LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới Hội đồng khoa học Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, các thầy cô trường Đại học Lâm nghiệp – Xuân Mai – Hà Nội đã luôn qua
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Các khái niệm về du lịch [1,3,4]
Ngày nay du lịch trở thành một hiện tƣợng kinh tế xã hội phổ biến Hiệp hội lữ hành quốc tế đã công nhận du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới vƣợt lên cả ngành sản xuất ôtô, thép điện tử và nông nghiệp Vì vậy, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới Thuật ngữ du lịch đã trở nên khá thông dụng, nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng Du lịch gắn liền với nghỉ ngơi, giải trí, tuy nhiên do hoàn cảnh, thời gian và khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau nên khái niệm du lịch cũng không giống nhau
Năm 1963 tại Hội Nghị Liên Hợp Quốc về du lịch ở Roma, các chuyên gia đã đƣa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải nơi làm việc của họ”
Theo các học giả biên soạn bách khoa toàn thƣ Việt Nam đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt Theo các chuyên gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là “một dạng nghỉ dƣỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh…” Theo định nghĩa thứ hai, du lịch đƣợc coi là “một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thông lịch sử văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ”
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thƣ giãn; cũng nhƣ mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhƣng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư, nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư Ở Việt Nam, với mục đích tạo thuận lợi trong việc phát triển du lịch trong nước và du lịch quốc tế, tăng cường quản lý Nhà nước về du lịch, tại khoản 1 điều 4 của Luật Du lịch của chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký lệnh công bố ngày 27 tháng 6 năm 2005 quy định “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong khoảng thời gian nhất định”.
Đặc điểm của ngành du lịch [1,12]
Mọi dự án phát triển du lịch đƣợc thực hiện trên cơ sở khai thác những giá trị của tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hóa, lịch sử cùng với các cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo Kết quả của quá trình khai thác đó là việc hình thành các sản phẩm du lịch từ các tiềm năng về tài nguyên, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội
Trước tiên đó là các lợi ích về kinh tế - xã hội, tạo ra nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nâng cao đời sống kinh tế cộng đồng địa phương thông qua các dịch vụ du lịch, tạo điều kiện cho việc bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử và sự đa dạng của thiên nhiên nơi có các hoạt động phát triển du lịch Sau nữa là những lợi ích đem lại cho du khách trong việc hưởng thụ các cảnh quan thiên nhiên lạ, các truyền thống văn hóa lịch sử
Những đặc điểm của ngành du lịch bao gồm:
- Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp: Xuất phát từ nhu cầu du lịch là nhu cầu tổng hợp về đi lại, ăn ở, tham quan, giải trí, mua sắm và các nhu cầu khác trong chuyến đi và tại điểm đến du lịch Cho nên đòi hỏi phải có nhiều ngành nghề khác nhau cung ứng các hàng hóa và dịch vụ cho khách để đáp ứng các nhu cầu nói trên Do vậy ngành du lịch sẽ bao gồm các tổ chức và doanh nghiệp khác nhau
- Du lịch là ngành dịch vụ: Du lịch đƣợc xếp vào nhóm ngành sản xuất phi vật chất mặc dù trong ngành vẫn tồn tại một bộ phận sản xuất ra các sản phẩm hữu hình (như sản phẩm ăn uống, đồ lưu niệm ) nhưng doanh thu từ bộ phận này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu nhập từ du lịch Nhận thức đƣợc đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ và các ứng xử thích hợp trong kinh doanh dịch vụ là những vấn đề cơ bản đặt ra trong ngành và các doanh nghiệp du lịch
- Du lịch là ngành kinh tế phát triển nhanh: Du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế lớn đối với một số quốc gia Đối với một số quốc gia, du lịch thường chiếm một trong ba vị trí hàng đầu của các ngành kinh tế chủ yếu ở quốc gia đó Số lượng người đi du lịch ngày một tăng trong phạm vi toàn thế giới
- Du lịch là ngành kinh doanh có tính chất thời vụ: Hoạt động du lịch nói chung vẫn mang tính chất thời vụ do đặc điểm thời vụ của cung và cầu du lịch Đặc điểm này làm cho chính phủ của các quốc gia và các doanh nhân phải cân nhắc một cách thận trọng việc phát triển ngành du lịch
- Du lịch là ngành công nghiệp không biên giới: Du lịch có tính chất hướng ngoại vì bản chất của hoạt động du lịch là sự di chuyển ra khỏi phạm vi ranh giới hoặc biên giới quốc gia và cả do xu thế toàn cầu hóa về kinh tế là một nhân tố tác động mạnh mẽ đến tính chất quốc tế hóa của ngành du lịch trên cả phương diện cung và cầu du lịch.
Du lịch sinh thái [1,4]
Từ năm 2011 trở lại đây ngành du lịch đang trên đà phát triển một cách mạnh mẽ Lƣợt khách mỗi năm đạt 7 – 8 triệu lƣợt khách, ƣớc tính đạt vào khoảng 800 – 900 triệu người khách du lịch Có thể thấy rõ ngành du lịch đem lại một nguồn lợi đáng kể Tuy nhiên các hoạt động du lịch của con người đã tác động không hề nhỏ đến môi trường sinh thái Có thể kể đến các hoạt động như: Chất thải rắn, nước thải từ khách du lịch đến dịch vụ ăn uống từ các cơ sở hạ tầng, khách sạn, nhà nghỉ…làm ô nhiễm môi trường đất, nước Hoạt động của các loại giao thông vận tải tăng lên…
Du lịch sinh thái, một loại hình du lịch đang thu hút nhiều quan tâm của quốc gia trên Thế giới DLST ngày càng phát triển nhanh và trở thành “mốt” thời đại, không chỉ bởi hiệu quả nhiều mặt mà còn đáp ứng nhu cầu du lịch hướng tới địa chỉ xanh như hiện nay Tuy nhiên theo các tài liệu khoa học về du lịch, hiện vẫn chƣa có khái niệm DLST thống nhất mang tính toàn cầu Theo tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới: “DLST là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra và tạo ra lợi ích cho người dân tham gia tích cực”
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, có trách nhiệm hỗ trợ cho các mục tiêu bảo tồn các hệ sinh thái, môi trường tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa, phát triển cộng đồng, đồng thời đem lại nguồn lợi kinh tế to lớn góp phần tích cực vào sự phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung Ở Việt Nam, tại hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lƣợc quốc gia về phát triển du lịch sinh thái” do Tổng cục du lịch Việt Nam phối hợp với những tổ chức quốc tế nhƣ: ESCAP, WWF, IUCN tổ chức tháng 9 năm 1999 lần đầu tiên đƣa ra khái niệm: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
Du lịch sinh thái góp phần tăng trưởng GDP một cách bền vững: du lịch đến với thiên nhiên của các quốc gia, đặc biệt các nước phát triển là một loại hình rất đƣợc chú trọng đầu tƣ không chỉ vì tính ƣu việt của loại hình này mà sự phát triển của nó mang lại lợi ích cho nhiều quốc gia
Du lịch sinh thái góp phần bảo vệ môi trường đây được xem là công cụ tốt nhất để bảo tồn thiên nhiên, nâng cao chất lượng môi trường, đề cao các giá trị cảnh quan và nhận thức của toàn dân về sự cần thiết phải bảo vệ môi trường sinh thái, khôi phục những tài nguyên đang bị hủy hoại DLST là công cụ bảo tồn đa dạng sinh học, khi thực hiện DLST đƣợc thực hiện một cách đúng nghĩa thì đa số các tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học đều đƣợc giảm thiểu và loại bỏ vì bản chất của DLST là loại hình du lịch dựa trên cơ sở các khu vực có hấp dẫn về điều kiện tự nhiên DLST tạo động lực quan trọng và khơi dậy ý thức bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái Phát triển DLST tạo động lực cho nhà nước cũng như nhiều ban ngành ngăn chặn suy thoái môi trường, tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học Với cộng đồng dân cư địa phương khi nhận được lợi ích từ hoạt động DLST, họ có điều kiện bảo vệ địa điểm tham quan, ủng hộ tích cực bảo vệ môi trường Vì vậy, DLST đang là hiện tượng mang tính toàn cầu.
Mối quan hệ giữa du lịch và môi trường
Du lịch và môi trường có mối quan hệ qua lại và không thể tách rời Sự phát triển của bất kỳ ngành nghề nào cũng gắn liền với vấn đề môi trường Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa đối với sự phát triển của ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao như du lịch Môi trường được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch, qua đó ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách, đến sự tồn tại của hoạt động du lịch
Hoạt động phát triển du lịch đồng nghĩa với việc gia tăng lƣợng khách du lịch, tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ và gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên…, từ đó dẫn đến sự gia tăng áp lực của du lịch đến môi trường Trong nhiều trường hợp, do tốc độ phát triển quá nhanh của hoạt động du lịch vƣợt ngoài nhận thức và năng lực quản lý nên đã tạo sức ép lớn đến khả năng đáp ứng của tài nguyên và môi trường, gây ô nhiễm cục bộ và suy thoái lâu dài.
Tình hình phát triển du lịch trên thế giới
Trong vài chục năm gần đây, du lịch trên thế giới phát triển rộng rãi và bắt đầu nảy sinh những ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường của từng quốc gia Vì thế các nhà du lịch thế giới quan tâm nhiều tới việc nghiên cứu những tác động xấu do lu lịch gây ra đối với môi trường và đề xuất những chiến lược phát triển du lịch mới tôn trọng môi trường
Ngay từ những năm 1980, khi các vấn đề phát triển bền vững bắt đầu đƣợc đề cập đã có nhiều nghiên cứu khoa học thực hiện nhằm phân tích những ảnh hưởng của du lịch đến sự phát triển bền vững Trọng tâm của các nhà nghiên cứu này nhằm giải thích cho sự cần thiết phải đảm bảo tính trọn vẹn của môi trường sinh thái trong khi tiến hành các hoạt động khai thác tài nguyên phục vụ cho phát triển du lịch tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững
Krippendorf (1975) và Jungk (1980) là những nhà khoa học đầu tiên trên thế giới cảnh báo về những suy thoái do hoạt động du lịch gây ra và đƣa ra khái niệm về loại du lịch “Du lịch cứng – hard tourism” để chỉ hoạt động du lịch gây ra ồ ạt và “Du lịch mềm – soft tourism” để chỉ một chiến lƣợc du lịch mới tôn trọng môi trường
Sự phát triển của du lịch đã có tác động tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng sống của người dân ở nhiều quốc gia trên thế giới Đặc biệt, du lịch còn đƣợc xem là cầu nối giữa các quốc gia, mang đến cho xã hội tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau và hòa bình giữa các dân tộc
Năm 1996, hưởng ứng chương trình hành động của hội nghị Earth Submit, ngành du lịch toàn cầu đại diện bởi 3 tổ chức quốc tế gồm Hội đồng lữ hành du lịch thế giới, Tổ chức du lịch thế giới và Hội đồng Trái Đất đã ứng dụng những nguyên tắc của Agenda 21 vào du lịch, phối hợp xây dựng một chương trình hành động với tên gọi “Chương trình nghị sự 21 về du lịch hướng tới phát triển bền vững về môi trường” Chương trình này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp du lịch, các chính phủ, các cơ quan du lịch quốc gia, các tổ chức thương mại và người đi du lịch
Chương trình nghị sự 21 về du lịch đã đưa ra các lĩnh vực ưu tiên hành động với mục đích xác định và dự kiến các bước tiến hành Chương trình này nhấn mạnh sự cần thiết phải phối hợp hành động giữa chính phủ, phân tích tầm quan trọng về chiến lƣợc và kinh tế của ngành du lịch, đồng thời nêu bật những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch theo hướng bền vững
Trên thế giới có nhiều quốc gia rất thành công trong việc phát triển du lịch, trong đó Australia thành công bởi có chiến lƣợc phát triển du lịch quốc gia rất khoa học và các chương trình du lịch sinh thái chú trọng công nghệ sạch và quản lý tài nguyên sinh thái: Tanzania quy hoạch phát triển du lịch sinh thái theo hướng cộng đồng và đảm bảo tính bền vững; Australia và Malaysia chú trọng đa dạng hóa các hình thức du lịch sinh thái và tổ chức nhiều chương trình kết hợp; Australia và Nepal, Nam Phi, Costa Rica, Tanzania tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa ngành du lịch với các ngành khác tăng cường quảng bá du lịch Tại Thái Lan để bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường, diện tích đất sử dụng để xây dựng các tiện nghi dịch vụ phục vụ cho khách du lịch thường là rất hạn chế Những nơi nào cần giới hạn khách du lịch tham quan thì chi phí tham quan sẽ đƣợc nâng cao, đồng thời họ cũng giới hạn tham quan cho khách du lịch trên các tuyến đường đã định sẵn dưới sự giám sát của nhân viên khu du lịch
Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm một số nước có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm nhƣ: nâng cao nhận thức về phát triển du lịch sinh thái; quy hoạch phát triển du lịch sinh thái bền vững theo hướng cộng đồng; tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng đa dạng hóa và nâng cao chất lƣợng sản phẩm; cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, doanh nghiệp, chính quyền và cộng đồng địa phương…
Tình hình phát triển du lịch Việt Nam
Ở Việt Nam, ngành du lịch đã đƣợc hình thành và phát triển hơn 50 năm, song hoạt động du lịch chỉ thực sự diễn ra sôi động từ thập niên 90 của thế kỷ trước, gắn liền với chính sách mở cửa hội nhập Trong các giai đoạn phát triển, mặc dù có những khó khăn nhất định, nhƣng du lịch Việt Nam vẫn duy trì đƣợc tốc độ tăng trưởng, dần khẳng định vị trí là một ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân
Nhờ thực hiện đường lối đổi mới về kinh tế, trong những năm gần đây, ngành du lịch Việt nam đã khởi sắc và ngày càng có tác động tích cực đến đời sống kinh tế xã hội của đất nước Kết quả, du lịch Việt Nam đã thu hút được nhiều khách trong nước và quốc tế Theo thống kê, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam không ngừng tăng, từ 1.351.000 lƣợt khách quốc tế năm 1995 lên 2.140.000 lượt năm 2000 và năm 2010, số lượt khách quốc tế đến nước ta đã đạt
5 triệu Lƣợt khách nội địa cũng tăng nhanh, đến năm 2010 đạt 28 triệu lƣợt khách [12]
Hệ thống sản phẩm, dịch vụ du lịch ngày càng đƣợc chú trọng nâng cao về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng Nhiều loại hình du lịch ra đời, cùng với đó là việc tạo ra các dịch vụ du lịch trọn gói chất lƣợng cao đã đem đến cho khách hàng sự hài lòng và tin tưởng Du lịch Việt Nam ngày càng có sự liên kết đa quốc gia, phát triển du lịch quốc tế nhờ đó mà nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động du lịch ngày càng tăng Trong những năm qua, ngành du lịch nước ta với việc chú trọng thực hiện các chương trình quảng bá và xúc tiến du lịch đã góp phần tích cực đƣa hình ảnh Việt Nam thân thiện mến khách đến với bạn bè quốc tế
Ngành du lịch ngày càng phát triển và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần đáng kể vào thu nhập quốc dân
Trong những năm gần đây, các tác động của du lịch đến môi trường tự nhiên xã hội đang là mối quan tâm lớn của nhiều nhà nghiên cứu Điều này cho thấy sự quan tâm đến môi trường trong hoạt động du lịch đang trở nên bức thiết Hàng loạt các cuộc hội thảo nhƣ: “Hội thảo quốc tế và phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam: do Tổng cục du lịch Việt Nam kết hợp với quỹ Hains Seidel (CHLB Đức) tổ chức tại Huế (5/1997), “Hội thảo về DLST với PTBV ở Việt Nam” của Phạm Trung Lương (2002), “PTBV du lịch biển Cửa Lò thực trạng và những vấn đề đặt ra” của Phạm Trung Lương (2006), “Quy hoạch không gian để bảo tồn thiên nhiên ở khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang, một phương pháp tiếp cận sinh thái” trong Dự án khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang…
Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường của trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam và các trường khác:
- Bùi văn Thương: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái đến môi trường tự nhiên tại khu du lịch sinh thái Cửu Thác – Tú Sơn - Kim Bôi – Hòa Bình” – Khóa luận tốt nghiệp, ĐHLN, năm 2011 Đề tài đã đƣa ra đƣợc một số giải pháp và các mô hình đƣa ra chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu, chƣa có thời gian kiểm nghiệm tính khả thi
- Nguyễn Thùy Linh: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường tại khu du lịch Yên Tử - Thị xã Uông Bí – Tỉnh Quảng Ninh” - Khóa luận tốt nghiệp, ĐHLN, năm 2011 Đề tài nghiên cứu về hiện trạng hoạt động và ảnh hưởng của hoạt động du lịch từ đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động Các giải pháp rất có tính thiết thực song không có các dự báo, không có tính thuyết phục
- Đàm Thị Kiều Chinh: “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới môi trường sinh thái tại khu di tích lịch sử Pác Pó xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Tỉnh Cao Bằng” - Khóa luận tốt nghiệp năm 2014
- Lý Thị Ngọc Nga: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường khu du lịch Sapa – tỉnh Lào Cai” Khóa luận tốt nghiệp năm 2015 Đề tài nghiên cứu các ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường Đối tượng điều tra tương đối rộng, các giải pháp đưa ra chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu Cần nghiên cứu sâu hơn về vấn đề môi trường và ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường
Tại khu vực nghiên cứu, hiện nay chƣa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề này
Trên thế giới và Việt Nam, cho đến nay nghiên cứu về DLST và ảnh hưởng của DLST đến môi trường, có rất nhiều các công trình, các đề tài đã đƣợc thực hiện Hòa Bình là một trong những tỉnh có vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, cảnh quan tự nhiên…thuận lợi cho phát triển du lịch Hoạt động du lịch tại khu du lịch Suối Khoáng Kim Bôi cũng đang từng bước chú trọng phát triển hoạt động du lịch, khai thác có hiệu quả các tiềm năng vốn có mà thiên nhiên đã ban tặng Để hoạt động du lịch mang lại hiệu quả cao nhằm hướng đến du lịch phát triển một cách bền vững, cần đưa ra định hướng cơ bản và kế hoạch cụ thể trong những năm tới cho ngành du lịch từ đó đề xuất giải pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường do hoạt động du lịch ở Suối Khoáng.
Kết quả nghiên cứu về Du lịch – Môi trường trên cả nước và trong khu vực nghiên cứu
Du lịch đã và đang trở thành một nhu cầu trong đời sống văn hóa xã hội của con người Trong những năn gần đây, hòa chung vào xu thế phát triển của ngành du lịch thế giới, du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, dần tạo lập đƣợc vị thế trong khu vực cũng nhƣ trong mắt bạn bè quốc tế, đóng góp một phần đáng kể trong phát triển kinh tế xã hội đất nước Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực mà du lịch đem lại thì du lịch cũng đang bộc lộ những mặt trái tác động không nhỏ đến tài nguyên môi trường Theo báo cáo sơ bộ của Thanh tra Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch thực hiện với 23 điểm, khu du lịch tại 5 tỉnh thành phố Lào Cai, Hải Dương, Quảng Ninh, Điện Biên, Ninh Bình đã đƣa ra nhiều con số gây sốc Có 22/23 đơn vị hoạt động du lịch không có giấy phép xả thải do Sở Tài nguyên – Môi trường cấp; 20/23 đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch không xây dựng kế hoạch, chương trình hành động bảo vệ môi trường hằng năm…Trong đó nhiều khu du lịch sử dụng nguồn nước khoáng để kinh doanh nhưng lại chưa có kế hoạch bảo vệ và phát triển môi rường bền vững, điều này đã gây ra áp lực đối với môi trường
Suối Khoáng Kim Bôi là nơi có trữ lượng nước ngầm khá lớn Rất thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch nhằm tăng doanh thu phục vụ cho kinh tế tại địa phương Song song với việc phát triển du lịch là vấn đề môi trường mà không một ngành nào không đặc biệt quan tâm Là đơn vị hoạt động du lịch có giấy phép xả thải do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp, thực hiện nghiêm túc việc vận hành hệ thống xử lý nước thải theo đúng thiết kế xây dựng, đúng quy trình vận hành đảm bảo nước thải sau xử lý đạt Quy chuẩn Việt Nam.
MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Nhằm hạn chế đƣợc các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Suối Khoáng – Kim Bôi
- Đánh giá đƣợc hiện trạng phát triển du lịch tại khu du lịch suối khoáng Kim Bôi – Hòa Bình
- Đánh giá được ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch suối khoáng Kim Bôi – Hòa Bình
- Đánh giá được thực trạng quản lý môi trường tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch.
Phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Các hoạt động du lịch, hoạt động quản lý môi trường tại khu du lịch Suối Khoáng – Kim Bôi – Hòa Bình
- Địa điểm nghiên cứu: Khu du lịch Suối Khoáng Kim Bôi trên địa bàn xóm Mớ Đá - xã Hạ Bì – huyện Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình
- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 22 tháng 02 năm 2016 đến ngày 31 tháng
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển du lịch và công tác quản lý môi trường tại khu du lịch Suối Khoáng Kim Bôi
- Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến chất lượng môi trường sinh thái khu du lịch Suối Khoáng Kim Bôi
- Đề xuất giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu vực nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nội dung nghiên cứu đƣợc đề ra, trong quá trình thực hiện đề tài, các phương pháp được sử dụng như sau:
2.4.1 Kế thừa số liệu, điều tra khảo sát thực địa
Thu thập những số liệu, tài liệu có sẵn về điều kiện tự nhiên, tỷ lệ dân số, tình hình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục và các vấn đề về môi trường Các thông tin được thu thập tại UBND xã Hạ Bì, Ban quản lý khu du lịch Suối Khoáng Kim Bôi và các cơ quan liên quan khác Cụ thể nhƣ sau:
- Thu thập các số liệu, tài liệu có sẵn về lƣợng khách du lịch, điều kiện cơ sở vật chất, dịch vụ du lịch
- Bản đồ chi tiết của khu vực
- Các loại hình hoạt động của khu du lịch và các sản phẩm du lịch chính
- Các dự án hiện tại và tương lai của khu du lịch Suối Khoáng
- Số liệu phân tích chất lượng nước, các thông số môi trường, quan trắc chất lƣợng không khí…
Khảo sát thực địa: Việc khảo sát thực địa giúp nắm rõ tình hình thực tế tại khu du lịch, từ đó có đƣợc những thông tin chính xác và cụ thể, định hình đƣợc vấn đề thực tế cần thực hiện để đƣa ra những đề xuất phù hợp
Bảng 2.1 Bảng điều tra thực địa
Cách thực hiện Địa điểm Đối tƣợng Mục đích
Quan sát trực tiếp, ghi âm và chụp ảnh hiện trạng
Các khu vực diễn ra hoạt động du lịch, khu vực dịch vụ phục vụ du lịch
- Các hoạt động của du khách
- Các yếu tố môi trường đất, nước, không khí
- Các cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch: sức chứa, các tiện nghi tiêu thụ năng lƣợng…
- Đánh giá sơ bộ hiện trạng khu du lịch về môi trường qua đó xác định các ấn đề còn tồn tại
- So sánh độ tin cậy từ các thông tin từ tài liệu
- Làm cơ sở, tài liệu cho đề tài
2.4.2 Phương pháp điều tra và lấy mẫu
Qua quá trình khảo sát thực địa tại khu vực nghiên cứu từ đó thống kê địa điểm nguồn nước thải, lượng rác thải phát sinh theo thời gian
Phân tích chất lượng nước: Tại khu vực nghiên cứu tiến hành lấy mẫu nước đầu vào tại khu vực gần ao cá và mẫu nước thải cạnh bể tắm số 1 sau đó bảo quản mẫu rồi đem phân tích Quá trình lấy mẫu nước được thực hiện theo TCVN 5996:1995
2.4.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp phỏng vấn giúp cho người nghiên cứu có được các thông tin cập nhật nhanh nhất, thực tế về những vấn đề đang quan tâm thông qua tiếp xúc nói chuyện Để đánh giá chính xác hơn về chất lượng môi trường tại khu vực Tác giả đã đƣa ra 30 mẫu phỏng vấn tại các vị trí: Cổng chính khu du lịch, khu vực nhà nghỉ, khu vui chơi, các bể tắm với nội dung chủ yếu sau:
- Các hình thức du lịch ở đây thuộc dạng nào?
- Đánh giá nhƣ thế nào về mức độ hấp dẫn tại khu du lịch?
- Nhận xét về việc thu gom rác thải?
2.4.4 Phương pháp phân tích, thống kê, xử lý số liệu
Dựa trên các kết quả thu đƣợc từ đó đƣa ra các giải pháp, xây dựng, quy hoạch tổng thể về quản lý môi trường cho khu vực nghiên cứu
Tổng hợp tài liệu thu thập và kế thừa có chọn lọc các thông tin, dữ liệu có liên quan đến đề tài từ các nguồn dự liệu (từ các đề tài nghiên cứu, tài liệu hội thảo, từ Internet, sách báo…) sau đó phân tích tổng hợp, đánh giá và so sánh từng vấn đề riêng biệt phục vụ cho nội dung đề tài.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
Điều kiện tự nhiên
Khu du lịch Suối khoáng Kim Bôi nằm trên địa bàn xã Hạ Bì – huyện
Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình Về mặt địa giới:
Phía Bắc giáp xã Thƣợng Bì
Phía Đông giáp xã Trung Bì
Phía Tây giáp xã Vĩnh Đồng
Phía Nam giáp thị trấn Bo và xã Kim Tiến
Khu du lịch Suối Khoáng về phạm vi, quy mô diện tích là: 68.484,5m 2 cách Thành phố Hòa Bình 30km theo hướng ngược Hà Nội, địa bàn có tuyến đường quốc lộ 12B rất thuận lợi về nhiều mặt so với các xã khác trong huyện đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội [5]
Hạ Bì là một xã thuộc huyện miền núi, địa hình khá phức tạp bị chia cắt bởi hệ thống khe suối và núi đá vôi cao Độ cao trung bình khoảng 310m, địa hình toàn vùng không đồng nhất, chia cắt mạnh, nơi cao, nơi thấp chênh lệch nhau Núi đá tai mèo, sắc nhọn, hiểm trở với độ dốc lớn Các điểm dân cƣ tập trung ở các thung lũng hẹp nằm dọc theo các con suối và đường giao thông Vùng này địa hình chủ yếu là những cánh đồng tương đối bằng phẳng được bao bọc bởi những dãy núi, đồi thuận lợi cho trồng lúa nước và các loại cây hoa màu trồng vào vụ đông nhƣ cây ngô, khoai tây, xu hào, bắp cải, dƣa chuột vv… của các thôn trong xã Tóm lại, nơi đây là nơi canh tác lúa nước lâu đời của bà con Với nguồn nước tưới tiêu chảy từ các khe đồi, núi từ xã Thượng Tiến, qua xã Vĩnh Đồng về, nước trong vắt, ít ô nhiễm nên lúa và cây hoa màu ở đây cũng ít sâu bệnh, tránh đƣợc việc phun thuốc trừ sâu, là lúa và hoa màu sạch
3.1.3 Khí hậu - Thủy văn a Khí hậu
Vị trí xã Hạ Bì tiếp giáp trung du, miền núi và đồng bằng nên vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa mang nét khí hậu miền Tây Bắc Mùa mƣa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô (hanh, lạnh, mƣa ít) bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau với nhiệt độ trung bình từ 16 đến 22 o C, khí hậu khô hanh, độ ẩm thấp, chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm cao
- Nhiệt độ trung bình năm khá cao bình quân/năm là 25,8 o C, cao nhất là
38 o C, thấp nhất là 14 o C Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm từ 6 – 10 o C
- Chế độ mƣa: mùa mƣa bắt đầu từ tháng 4, lƣợng mua trung bình 1.833,4mm tổng số ngày mƣa trung bình năm là 130,1 ngày Tháng mƣa nhiều nhất là tháng 7, 8 và tháng 9 chiếm khoảng 80% lƣợng mƣa cả năm Hàng năm vào mùa mưa thường xảy ra lũ quét gây ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất, đi lại và làm sạt lở đất đá Đặc biệt là xảy ra lở núi đá và lở đất hai bên ven các con suối
- Bốc hơi: bình quân năm 950,5mm Lƣợng bốc hơi cao nhất là 1.050mm và thấp nhất là 825mm
- Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình năm trên 84% đến 85%, những tháng khô hạn nhất của mùa khô, độ ẩm trung bình tháng vẫn thường trên 64% Độ ẩm không khí cao nhất là tháng 9 khoảng 90%, độ ẩm trung bình thấp nhất là 64% vào tháng 12
- Chế độ nắng: số giờ nắng trung bình 1.500 – 1.555 giờ/ năm Các tháng mà đông 70 – 80 giờ, ở các tháng mùa hè là 160 – 180 giờ
- Chế độ gió: chịu ảnh hưởng của hai chế độ gió chính là: gió màu Đông Bắc từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau Đặc điểm của chế độ gió này thường kéo theo không khí lạnh và khô hanh, thỉnh thoảng có mưa phùn Gió mùa Đông Nam hoạt động từ tháng 4 đến tháng 10 mang theo độ ẩm và hơi nước nhiều, cường độ gió mạnh
Bảng 3.1: Bảng tổng hợp số liệu quan trắc các yếu tố khí tƣợng của khu vực Suối Khoáng
STT Yếu tố khí tƣợng Số liệu
1 Nhiệt độ bình quân năm ( o C) 25,8
4 Lƣợng mƣa bình quân năm (mm) 1833,4
5 Lƣợng mƣa cao nhất (mm) 2250
6 Lƣợng mƣa thấp nhất (mm) 1430
7 Độ ẩm không khí bình quân năm (%) 85%
10 Lƣợng bốc hơi bình quân năm (mm) 950,5
11 Lƣợng bốc hơi cao nhất (mm) 1.050
12 Lƣợng bốc hơi thấp nhất (mm) 825
(nguồn: UBND xã Hạ Bì) b Thủy văn
Nguồn nước mặt được hình thành bởi hệ thống sông, suối phân bố không đều Đặc biệt tại xóm Mớ Đá có nguồn nước suối khoáng nóng hiện đang được khai thác để phục vụ cho khu du lịch Suối Khoáng, nghỉ dƣỡng và khai thác chế biến nước uống, ước tính trữ lượng khoảng 300 triệu m 3 / năm Ngoài ra nguồn nước ngầm trong vùng đến nay chưa có điều kiện để điều tra thăm dò, song theo dự đoán của các chuyên gia về địa lý thì trong vùng có trữ lượng nước ngầm khá lớn, điều này tạo thuận lợi cho việc phát triển du lịch, chữa bệnh, giải khát đem lại nguồn lợi kinh tế cho xã Hạ Bì nói riêng và huyện Kim Bôi nói chung.
Điều kiện kinh tế- xã hội [5]
Khu du lịch Suối Khoáng thuộc xóm Mớ Đá, xã Hạ Bì, huyện Kim Bôi, thành phố Hòa Bình
3.2.1 Điều kiện kinh tế a Kinh tế chung
Theo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển Kinh tế - Xã Hội của UBND xã Hạ Bì:
- Tổng thu nhập GĐP toàn xã hàng năm tăng từ 8 – 10%
Ngành nông nghiệp chiếm dưới 31,32%
Ngành tiểu thủ công nghiệp trên 25,46%
Ngành xây dựng cơ bản tăng trên 43,22%
- Tổng thu nhận đầu người đạt 8,6 triệu đồng năm 2011 tăng lên 18,6 triệu đồng năm 2015
- Tổng diện tích gieo trồng cay hàng năm từ 712 ha năm 2011 xuống còn
- Năng suất lúa bình quân năm 2011 đạt 5,6 tấn/ha lên 6,5 tấn/ha năm
2015 tăng 114,8% so vơi nghị quyết đại hội XII của Đảng bộ
- Thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng ủy về phủ xanh đất trống đồi núi trọc năm 2011 xã trồng đƣợc 6 ha rừng nguyên liệu, năm 2015 trồng đƣợc
12 ha rừng phòng hộ và rừng nguyên liệu
- Tỷ lệ hộ nghèo năm 2011 là 50,1% tổng số hộ, đến năm 2015 xuống còn 17,1%
- Tổng thu ngân sách xã hàng năm đều tăng
- An ninh chính trị trật tự an toàn xã hội đƣợc giữ vững b Hoạt động kinh tế
Nông lâm nghiệp Đất nông nghiệp có diện tích 492,65 ha chiếm 65,71% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó:
+ Đất sản xuất nông nghiệp có diện tích là 207,05 ha chiếm 25,77% tổng diện tích đất tự nhiên
+ Đất lâm nghiệp có diện tích 181,92 ha chiếm 24,26% tổng diện tích đất TN
+ Đất nuôi trồng thủy sản có diện tích 2,17 ha chiếm 0,03% tổng diện tích đất TN
Bình quân diện tích sản xuất nông nghiệp là: 380m 2 /người Năng suất lúa mùa đạt 55 tạ/ha, ngô đạt 52 tạ/năm, rau vụ đông năng suất 100 tạ/ha, các loại cây trồng khác đạt 45 tạ/ha Nhìn chung trồng trọt ở đây phát triển Ngoài ra cây ăn quả, cây đặc sản đƣợc đầu tƣ phát triển phục vụ kinh tế và du lịch
- Về chăn nuôi: tổng đàn gia súc, gia cầm nhƣ sau: Đàn trâu: 312 con; đàn bò: 368 con; lợn: 2356 con; đàn dê: 140 con; đàn gia cầm: 27.000 con
Công tác thú y đƣợc chú trọng, đàn gia súc, gia cầm đƣợc tiêm phòng đạt 97,7% Chính vì vậy, nhiều năm qua trên địa bàn không có dịch bệnh lớn xảy ra Nhìn chung chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển tốt, hiện tƣợng chăn thả tự do ít chủ yếu là chăn dắt và thả tập trung theo quy định của địa phương
Ngành nông nghiệp luôn đƣợc xác định là ngành kinh tế quan trọng chủ yếu của xã chiếm tỷ trọng thu nhập lớn của toàn xã Tuy nhiên, do đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng và thương mại du lịch nên ảnh hưởng đến diện tích cấy lúa bị giảm dần
Trong 5 năm qua (2011 – 2016) ngành nông lâm nghiệp có sự chuyển biến rõ rệt chỉ đạo và thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi có hiệu quả, đầu tƣ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ cấu lúa chất lƣợng cao chiếm tỷ lệ lớn Cây vụ đông trên ruộng 2 vụ được nhân dân thâm canh bước đầu có hiệu quả, tăng hệ số sử dụng đất, ngoài ra nhân dân còn chú trọng trồng các loại cây màu: lạc, sắn, khoai lang, rau màu các loại…
Công tác trồng rừng và chăm sóc bảo vệ rừng: tổng diện tích rừng đƣợc bảo vệ là: 159,87 ha, đến nay toàn xã đã trồng đƣợc 12 ha rừng nguyên liệu và rừng phòng hộ Do quán triệt chặt chẽ đến nhân dân nên trong những năm qua không xảy ra các vụ đốt rừng nương rẫy hoặc gây cháy rừng
Hoạt động dịch vụ, du lịch
Hoạt động dịch vụ du lịch phát triển mạnh chủ yếu tập trung ở khu vực khoáng xuất hiện từ rất lâu, nơi đây được coi như một phương tiện nhằm tái hồi sức lao động của con người sau những tháng, năm lao động vất vả Nơi này không chỉ là nơi nghỉ dưỡng lý tưởng mà còn là nơi du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng thông qua việc ngâm mình trong nước, uống nước khoáng để điều trị nhiều loại bệnh của thời đại
Giai đoạn 2011 đến 2015 đã cấp đƣợc 427 giấy chứng nhận quyền sử dụng, Trong đó: 62 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, 333 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng, 32 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Hàng năm đều thực hiện tốt quy hoạch và có kế hoạch trong quản lý sử dụng đất đai của xã cho thương mại du lịch, văn hoá thể thao Kiểm tra trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai của nhân dân nên trong những năm qua phần nào hạn chế đƣợc các vụ vi phạm luật đất đai
Về phát triển tiểu thủ công nghiệp – xây dựng cơ bản
Hai ngành tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản hàng năm đều tăng lên chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập Có 33 hộ làm tiểu thủ công nghiệp năm 2011 lên 197 hộ năm 2015 Kiên cố hoá được 11,4km mương chính, Bê tông hóa được 4,53 Km đường giao thông nông thôn, Trường học cả 3 cấp đều đƣợc đầu tƣ xây dựng đến nay cơ bản đã đáp ứng đủ lớp học cho học sinh
Công tác tài chính ngân sách
Trong những năm qua dưới sự chỉ đạo của Đảng uỷ – HĐND – UBND đã thực hiện thu ngân sách có hiệu quả quản lý chặt chẽ Hàng năm đều có kế hoạch chỉ tiêu thu, chi ngân sách ngân sách trình trước kỳ họp HĐND để quyết định
Công tác giáo dục đào tạo
Luôn được Đảng và nhà nước quan tâm nên trong những năm qua đã thu được những kết quả đáng khích lệ, tỷ lệ trẻ em đến trường đạt 100% trẻ em trong độ tuổi và tổ chức chỉ đạo có hiệu quả trong công tác phổ cập giáo dục THCS đến nay đƣợc tỉnh công nhận là xã hoàn thành công tác Phổ cập THCS, chất lƣợng dạy và học ngày càng đƣợc nâng cao tỷ lệ giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh chiếm 18,6%, giáo viên dạy giỏi cấp huyện chiếm 58% Hàng năm thi chuyển lớp chuyển cấp đạt 99% Đến năm 2015 trường Tiểu học đã được công nhận trường chuẩn quốc gia mức độ 2; trường Trung học cơ sở được công nhận trường chuẩn quốc gia
Công tác y tế – dân số gia đình trẻ em
Dưới sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành đoàn thể từ xã đến cơ sở nên trong những năm qua công tác y tế được phát triển thực hiện tốt các chương trình của quốc gia như: phòng chống sốt rét, phòng chống bướu cổ, tiêm chủng, phòng chống HIV/AIDS, toàn xã có 6 ytế thôn bản phụ trách công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân Đặc biệt trạm y tế xã đã phối hợp cùng với ban số gia đình trẻ em xã thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em như: thực hiện chương trình kế hoạch hoá gia đình, khám điều trị các bệnh phụ khoa, tiêm chủng thường xuyên cho phụ nữ có thai và trẻ em dưới 12 tháng tuổi
Công tác dân số gia đình trẻ em: Được Đảng và nhà nước chú trọng nên trong những năm qua công tác KHHGĐ được người dân thực hiện tốt và có hiệu quả Tỷ lệ cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai 88% các cặp vợ chồng, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên năm 2011 là 1,49% đến 2015 giảm xuống còn 1,0%, hàng năm đều vận động nhân dân cùng các ban ngành đoàn thể ủng hộ các em thiếu niên nhi đồng trong dịp tết thiếu nhi và rằm trung thu
Công tác văn hoá xã hội – thể dục thể thao
Việc tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, các chỉ thị nghị quyết của Đảng uỷ – HĐND đến người dân để người dân nắm đƣợc thực hiện có hiệu quả
Văn hoá văn nghệ đƣợc quan tâm chỉ đạo hàng năm đều tổ chức các buổi giao lưu văn nghệ vào các dịp ngày lễ quốc khánh và tết nguyên đán, toàn xã có
6 đội văn nghệ ở 6 xóm thường xuyên luyện tập và đi giao lưu, thi ở huyện đều
Hoạt động thể dục thể thao: thực hiện rèn luyện thân thể theo gương Bác
Hồ vĩ đại, xã thường xuyên tổ chức các giải bóng chuyền vào những ngày lễ lớn và tết nguyên đán thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình hưởng ứng Tham gia đầy đủ các giải thể thao do huyện tổ chức đều giành đƣợc giải đây chính là thể hiện sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Đảng uỷ – HĐND về công tác thể dục thể thao
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Thực trạng phát triển du lịch và công tác quản lý môi trường tại khu du lịch Suối Khoáng Kim Bôi – Hòa Bình
du lịch Suối Khoáng Kim Bôi – Hòa Bình
4.1.1 Thực trạng phát triển du lịch
4.1.1.1 Hiện trạng khách du lịch đến với khu du lịch suối khoáng a Số lượng khách du lịch
Trong những năm qua thực hiện chính sách đổi mới nền kinh tế của Đảng và Nhà nước đã xác định phát triển du lịch là một trong những chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của xã Với thế mạnh về nguồn nước nóng thiên nhiên, du lịch Suối Khoáng có những bước phát triển thể hiện qua các chỉ tiêu cơ bản về khách du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực, doanh thu từ du lịch
Lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến khu du lịch suối khoáng Kim Bôi để tham quan, nghỉ dƣỡng và chữa bệnh ngày càng tăng Việc phát triển du lịch đem lại những lợi ích không nhỏ cho khu vực nhƣ phát triển kinh tế
- xã hội, nâng cao đời sống, bảo tồn các giá trị thiên nhiên, văn hóa, lịch sử ngoài những tác động tích cực trên việc phát triển du lịch cũng kéo theo nhiều tác động tiêu cực tới kinh tế xã hội và môi trường của khu vực Để đánh giá về sự biến động của khách du lịch đến Suối Khoáng tôi đi phân tích hai nội dung liên quan đến khách du lịch đó là: Lượt khách đến lưu trú và lƣợt khách đến trong ngày
Bảng số liệu về tình hình lượt khách đến lưu trú trong bốn năm 2011 –
2015 được thể hiện dưới bảng sau:
Bảng 4.1 Bảng thống kê số lượt khách đến lưu trú tại khu du lịch
STT Năm Số lƣợng khách Ghi chú
(Nguồn: Phòng hành chính khu du lịch suối khoáng Kim Bôi) Khách du lịch thường đi theo đoàn tới nhiều điểm để tham quan vì vậy, tỷ lệ khách lưu trú so với tỷ lệ khách đến tham quan, tắm nước nóng thường rất nhỏ Để đánh giá số lƣợng khách du lịch đến trong ngày, tôi đã tiến hành thống kê qua số lƣợng bán vé ra, kết quả thể hiện ở bảng 4.2:
Bảng 4.2 Bảng thống kê số lƣợt khách đến trong ngày tại khu du lịch Suối
STT Tháng Số lƣợng khách/ ngày
Số lƣợng khách/ tháng Ghi chú
Lƣợng khách đến với Suối Khoáng trong những năm vừa qua là tăng dần đều, trung bình mỗi năm đón khoảng gần 200.000 lƣợt khách/ năm, chủ yếu là khách sử dụng dịch vụ tắm khoáng, lƣợng khách sử dụng dịch vụ qua đêm khoảng 25.000 lƣợt khách/ năm [7]
Từ bảng số liệu 4.1 cho thấy từ năm 2011 đến nay số lƣợng khách đã tăng lên đáng kể Lượt khách lưu trú năm 2011 là 22.032 lượt khách thì đến năm
2015 số lƣợt khách đã tăng lên 24.808 lƣợt Qua bảng 4.2 lƣợt khách đến trong ngày của tháng 2 là 396 lƣợt/ngày thì đến tháng 5 là 548 lƣợt/ngày Vì là thời điểm đầu mùa hè nên lƣợng khách tháng 4, tháng 5 tăng nhanh hơn so với các tháng Chỉ tính 4 ngày nghỉ 30/4 và 1/5 mỗi ngày Suối Khoáng đón khoảng 700
- 800 khách du lịch Có được sự tăng trưởng như vậy là do những năm qua công ty không ngừng đầu tƣ quảng bá, nâng cao cơ sở vật chất và các dịch vụ thành công
Do đặc trưng là khu du lịch tắm nước khoáng nóng nên lượng khách du lịch tập trung chủ yếu vào mùa đông và mùa hè Khách du lịch đến Suối Khoáng chủ yếu là khách nội tỉnh và một vài tỉnh thành phố lân cận rồi cán bộ nghỉ hưu an dưỡng, lượng khách nước ngoài không đáng kể khoảng 4 - 5% Đa số khách du lịch đến là nghỉ ngơi giải trí hoặc khách kết hợp nghỉ ngơi giải trí với công việc; cũng có đoàn khách vừa kết hợp thăm thân cùng với nghỉ ngơi giải trí Thông qua sự biến động khách ta nhận thấy chiếm tỷ trọng lớn nhất là khách nội địa, tốc độ tăng trưởng bình quân 7,5% Tỷ lệ khách đến lưu trú thấp hơn so với tỷ lệ khách đến trong ngày, đây là một trong những nguyên nhân làm giảm doanh thu từ du lịch Đời sống người dân ngày càng được nâng cao nên đây không những là nơi tham quan, nghỉ ngơi cuối tuần cho người dân thủ đô mà còn thu hút được nhiều du khách trong cả nước b Cơ sở vật chất kỹ thuật của khu du lịch
Thời gian qua Khu du lịch Suối Khoáng Kim Bôi đã đầu tƣ xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển dịch vụ du lịch và nghỉ dƣỡng những cơ sở chính của công ty đã đƣợc đầu tƣ xây dựng tạo thành một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hướng vào phục vụ cho các dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng bao gồm:
Khu bể tắm nước khoáng nóng;
Khu nhà nghỉ phục vụ khách lưu trú;
Khu nhà hàng, dịch vụ;
Khu văn phòng điều hành;
Hệ thống sân bãi, khu vui chơi giải trí công cộng;
Hệ thống cơ sở vật chất của Khu du lịch đã đƣợc kết nối với hệ thống cơ sở hạ tầng khá đồng bộ của cả huyện đã tạo ra điều kiện khá tốt cho hoạt động kinh doanh dịch vụ ở đây ngày càng mở rộng và hiệu quả hơn
Các sản phẩm du lịch của Khu du lịch tập trung vào các mảng chính đó là:
- Dịch vụ lưu trú: trong thời gian qua, các cơ sở lưu trú của khu du lịch đã không ngừng nâng cấp Hiện nay tổng số phòng nghỉ của Khách sạn là trên 100 phòng, trong đó có 30 phòng chuẩn chất lƣợng cao, 4 phòng VIP, 64 phòng tiêu chuẩn; có 3 phòng nhà sàn nghỉ giờ đƣợc lắp đặt điều hòa Trong đó có 10 phòng vip mới đƣa vào hoạt động từ tháng 7 năm 2015
- Dịch vụ văn hóa và vui chơi giải trí: các công trình phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi thƣ giãn cho du khách đƣợc xây dựng; hệ thống các nhà hàng có sự tăng nhanh về lƣợng và chất, đủ tiện nghi và điều kiện phục vụ, đáp ứng nhu cầu của các đối tƣợng khách có thu nhập và chi tiêu khác nhau Tại đây bạn có thể chơi tennis, thi đấu cầu lông, bóng bàn tại các khu riêng và thưởng thức những món ăn đậm chất dân tộc Mường: cỗ lá lợn Mán, lợn rừng, cá suối chiên dòn, thịt trâu lá lồm, gà đồi loóng chuối rừng, canh gà măng chua, cơm lam chấm muối vừng, rau đồ rừng chấm lòng cá…
- Dịch vụ tắm khoáng nghỉ dưỡng: với tổng số 04 bể bơi nước khoáng với sức chứa tối đa 300 khách/bể, hơn 20 phòng tắm xoáy nhỏ, 3 phòng tăm xoáy lớn, 2 khu tắm cao cấp, 4 gian hàng bán và cho thuê đồ bơi Đến đây, du khách có thể nghỉ ngơi và tận hưởng nguồn suối nóng được phun từ độ sâu 175,5m dẫn trực tiếp vào các bể tắm Dịch vụ tắm khoáng ở đây rất phong phú, đƣợc trang bị hệ thống đạt tiêu chuẩn để phục vụ khách có nhu cầu massage thƣ giãn, tắm bồn sục xoáy cá nhân, tắm âm dương hoặc tắm tia…đặc biệt còn có thể làm đẹp với dịch vụ tắm bùn, tắm bằng lá thuốc chữa bệnh
- Dịch vụ hội thảo, hội nghị đƣợc xây dựng với 02 phòng hội thảo lớn có sức chứa tối đa 250 khách, 04 phòng hội thảo nhỏ có sức chứa từ 20 – 50 khách, trang thiết bị hiện đại đáp ứng được nhu cầu phục vụ các hội nghị trong nước và quốc tế
4.1.1.2 Sự sảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến sự phát triển Du lịch và Môi trường tại khu du lịch Đối với hoạt động du lịch, địa hình và khí hậu của một vùng đóng một vai trò quan trọng với việc thu hút khách Xã Hạ Bì có dãy núi non trùng điệp bao quanh xã, vài ngọn núi mọc lên giữa cánh đồng với những hình thù kỳ lạ, với vài hang động nhƣ Hang Đắng thuộc xóm Nội Sung, hang Trống Kèn, hang Cái, Đầm Khắn.v.v tạo nên cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, nên thơ, khí hậu mát mẻ trong lành…Tất cả là những dấu tích thể hiện bề dầy truyền thống văn hóa, lịch sử thời tiền sử về nguồn gốc xứ Mường của xã Hạ Bì
Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến chất lượng môi trường sinh thái tại
4.2.1 Thực trạng môi trường tại khu vực nghiên cứu
Ngành du lịch có ảnh hưởng rất rõ nét lên nền kinh tế của địa phương thông qua việc tiêu dùng của du khách Khi đi du lịch du khách cần đƣợc ăn uống, lưu trú, mua quà và các dịch vụ khác Như vậy, du lịch đã tạo nên công ăn việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống cho nhân dân địa phương, từng bước làm thay đổi nền kinh tế
Trong những năm gần đây, yếu tố môi trường ngày càng chuyển biến theo chiều hướng bất lợi cho sức khỏe con người và gây ra nhiều loại bệnh tật hơn cho con người như: thực phẩm bị ô nhiễm do vi sinh vật và chất lượng nước không đảm bảo, rác thải không đƣợc quản lý, ô nhiễm không khí, điều kiện ăn ở thiếu thốn…thì dịch bệnh dễ phát sinh đã tác động xấu đến sức khỏe con người
Khu du lịch Suối Khoáng Kim Bôi ngày càng phát triển kéo theo đó là những tác động của hoạt động du lịch đến môi trường:
4.2.1.1 Tình hình phát sinh nguồn thải trên địa bàn khu du lịch
Vấn đề rác thải môi trường luôn là một trong những vấn đề bức thiết không có khu du lịch nào là không gặp phải Cùng với sự phát triển về du lịch thì lƣợng chất thải sẽ càng lớn, tính độc hại và thành phần cũng biến đổi ngày càng phức tạp a Chất thải rắn
Trên địa bàn khu du lịch Suối Khoáng rác thải đƣợc phát sinh từ các nguồn nhƣ: khu dịch vụ ăn uống, khu chợ, khu vui chơi và khu vực du khách đi dạo Các nguồn phát sinh rác thải có tính chất phát thải khác nhau nên thành phần của chúng cũng khác nhau:
- Rác từ chợ: nguồn rác này phát sinh từ hoạt động mua bán ở chợ, thành phần chủ yếu là rác thải hữu cơ bao gồm: măng tươi, rau quả tươi và các loại thực phẩm đã quá hạn
- Rác thương mại và dịch vụ: nguồn rác này phát sinh từ hoạt động buôn bán của các nhà hàng, khu dịch vụ ăn uống, thành phần chủ yếu: thức ăn thừa, túi nilon, vỏ cơm lam…
- Rác của du lịch để lại: túi nilon, chai lọ…
Rác thải tại khu du lịch không đa dạng, thành phần chủ yếu đƣợc thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 4.3 Thành phần rác thải tại khu du lịch Suối Khoáng
STT Thàh phần Tỷ lệ (%)
(Nguồn: tác giả tự điều tra, 2016)
Qua bảng số liệu trên cho thấy, tỷ lệ rác thải hữu cơ chiếm cao nhất là 80% Các chất thải hữu cơ bao gồm: cơm, canh, thực phẩm thừa phát sinh từ các nhà hàng ăn uống và một phần từ các hộ gia đình Ngoài ra còn một số mặt hàng bán ở chợ như của quả, măng tươi…Nilon và các loại rác thải khó phân hủy hiện nay không xuất hiện nhiều b Nước thải
Là khu du lịch có dịch vụ tắm khoáng nghỉ dƣỡng, với 4 bể bơi lớn và nhiều lần so với nước thải sinh hoạt từ các khu nhà hàng Như đã phân tích chất lượng nước thải ở các bảng: 4.5; 4.6 và 4.7 cho kết quả là các chỉ tiêu không vượt quá giới hạn cho phép của Quy chuẩn Việt Nam Nên lượng nước thải đưa ra môi trường được sử dụng cho mục đích tưới tiêu của bà con nông dân c Lƣợng rác thải phát sinh
Cùng với sự gia tăng dân số mạnh mẽ và sự hình thành, phát triển vƣợt bậc của các ngành nghề, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước Mặt khác làm gia tăng nhu cầu tiêu dùng của cac nhân và cũng làm gia tăng nhanh chóng lƣợng rác thải phát sinh
Trong những năm gần đây lƣợng rác thải tại Suối Khoáng không tăng nhiều Lượng rác thải từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2016 được thể hiện dưới bảng sau:
Bảng 4.4 Lƣợng rác thải phát sinh ở Suối Khoáng
STT Tháng Lƣợng phát sinh
(Nguồn: tác giả tự điều tra, năm 2016)
Lƣợng rác xuất hiện nhiều, nguyên nhân chủ yếu là do việc hình thành hệ thống dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của du khách đến với Suối Khoáng Rác thải thường tập trung nhiều nhất ở chợ, dãy ghế đá nơi mọi người đi dạo xung quanh nhà nghỉ, một vài vỏ chai nước uống, túi nilon do ý thức của du khách cũng xuất hiện dưới ao cá, bãi để xe, khu vui chơi trẻ em
4.2.1.2 Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường a Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường nước
Khi môi trường nước bị ô nhiễm sẽ gây tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Người dân khi sử dụng và sống gần các nguồn nước bị ô nhiễm thường gây nên các bệnh như: tiêu chảy, thương hàn, tả, viêm gan A, giun sán…Các bệnh này làm cho con người dần bị suy dinh dưỡng, thiếu máu, thiếu sắt, gây kém phát triển thậm chí còn tử vong, nhạy cảm nhất là đối với phụ nữ và trẻ em Đây lại là khu du lịch nghỉ dưỡng tắm khoáng nên lượng nước phát sinh nhiều vì vậy cần phải có các biện pháp xử lý trước khi xả thải vào môi trường Nếu không có các biện pháp xử lý thì đây là nguồn ô nhiễm lớn nhất
Khu du lịch Suối khoáng Kim Bôi có nguồn nước ngầm đặc trưng phục vụ cho các hoạt động du lịch mỗi ngày Vào những ngày cuối tuần hoặc dịp nghỉ lễ lượng khách tăng lên nhanh do đó nước cũng được sử dụng nhiều hơn đặc biệt là ở các bể bơi và khu nhà hàng Để đánh giá đƣợc mức độ ô nhiễm nguồn nước trong khu vực, Ban quản lý khu du lịch Suối Khoáng đã phân tích các mẫu nước ở trong khu vực:
- Mẫu nước thải sinh hoạt;
- Mẫu nước thải bể bơi;
Kết quả phân tích đƣợc tổng hợp ở các bảng sau:
Bảng 4.5 Kết quả phân tích mẫu nước thải sinh hoạt tại khu du lịch Suối
STT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Kết quả phân tích
8 Chất rắn hòa tan mg/l 131,00 1000
9 Chất rắn lơ lửng mg/l 97,00 100
(nguồn: Phòng hành chính khu du lịch Suôi Khoáng)
Bảng 4.6 Kết quả phân tích mẫu nước thải bể bơi tại khu du lịch Suối
STT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Kết quả phân tích
7 Chất rắn hòa tan mg/l 86,00 −
8 Chất rắn lơ lửng mg/l 93,00 100
(Nguồn: Phòng hành chính khu du lịch Suôi Khoáng)
Từ bảng 4.5 và bảng 4.6 cho thấy mước thải của Suối Khoáng chưa bị ô nhiễm So sánh với QCVN 40:2011/ BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải công nghiệp Các thông số đều không vượt quá tiêu chuẩn cho phép Theo quyết định số 50/QĐ - UBND của chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình về Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước ngày 12 tháng 8 năm 2015, nước thải của khu du lịch được dẫn thẳng từ hệ thống xử lý theo đường cống ngầm ra mương theo cơ chế tự chảy ra Sông Bôi thuộc xóm Mớ Đá, xã Hạ Bì phục vụ cho việc tưới tiêu của bà con nhân dân Để đánh giá thêm về chất lượng nước tại khu du lịch Suối Khoáng Dưới đây là bảng kết quả phân tích mẫu nước được lấy từ nguồn và tại cống xả của khu du lịch:
Bảng 4.7 Kết quả phân tích mẫu nước đầu vào và nước thải tại khu du lịch
STT Thông số Đơn vị Kết quả QCVN
Nước đầu vào Nước thải
4 Độ dẫn điện mS/cm 586 540 – – –
Từ bảng số liệu 4.7 thực hiện so sánh với các quy chuẩn tiêu chuẩn sau:
- QCVN01:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống
- QCVN09:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lƣợng nước ngầm
- QCVN08:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lƣợng nước mặt
Theo nhƣ quy chuẩn, cho thấy các thông số đều không vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép Như vậy tất cả nước thải tại khu du lịch đều không gây ảnh hưởng đến môi trường bên ngoài Đây là một vấn đề đáng mừng vì thế cần phải có các biện pháp bảo vệ nguồn tài nguyên này đồng thời giảm thiểu những ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường b Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường không khí Ô nhiễm không khí có những ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người, đặc biệt đến đường hô hấp Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi môi trường không khí bị ô nhiễm, sức khỏe con người bị suy giảm, quá trình lão hóa trong cơ thể bị thúc đẩy, chức năng của phổi bị suy giảm; gây bệnh hen suyễn, viêm phế quản, ung thư, tim mạch và làm giảm tuổi thọ của con người Mức độ ảnh hưởng của từng người tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe, nồng độ, loại chất ô nhiễm và thời gian tiếp xúc với môi trường ô nhiễm Để đánh giá chất lƣợng không khí khu vực, tiến hành lấy mẫu tại 7 vị trí thể hiện dưới bảng sau:
Bảng 4.8 Biểu tổng hợp kết quả quan trắc môi trường không khí tại khu du lịch Suối Khoáng năm 2015
Các chỉ tiêu quan trắc
Tốc độ gió (m/s) Độ ồn (dB/A)
6 Khu vực hồ thu gom nước thải 27 76 0,2 52 – 56 0,21 3,18 0,31 0,24
7 Khu vực cổng công ty 27 75 0,4 61 – 65 0,26 2,15 0,11 0,12
( Nguồn: Phòng hành chính khu du lịch Suối Khoáng Kim Bôi)
Dựa vào các quy chuẩn tương ứng:
+ QCVN 05:2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lƣợng không khí xung quanh
+ QCVN 06:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một só chất độc hại trong không khí
+ QCVN 26:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn
Từ bảng số liệu trên ta thấy: chỉ số bụi trong không khí là 0,13 mg/m 3 , chỉ số này thực tế vẫn thấp hơn gần 3 lần so với tiêu chuẩn cho phép (0,3 mg/m 3 ); về các chỉ số nồng độ khí độc hại CO 2, SO2, NO2 cũng thấp hơn so với tiêu chuẩn cho phép
Đề xuất giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Suối Khoáng
Hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững, đối với hệ thống cơ sở trong giai đoạn hiện nay Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp mà sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với môi trường Sự suy giảm của môi trường đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch Vì vậy, bảo vệ môi trường tự nhiên trong kinh doanh du lịch là điều kiện quyết định sự phát triển kinh tế và cần sự chung tay của mọi người bằng nhiều giải pháp cụ thể, hữu hiệu chứ không thể phó mặc cho thiên nhiên
4.3.1 Định hướng đầu tư để phát triển du lịch tại khu du lịch suối khoáng Kim Bôi – Hòa Bình
Bất cứ một ngành kinh tế nào muốn thu hút đƣợc hiệu quả kinh tế cao cũng cần phải có sự đầu tƣ thỏa đáng Khả năng đầu tƣ càng cao, càng ổn định thì tính bền vững trong phát triển du lịch dưới góc độ kinh tế càng được đảm bảo
4.3.1.1 Xây dựng hệ thống cơ sở vật chất Để nâng cao chất lƣợng phục vụ khách du lịch cần đầu tƣ đồng bộ về cơ sở hạ tầng, cơ sở lưu trú cũng như các loại hình dịch vụ phụ trợ cho dịch vụ trong tương lai Đây là việc cần phải làm ngay do nhu cầu của khách du lịch ngày càng cao
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ sở lưu trú, khu vui chơi giải trí cho khách du lịch, đó là hệ thống các nhà nghỉ khách sạn chất lƣợng cao Cần đầu tƣ có trọng điểm, tránh tình trạng dàn trải, chắp vá, không đồng bộ, không đúng mục đích dẫn đến lãng phí và hiệu quả không cao
4.3.1.2 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Để thực hiện các mục tiêu, kế hoạch phát triển du lịch bền vững, ngoài việc xây dựng các định hướng phát triển du lịch, các dự án quy hoạch tổng thể thì cũng cần phải chú trọng đến việc phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Cần ƣu tiên cho công tác đào tạo lại đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ thấp về chuyên môn, nghiệp vụ bằng cách mời các chuyên gia uy tín của ngành mở các lớp đào tạo tại chỗ, đáp ứng nhu cầu trước mắt về nguồn nhân lực của ngành
Ngoài ra cũng cần có chính sách, kế hoạch đào tạo mới và tuyển dụng đội ngũ cán bộ có năng lực cho công tác quản lý và điều hành hoạt động du lịch dưới hình thức chính quy đáp ứng nhu cầu lâu dài của ngành du lịch
4.3.1.3 Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Để hấp dẫn và đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, các sản phẩm cũng cần phải đa dạng, phong phú, đặc sắc đậm đà chất dân tộc Để nâng cao chất lƣợng sản phẩm cần phải đầu tƣ cao cho việc bảo tồn các nghề truyền thống lâu đời (nghề dệt thổ cẩm, nghề đan lát…) đầu tƣ về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực
4.3.2 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
Trong trường học Đưa những vấn đề về tài nguyên, môi trường văn hóa xã hội vào các chương trình đào tạo để phát triển nguồn nhân lực của ngành Trong quá trình đào tạo, chú trọng nâng cao hiểu biết về bản chất phức tạp của du lịch hiện đại trong mối quan hệ với tài nguyên và môi trường, đề cao ý thức trách nhiệm và tự hào của mỗi người
Khả năng nhận thức về môi trường của các em học sinh ở hai cấp bậc tại khu vực nghiên cứu là khác nhau, vì vậy cách thức giảng dạy cũng khác nhau
Nhƣng đồng thời cũng thực hiện đầy đủ các biện pháp sau:
Tổ chức các hoạt động, việc làm cụ thể về bảo vệ môi trường cho học sinh
Tổ chức các hoạt động ngoại khóa, gióa dục chuyên về môi trường cho học sinh
Lồng ghép, liên hệ vấn đề tài nguyên thiên nhiên của địa phương vào chương trình giảng dạy
Tại cộng đồng địa phương
Thông báo cho cộng đồng địa phương về những lợi ích tiềm tàng cũng nhƣ những thay đổi tiềm ẩn do hoạt động phát triển du lịch gây nên, qua đó cùng cộng đồng địa phương xác định những phương án phát triển phù hợp, đảm bảo việc khai thác có hiệu quả những tiềm năng về tài nguyên, phục vụ lợi ích cho người dân và sự phát triển bền vững của du lịch
Tiếp tục tăng cường công tác truyền thông, giáo dục người dân tham gia bảo vệ môi trường, tuyên truyền các chủ trương, chế độ chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước qua những cuộc họp làng, tiến hành kí cam kết bảo vệ tài nguyên rừng, động thực vật hoang dã…Phối hợp với các đoàn thể quần chúng: Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên…trong công tác tuyên truyền giáo dục mọi người tham gia bảo vệ môi trường
- Hướng dẫn khách những điều cần làm và những điều không nên làm về phương diện môi trường làm cho khách nhận thức được những tác động tiềm tàng và trách nhiệm của họ đối với cộng đồng địa phương nơi họ đến
- Cung cấp cho khách du lịch những thông tin đầy đủ nhất và không thiên lệch để họ có thể hiểu mọi khía cạnh môi trường có liên quan đến chuyến du lịch
- Thực hiện nội qui, qui chế của khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở lưu trú du lịch về việc bảo vệ môi trường du lịch
Công tác quy hoạch là một trong những yếu tố quan trọng đầu tiên đảm bảo cho việc phát triển du lịch bền vững Không thể đầu tƣ xây dựng bất cứ khu du lịch nào nếu thiếu quy hoạch Cần quản lý chặt chẽ các dự án đầu tƣ phát triển du lịch và chỉ cho phép đầu tƣ khi đã có quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết, lập các dự án khả thi đầu tƣ phát triển du lịch cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các chuyên gia quy hoạch với các chuyên gia ở các lĩnh vực liên quan, chính quyền và cộng đồng địa phương
Nhằm đáp ứng điều kiện phát triển du lịch không ảnh hưởng đến môi trường tại khu vực nghiên cứu và chất lượng môi trường của toàn xã Dưới đây là bản đồ quy hoạch môi trường cho xã Hã Bì tầm nhìn đến năm 2020:
Kết luận
Từ việc quan sát, tìm hiểu, nghiên cứu về khu du lịch Suối khoáng Kim Bôi, tôi có một số kết luận nhƣ sau:
Khu du lịch Suối Khoáng có những điều kiện rất tốt cho sự phát triển du lịch tham quan và nghỉ dƣỡng đã, đang và sẽ tiếp tục đem lại nhiều lợi ích về kinh tế, văn hóa, xã hội cho xã Hạ Bì nói riêng và huyện Kim Bôi nói chung
Lƣợng khách du lịch đến ngày càng tăng qua từng năm vào các ngày nghỉ trong tuần, nghỉ lễ, nghỉ hè Do đó cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các dịch vụ du lịch cần đƣợc quan tâm mở rộng và nâng cấp hơn
Hoạt động du lịch có ảnh hưởng đến môi trường thông qua sự phát thải từ các nhà hàng, khu vui chơi và đặc biệt là khu chợ: thực phẩm bị ô nhiễm, thức ăn thừa, các loại túi nilon, chai lọ…Đây là nguồn phát thải nhanh nếu không có quy hoạch song song với sự phát triển của hoạt động du lịch ngày càng tăng thì sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng môi trường đất, nước, không khí, sinh vật và đặc biệt là con người Đề tài đã đƣa ra một số biện pháp nhằm phát triển bền vững tại khu du lịch và các giải pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường từ hoạt động du lịch như: Đào tạo phát triển nguồn nhân lực và nâng cao các sản phẩm du lịch; giáo dục ý thức bảo vệ môi trường từ trường học, cộng đồng địa phương và khách du lịch đến tham quan.
Tồn tại
Do hạn chế về thời gian nghiên cứu, kinh nghiệm và kiến thức của bản thân nên bên cảnh những kết quả đã đạt đƣợc, đề tài còn những tồn tại sau đây:
- Kết quả nghiên cứu về các ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới môi trường khu du lịch Suối Khoáng mới được thực hiện ở một vài thời điểm chính trong năm
- Chưa có nhiều số liệu quan trắc môi trường để đánh giá một cách tổng thể các tác động của hoạt động du lịch tới môi trường khu du lịch Suối Khoáng
Các giải pháp mà đề tài đưa ra mới chỉ mang tính chất định hướng Vì vậy, cần phải có những nghiên cứu tiếp theo để cung cấp thêm các thông tin khoa học cho việc phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Suối Khoáng huyện Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình.
Kiến nghị 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Cần có những báo cáo chi tiết về kết quả quan trắc môi trường ở khu du lịch Suối Khoáng tại hai thời điểm trong năm
- Cần phải nâng cao ý thức, trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ, tôn tạo cảnh quan môi trường đối với du khách và người dân ở khu vực Suối khoáng
- Cần có các chính sách, định hướng, quy hoạch phát triển du lịch phù hợp, đáp ứng nhu cầu của du khách và hướng tới phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Suối Khoáng huyện Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình
1 Lê Huy Bá (2005), du lịch sinh thái và các vấn đề môi trường trong phát triển du lịch sinh thái, − ĐHQG Tp.Hồ Chí Minh
2 Đàm Thị Kiều Chinh (2013), “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới môi trường sinh thái tại khu di tích lịch sử Pác Pó xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Tỉnh Cao Bằng” − Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội
3 Nguyễn Thị Hạnh Dung (2013), “Một số giải pháp phát triển và nâng cao hiệu chất lƣợng dịch vụ du lịch sinh thái tại Khu du lịch suối khoáng Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” − Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội
4 Nguyễn Thị Bích Hảo (2011), Bài giảng Quy hoạch môi trường, trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam
5 Nguyễn Thị Thu Hiền (2014), “Ứng dụng mô hình DPSIR xây dựng chỉ thị môi trường khu du lịch Suối Khoáng Mỹ Lâm, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang” − Luận văn Thạc Sỹ, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
6 Nguyễn Thƣợng Hùng (1988), “Phát triển du lịch sinh thái và phát triển du lịch bền vững”, Hội thảo du lịch sinh thái với phát triển bền vững ở Việt nam,
7 Trần Thị Hương (2009), Đánh giá tác động môi trường, Đại học Lâm Nghiệp
8 Phạm Trung Lương, Du lịch sinh thái, những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, nxb giáo dục – Hà Nội
9 Phí Thị Hải Ninh (2011), Bài giảng Quy hoạch môi trường, trường Đại học
10 Lý Thị Ngọc Nga (2015), “Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường khu du lịch SaPa – tỉnh Lào Cai” - Khóa luận tốt nghiệp năm
11 Trần Thị Tuyết, “Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình” − Luận văn Thạc Sỹ năm 2008
12 Bùi Thị Hải Yến (2013), Quy hoạch du lịch, Nhà xuất bản giáo dục Việt
13 Bùi Thị Hải Yến (2011), Tuyến điểm du lịch Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục
14 Ban quản lý khu du lịch Suối Khoáng, Báo cáo tình hình khách du lịch tại khu du lịch Suối Khoáng các năm (2011, 2012, 2013, 2014, 2015)
15 Ủy ban nhân dân xã Hạ Bì, Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2011 – 2015
16 Websise: https://voer.edu.vn/m/cac-tac-dong-cua-hoat-dong-du-lich-den-tai- nguyen-va-moi-truong/67dfada6