dài, theo dõi qua nhiều trận mưa khác nhau Vì vậy các dụng cụ,mô hình thí nghiệm cần phải bảo quản cẩn
1
2
Trang 23thận, tránh làm hỏng dụng cụ,làm mất để quá trình thu thập số liệu được hoàn thành
5 Và các dụng cụ cần thiết khác : Dao,kéo,dây thép,thước, keo dính…
Hình 2.3 Mô hình thành phần thủy văn trong rừng
Trang 24Khi mưa rơi xuống sẽ hình thành nên các thành phần thủy văn khác nhau: Lượng nước mưa giữ lại trên tán, dòng chảy ven thân hay lượng nước lọt qua tán cây đều là một trong những chỉ tiêu phản ánh khả năng giữ nước của rừng Nó phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó bao gồm loài cây, tuổi rừng, mật độ lâm phần, cấu trúc của tán rừng, tần suất mưa, cường độ mưa, thời gian mưa Cũng giống như hệ sinh thái và quá trình thủy văn, thành phần thủy văn cũng biến động theo không gian và thời gian
* Cách lắp đặt thí nghiệm:
Hình 2.4 Mô hình lắp đặt thí nghiệm
* Quy trình lắp đặt
- Lượng nước mưa qua tán lá (Pt) được xác định bằng cách lắp đặt 1 ống đo mưa ngay dưới tán lá Đối với trường hợp này, phải thường xuyên di chuyển ống đo mưa đến những vị trí khác nhau để có được những số liệu chính xác hơn
Trang 25- Đối với lượng nước chảy ven thân (Ps), ta phải dùng dây thép và keo dính gắn máng dẻo xung quanh chu vi của thân cây Sao cho, mép máng dẻo tạo với chu vị thân cây một mặt phẳng (Tránh nước mưa chảy ra ngoài máng) Sau đó dùng ống dẫn vào một thùng chứa được đặt dưới gốc cây
- Khi kết thúc trận mưa, mang theo ống đong, bút, giấy ra vị trí đặt thiết bị để đo (Trường hợp mưa to đo nhiều lần trong khi mưa Những ngày trời nắng, để tránh sự bốc hơi, nên đo ngay sau khi tạnh mưa.) Khi đo mở nắp thùng, nghiêng thùng đổ nước vào ống đong và đọc chính xác đến 0,1mm
- Khi đọc, phải đưa mực nước trong ống đong ngang tầm mắt của người quan trắc
- Đơn vị lượng mưa : (mm)
- Lưu ý: Để đo lượng mưa thực tế (P) Phải đặt ở những nơi quang
đãng không bị các vật khác che chắn Các thiết bị này được đặt ở vị trí thẳng đứng trên giá gỗ hoặc sắt, miệng hứng nước đặt ngang bằng và cách mặt đất 1m50, sao cho cách vật gần nhất một góc 450 (Số liệu này được thu thập qua trạm quan trắc Núi Luốt-Trường đại học Lâm Nghiệp Việt Nam) Số liệu thu thập được ghi vào biểu sau :
Biểu mẫu ghi số liệu thủy văn của 2 trạng thái rừng chính
Ngày điều tra: Người điều tra:
Trạng thái rừng: Thời tiết 3 ngày trước:
Trận Thời
gian
Giờ mưa
Lưu lượng (mm)
Lượng nước ven thân Ps (mm)
Lượng nước qua tán Pt (mm)
Trang 26Hình 2.5 Ống đo mưa Hình 2.6 Máng đo dòng chảy ven thân 2.4.3 Xác định phương trình cân bằng nước của 2 trạng thái rừng nghiên cứu
- Xác định phương trình cân bằng nước để đánh giá mức độ ảnh hưởng
của cây rừng đến quá trình hình thành chế độ nước của hệ sinh thái rừng đó
(Ngoài ra còn dùng để xác định một cách gián tiếp các yếu tố khó đo đạc như bốc hơi,dòng chảy và thấm )
- Để xác định được phương trình cân bằng nước của các trạng thái rừng nghiên cứu Ta phải phân tích được đặc điểm các quá trình thủy văn và dựa vào phương trình cân bằng nước tổng quát sau :
P= Ps +Pt +Ic
Trong đó: Ps Lượng nước mưa chảy ven thân
Pt Lượng nước mưa lọt qua tán
Ic Lượng nước giữu lại trên tán lá
Các giá trị của các thành phần trong phương trình cân bằng nước trên, được xác định cụ thể cho từng trạng thái rừng Từ đó, lập được biểu đồ quy luật và phương trình cân bằng nước cụ thể cho từ trạng thái rừng đó
Trang 27PHẦN III ĐẶC ĐIỂM VÀ ĐIỀU KIỆN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Núi Luốt - Trường Đại học Lâm Nghiệp nằm ở phía Bắc tỉnh Hà Tây
cũ nay là thành phố Hà Nội, cách thị xã Hoà Bình 45 km về phía Đông Nam
và cách Quận Hà Đông 35km về phía Tây Bắc
Toạ độ địa lý: 20°54'43" vĩ độ Bắc
105°34'11" kinh độ Đông
Hình 3.1.Vị trí khu vực nghiên cứu
3.1.2 Địa hình địa mạo
Núi Luốt có địa hình tương đối đồng nhất mang tính gò núi thấp, ít bị chía cắt, gồm 2 quả đồi nối tiếp nhau chạy dài chạy dài 2 km theo hướng từ Đông sang Tây, một đỉnh có độ cao tuyệt đối là 133 m Đỉnh còn lại có độ cao
chủ yếu là các hướng Đông Bắc, Tây Bắc và Đông Nam
Trang 28Địa hình cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới chất dinh dưỡng của rừng Độ dốc của khu vực cũng tương đối nên hiện tượng xói mòn xảy ra thường xuyên Địa hình thì không quá phức tạp nên có thể thuận lợi cho việc áp dụng các biện pháp chống xói mòn mà có tác dụng tốt trong bảo vệ và giữ các chất dinh dưỡng trong đất thuận lợi cho việc trồng rừng.
Một số loài cây bản địa dược trồng như: Lim xanh, Đinh thối, Sưa Bắc
Bộ, Thông Ở những nơi có dộ dốc lớn, dễ xảy ra xói mòn, rửa trôi cần phải trồng các loài cây có tán rộng và bố trí so le, Còn ở dưới tầng cây bụi thì trồng các cây sinh trưởng nhanh để cay nhanh chóng vươn lên khỏi tầng cây bụi, tránh bị tầng cây bụi chèn ép
3.1.3 Thổ nhưỡng
Đất ở khu vực Núi Luốt là đất Feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹ Poocfiarit thuộc nhóm đá mắcma trung tính, tầng dày hoặc trung bình tùy thuộc vào từng vị trí địa hình Những nơi tầng đất dày tập trung ở chân ở hai quả đồi, sườn Đông Nam đồi thấp và sườn Tây Nam đồi cao Tầng đất mỏng tập trung ở đỉnh đồi, sườn Đông Bắc đồi thấp và sườn Đông Nam đồi cao Những nơi tầng đất mỏng cũng có ập trung nhiều đá lẫn, đá lộ đầu tập trung ở gần đỉnh và đỉnh có độ cao 133m
Đất trong khu vực đá khá đồng nhất về tính chất và sự hình thành, sự khác nhau chủ yếu ở tỷ lệ đá lẫn, tầng đất và sau khi có thực vật, sự tác động của chúng có tác dụng phát huy Thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến sét trung bình Từ khi có rừng, đặc biệt là dưới tán rừng keo một số tính chất của đất đươc cải thiện đáng kể Hàm lượng mùn trong đất từ 2-3% Độ PH< 7
Đất có ảnh hưởng đến hệ động - thực vật thông qua nhiệt độ, độ ẩm, lớp thảm mục và các tính chất lý hóa khác Đất ở Núi Luốt là đất Feralit, PH
< 7 Hàm lượng mùn từ 2-3% , trong đất tích lũy nhiều Al và Fe, đất chua, khả năng cố định lân kém, hàm lượng lân thấp Đây là một trong những khó khăn trong công tác chọn giống cây trồng Hiện tại khu vực này chỉ trồng 2 loại cây trồng chủ yếu là Thông Đuôi ngựa và Keo Tuy nhiên khi độ thích
Trang 29hợp qua tăng trưởng chiều cao thì tăng trưởng của 2 loài cây này chỉ đạt mức trung bình (tăng tưởng 0,8-0,9m/năm)
3.1.4 Khí hậu - thủy văn
Núi Luốt nằm trong vành đai khí hậu gió mùa nhiệt đới có 2 mùa khá
rõ rệt là mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
- Chế độ nhiệt: nhiệt độ bình quân năm là 23,2oC, nhiệt độ bình quân tháng nóng nhất là tháng 7, 8 với 28,5o
C, , nhiệt độ bình quân tháng lạnh nhất
là tháng 1 với 16,5oC, mùa nóng nhiệt độ trên 25 oC kéo dài từ tháng 5 đến giữa tháng 9, mùa lạnh có nhiệt độ bình quân dưới 20 oC kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Các tháng còn lại có nhiệt độ trung bình từ 20-25 o
C
- Chế độ mưa: Tổng lượng mưa trong năm là 1753 mm, lượng mưa trung bình là 146 mm, mưa phân bố không đều trong năm, lượng mưa trung bình tháng cao nhất ( tháng 7, 8) là 312 mm, tháng thấp nhất ( tháng 1) là 15 mm
- Độ ẩm không khí: tương đối cao với trung bình tháng là 84%
- Lượng bốc hơi trung bình hàng năm cao nhất là 602 mm, cao nhất vào tháng 5 và thấp nhất vào tháng 2 với 78,5 mm và 47,6 mm
Với điều kiện khí hậu trên đã tạo cho khu vực đã tạo cho khu vực thảm thực vật nhiệt đới gió mùa điển hình phong phú và đa dạng, phù hợp với các loài cây gỗ lớn lâu năm như Lim xinh, Đinh, Gội,…
*Thủy văn:
Khu vực có 2 con sông chảy qua, bao quanh là sông Bùi và sông Tích với diện tích sông suối là 29,43 ha Ngoài ra còn hệ thống hồ, đập chứa nước như hồ Vai bộn, đập Tràn,…Đảm bảo nưới tưới cho toàn bộ diện tích trồng trọt trong khu khu vực Tuy nhiên dòng nước ngầm tương đối sâu, gây khó khăn cho thực vật khi cần nước ở điều kiện nắng nóng
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Khu nghiên cứu thực nghiệm núi Luốt- Trường Đại học Lâm nghiệp chủ yếu nằm trên địa bàn xã Hoà Sơn - huyện Lương Sơn- tỉnh Hoà Bình
Trang 30Đây là một xã miền núi với 3.822 nhân khẩu trong đó dân tộc Mường chiếm 58,85%, dân tộc Kinh chiếm 41,15% Người dân ở đây chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 543 ha nhưng nghề rừng chưa được phát triển Bên cạnh đó nằm trong khu vực thị trấn Xuân Mai có các đơn
vị bộ đội, các trường đào tạo Đặc biệt là Trường Đại học Lâm nghiệp – trung tâm đào tạo cán bộ kỹ thuật của ngành, trung tâm nghiên cứu và ứng dụngkhoa học kỹ thuật Lâm nghiệp, do vậy đã có ảnh hưởng tích cực đến bảo
vệ và phát triển tại khu vực nghiên cứu thực nghiệm, đẩy mạnh kinh tế - xã hội, nâng cao trình độ dân trí, hỗ trợ sản xuất cho người dân bản địa
Về giao thông, tuyến quốc lộ 21A được nâng cấp rất thuận tiện cho việc
đi lại, vận chuyển nông lâm sản, phân bón cây giống,…
3.3 Tài nguyên rừng và hoạt động sử dụng đất
3.3.1 Các loại đất ở núi Luốt
Tổng diện tích núi Luốt, theo ranh giới xác định cho Trường Đại học Lâm Nghiệp là 130,03 ha Trong đó:
- Diện tích hành lang cao thế là 220 kv là 5,61 ha
- Diện tích khu dân cư lấn chiếm là 23,5 ha Trong đó khuôn viên Trường Đại học Lâm Nghiệp trải rộng 27ha
3.3.2 Tài nguyên rừng
Theo số liệu năm 2003, Khu vực Núi Luốt có mốt sô mô hình rừng trồng như:
- Trạng thái rừng trồng thuần loài Thông mã vĩ
- Trạng thái rừng trồng thuần loài Bạch đàn trắng
- Trạng thái rừng trồng hỗn loài Thông mã vĩ và Keo lá tràm