1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến đổi kết cấu quần xã chim hoang dã trong hệ sinh thái đất ngập nước tại khu vực thị trấn xuân mai

94 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm 2010 trở về trước, có khá nhiều công trình điều tra nghiên cứu về các loài chim; tiêu biểu phải kể đến một số nghiên cứu như: chuyên đề tốt nghiệp “Nghiên cứu đặc điểm khu hệ

Trang 1

Tr-ờng đại học lâm nghiệp

Khoa quản lý tài nguyên rừng & môi tr-ờng

- -

KHểA LUẬN TỐT NGHIỆP

BIẾN ĐỔI KẾT CẤU QUẦN XÃ CHIM HOANG DÃ TRONG

HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC TẠI KHU VỰC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để đánh giá kết quả học tập và củng cố thêm kiến thức kĩ năng thực hành đồng thời vận dụng tổng hợp những kiến thức đó vào thực tế, được sự đồng ý của thầy Nguyễn Đắc Mạnh tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Biến đổi cấu trúc quần xã chim trong các mô hình sử dụng đất khác nhau tại khu vực Xuân Mai “ Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi

đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của TS.Nguyễn Đắc Mạnh Đồng thời tôi cũng nhận được sự giúp đỡ to lớn của khu vực thị trấn Xuân Mai,cán bộ địa phương,cũng như người dân đã giúp tôi hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình tới toàn thể thầy cô trong khoa, đặc biệt là thầy hướng dẫn tôi cũng đã giúp tôi thực hiện đề tài này Tôi trận trọng cảm ơn lãnh đạo thị trấn Xuân Mai và các đơn vị liên quan đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình điều tra, thu thập số liệu cũng như cung cấp tài liệu có liên quan đến đề tài

Cảm ơn nhóm sinh viên nghiên cứu khoa học: Hoàng Thị Vân Anh,Đỗ Thu Thủy,Đinh Thu Trang,Nguyễn Đức Trí và Hoàng Khánh Vũ đã hỗ trợ công tác điều tra thực địa

Xin chân thành cảm ơn bạn bè và gia đình đã động viên giúp tôi cả về tinh thần lẫn vật chất trong quá trình học tập xây dựng đề tài và hoàn thành khóa luận Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Người thực hiện

Nguyễn Duy Hòa

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC HÌNH iv

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Lược sử nghiên cứu chim hoang dã ở Việt Nam 3

1.2 Lược sử nghiên cứu chim hoang dã ở khu vực thị trấn Xuân Mai 5

Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ XÃ HỘI 7

2.1 Điều kiện cơ bản của khu vực thị trấn Xuân Mai 7

2.1.1.Vị trí địa lý 7

2.1.2 Địa hình 7

2.1.3 Khí hậu thủy văn 7

2.1.4 Thổ nhưỡng 8

2.1.5 Điều kiện kinh tế- xã hội 9

Chương 3: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 12

3.1.1 Mục tiêu chung 12

3.1.2 Các mục tiêu cụ thể 12

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 12

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu 12

3.3 Phương pháp nghiên cứu 12

3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 12

3.3.2 Phương pháp thống kê 14

3.3.3 Phương pháp phân tích 15

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 17

Trang 4

4.1 Biến đổi về tổ thành loài và tính đa dạng của quần xã chim 17

4.2 Mức độ khác biệt giữa các quần xã chim và loài chim chỉ thị sinh cảnh 21 4.2.1 Mức độ khác biệt giữa các quần xã chim 21

4.2.2 Loài chim chỉ thị sinh cảnh 23

4.3 Kết cấu tập đoàn kiếm ăn của quần xã chim 24

4.3.1 Tập đoàn chim kiếm ăn vào mùa đông 24

4.4 Thảo luận 32

4.4.1 Mối liên hệ giữa đặc điểm sinh cảnh với kết cấu quần xã chim 32

4.4.2 Định hướng giải pháp quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên gắn với bảo tồn đa dạng sinh học chim 33

KẾT LUẬN VÀ TỒN TẠI- KHUYẾN NGHỊ 35

Kết luận 35

Tồn tại và Khuyến nghị 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Đặc điểm hệ sinh thái đất ngập nước ở Xuân Mai và tình trạng lợi

dụng tài nguyên của con người, của chim hoang dã tại đó 10

Bảng 4.1 Thành phần loài và độ nhiều của chim trong các sinh cảnh đất ngập nước tại thị trấn Xuân Mai 17

Bảng 4.2 So sánh tính đa dạng sinh học chim giữa các sinh cảnh 21

Bảng 4.3 Kiểm tra sự khác biệt tổ thành loài giữa các quần xã chim 22

Bảng 4.4 Ma trận tính tương tự giữa các quần xã chim 22

Bảng 4.5 Danh sách loài chim chỉ thị sinh cảnh 23

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Ranh giới và hệ thống nước mặt của thị trấn Xuân Mai 8

Hình 1.2 Quang cảnh vào mùa Đông và mùa Xuân ở hai khu đất ngập nước 11

Hình 2.1 Sơ đồ tuyến điều tra chim hoang dã ở khu vực thị trấn Xuân Mai 13

Hình 4.1 Quy nạp nhóm về độ nhiều và điều kiện môi trường kiếm ăn của chim vào mùa đông 25

Hình 4.2 Bài sắp về số lượng cá thể và điều kiện môi trường kiếm ăn của chim vào mùa đông 27

Hình 4.3.Quy nạp nhóm về độ nhiều và điều kiện môi trường kiếm ăn của chim vào mùa xuân 29

Hình 4.4 Bài sắp về số lượng cá thể và điều kiện môi trường kiếm ăn của chim vào mùa xuân 31

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thị trấn Xuân Mai và các khu vực lân cận đã được quy hoạch đến năm

2020 trở thành đô thị vệ tinh của thủ đô Hà Nội; theo đó tổng diện tích quy hoạch là 3450 ha, bao gồm 03 khu Khu 1 (862 ha)- thuộc thị trấn Xuân Mai, chính là khu đô thị hiện hữu; khu 2 (833ha)- thuộc địa giới hành chính thị trấn Xuân Mai, chính là vùng phụ cận của đô thị Xuân Mai; khu 3 (1755ha)- thuộc địa giới hành chính của các xã Thủy Xuân Tiên, Nam Phương Tiến, Tân Tiến

và Hoàng Văn Thụ (Sở Quy hoạch và Kiến trúc Hà Nội, 2015) Khu 2 của đô thị vệ tinh tương lai, hiện đang được sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp và khu định cư (các ấp xóm xen kẽ trong nền đồng ruộng, ao hồ), thuộc kiểu hệ sinh thái đất ngập nước Trong đề án quy hoạch đô thị vệ tinh Xuân Mai; khu 2 được quy hoạch để hướng đến các chức năng chính gồm: bảo tồn cấu trúc làng xóm hiện hữu; cải tạo hệ thống mặt nước nhằm tăng khả năng thoát nước trong trường hợp có lũ rừng ngang qua; là khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, cảnh quan thiên nhiên cây xanh gắn kết với mặt nước tự nhiên (Sở Quy hoạch và Kiến trúc Hà Nội, 2015) Công tác triển khai thực hiện quy hoạch khu 2 cũng như toàn bộ đô thị vệ tinh Xuân Mai đòi hỏi một

cơ sở khoa học sinh thái vững chắc để quá trình đô thị hóa hài hòa với môi trường tự nhiên hiện hữu của khu vực

Quần xã chim là một hệ thống động, sự biến đổi kết cấu của nó có thể phản ánh khá rõ mối quan hệ tương hỗ giữa chim với môi trường sống và giữa các loài chim với nhau Các quần thể chim khác nhau vốn tồn tại tính lệ thuộc đối với một số nơi cư trú đặc thù, chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi sự biến đổi của môi trường, và có thể xem là yếu tố chỉ thị cho sự biến đổi của môi trường

(Perrins et al, 1984) “Đất lành chim đậu” là câu tục ngữ đúng cả nghĩa đen

và nghĩa bóng cho khu vực thị trấn Xuân Mai, đặc biệt là ở các sinh cảnh đất ngập nước với nhiều loài chim đến đây kiếm ăn và cư trú Do đó, tôi đã lựa chọn theo dõi phản ứng của quần xã chim để suy đoán ra các thành phần còn

Trang 7

lại của sinh cảnh đất ngập nước, từ đó làm cơ sở đánh giá chất lượng môi trường sinh thái của khu vực

Xuất phát từ bối cảnh trên, tôi đã lựa chọn thực hiện đề tài: “Biến đổi kết

cấu quần xã chim hoang dã trong hệ sinh thái đất ngập nước tại khu vực thị trấn Xuân Mai”, với mong muốn làm rõ mối liên hệ qua lại giữa quần xã chim

và sinh cảnh sống của chúng, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc triển khai thực hiện quy hoạch khu đô thị vệ tinh Xuân Mai

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lược sử nghiên cứu chim hoang dã ở Việt Nam

Giai đoạn trước năm 1975:

Cuối thế kỷ 19, các nhà tự nhiên học nước ngoài đã có mặt ở Việt Nam,

và bắt đầu các cuộc điều tra, nghiên cứu chim trên quy mô lớn Năm 1872, danh sách chim Việt Nam gồm 192 loài được xuất bản đầu tiên với lô mẫu vật do Pierơ- Giám đốc vườn thú Sài Gòn bấy giờ sưu tầm và công bố (H Jouan, 1972) Năm 1931, Delacua và Jabuiơ đã xuất bản công trình nghiên cứu tổng hợp

về chim toàn vùng Đông Dương, bao gồm 954 loài và phân loài (Delacour T Et; Jabuille P., 1931), trong đó có các loài chim ở Việt Nam Năm 1951, danh lục chim Đông Dương được Delacour bổ sung, hoàn thành và xuất bản gồm

1085 loài và phân loài (J Delacour, 1951)

Sau năm 1954, Miền Bắc giải phóng; đây là mốc quan trọng đánh dấu sự khởi đầu của các cuộc điều tra, khảo sát của các nhà điểu học Việt Nam Các công trình nghiên cứu đáng chú ý là của các tác giả: Võ Quý (1962, 1966), Trần Gia Huấn (1960, 1961), Đỗ Ngọc Quang (1965) Nói chung các công trình nghiên cứu này đều đi sâu nghiên cứu về mặt khu hệ và phân loại, ít chú

ý đến đặc điểm sinh thái học của loài

Năm 1971, Võ Quý đã tổng hợp các nghiên cứu hơn 7 năm trước đó về đời sống của các loài chim phổ biến ở Miền Bắc Việt Nam để xuất bản công trình “Sinh học những loài chim thường gặp ở Miền Bắc Việt Nam” (Võ Quý, 1971) Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm sinh vật học của các loài chim có ý nghĩa kinh tế; tuy nhiên các thông tin về đặc điểm sinh thái học mới dừng lại ở cấp độ quần thể và loài

Giai đoạn sau năm 1975:

Sau chiến tranh, giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước; công trình

“Chim Việt Nam- Hình thái và phân loại” là công trình đầu tiên nghiên cứu chim trên toàn lãnh thổ Việt Nam về mặt phân loại (Võ Quý, 1975, 1981)

Trang 9

Năm 1995, Võ Quý và Nguyễn Cử đã tổng hợp các kết quả điều tra trước

đó để xuất bản công trình “Danh lục chim Việt Nam” Bản danh lục gồm 19

bộ, 81 họ và 828 loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1995; với mỗi loài các tác giả đã dẫn ra đặc điểm về hiện trạng và vùng phân bố (Võ Quý, Nguyễn Cử, 1995) Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm phân bố địa lý của loài; tuy nhiên các thông tin về đặc điểm sinh thái học cũng mới dừng lại ở cấp độ quần thể và loài

Năm 2000, Nguyễn Cử và các cộng sự dựa trên cuốn “Chim Hồng Kông

và Nam Trung Quốc- 1994” đã biên soạn cuốn Chim Việt Nam Trong sách các tác giả đã giới thiệu hơn 500 loài trong tổng số hơn 850 loài chim hiện có

ở Việt Nam; mỗi loài trình bày các mục mô tả, phân bố tình trạng, nơi ở và có hình vẽ màu kèm theo (Nguyễn Cử, 2000) Nói chung, cuốn sách được biên soạn với mục đích chủ yếu là giúp nhận dạng các loài chim ngoài thực địa Những năm gần đây, nhiều dự án bảo tồn đa dạng sinh học với sự tài trợ của chính phủ nước ngoài (Hà Lan, Đức, Úc, Anh, Mỹ, ), của các tổ chức phi chính phủ (Birdlife, WWF, FFI, IUCN), ngân sách quốc gia, ngân sách địa phương đã đầu tư nghiên cứu đa dạng sinh học ở Việt Nam, chủ yếu tập trung đầu tư nghiên cứu đánh giá đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên; sau đó một loạt kết quả nghiên cứu về hệ động thực vật hoang dã tại các Vườn quốc gia và khu bảo tồn đã được xuất bản Điều tra nghiên cứu quần xã chim hoang dã thường được tiến hành song song với các nhóm động vật khác Ban đầu là việc điều tra để lập luận chứng kinh tế- kỹ thuật thành lập khu bảo tồn, sau đó nhiều đợt điều tra nghiên cứu tiếp theo đã hoàn thiện được thành phần loài chim của khu bảo tồn Điều này có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên chim hoang dã, giúp ban quản lý có thông tin đầy đủ hơn về nguồn tài nguyên chim hoang dã trong khu vực mình quản lý Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu mới dừng lại ở thống kê, mô tả các loài chim, lập danh lục loài và

Trang 10

đánh giá giá trị bảo tồn của chúng; và thường các nghiên cứu này được đặt tên

đề tài là: nghiên cứu đặc điểm khu hệ chim

Tóm lại, hầu hết các nghiên cứu về quần xã chim hoang dã ở Việt Nam được tiến hành ở các hệ sinh thái tự nhiên; không tìm thấy tài liệu nào nghiên cứu về quần xã chim hoang dã ở khu vực đô thị Nghiên cứu về sinh thái học chim ở cấp độ quần xã (mối quan hệ giữa các loài chim trong quần xã, giữa quần xã chim với môi trường nơi cư trú) hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu

1.2 Lƣợc sử nghiên cứu chim hoang dã ở khu vực thị trấn Xuân Mai

Nghiên cứu chim hoang dã ở thị trấn Xuân Mai được tiến hành gắn liền với hoạt động giảng dạy và học tập của giảng viên, sinh viên Trường Đại học Lâm nghiệp

Những năm 2010 trở về trước, có khá nhiều công trình điều tra nghiên cứu

về các loài chim; tiêu biểu phải kể đến một số nghiên cứu như: chuyên đề tốt nghiệp “Nghiên cứu đặc điểm khu hệ chim tại núi Luốt- Trường Đại học Lâm nghiệp” của Nguyễn Đăng Mạnh năm 2005, đã ghi nhận tại khu vực núi Luốt

có 64 loài chim thuộc 30 họ và 10 bộ; ngoài ra chuyên đề còn mô tả quy luật phân bố của các loài chim theo sinh cảnh và đánh giá tình trạng quần thể thông qua mật độ của một số loài thường gặp (Nguyễn Đăng Mạnh, 2005) Chuyên đề nghiên cứu khoa học “Tư liệu hóa thông tin đa dạng sinh học chim tại núi Luốt- Trường Đại học Lâm nghiệp” của Nguyễn Văn Đệ năm 2010, đã tổng hợp các nghiên cứu trước đó cùng với kết quả điều tra thực địa đã lập danh sách các loài chim ở khu vực núi Luốt gồm 84 loài thuộc 32 họ và 10 bộ; đồng thời tiến hành xây dựng bảng tra các họ chim và các loài chim trong một số họ phổ biến (Nguyễn Văn Đệ và cộng sự, 2010)

Sau năm 2010, các công trình điều tra nghiên cứu liên quan đến khu hệ chim tại núi Luốt là rất ít, đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu đặc điểm khu hệ chim tại khu rừng thực nghiệm núi Luốt, Xuân Mai, Hà Nội” của Lương Văn Bình năm 2014, đã ghi nhận tại khu vực có 56 loài chim thuộc 27

Trang 11

họ và 9 họ; ngoài ra chuyên đề còn đánh giá giá trị bảo tồn của khu hệ chim,

mô tả tình trạng phân bố của các loài chim theo sinh cảnh (Lương Văn Bình

và cộng sự, 2014)

Năm 2016, Nguyễn Quốc Hoàng đã nghiên cứu phản ứng của quần xã chim hoang dã với tính không đồng nhất của sinh cảnh tại khu vực thị trấn Xuân Mai Đây là nghiên cứu đầu tiên tiếp cận ở cấp độ quần xã và triển khai trên toàn bộ khu vực Xuân Mai Tác giả đã thống kê được 72 loài chim thuộc

34 họ và 11 bộ; đã chỉ ra tính đa dạng sinh học chim cao hơn trong sinh cảnh

dị chất; đồng thời phát hiện các loài chim trong cùng tập đoàn kiếm ăn thường

là nhóm ăn tạp, hoặc có phương thức lấy mồi (chọn ăn, vận động khi chọn ăn) khác nhau để giảm thiểu áp lực cạnh tranh (Nguyễn Quốc Hoàng, 2016) Như vậy, định kỳ đều có các điều tra nghiên cứu chim hoang dã tại khu vực thị trấn Xuân Mai Ngoại trừ nghiên cứu của Nguyễn Quốc Hoàng; các điều tra nghiên cứu còn lại đều dừng lại ở điều tra, thống kê thành phần loài,

và chỉ giới hạn trong quy mô khu vực núi Luốt- khu rừng thực nghiệm của Trường Đại học Lâm nghiệp

Trang 12

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ XÃ HỘI 2.1 Điều kiện cơ bản của khu vực thị trấn Xuân Mai

2.1.1.Vị trí địa lý

Thị trấn Xuân Mai thuộc huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; nằm trên điểm giao nhau giữa quốc lộ 6 và quốc lộ 21A (20054’3,23”N, 105034’47,83” E), cách trung tâm thủ đô Hà Nội 33 km về phía Tây Tổng diện tích thị trấn

là 1051,57 ha; phía Đông và phía Nam giáp xã Thủy Xuân Tiên; phía Bắc giáp xã Đông Yên, huyện Quốc Oai; phía Tây giáp xã Hòa Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

2.1.2 Địa hình

Địa hình khu vực Xuân Mai thuộc kiểu bán sơn địa, tức vừa có đồi núi vừa có những khoảng đất rộng bằng phẳng Độ cao tuyệt đối biến động từ 50- 340m, đỉnh núi cao nhất thuộc khu vực núi Luốt của Trường đại học Lâm nghiệp, cao 133 mét

2.1.3 Khí hậu thủy văn

Khí hậu của khu vực Xuân Mai thuộc kiểu khí hậu cận nhiệt đới gió mùa, trong năm chia làm bốn mùa rõ rệt Nhiệt độ bình quân năm là 230

C, nhiệt độ bình quân tháng nóng nhất là 290C vào tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ bình quân tháng lạnh nhất là 170C vào tháng 1 Vào mùa hè nhiệt độ không khí trên

250C kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 Vào mùa đông nhiệt độ không khí nhỏ hơn 200

C kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau Các tháng còn lại nhiệt độ trung bình từ 20-250C

Trang 13

Hình 1.1 Ranh giới và hệ thống nước mặt của thị trấn Xuân Mai

Độ ẩm không khí tương đối cao và khá đồng đều giữa các tháng trong năm Độ ẩm không khí bình quân năm là 84,25%, độ ẩm bình quân tháng cao nhất là 86,9% vào tháng 4, độ ẩm bình quân tháng thấp nhất là 81,1% vào tháng 12

Lượng mưa bình quân năm là 1893mm và chủ yếu tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 91% tổng lượng mưa của cả năm Nước mưa rơi xuống lưu vực núi Luốt- xã Hòa Sơn được lưu lại trong các ao ở khu dân cư và hồ Xuân Mai, đến mùa Xuân ( tháng 2) hồ Xuân Mai xả nước ra sông Đáy để chuẩn bị làm đất cấy lúa nước Khu vực giáp ranh với xã Thủy Xuân Tiên có sông Bùi chảy qua và đổ nước vào sông Đáy ở điểm cầu Tiên Trượng

2.1.4 Thổ nhưỡng

Đất feralit nâu vàng, phát triển trên đá mẹ poocfiarit là loại đất chủ yếu của khu vực thị trấn Xuân Mai Phần lớn diện tích thuộc đất tầng trung bình, đất tầng dày và đất tầng mỏng chiếm diện tích rất ít Những khu vực tầng đất

Trang 14

mỏng có tỉ lệ lớn đá ong kết von; chứng tỏ sự tích lũy sắt khá phổ biến và trầm trọng trong đất Hàm lượng mùn trong đất nhìn chung thấp

2.1.5 Điều kiện kinh tế- xã hội

2.1.5.1 Dân số

Dân số của thị trấn là 15.206 nhân khẩu (không tính dân số của các cơ quan đơn vị đóng trên địa bàn) trong đó, nam chiếm 50,8%, nữ chiếm 49,2%

Số người trong độ tuổi lao động chiếm 67% tổng dân số Tỷ lệ sinh là 1,1%, tỉ

lệ trẻ bị suy dinh dưỡng là 18,04%

2.1.5.2 Cơ cấu và tốc độ phát triển kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị trấn Xuân Mai đạt 15% / năm, cơ cấu kinh tế là 80-10-10 (thương mại dịch vụ chiếm 80%, nông nghiệp chiếm 10%, tiểu thủ công nghiệp chiếm 10%) Tổng sản lượng lương thực đạt 1.474,7 tấn/năm, thu nhập bình quân đạt khoảng 16 triệu đồng/năm, số hộ nghèo chiếm 3%, số hộ đạt mức trung bình trở lên chiếm 85%

2.1.5.3 Cơ sở hạ tầng

Có hai con đường quốc lộ chạy qua, đó là quốc lộ 6A và đường Hồ Chí Minh, hầu hết đường vào các khu dân cư đã được bê tông hóa 100% các hộ dân trên địa bàn thị trấn đã có điện dùng, hệ thống đèn cao áp đã được mở rộng ở các khu dân cư dọc đường 6A và đường Hồ Chí Minh

Thị trấn Xuân Mai đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và đang tiến hành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; trên địa bàn thị trấn có 3 trường tiểu học, 2 trường trung học cơ sở, 2 trường trung học phổ thông và 5 trường đại học, cao đẳng Ở khu vực thị trấn có 2 trung tâm y tế và bệnh xá quân đội bảo đảm chăm sóc sức khỏe cho người dân

2.1.6 Thực trạng sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong hệ sinh thái đất ngập nước ở khu vực Xuân Mai

Đặc điểm chính của hệ sinh thái đất ngập nước và việc sử dụng tài nguyên thiên của con người, cũng như của chim hoang dã được mô tả ở bảng 1.1 và hình 1.2

Trang 15

Bảng 1.1 Đặc điểm hệ sinh thái đất ngập nước ở Xuân Mai và tình trạng lợi dụng tài nguyên của con người, của chim

hoang dã tại đó

Tên hệ sinh thái

con người

Các nơi kiếm ăn và đậu nghỉ của chim Thảm thực vật Diện tích mặt nước

Hồ Xuân Mai- mùa

Đông

Mai dương, Găng mọc ven mép hồ Độ che phủ nhỏ hơn 5%

Mặt nước trống chiếm trên 90% Đánh bắt cá; Nuôi thả vịt Mặt nước, mặt đất, tán cây

bụi, đường dây điện

Hồ Xuân Mai- mùa

Xuân

Mai dương, Găng mọc ven

bờ rãnh nước; lúa mới cấy dưới đáy hồ cạn Độ che phủ khoảng 60%

Mặt nước trống chiếm khoảng 20%

Canh tác lúa nước; Đánh bắt

Mặt đất, bùn lầy, mặt nước, tán cây bụi, đường dây điện

Đồng Tiên Trượng-

mùa Đông

Cây gỗ mọc phân tán trên bờ ruộng; ngô và gốc rạ lúa nước đâm chồi Độ che phủ khoảng 25%

Mặt nước trống chiếm khoảng 65%

Canh tác hoa màu; Nuôi thả vịt; Chăn thả gia súc

Mặt nước, bùn lầy, tán cây bụi, tán cây gỗ, mặt đất, vật kiến trúc, đường dây điện

Đồng Tiên Trượng-

mùa Xuân

Cây gỗ mọc phân tán trên bờ ruộng; lúa nước, ngô, lạc mới cấy trồng Độ che phủ khoảng 80%

Mặt nước trống nhỏ hơn 10%

Canh tác lúa nước và hoa màu; Chăn thả gia súc

Bùn lầy, mặt đất, tán cây bụi, tán cây gỗ, mặt nước, vật kiến trúc, đường dây điện

Trang 16

Hồ Xuân Mai- mùa Đông Đồng Tiên Trượng- mùa Đông

Hình 1.2 Quang cảnh vào mùa Đông và mùa Xuân ở hai khu đất ngập nước

Trang 17

Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối liên hệ giữa 03 chủ thể: con người- chim hoang dã- sinh cảnh sống trong hệ sinh thái đất ngập nước ven thị trấn Xuân Mai

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Điều tra nghiên cứu quần xã chim vào 02 thời kỳ (mùa Đông và mùa Xuân) tại 02 khu đất ngập nước (hồ Xuân Mai và đồng Tiên Trượng) Tức xem xét sự biến đổi kết cấu về không gian và về thời gian của quần xã chim hoang dã

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

3.3.1.1 Điều tra số lượng và chủng loại chim

Mỗi khu đất ngập nước thiết kế 3 tuyến điều tra, chiều dài mỗi tuyến 0,9- 1,5 km Lựa chọn thời gian điều tra vào mùa đông (25/12/2016 đến 08/01/2017) và mùa Xuân (26/02/2018 đến 11/03/2018) Trên dải tuyến 300m

Trang 18

(nhìn sang mỗi bên tuyến 150m) điều tra ghi nhận chủng loại và số lượng chim Sử dụng ống nhòm OLYMPUS (42 X 10 lần) và máy ảnh SONY DSC-

HX 100V (16.2 mega Pixels, Zoom 36 lần) để hỗ trợ việc quan sát và ghi nhận hình ảnh chim ở khoảng cách xa, sử dụng tài liệu Chim Việt Nam (Nguyễn Cử và cộng sự, 2005) và Birds of Southeast Asia (Robson, C 2008)

để giám định loài chim, căn cứ theo Danh lục Chim Việt Nam (Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân, 2011) để xác định tên khoa học và sắp xếp các loài chim vào hệ thống phân loại

Hình 2.1 Sơ đồ tuyến điều tra chim hoang dã ở khu vực thị trấn Xuân Mai

2-1, 2-2, 2-3: ba tuyến ở hồ Xuân Mai; 3-1, 3-2, 3-3: ba tuyến ở đồng Tiên Trượng

Khi điều tra ghi nhận số lượng, chỉ thống kê các cá thể chim từ trong dải tuyến bay ra ngoài và từ phía trước dải tuyến bay về phía sau, không thống kê các cá thể chim từ ngoài bay vào trong dải tuyến và từ phía sau bay về phía trước dải tuyến

Trang 19

3.3.1.2 Điều tra điều kiện môi trường nơi kiếm ăn và tập tính kiếm ăn

Chỉ khi nào quan sát thấy hành vi kiếm ăn thì mới ghi nhận các thông tin

về điều kiện môi trường nơi kiếm ăn và tập tính kiếm ăn của cá thể chim Theo quan sát của chúng tôi tại khu vực nghiên cứu, hai yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến tập tính kiếm ăn của chim là nguồn thức ăn và mức độ nhiễu loạn trong sinh cảnh Do đó, chúng tôi lựa chọn nơi kiếm ăn (chất nền kiếm ăn) đại diện cho yếu tố nguồn thức ăn, bởi vì các chất nền khác nhau thì chủng loại thức ăn là khác nhau Và lựa chọn Cự ly từ cá thể chim đến người (bao gồm cả người điều tra) đại diện cho mức độ nhiễu loạn, bởi vì cự ly khác nhau thể hiện mức độ thích ứng của chim với nhiễu loạn là khác nhau

Thông tin về tập tính kiếm ăn của cá thể chim được mô tả thông qua phương thức lấy thức ăn và phương thức vận động khi lấy ăn

Toàn bộ thông tin điều tra được ghi chép theo mẫu phiếu ở Phụ lục 1

3.3.1.3 Thời gian điều tra và số lần thu thập số liệu

Trong mỗi mùa (mùa Đông, mùa Xuân), đều lựa chọn khi thời tiết đẹp và hai thời điểm chim hoạt động mạnh trong ngày để tiến hành điều tra, buổi sáng: 7h00’-10h00’, buổi chiều: 14h00’-17h00’ Mỗi tuyến tiến hành điều tra

12 lần, trong đó 6 lần vào buổi sáng và 6 lần vào buổi chiều Coi mỗi lần hoàn thành điều tra trên tuyến là 01 lần lấy mẫu; mỗi tuyến tiến hành điều tra 12 lần, mỗi khu vực thiết kế 3 tuyến; do đó, dung lượng mẫu điều tra ở mỗi khu vực trong mỗi mùa đều là: 36 lần

3.3.2 Phương pháp thống kê

Sử dụng phương pháp bảo lưu giá trị lớn nhất để thống kê số lượng cá thể của mỗi loài chim trên mỗi tuyến điều tra, tức là trên tuyến điều tra mà một loài chim nào đó được ghi nhận ở nhiều lần điều tra thì lựa chọn số lượng cá thể của loài đó ở lần điều tra ghi nhận được nhiều nhất Sử dụng phương pháp cộng gộp để thống kê số lượng cá thể của mỗi loài chim trong khu vực quan tâm, tức là cộng gộp số lượng cá thể loài chim trên các tuyến điều tra thuộc khu vực (Howes& Bakewell , 1989)

Căn cứ vào tỉ lệ phần trăm số lượng cá thể của mỗi loài trên tổng số lượng

cá thể chim trong khu vực quan tâm (P %) để xác định cấp số lượng của loài:

Trang 20

P ≥ 10%: Rất nhiều (chiếm ưu thế); 1% ≤ P <10%: Nhiều; 0.1% ≤ P < 1%: Trung bình; P <0,1%: Ít (Howes& Bakewell , 1989)

Độ phong phú- hay số loài (S), độ bình quân (E), chỉ số đa dạng Shannon –Wiener (H’), chỉ số đa dạng Simpson (D’) của các quần xã chim trong sinh cảnh quan tâm, được tính toán theo các công thức như sau (Sun R Y, 2001; Zhang H M, 1990; Ma K P, Liu Y M, 1990):

Chỉ số đa dạng Shannon –Wiener (H’):

i s

i

i P P

i s

i

i P P

D    

11 '

Trong đó; S và Pi giống như công thức trên

Chỉ số độ bình quân (E):

s

H H

H E

Trong đó; S và H’ giống như các công thức trên, H’ là giá trị chỉ số tính

đa dạng thực tính; Hmax là giá trị chỉ số tính đa dạng lớn nhất trên lý thuyết

Hệ số tương tự giữa các quần xã chim quan tâm (X) được tính toán theo công thức sau (Ma K P, Liu Y M, 1990):

b a

c X

Trong đó; c là số loài có phân bố ở cả hai quần xã/sinh cảnh quan tâm, a là

số loài của quần xã A, b là số loài của quần xã B

3.3.3 Phương pháp phân tích

3.3.3.1 Định nghĩa hành vi kiếm ăn

Một loạt các hoạt động của chim nhằm thu nạp dinh dưỡng, bao gồm cả quá trình như: tìm kiếm, chọn ăn, gia công, nuốt mồi , đều coi là: hành vi kiếm ăn

Trang 21

3.3.3.2 Phân chia điều kiện kiếm ăn và định nghĩa

a) Chất nền kiếm ăn: từ góc độ nghiên cứu tập tính kiếm ăn của chim và

qua khảo sát tại các sinh cảnh đất ngập nước ven thị trấn Xuân Mai, chất nền kiếm ăn của chim ở khu vực có thể phân làm 7 kiểu Đó là: (1) Không trung: một số loài chim có thể vừa bay vừa bắt mồi; (2) Tán cây gỗ; (3)Tán cây bụi; (4) Mặt đất; (5) Bùn lầy; (6) Khu nước nông: ven mép nước, mực nước sâu không quá 0,5m; (7) Khu nước sâu: mực nước sâu vượt 0,5m

b) Mức độ nhiễu loạn: sử dụng chỉ số cự ly từ cá thể chim đến con người

(d) Căn cứ giá trị của d hoạch phân mức độ gây nhiễu loạn làm 3 cấp là: Mạnh (d ≤ 50m); Trung bình (100m≥ d >50m); Yếu (d>100m)

3.3.3.3 Ứng dụng phần mềm PC ORD 5.0 trong phân tích quan hệ giữa kết cấu quần xã chim với môi trường nơi cư trú của chúng

Để đánh giá mức độ sai khác về tổ thành loài chim giữa hai khu vực trong cùng một mùa, hay giữa hai mùa trong cùng một khu vực và tổ hợp giữa chúng (giữa các cặp sinh cảnh) chúng tôi chọn dùng hệ số cự ly Sorensen (Bray-Curtis) và phương pháp bình quân gia quyền trong phép kiểm tra hoán đổi vị trí đa hướng (Multi-response Permutation Procedures, MRPP) Đồng thời tiến hành phân tích loài chỉ thị (Indicator species analysis, ISA) để xác định loài chim đại diện cho từng sinh cảnh (Bruce & James, 2002)

Đối với số liệu thu thập được của mỗi mùa; sau khi loại bỏ số liệu của các loài chim có số lần quan sát thấy hành vi kiếm ăn nhỏ hơn 10 lần, tiến hành phân tích nhóm hai chiều (Two-way cluster analysis, CA) để xác định kết cấu tập đoàn kiếm ăn của quần xã chim; đồng thời tiến hành phân tích vô hướng đối ứng (Detrended correspondence analysis, DCA) để kiểm chứng; từ đó xác định được các loài chim có điều kiện môi trường kiếm ăn (sinh cảnh, chất nền kiếm ăn, mức độ nhiễu loạn) tương tự, phản ánh đặc điểm ổ sinh thái của chúng (Bruce & James, 2002)

Trang 22

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 4.1 Biến đổi về tổ thành loài và tính đa dạng của quần xã chim

Trong hai đợt điều tra này, tại các sinh cảnh đất ngập nước đã ghi nhận được 49 loài chim thuộc 24 họ và 9 bộ, trong đó có 31 loài thuộc bộ Sẻ

(Passeriformes), chiếm 63,26%, còn lại 18 loài thuộc 8 bộ chim: Ngỗng (Anseriformes)- 1 loài, Chim lặn (Podicipediformes)- 1 loài, Hạc (Ciconiiformes)- 6 loài, Rẽ (Charadriiformes)- 2 loài, Bồ câu (Columbiformes)- 1 loài, Cu cu (Cuculiformes)- 3 loài, Cú Muỗi (Caprimulgiformes)- 1 loài, và Sả (Coraciiformes)- 3 loài

Biến đổi về tổ thành loài chim giữa các sinh cảnh đất ngập nước được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 4.1 Thành phần loài và độ nhiều của chim trong các sinh cảnh đất

ngập nước tại thị trấn Xuân Mai

Tên loài Tên loài

1 Vịt mào Aythya fuligula AYFU +++

2 Le hôi Tachybaptus ruficollis TARU +++ ++

3 Cò bợ Ardeola bacchus ARBA +++ +++ +++ +++

4 Cò ruồi Bubulcus ibis BUIB ++

5 Diệc xám Ardea cinerea ARCI ++ ++

6 Cò ngàng lớn Egretta alba EGAL +++ +++

7 Cò ngàng nhỡ Egretta

8 Cò trắng Egretta garzetta EGGA ++++ ++++ ++++ +++

9 Rẽ giun thường Gallinago

10 Choắt nhỏ Actitis hypoleucos ACHY +++ ++

Trang 23

Tên loài Tên loài

15 Cú muỗi đuôi dài

16 Sả đầu nâu Halcyon

17 Bồng chanh Alcedo atthis ALAT +++ +++ +++ +++

18 Bói cá nhỏ Ceryle rudis CERU ++

26 Chiền chiện đồng hung

Trang 24

Tên loài Tên loài

30 Chích bông đuôi dài

31 Chào mào Pycnonotus

32 Bông lau trung quốc

33 Bông lau đít đỏ Pycnonotus

37 Sáo nâu Acridotheres tristis ACTR +++

Trang 25

Tên loài Tên loài

44 Sẻ Passer montanus PAMO ++++ +++ +++

45 Di cam Lonchura striata LOST +++ +++

46 Di đá Lonchura punctulata LOPU +++

47 Chìa vôi núi Motacilla

48 Chìa vôi trắng Motacilla alba MOAL +++ +++ +++ +++

49 Manh lớn Anthus richardi ANRI ++++ +++ ++++

Số loài chiếm ƣu thế 3 2 3 1

Chú thích:(1).Về sinh cảnh: A: hồ Xuân Mai mùa đông; A’: hồ Xuân Mai mùa xuân; B: đồng Tiên Trượng mùa đông; B’: đồng Tiên Trượng mùa xuân; (2) Về độ nhiều: ++++: Rất nhiều (loài

ưu thế); +++: Nhiều; ++: Trung bình

Từ bảng 4.1 cho thấy, tổng cộng đã xác định được 4 loài chim ưu thế sinh cảnh; trong đó, Cò trắng là loài chim ưu thế ở hồ Xuân Mai cả hai mùa và ở đồng Tiên Trượng vào mùa đông; Nhạn bụng trắng là loài chiếm ưu thế ở đồng Tiên Trượng cả hai mùa và ở hồ Xuân Mai vào mùa đông; Chim manh lớn là loài chim ưu thế ở hồ Xuân Mai cả hai mùa; Sẻ là loài chim ưu thế ở đồng Tiên Trượng vào mùa đông Như vậy, cả bốn sinh cảnh đều có ít nhất một loài chim ưu thế

Số loài chim ở đồng Tiên Trượng vào mùa đông là nhiều nhất (38 loài); tuy nhiên độ đồng đều (E) lại thấp nhất, do đó chỉ số đa dạng (D’) của quần

xã chim ở đây thấp nhất trong bốn sinh cảnh Ngược lại; số loài chim ở hồ Xuân Mai vào mùa xuân là thấp nhất (19 loài), nhưng độ đồng đều lại cao hơn

ở hồ Xuân Mai mùa đông và đồng Tiên Trượng mùa đông; do đó chỉ số đa

Trang 26

dạng sinh học (H’, D’) của quần xã chim ở hồ Xuân Mai vào mùa xuân đều lớn hơn so với cả hai khu vực vào mùa đông Độ đồng đều (E), tính đa dạng (H’, D’) của quần xã chim ở đồng Tiên Trượng vào mùa Xuân đều lớn nhất so với ba sinh cảnh còn lại (Bảng 3.2)

Bảng 4.2 So sánh tính đa dạng sinh học chim giữa các sinh cảnh

mùa đông 8,939±23,129 438 38 0,697 2,535 0,8457

Hồ Xuân Mai mùa

xuân 2,776±5,561 136 19 0,879 2,587 0,8993 Đồng Tiên Trượng

4.2.1 Mức độ khác biệt giữa các quần xã chim

Kết quả kiểm tra hoán đổi vị trí đa hướng (với độ tin cậy 95%) cho thấy; vào mùa đông, không có sự khác biệt về tổ thành loài chim giữa hồ Xuân Mai

và đồng Tiên Trượng (P = 0,072 > 0,05); ngoài ra tại đồng Tiên Trượng thì tổ thành loài chim giữa hai mùa cũng không có sự khác biệt (P = 0,082 > 0,05);

tổ thành loài giữa bốn cặp quần xã chim còn lại đều tồn tại sự sai khác (Bảng 3.3) Trên tổng thể (so sánh cả 4 quần xã), tổ thành loài chim có tồn tại sự sai khác (P = 0,0003 < 0,05) Từ giá trị của T và A cho thấy, ngoại trừ hai cặp quần xã (A-B và B- B’), các trị quan trắc còn lại đều có giới hạn phân nhóm nhất định (A >0,3) và tính thống nhất trong nội bộ nhóm (T< -2,0); điều này

Trang 27

đã thuyết minh, việc phân chia quần xã chim theo khu vực và theo mùa khác nhau như dự kiến là tương đối hợp lý

Bảng 4.3 Kiểm tra sự khác biệt tổ thành loài giữa các quần xã chim

So sánh giữa các

quần xã

Trị quan trắc

Trị dự trắc

Phương sai Độ lệch T A P

Giữa A với B 0,413 0,500 0,003 -0,358 -1,523 0,175 0,072

Giữa A với A’ 0,341 0,500 0,003 -1,995 -2,774 0,317 0,023 Giữa A với B’ 0,286 0,500 0,005 -2,181 -2,843 0,429 0,022 Giữa B với A’ 0,317 0,500 0,006 -1,127 -2,369 0,365 0,027 Giữa B với B’ 0,405 0,500 0,004 -0,434 -1,448 0,190 0,082

Giữa A’ với B’ 0,286 0,500 0,006 -1,982 -2,768 0,429 0,023

Cả 4 sinh cảnh 0,265 0,5000 0,0035 -0,335 -3,987 0,470 0,0003

Chú thích:(1).Về sinh cảnh: A: hồ Xuân Mai mùa đông; A’: hồ Xuân Mai mùa xuân; B: đồng

Tiên Trượng mùa đông; B’: đồng Tiên Trượng mùa xuân; (2) Giá trị kiểm tra: T- Test statistic;A

- Agreement statistic;P- Sig (p-value)

Để đánh giá mức độ khác biệt (ngược lại là mức độ tương tự) giữa các quần xã chim độc lập, chúng tôi đã tính toán hệ số tương tự giữa bốn cặp quần

xã chim và xây dựng nên bảng ma trận sau:

Bảng 4.4 Ma trận tính tương tự giữa các quần xã chim

*Chú thích:A: hồ Xuân Mai mùa đông; A’: hồ Xuân Mai mùa xuân; B: đồng Tiên Trượng mùa

đông; B’: đồng Tiên Trượng mùa xuân

Từ bảng4.4 cho thấy; hệ số tương tự giữa hai quần xã chim (ở hồ Xuân Mai và đồng Tiên Trượng) vào mùa xuân là cao nhất, tức mức độ khác biệt giữa hai quần xã chim này là thấp nhất; mức độ khác biệt cao dần hơn là giữa hai quần xã chim (mùa đông- mùa xuân) ở hồ Xuân Mai, rồi giữa quần xã chim ở đồng Tiên Trượng mùa đông và hồ Xuân Mai mùa xuân Mức độ khác

Trang 28

biệt giữa quần xã chim ở hồ Xuân Mai mùa đông và quần xã chim ở đồng Tiên Trượng mùa xuân là cao nhất

4.2.2 Loài chim chỉ thị sinh cảnh

Từ kết quả phân tích loài chỉ thị cho các sinh cảnh khác nhau (khu vực, mùa) ở phụ lục 1; chúng tôi đã chọn ra một số loài chim có ý nghĩa chỉ thị rõ ràng (P < 0,05) Danh sách các loài chim này cùng các giá trị chỉ thị của chúng được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 4.5 Danh sách loài chim chỉ thị sinh cảnh

Tên loài Sinh

cảnh

Trị chỉ thị

Tính ngẫu nhiên của chỉ thị

P Trị bình quân Sai tiêu chuẩn

1.Le hôi (TARU)

*Chú thích:A: hồ Xuân Mai mùa đông; A’: hồ Xuân Mai mùa xuân; B: đồng Tiên Trượng mùa

đông; B’: đồng Tiên Trượng mùa xuân

Trang 29

Từ bảng 4.5 cho thấy: không có loài chim nào có ý nghĩa chi thị cho sinh cảnh hồ Xuân Mai vào mùa xuân Sinh cảnh hồ Xuân Mai mùa đông có 02 loài chim chỉ thị, gồm: Chìa vôi núi và Le hôi Sinh cảnh đồng Tiên Trượng mùa đông có 03 loài chim chỉ thị, gồm: Rẽ giun thường, Sáo nâu và Sẻ Sinh cảnh đồng Tiên Trượng mùa xuân có nhiều loài chim có ý nghĩa chỉ thị nhất (4 loài); tuy nhiên loài Chìa vôi trắng có giá trị chỉ thị thấp (44,2), do đó cần cân nhắc khi lựa chọn Chìa vôi trắng làm loài giám sát đại diện cho sự biến đổi của hệ sinh thái đất ngập nước nơi đây

4.3 Kết cấu tập đoàn kiếm ăn của quần xã chim

Chúng tôi đã lựa chọn được bộ số liệu về điều kiện môi trường kiếm ăn của 580 cá thể thuộc 13 loài chim thường gặp kiếm ăn vào mùa đông và 339

cá thể thuộc 14 loài chim thường gặp kiếm ăn vào mùa xuân; để tiến hành phân tích nhóm hai chiều (CA) và phân tích vô hướng đối ứng (DCA) Kết quả được thể hiện trên hình 3.1, hình 3.2, hình 3.3 và hình 3.4

4.3.1 Tập đoàn chim kiếm ăn vào mùa đông

Trên trục điều kiện môi trường (trong hình 3.1) cho thấy; ở mức thông tin còn lại 75%, 12 điều kiện môi trường kiếm ăn (bao gồm 02 sinh cảnh, 07 chất nền và 03 mức nhiễu loạn) được quy nạp thành 06 nhóm; trong đó đã thể hiện, mặt đất, không trung và khu nước sâu là ba nơi kiếm ăn khá độc lập của chim (không phụ thuộc vào sinh cảnh, mức độ nhiễu loạn và chất nền khác) Nơi kiếm ăn của chim ở đồng Tiên Trượng gắn liền với mức độ nhiễu loạn mạnh, ở hồ Xuân Mai gắn liền với mức nhiễu loạn yếu và trung bình; ở mức

độ thông tin còn lại nhỏ hơn hoặc bằng 87,5% giữa hai sinh cảnh và ba mức nhiễu loạn là không có sự sai khác

Trên trục độ nhiều quần thể chim (trong hình 3.1); mức độ thông tin còn lại càng cao, ổ sinh thái của các loài chim cùng tập đoàn kiếm ăn sẽ càng tương tự nhau, tức mức độ cạnh tranh thức ăn giữa chúng càng kịch liệt Chúng tôi đã lựa chọn thông tin còn lại ở mức 75%, để xác định ra 6 tập đoàn kiếm ăn Cụ thể như sau:

Trang 30

1) Tập đoàn kiếm ăn trong bùn lầy ở đồng Tiên Trượng (A): bao gồm 3 loài

Hình 4.1 Quy nạp nhóm về độ nhiều và điều kiện môi trường kiếm ăn

của chim vào mùa đông

Tên viết tắt loài chim tương đồng với bảng 3.1; Hb1: Hồ Xuân Mai; Hb2: Đồng Tiên Trượng; Fs1: Không trung; Fs2: Tán cây gỗ; Fs3: Tán cây bụi; Fs4: Mặt đất; Fs5: Bùn lầy; Fs6: Khu nước nông; Fs7: Khu nước sâu.; Hud1: Nhiễu loạn mạnh; Hud2: Nhiễu loạn trung bình; Hud3: Nhiễu loạn yếu.

2) Tập đoàn kiếm ăn trong không trung (B): bao gồm 2 loài là: Chèo bẻo

đen và Nhạn bụng trắng

3) Tập đoàn kiếm ăn trên mặt đất (C): bao gồm 2 loài là: Chìa vôi trắng và

Chim manh lớn

Trang 31

4) Tập đoàn kiếm ăn trong tán cây bụi ở hồ Xuân Mai(D): đại diện là

Chiền chiện đồng hung

5) Tập đoàn kiếm ăn trong tán cây gỗ và cây bụi ở đồng Tiên Trượng (E):

bao gồm 2 loài: Chào mào và Sẻ

6) Tập đoàn kiếm ăn ở khu nước sâu (F): bao gồm 3 loài là Cò ngàng lớn,

Bồng chanh và Sả đầu nâu

Kết quả phân tích vô hướng đối ứng (trong hình 3.2) cho thấy; trên trục 1 (Axis 1) chỉnh thể quần xã chim có thể phân thành 3 nhóm lớn: bên trái là nhóm chim kiếm ăn dựa vào không trung, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn B; bên phải là nhóm chim kiếm ăn dựa vào thảm thực vật, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn E và tập đoàn kiếm ăn D; ở giữa là nhóm chim thích ứng kiếm ăn trên mặt đất và vực nước, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn A, tập đoàn kiếm ăn C và tập đoàn kiếm ăn F

Từ trái qua phải; tỉ lệ diện tích chất nền (tán cây gỗ/không trung) mà các loài chim lợi dụng biến đổi theo thang độ từ thấp đến cao, tức đồng Tiên Trượng

có tỉ lệ này cao hơn ở hồ Xuân Mai

Trên trục 2 (Axis 2) chỉnh thể quần xã chim có thể phân thành 3 nhóm lớn: bên dưới là nhóm chim kiếm ăn trên mặt đất, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn C; bên trên là nhóm chim kiếm ăn trong vực nước, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn A và tập đoàn kiếm ăn F; ở giữa là nhóm chim thích ứng kiếm ăn trong không trung và tán thực vật, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn B, tập đoàn kiếm ăn D và tập đoàn kiếm ăn E Từ dưới lên trên; tỉ lệ diện tích chất nền (mặt nước sâu/mặt đất)

mà các loài chim lợi dụng biến đổi theo thang độ từ thấp đến cao; về cơ bản đồng Tiên Trượng có tỉ lệ này cao hơn ở hồ Xuân Mai, nhưng sự chênh lệch

là không lớn

Trang 32

Hb1 Hb2Fs1

Fs2 Fs3

Fs4

Fs5 Fs6 Fs7

Hud1 Hud2 Hud3

Fs2

Fs3

Fs4

Fs5 Fs6

Fs7

Hud1

Hud2 Hud3

CIJU

PYJO

PAM O

M OAL ANRI

Axis 1

Hình 4.2 Bài sắp về số lượng cá thể và điều kiện môi trường kiếm ăn của chim vào mùa đông

Tên viết tắt loài chim tương đồng bảng 3.1; Tên viết tắt sinh cảnh, chất nền kiếm ăn và mức độ nhiễu loạn tương đồng với hình 3.1

Trang 33

Trên trục 3 (Axis 3) chỉnh thể quần xã chim cũng có thể phân thành 3 nhóm lớn: bên dưới là nhóm chim kiếm ăn dựa vào thảm thực vật, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn D và tập đoàn kiếm ăn E; bên trên là nhóm chim kiếm ăn dựa chủ yếu vào vực nước, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn A và tập đoàn kiếm ăn F; ở giữa là nhóm chim kiếm ăn trong không trung và mặt đất, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn

B và tập đoàn kiếm ăn C Từ dưới lên trên; tỉ lệ diện tích chất nền (khu nước nông/tán cây bụi) mà các loài chim lợi dụng biến đổi theo thang độ từ thấp đến cao, tức hồ Xuân Mai có tỉ lệ này cao hơn ở đồng Tiên Trượng

4.3.2 Tập đoàn chim kiếm ăn vào mùa xuân

Trên trục điều kiện môi trường (trong hình 3.3) cho thấy; ở mức thông tin còn lại 75%, 12 điều kiện môi trường kiếm ăn (bao gồm 02 sinh cảnh, 07 chất nền và 03 mức nhiễu loạn) được quy nạp thành 06 nhóm; trong đó đã thể hiện, mặt đất, tán cây gỗ, tán cây bụi và không trung là bốn nơi kiếm ăn khá độc lập của chim (không phụ thuộc vào sinh cảnh, mức độ nhiễu loạn và chất nền khác) Cũng giống như mùa đông; vào thời gian mùa xuân, nơi kiếm ăn của chim ở đồng Tiên Trượng gắn liền với mức độ nhiễu loạn mạnh, ở hồ Xuân Mai gắn liền với mức nhiễu loạn yếu và trung bình; ở mức độ thông tin còn lại nhỏ hơn hoặc bằng 87,5% giữa hai sinh cảnh và ba mức nhiễu loạn là không có sự sai khác

Trên trục độ nhiều quần thể chim (trong hình 3.3); mức độ thông tin còn lại càng cao, ổ sinh thái của các loài chim cùng tập đoàn kiếm ăn sẽ càng tương tự nhau, tức mức độ cạnh tranh thức ăn giữa chúng càng kịch liệt Chúng tôi đã lựa chọn thông tin còn lại ở mức 70%, để xác định ra 5 tập đoàn kiếm ăn Cụ thể như sau:

1) Tập đoàn kiếm ăn ở bùn lầy và khu nước nông (A): bao gồm 2 loài là Cò

bợ và Cò trắng

Trang 34

Hình 4.3.Quy nạp nhóm về độ nhiều và điều kiện môi trường kiếm ăn của

chim vào mùa xuân

Tên viết tắt loài chim tương đồng với bảng 3.1; Hb1: Hồ Xuân Mai; Hb2: Đồng Tiên Trượng; Fs1: Không trung; Fs2: Tán cây gỗ; Fs3: Tán cây bụi; Fs4: Mặt đất; Fs5: Bùn lầy; Fs6: Khu nước nông; Fs7: Khu nước sâu.; Hud1: Nhiễu loạn mạnh; Hud2: Nhiễu loạn trung bình; Hud3: Nhiễu loạn yếu.

2) Tập đoàn kiếm ăn trong tán cây gỗ (B): bao gồm 4 loài là Tìm vịt, Bạc

má, Chào mào và Chim sâu vàng lục

3) Tập đoàn kiếm ăn trong tán cây bụi (C): bao gồm 4 loài là: Chiền chiện

đồng hung, Sẻ bụi đầu đen, Chích bông đuôi dài và Sẻ

4) Tập đoàn kiếm ăn trên mặt đất (D): bao gồm 3 loài là Chim manh lớn,

Chìa vôi trắng và Di cam

5) Tập đoàn kiếm ăn trong không trung (E): đại diện là Nhạn bụng trắng

Trang 35

Kết quả phân tích vô hướng đối ứng (hình 3.4) cho thấy; trên trục 1 (Axis 1) chỉnh thể quần xã chim có thể phân thành 3 nhóm lớn: bên trái là nhóm chim kiếm ăn dựa vào thảm thực vật, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn B và tập đoàn kiếm ăn C; bên phải là nhóm chim kiếm ăn dựa vào vực nước, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn A; ở giữa là nhóm chim thích ứng kiếm ăn trên mặt đất và trong không trung, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn D và tập đoàn kiếm ăn E Từ trái qua phải; tỉ lệ diện tích chất nền (khu nước sâu/tán cây gỗ) mà các loài chim lợi dụng biến đổi theo thang độ từ thấp đến cao, tức hồ Xuân Mai có tỉ lệ này cao hơn ở đồng Tiên Trượng

Trên trục 2 (Axis 2) chỉnh thể quần xã chim có thể phân thành 3 nhóm lớn: bên dưới là nhóm chim kiếm ăn trên mặt đất, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn D; bên trên là nhóm chim kiếm ăn trong không trung, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn E; ở giữa là nhóm chim kiếm

ăn dựa vào vực nước và thảm thực vật, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn A, tập đoàn kiếm ăn B và tập đoàn kiếm ăn C Từ dưới lên trên; tỉ lệ diện tích chất nền (không trung/mặt đất) mà các loài chim lợi dụng biến đổi theo thang độ từ thấp đến cao, tức đồng Tiên Trượng có tỉ lệ này cao hơn ở hồ Xuân Mai

Trên trục 3 (Axis 3) chỉnh thể quần xã chim cũng có thể phân thành 3 nhóm lớn: bên dưới là nhóm chim kiếm ăn dựa vào thảm thực vật, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn B và tập đoàn kiếm ăn C; bên trên là nhóm chim kiếm ăn trên mặt đất, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm

ăn D; ở giữa là nhóm chim kiếm ăn trong không trung và vực nước, bao gồm các loài chim thuộc tập đoàn kiếm ăn A và tập đoàn kiếm ăn E Từ dưới lên trên; tỉ lệ diện tích chất nền (tán cây bụi/mặt đất) mà các loài chim lợi dụng biến đổi theo thang độ từ thấp đến cao, tức hồ Xuân Mai có tỉ lệ này cao hơn

ở đồng Tiên Trượng

Trang 36

Hb1 Hb2

Hud2

Hud3

ARBA

EGGA CAM E

PAM A

HIRU

CIJU ORSU PYJO

Fs1 Fs2

Fs3

Fs4

Fs5

Fs6 Fs7 Hud1

Hud2

Hud3 ARBA

EGGA CAM E

PAM A

HIRU

CIJU ORSU PYJO

SATO DICO

PAM O

LOST

M OAL ANRI

Axis 1

Hình 4.4 Bài sắp về số lượng cá thể và điều kiện môi trường kiếm ăn của chim vào mùa xuân

Tên viết tắt loài chim tương đồng bảng 3.1; Tên viết tắt sinh cảnh, chất nền kiếm ăn và mức độ nhiễu loạn tương đồng với hình 3.3

Trang 37

4.4 Thảo luận

4.4.1 Mối liên hệ giữa đặc điểm sinh cảnh với kết cấu quần xã chim

Bởi khoảng cách đến đường ô tô cũng như nơi sinh sống của con người là khá gần nên khu vực đồng Tiên Trượng có mức độ nhiễu loạn cao hơn hồ Xuân Mai, chắc chắn sẽ không có lợi cho hoạt động sống của chim; tuy nhiên, đồng Tiên Trượng có số loài chim phong phú hơn hồ Xuân Mai Đa phần các loài chim ở đồng Tiên Trượng có tính thích ứng cao với hoạt động của con người như: Sẻ, Chào mào, Cò bợ, Cò trắng, Tìm vịt, Bạc má, Chim sâu vàng lục, ; ngược lại, một số loài chim hiếm, nhạy cảm với sự có mặt của con người như: Vịt mào, Le hôi, Chìa vôi núi, chỉ xuất hiện ở hồ Xuân Mai và mùa đông

Đồng Tiên Trượng có số loài chim phong phú; nguyên nhân là bởi nơi cư trú của chim trong sinh cảnh này đa dạng, bao gồm: mặt nước, bùn lầy, tán cây bụi, tán cây gỗ, mặt đất, vật kiến trúc và đường dây điện (Bảng 1.1), mà

đa dạng hóa nguồn tài nguyên có thể lợi dụng sẽ thu hút nhiều loài chim đến

cư trú (Hurlbert, 2004) Thời kỳ mùa xuân, Đồng Tiên Trượng cũng có đầy đủ nơi cư trú của chim như ở thời kỳ mùa đông; do đó kết quả kiểm tra đã cho thấy không tồn tại sự sai khác về tổ thành loài chim giữa hai mùa ở đồng Tiên Trượng (Bảng 3.3) Số lượng nơi cư trú của chim ở đồng Tiên Trượng không đổi giữa hai mùa (Bảng 1.1); kết quả điều tra cho thấy, vào mùa xuân số loài chim ít hơn, nhưng tính đa dạng quần xã lại cao hơn so với mùa đông; nguyên nhân là bởi tính đa dạng quần xã chim cao hơn trong sinh cảnh dị chất (Fahrig

L, 2003, Berg A, 2002, Nguyễn Quốc Hoàng, 2016) Điều này có liên hệ mật thiết với tỉ lệ diện tích các chất nền mà chim có thể lợi dụng; vào mùa đông mặt nước chiếm phần lớn diện tích, các chất nền còn lại có tỉ lệ diện tích thấp; còn vào mùa xuân tỉ lệ diện tích các chất nền khá đồng đều

Hồ Xuân Mai có số lượng loài cũng như tính đa dạng quần xã chim thấp hơn so với đồng Tiên Trượng; điều này là bởi số lượng nơi cư trú của chim ít, cũng như tỉ lệ diện tích các chất nền không đồng đều Cho dù vào mùa xuân,

Trang 38

tính đa dạng quần xã chim ở hồ Xuân Mai cao hơn một chút, nhưng số lượng loài lại thấp nhất và không loài chim nào có ý nghĩa chỉ thị Nguyên nhân là bởi vào mùa xuân, hồ Xuân Mai được xả nước ra sông Đáy để làm đất cấy lúa; tính dị chất của sinh cảnh có tăng lên nhưng hoạt động canh tác của con người với cường độ mạnh đã không đảm bảo điều kiện sống cho nhiều loài chim; mặt khác các kiểu nơi cư trú của chim tại đây có số lượng ít hơn và đều giống với ở đồng Tiên Trượng cùng thời điểm Sự khác biệt khá lớn về sinh cảnh sống của chim tại hồ Xuân Mai giữa hai mùa đã giải thích vì sao có sự khác biệt rõ ràng về tổ thành loài chim giữa hai mùa tại đây (không giống như

ở đồng Tiên Trượng, sự thay đổi sinh cảnh sống của chim không lớn đã dẫn đến không có sự khác biệt về tổ thành loài chim giữa hai mùa)

So với thời kỳ mùa xuân, tính đa dạng quần xã chim ở hồ Xuân Mai cũng như đồng Tiên Trượng vào mùa đông đều thấp hơn (Bảng 3.2); đồng thời kết quả kiểm tra (Bảng 3.3) cũng đã cho thấy vào mùa đông, không có sự khác biệt về tổ thành loài chim giữa hồ Xuân Mai và đồng Tiên Trượng Điều này

có liên hệ mật thiết với mức độ tương tự giữa hai sinh cảnh này, đó là mặt nước đều chiếm phần lớn diện tích, và tính dị chất trong nội bộ sinh cảnh không cao

4.4.2 Định hướng giải pháp quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên gắn với bảo tồn đa dạng sinh học chim

Thị trấn Xuân Mai được quy hoạch đến năm 2020 là một trong năm đô thị trong chuỗi đô thị vệ tinh của thủ đô Hà Nội; tiêu chuẩn một đô thị văn minh hiện đại, chắc chắn phải tạo cho cư dân có một môi trường sống xanh, sạch, đẹp, người dân quan tâm đến bảo vệ thiên nhiên Bảo tồn, duy trì tính đa dạng sinh học chính là bảo vệ môi trường sống của con người; trong đó một thành phần quan trọng của đa dạng sinh học khu vực Xuân Mai chính là các loài chim

Từ kết quả nghiên cứu sự biến đổi kết cấu quần xã chim trong hệ sinh thái đất ngập nước đã gợi ý cho chính quyền địa phương cũng như đơn vị thực

Trang 39

hiện quy hoạch trên vùng đất ngập nước tại đây, nên thực hiện một số biện pháp sau: (1) Quy hoạch các phân khu chức năng một cách khoa học; khu dân

cư, khu sản xuất và khu tự nhiên được phân bổ hợp lý nhằm giảm thiểu nhiễu loạn với cường độ mạnh; duy trì diện tích các ao nước và cây bụi trong khu dân cư; (2) Để duy trì tình trạng tự nhiên ổn định cho hồ Xuân Mai, cần có cơ chế đổi thửa hoặc đền bù cho các hộ dân có ruộng canh tác gần khu vực hồ tự nhiên (vào mùa đông) và đáy hồ cạn (vào mùa hè), tiến tới quy hoạch thành công viên nước hồ Xuân Mai; (3) Để duy trì tính dị chất của sinh cảnh vào mùa đông, từ đó nâng cao tính đa dạng sinh học chim; cần tiến hành luân phiên tháo nước giữa các hồ thả cá, đa dạng hóa cây trồng trên đồng ruộng; dẫn nhập các loài thực vật thủy sinh ngoi nước và trồng cây gỗ phân tán ven

bờ, đồng thời hạ thấp mức nước hồ Xuân Mai; (4) Xây dựng và thực hiện chương trình giám sát các loài chim chỉ thị sinh cảnh; thông tin về động thái quần thể của các loài chim này là cơ sở cho các biện pháp điều chế sinh cảnh sống của chúng

Trang 40

KẾT LUẬN VÀ TỒN TẠI- KHUYẾN NGHỊ Kết luận

Từ toàn bộ những kết quả và thảo luận trên, cho phép tôi rút ra một số kết luận sau:

1 Tổng cộng đã ghi nhận được 49 loài thuộc 24 họ và 9 bộ chim ở hai

kỳ điều tra (mùa đông và mùa xuân) trong 02 kiểu đất ngập nước (hồ Xuân Mai và đồng Tiên Trượng) ở khu vực thị trấn Xuân Mai;

2 Độ phong phú và tính đa dạng của quần xã chim ở đồng Tiên Trượng đều cao hơn ở hồ Xuân Mai cả vào mùa đông cũng như mùa xuân;

3 Vào mùa đông, không có sự khác biệt về tổ thành loài chim giữa hồ Xuân Mai và đồng Tiên Trượng; ngoài ra tại đồng Tiên Trượng thì tổ thành loài chim giữa hai mùa cũng không có sự khác biệt Mức độ khác biệt giữa quần xã chim ở hồ Xuân Mai mùa đông và quần xã chim ở đồng Tiên Trượng mùa xuân là cao nhất;

4 Không loài chim nào có ý nghĩa chi thị cho sinh cảnh hồ Xuân Mai vào mùa xuân Sinh cảnh đồng Tiên Trượng mùa xuân có nhiều loài chim chỉ thị nhất;

5 Cấu trúc tập đoàn kiếm ăn của quần xã chim có liên quan mật thiết với mức độ dị chất của sinh cảnh Căn cứ vào đó có thể so sánh tỉ lệ diện tích các chất nền giữa hai kiểu đất ngập nước mà không cần trực tiếp đo lường;

6 Biến đổi động thái quần xã chim có liên quan mật thiết với đặc điểm sinh cảnh cư trú; tính đa dạng quần xã chim cao hơn trong sinh cảnh dị chất Căn cứ vào đó tiến hành các giải pháp bảo vệ và cải tạo hợp lý sinh cảnh nhằm nâng cao tính đa dạng sinh học chim, từ đó phát huy cao nhất hiệu ích môi trường của hệ sinh thái đất ngập nước trong khu vực nghiên cứu

Tồn tại và Khuyến nghị

Bởi nguồn lực và thời gian có hạn nên thời gian điều tra chim và sinh cảnh sống của chúng là không nhiều (2 tuần vào thời kỳ mùa đông, và 2 tuần vào thời kỳ mùa xuân) Do đó, dữ liệu thu thập được còn chưa phong phú

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w