1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã sơn tây thành phố hà nội

66 37 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG & MÔI TRƯỜNG --- KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THỊ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG & MÔI TRƯỜNG

-

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hà Nội, 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành quá trình học tập và rèn luyện trong những năm đại học, thực hiện khóa luận tốt nghiệp giúp cho sinh viên tổng hợp được nhiều kiến thức đã học đồng thời là một bước chuẩn bị cho công việc sau này Được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, khoa Quản lý Tài nguyên rừng và môi

trường, giáo viên hướng dẫn, tôi thực hiện đề tài “ Thực trạng và đề xuất giải pháp

nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây – thành phố Hà Nội”

Trong quá trình điều tra, nghiên cứu và hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình, quý báu của Nhà trường, khoa QLTNR&MT, các cô giáo hướng dẫn, các cơ quan, tổ chức và nhân dân địa phương

Tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất đến ThS Trần Thị Hương, Bộ môn Kỹ thuật môi trường, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Quản lý tài nguyên rừng

và môi trường, trường Đại học Lâm nghiệp đã dạy bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi học tập và nghiên cứu tại Nhà trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Uỷ ban nhân dân thị xã Sơn Tây, Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để tôi được thực tập tại địa bàn thị xã

Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, mặc dù bản thân tác giả đã rất cố gắng song do hạn chế về trình độ lý luận, kiến thức chuyên môn cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên khóa luận không tránh khỏi thiếu sót Do vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô giáo và các bạn đọc để khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 06 tháng 05 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Trần Thị Thu Thủy

Trang 3

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Khoa: Quản lý Tài Nguyên Rừng & Môi Trường

Khóa: 2015 – 2019

1 Tên khóa luận: “ Thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý

chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội”

2 Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thu Thủy

3 Giáo viên hướng dẫn: ThS Trần Thị Hương

4 Mục tiêu nghiên cứu:

* Mục tiêu chung:

Đề tài góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn

Tây, thành phố Hà Nội

* Mục tiêu cụ thể:

Đánh giá được thực trạng và hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã

Sơn Tây, thành phố Hà Nội

Đề xuất được giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị

xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

5 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu thực trạng chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây

- Nghiên cứu hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây

6 Những kết quả đạt được

1 Khối lượng CTRSH trung bình một ngày tại thị xã Sơn Tây là 95,29 tấn/ngày, ứng với 34780,85 tấn/năm, với hệ số phát sinh CTRSH là 0,6 kg/người/ngày Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt chủ yếu từ các hộ dân cư,

các khu vực chợ, khu trung tâm mua bán, trường học, cơ quan hành chính tại thị xã

2 Thành phần CTRSH tại thị xã Sơn Tây chủ yếu là hợp chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học chiếm tỷ lệ cao nhất (54,4%) Túi nilong, nilong và các sản phẩm từ nhựa với tỉ lệ từ 10,5% đến 12,3% Tiếp theo là thành phần chất thải rắn như sắt

vụn, kim loại, giấy, nhựa,… Các loại chất thải nguy hại chiếm tỷ lệ thấp (1,8%)

Trang 4

3 Thực trạng thu gom và chận chuyển CTRSH, công nhân của Công ty Môi trường và Công trình Đô thị Sơn Tây sẽ đi thu gom rác bằng xe đẩy tay, xe điện và

xe tải nhỏ vào 2 ca trong ngày Hiệu quả thu gom đạt 82 % Tại những nơi ngõ, xóm nhỏ hẹp xe đẩy tay không vào được hoặc những nơi gần sông hồ, bãi đất trống phần lớn người dân đổ rác ra những nơi này gây mất vệ sinh và ô nhiễm môi

trường

4 Hiệu quả vận chuyển CTRSH đạt 75 % Do vậy, lượng rác tồn lại mỗi ngày trên địa bàn khá lớn ở một số nơi, gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường và sứa

khỏe con người

5 Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh được dự báo đến năm 2030 khoảng 43660,86 tấn/năm với lượng rác lớn như vậy nếu không có biện pháp xử lý và quy hoạch cụ thể thì lượng rác này sẽ gây ảnh hưởng tới con người và môi trường, trở

thành vấn đề đáng quan ngại của thị xã trong những năm tới

6 Từ nghiên cứu thực tế về hoạt động quản lý rác thải tại thị xã Sơn Tây, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu gom, vận chuyển và tổ chức quản lí rác thải như: Thay đổi phương thức quản lý, hoàn thiện mô hình xã hội hóa công tác thu gom rác thải, lập dự án phân loại rác thải tại nguồn phục vụ cho nhu cầu hoạt đọng nhà máy xử lý và chế biến rác thải trong những năm tới

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ ix

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I.TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

1.1 Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt 2

1.1.1 Một số khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt 2

1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 3

1.1.3 Phân loại chất thải rắn sinh hoạt [18] 3

1.1.4 Tính chất của chất thải rắn sinh hoạt 4

1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới và tại Việt Nam 7

1.2.1 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới 7

1.2.2.Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam 10

1.3 Các công trình nghiên cứu về thực trạng và công tác quản lý CTR tại thị xã Sơn Tây 13

CHƯƠNG II.MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 14

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 14

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 14

2.3 Nội dung nghiên cứu 14

2.3.1 Nghiên cứu thực trạng chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu 14

2.3.2 Nghiên cứu hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây 14

2.3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây 15

2.4 Phương pháp nghiên cứu 15

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu thực trạng chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 15

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây 17

2.4.3 Phương pháp đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt cho người dân tại khu vực nghiên cứu 17

CHƯƠNG III.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI 19

3.1.Điều kiện tự nhiên 19

3.1.1 Vị trí địa lý 19

Trang 6

3.1.2 Địa hình 19

3.1.3 Khí hậu 21

3.1.4.Thủy văn 21

3.1.5 Tài nguyên 22

3.2 Tình hình kinh tế - xã hội 23

3.2.1 Dân số 23

3.2.2 Công nghiệp – xây dựng 23

3.2.3 Nông, lâm nghiệp 23

3.2.4 Y tế 23

3.2.5 Giáo dục 24

3.2.6 Văn hóa 24

CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

4.1 Thực trạng chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây 25

4.1.1 Nguồn gốc phát sinh CTRSH 25

4.1.2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị xã Sơn Tây 26

4.1.3 Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt 27

4.2 Đánh giá hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây 30

4.2.1 Cơ cấu tổ chức, nhân sự và phương tiện quản lý CTRSH tại thị xã Sơn Tây 30 4.2.2 Quy trình thu gom và vận chuyển 33

4.2.3 Đánh giá hiệu quả thu gom 35

4.2.4 Đánh giá hiệu quả vận chuyển 37

4.2.5 Hiệu quả kinh tế 39

4.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao quản lý chất thải rắn sinh hoạt của thị xã Sơn Tây 40

4.3.1 Dự báo dân số và lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt thị xã Sơn Tây (giai đoạn 2020- 2030) 40

4.3.2 Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả trong công tác thu gom và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây 41

CHƯƠNG 5.KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 46

5.1 Kết luận 46

5.2 Tồn tại 47

5.3 Kiến nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BVMT Bảo vệ môi trường CTR Chất thải rắn CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt HĐLĐ Hợp đồng lao động KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình RTSH Rác thải sinh hoạt

TN&MT Tài nguyên và môi trường

VSMT Vệ sinh môi trường

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Khối lượng riêng các thành phần của chất thải rắn đô thị [5] 5

Bảng 1.2 Thành phần các nguyên tố của chất thải rắn sinh hoạt [5] 6

Bảng 2.1 Số lượng và tần suất lấy mẫu 16

Bảng 2.2 Mẫu biểu ghi khối lượng và thành phần rác thải 16

Bảng 4.1 Thành phần CTR sinh hoạt thị xã Sơn Tây 26

Bảng 4.2 Hệ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt (điều tra 30 hộ ) 27

Bảng 4.3.Tổng lượng CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình 29

Bảng 4.4 Khối lượng CTR sinh hoạt thị xã năm 2015 – 2018 29

Bảng 4.5 Nhân lực lao động của Công ty cổ phần Môi trường & Công trình Đô thị Sơn Tây 32

Bảng 4.6 Phương tiện thu gom và vận chuyển chất thải rắn tại thị xã Sơn Tây 33

Bảng 4.7 Hành trình của các xe thu gom CTR tại thị xã Sơn Tây 34

Bảng 4.8 Bảng thống kê điểm tập kết CTR sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây 36

Bảng 4.9 Năng lực vận chuyển rác thải của công ty 38

Bảng 4.10 Mức thu phí VSMT tại thị xã 39

Bảng 4.11 Dự đoán dân số và lượng rác phát sinh của thị xã Sơn Tây giai đoạn 2020 – 2030 40

Bảng 4.12 Bảng đề xuất điểm tập kết CTR sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây 42

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Bản đồ hành chính thị xã Sơn Tây 19

Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện thành phần CTR sinh hoạt thị xã Sơn Tây 27

Hình 4.2 Biểu đồ diễn biến khối lƣợng CTR sinh hoạt từ năm 2015-2018 30

Hình 4.3 Biểu đồ phỏng vấn thể hiện hiệu quả thu gom CTRSH tại thị xã 36

Hình 4.4 Bản đồ điểm tập kết thu gom CTR sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây 37

Hình 4.5 Biểu đồ kết quả phỏng vấn hiệu quả vận chuyển CTR tại thị xã 38

Hình 4.6 Biểu đồ phỏng vấn thể hiện mức phí thu gom tại thị xã 39

Hình 4.7 Biểu đồ dự báo khối lƣợng CTR sinh hoạt giai đoạn 2020-2030 41

Hình 4.8 Bản đồ điểm tập kết thu gom CTR sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây 42

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt [9] 3

Sơ đồ 4.1 Nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt của thị xã Sơn Tây 25

Sơ đồ 4.2 Sơ đồ hệ thống quản lý CTRSH tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 31

Sơ đồ 4.3 Quy trình thu gom vận chuyển CTR tại thị xã Sơn Tây 33

Trang 11

MỞ ĐẦU

Thị xã Sơn Tây là thị xã trực thuộc Thủ đô Hà Nội Trong những năm gần đây, đi đôi tốc độ đô thị hoá và mức độ phát triển kinh tế nhanh là sự gia tăng về khối lượng CTR, tại thị xã Sơn Tây, mỗi ngày có khoảng 80 tấn chất thải rắn các loại thải ra môi trường, trong đó chất thải rắn sinh hoạt chiếm 70%, số còn lại là chất thải rắn y tế, công nghiệp và xây dựng Mặc dù đã có những đơn vị tổ chức thu gom nhưng lại không đồng bộ trong việc quản lý dẫn đến nhiều vấn đề bất cập làm giảm hiệu quả thu gom và gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng Mặt khác, với một lượng chất thải rắn khá lớn như trên và có xu hướng ngày càng gia tăng cùng với tốc độ phát triển, nếu không có một giải pháp phối hợp đồng bộ, thu gom không hợp lý thì CTR sẽ có các tác động xấu như : gây cản trở giao thông, mất mĩ quan đô thị, gây ô nhiễm môi trường

Thị xã Sơn Tây có dân số khá đông 150576 người, khối lượng CTR sinh hoạt lớn (34860,58 tấn/năm vào năm 2018) lượng rác ngày càng tăng lên do quá trình đô thị hóa Hệ thống thu gom chất thải rắn hiện nay được thực hiện bởi lực lượng thu gom chất thải rắn dân lập và công lập, chính vì thế mà chất thải rắn chưa được quản

lý tốt Hệ thống thu gom CTR của thị xã còn gặp một số bất cập như việc chưa phân loại được rác thải tại đầu nguồn , thời gian thu gom, vận chuyển vẫn còn chưa hợp

lý, phương tiện thu gom tại các khu vực ngoại thị còn thô sơ, không đảm bảo nhu cầu thu gom CTR trên địa bàn thị xã, chỉ có khoảng 80 – 85% tổng số lượng CTR được thu gom và số còn lại được thải xuống kênh, rạch gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Công nghệ tái chế, tái sử dụng nhằm hạn chế chôn lấp, giảm thiều ô nhiễm môi trường chưa được áp dụng rộng rãi, chỉ diễn ra tự phát

Nhận thấy mức độ cấp thiết và tầm quan trọng của vấn đề, em đã lựa chọn đề

tài khóa luận tốt nghiệp: “ Thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả

quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.” Nhằm có

những cái nhìn về thực trạng quản lý chất thải rắn của thị xã, đồng thời đưa ra giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn

Trang 12

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt

1.1.1 Một số khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt

Theo khoản 12, điều 3 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014: “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.” [10]

Về chất thải rắn, theo cách hiểu chung nhất là tất cả các chất thải phát sinh

do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay khi không muốn dùng nữa

Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu

quy định: “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác” [4]

Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là chất thải rắn công nghiệp

Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong

sinh hoạt thường ngày của con người [4] Như vậy có thể hiểu: “Chất thải rắn sinh hoạt

là chất thải ở dạng rắn hoặc sệt và không tan trong nước, được thải ra từ quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác của con người”

“Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe con người.[3]

Thu gom chất thải thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.[3]

Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng [3]

Xử lỷ chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn, thu hồi, tái chế, tái sử dụng các thành phần có ích trong chất thải rắn.[3]

Trang 13

1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, có thể ở nơi này hay

ở nơi khác; chúng khác nhau về số lượng, kích thước, phân bố về không gian Việc phân loại các nguồn phát sinh chất thải rắn đóng vai trò quan trọng trong công tác thu gom và vận chuyển Các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt gồm:

Sơ đồ 1.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt [9]

Khu dân cư: Bao gồm các khu dân cư tập trung, những hộ dân cư tách rời

Nguồn rác thải chủ yếu là thực phẩm dư thừa, thuỷ tinh, gỗ, nhựa, cao su và một số chất thải nguy hại

Hoạt động thương mại: Quầy hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng cơ quan,

khách sạn Các nguồn thải có thành phần tương tự như đối với các khu dân cư (thực phẩm, giấy, catton )

Cơ quan, công sở: Trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính: lượng

rác thải tương tự như đối với rác thải dân cư và các hoạt động thương mại nhưng khối lượng ít hơn

Dịch vụ công cộng của các đô thị: Vệ sinh đường xá, phát quan, chỉnh tu các

công viên, bãi biển và các hoạt động khác Rác thải bao gồm cỏ rác, rác thải từ việc trang trí đường phố

Các quá trình xử lý nước thải: Từ quá trình xử lý nước thải, nước rác, các

quá trình xử lý trong công nghiệp Nguồn thải là bùn, làm phân compost

1.1.3 Phân loại chất thải rắn sinh hoạt [18]

 Theo nguồn gốc:

- Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải phát sinh hằng ngày từ các hộ gia đình, khu chợ, đô thị, cơ quan, trường học, các khu thương mại, khu dân cư, khu dịch vụ công cộng

Cơ quan, công sở Hoạt động

thương mại

Các quá trính xử

lý nước thải

Chất tải rắn sinh hoạt

Trang 14

- Chất thải xây dựng là các phế thải do các hoạt động xây dựng tạo ra

- Chất thải công nghiệp phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

- Chất thải nông nghiệp phát sinh do các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch

 Theo tính chất của chất thải:

- CTR hữu cơ: Là chất thải có khả năng tự phân hủy trong môi trường tự nhiên sau một thời gian ngắn Ví dụ : cuống rau, mẩu thịt, thức ăn thừa

- CTR vô cơ: Là chất thải có khả năng tồn lưu trong môi trường rất lâu Ví

dụ : thủy tinh, sành sứ, kim loại

 Theo khả năng tái chế, thu hồi:

- CTR có khả năng tái chế : bìa catton, chất dẻo, vải vụn, thủy tinh, kim loại, giấy

- CTR không thể tái chế: kim tiêm, chất thải y tế nguy hại

 Theo mức đô nguy hai:

- CTR nguy hại là các chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, chứa chất phóng xạ, kim loại nặng

- CTR thông thường là các chất thải không chứa các chất và hợp chất có tính nguy hại

1.1.4 Tính chất của chất thải rắn sinh hoạt

1.1.4.1 Tính chất lý học của chất thải rắn

Việc lựa chọn và vận hành thiết bị, phân tích và thiết kế hệ thống xử lý, đánh giá khả năng thu hồi năng lượng… phụ thuộc rất nhiều vào tính chất vật lý của chất thải rắn Những tính chất vật lý quan trọng của chất thải rắn sinh hoạt bao gồm: khối lượng riêng,

độ ẩm, kích thước phân loại và độ xốp Trong đó, khối lượng riêng và độ ẩm là hai tính chất được quan tâm nhất trong công tác thu gom và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt

Một là, khối lượng riêng: Khối lượng riêng của chất thải rắn được định nghĩa là

trọng lượng của một đơn vị vật chất tính trên 1 đơn vị thể tích chất thải (kg/m3) Bởi vì khối lượng riêng của chất thải rắn thay đổi tuỳ thuộc vào những trạng thái của chúng như: xốp, chứa trong các thùng chứa container, không nén, nén… nên khi báo cáo dữ liệu về khối lượng hay thể tích chất thải rắn, giá trị khối lượng riêng phải chú thích trạng thái (khối lượng riêng) của các mẫu rác một cách rõ ràng vì dữ liệu khối lượng riêng rất cần thiết được sử dụng để ước lượng tổng khối lượng và thể tích rác cần phải quản lý

Trang 15

Bảng 1.1 Khối lượng riêng các thành phần của chất thải rắn đô thị [5]

Loại chất thải Dao động Khối lượng riêng (lb/yd3)*

( Nguồn: Cù Huy Đấu, Trần Thị Hường (2010) Quản lý chất thải rắn đô thị Nhà

xuất bản Xây dựng, Hà Nội.)

Chú thích: *1 lb/yd3 = 593 kg/m3 Khối lượng riêng thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: vị trí địa lý, mùa trong năm, thời gian lưu giữ chất thải Do đó cần phải thận trọng khi lựa chọn giá trị thiết kế Khối lượng riêng của chất thải đô thị dao động trong khoảng 180 - 400 kg/m3, điển hình khoảng 300 kg/m3

[4]

Hai là, độ ẩm: Độ ẩm của chất thải rắn là thông số có liên quan đến giá trị

nhiệt lượng của chất thải, được xem xét lựa chọn phương án xử lý, thiết kế bãi chôn lấp và lò đốt Độ ẩm rác thay đổi theo thành phần và theo mùa trong năm Trong đó, rác thải thực phẩm có độ ẩm từ 50 - 80%, rác thải là thủy tinh và kim loại có độ ẩm thấp nhất Độ ẩm trong rác cao tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật kỵ khí phân hủy gây thối rữa

Độ ẩm của chất thải rắn thường được biểu diễn bằng hai cách: Tính theo thành phần phần trăm khối lượng ướt và thành phần phần trăm khối lượng khô Trong thu gom

và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt, phương pháp khối lượng ướt thông dụng hơn

Ba là, khả năng giữ nước thực tế của chất thải rắn là toàn bộ lượng nước mà nó có

thể giữ lại trong mẫu chất thải dưới tác dụng của trọng lực Khả năng giữ nước của hỗn hợp chất rắn không nén từ các khu dân cư và thương mại dao động trong khoảng 50-60%

Trang 16

1.1.4.2 Tính chất hóa học của chất thải rắn sinh hoạt

Thành phần các nguyên tố cơ bản trong CTR sinh hoạt cần phân tích bao gồm C (cacbon), H (hydro), O (oxy), N (nitơ), S (lưu huỳnh) và tro Các nguyên tố thuộc nhóm halogen cũng được xác định do các dẫn xuất của clo thường tồn tại trong thành phần khí thải khi đốt rác Kết quả xác định các nguyên tố cơ bản này được sử dụng để xác định công thức hóa học của thành phần chất hữu cơ có trong CTR sinh hoạt cũng như xác định tỷ lệ C/N thích hợp cho quá trình làm phân Compost Số liệu về các nguyên tố cơ bản của từng thành phần chất thải cháy được

có trong CTR sinh hoạt của khu dân cư theo nghiên cứu

Bảng 1.2 Thành phần các nguyên tố của chất thải rắn sinh hoạt [5] Thành phần

Phần trăm khối lượng khô (%)

1.1.4.3 Tính chất sinh học của chất thải rắn sinh hoạt

Đặc tính sinh học quan trọng nhất của các thành phần chất hữu cơ có trong chất thải rắn sinh hoạt là hầu hết các thành phần này đều có khả năng chuyển hóa sinh học tạo thành khí, chất rắn hữu cơ và các chất vô cơ Trong đó, đặc tính quan trọng nhất là khả năng phân hủy sinh học của các thành phần chất hữu cơ

Đối với hàm lượng chất rắn bay hơi (VS), được xác định bằng cách nung ở nhiệt độ 5500C, thường được sử dụng để đánh giá khả năng phân huy sinh học của

Trang 17

chất hữu cơ trong CTR sinh hoạt Tuy nhiên, việc sử dụng chỉ tiêu VS để biểu diễn khả năng phân hủy sinh học của phần chất hữu cơ có trong CTR sinh hoạt không chính xác vì một số thành phần chất hữu cơ rất dễ bay hơi nhưng rất khó bị phân hủy sinh học (ví dụ giấy in báo và nhiều loại cây kiểng) Cũng có thể sử dụng hàm lượng lignin có trong chất thải để xác định tỷ lệ chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học theo phương trình sau (George et al, 1993): BF = 0,83 – 0,028 LC

Trong đó:

- BF: phần có khả năng phân hủy sinh học biểu diễn dưới dạng vi sinh;

- 0,83: hằng số thực nghiệm;

- 0,028: hằng số thực nghiệm;

- LC: hàm lượng lignin có trong VS tính theo % khối lượng khô

Sự hình thành mùi: Mùi sinh ra khi tồn trữ CTR trong thời gian dài giữa các khâu thu gom, trung chuyển và đổ ra BCL, nhất là ở những vùng khí hậu nóng, do khả năng phân hủy kỵ khí nhanh các chất hữu cơ dễ bị phân hủy có trong CTR sinh hoạt

Các quá trình chuyển hóa sinh học: Các quá trình chuyển hóa sinh học phần chất hữu cơ có trong CTR sinh hoạt có thể áp dụng để giảm thể tích và khối lượng chất thải, sản xuất phân compost dùng bổ sung chất dinh dưỡng cho đất và sản xuất khí methane Những vi sinh vật chủ yếu tham gia quá trình chuyển hóa sinh học các chất thải hữu cơ bao gồm vi khuẩn, nấm, men và antinomycetes Các quá trình này

có thể được thực hiện trong điều kiện hiếu khí hoặc kỵ khí, tùy theo lượng oxy sẵn

có Những điểm khác biệt cơ bản giữa các phản ứng chuyển hóa hiếu khí và kỵ khí

là bản chất của các sản phẩm tạo thành và lượng oxy thực sự cần phải cung cấp để thực hiện quá trình chuyển hóa hiếu khí

Những quá trình sinh học ứng dụng để chuyển hóa chất hữu cơ có trong CTR sinh hoạt bao gồm quá trình làm phân compost hiếu khí, quá trình phân hủy kỵ khí và quá trình phân hủy kỵ khí ở nồng độ chất rắn cao [8]

1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới và tại Việt Nam

1.2.1 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới

Tình hình phát sinh và khả năng xử lý CTRSH ở các nước khác nhau cũng rất khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống quản lý của mỗi nước Ở các nước phát triển mặc dù lượng phát thải là rất lớn nhưng hệ thống quản

lý môi trường của họ rất tốt, còn ở các nước kém phát triển dù lượng phát thải nhỏ hơn rất nhiều nhưng do hệ thống quản lý môi trường kém phát triển nên môi trường

ở nhiều nước có xu hướng suy thoái nghiêm trọng

Đối với các nước Châu Á, chôn lấp CTRSH vẫn là phương pháp phổ biến để tiêu hủy vì chi phí rẻ Trung Quốc và Ấn Độ có tỷ lệ chôn lấp tới 90% Tỷ lệ thiêu

Trang 18

đốt chất thải của Nhật Bản và Đài Loan (Trung Quốc) vào loại cao nhất, khoảng 60 – 80% Hàn Quốc chiếm tỷ lệ tái chế chất thải cao nhất khoảng trên 40% Đối với chất thải hữu cơ, ủ phân compost là phương pháp tiêu hủy chủ yếu Ấn Độ và Philippines ủ phân compost tới 10% lượng chất thải phát sinh Tại hầu hết các nước, tái chế chất thải đang ngày được coi trọng.[19]

1.2.1.1 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Singapore

Là một nước nhỏ, không có nhiều diện tích đất chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt như những quốc gia khác nên đã kết hợp xử lý chất thải bằng phương pháp đốt và chôn lấp Cả nước Singapore có 3 nhà máy đốt chất thải Những thành phần CTRSH rắn không cháy được chôn lấp ở bãi chất thải ngoài biển Đảo – đồng thời

là bãi chất thải Semakau với diện tích 350 ha, có sức chứa 63 triệu m3 chất thải, được xây dựng với kinh phí 370 triệu USD và hoạt động từ năm 1999 Tất cả CTRSH của Singapore được chất tại bãi này Mỗi ngày, hơn 2000 tấn chất thải được đưa ra đảo Dự kiến chứa được chất thải đến năm 2040 Bãi chất thải này được bao quanh bởi con đập xây bằng đá dài 7km, nhằm ngăn chặn sự ô nhiễm ra xung quanh Đây là bãi CTRSH nhân tạo đầu tiên trên thế giới ở ngoài khơi và cũng đồng thời là khu du lịch sinh thái hấp dẫn của Singapore Hiện nay, các bãi chất thải đã đi vào hoạt động, rừng đước, động thực vật trên đảo vẫn phát triển tốt, chất lượng không khí và nước vẫn tốt

CTRSH từ các nguồn khác nhau sau khi thu gom được đưa đến trung tâm phân loại chất thải Ở đây chất thải được phân loại ra những thành phần: có thể tái chế (kim loại, nhựa, sắt, vải, giấy…), các chất hữu cơ, thành phần cháy được và không cháy được Những chất chất có thể tái chế thì chuyển tới các nhà máy để tái chế, những chất cháy được được chuyển tới nhà máy đốt chất thải, còn những chất thải mà không cháy được chở đến cảng trung chuyển, đổ lên xà lan và chở ra tới khu chôn lấp chất thải Semakau ngoài biển [19]

Tại Singapore, nhiều năm qua đã hình thành một cơ chế thu gom rác rất hiệu quả Việc thu gom rác được tổ chức đấu thầu công khai cho các nhà thầu Công ty trúng thầu sẽ thực hiện công việc thu gom rác trên một địa bàn cụ thể trong thời hạn

7 năm Singapore có 9 khu vực thu gom rác Rác thải sinh hoạt được đưa về một khu vực bãi chứa lớn Công ty thu gom rác sẽ cung cấp dịch vụ “từ cửa đến cửa”, rác thải tái chế được thu gom và xử lý theo chương trình Tái chế Quốc gia

Bộ Môi trường quy định các khoản phí về thu gom rác và đổ rác với mức

6-15 đô la Singapore mỗi tháng tùy theo phương thức phục vụ (6-15 đôla đối với các dịch vụ thu gom trực tiếp, 6 đôla đối với các hộ được thu gom gián tiếp qua thùng chứa rác công cộng ở các chung cư) Đối với các nguồn thải không phải là hộ gia

Trang 19

đình, phí thu gom được tính tùy vào khối lượng rác phát sinh có các mức 175-235 đô la Singapore mỗi tháng Các phí đổ rác được thu hàng tháng do ngân hàng PUB đại diện cho Bộ môi trường thực hiện Thực hiện cơ chế thu nhận ý kiến đóng góp của người dân thông qua đường dây điện thoại nóng cho từng đơn vị thu gom rác để đảm bảo phát hiện và xử lý kịp thời tình trạng phát sinh rác và góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ [8]

30-70-1.2.1.2 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Thụy Điển

Tháng 12/2003, Chính phủ Thụy Điển đã chỉ đạo Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) lập Kế hoạch chất thải quốc gia Hiện nay EPA Thụy Điển đang dự kiến kế hoạch sửa đổi vào cuối năm 2010 So với 10 năm trước đây, công tác quản

lý chất thải ở Thụy Điển đã làm cho việc sử dụng hiệu quả tài nguyên tăng lên nhiều

và ít gây tác động môi trường hơn Những thành phố tự trị chịu trách nhiệm thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt và các loại chất thải tương tự Trừ chất thải sinh hoạt mà các nhà sản xuất chịu trách nhiệm (như bao bì đóng gói, giấy báo, lốp xe, ô

tô và chất thải từ các sản phẩm điện và điện tử) Đối với chất thải khác, trách nhiệm tuỳ thuộc vào chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, nơi chất thải phát sinh

Hiện nay hơn 25% trong tổng số khoảng một triệu hộ gia đình Thụy Điển đang được sưởi ấm nhờ các nguồn nhiệt lấy từ các nhà máy đốt rác thải Điện sinh hoạt của họ cũng từ các nhà máy nhiệt điện đốt rác mà ra Từ nhiều năm nay, đất nước Bắc Âu này đã vươn lên dẫn đầu thế giới về tái chế, tái sử dụng rác thải với tỷ

lệ đáng thèm muốn Chính xác là có tới 96% rác sẽ được tái chế, chỉ 4% được đem chôn lấp Tính theo đầu người, trung bình mỗi năm một người Thụy Điển chỉ chôn lấp khoảng 7kg rác, trong khi con số này ở người Anh là 260kg Là một đất nước lạnh giá, nên biện pháp tái chế rác ưa thích của người Thụy Điển là đốt Đốt để sản xuất nhiệt điện, đốt để cấp nhiệt cho hệ thống sưởi ấm

Hàng năm, hơn ba chục lò thiêu hủy đặt trên lãnh thổ Thụy Điển tiêu thụ tới 5,5 triệu tấn rác Khối lượng rác, chất thải được dùng làm nhiên liệu sản xuất nhiệt và điện đã tăng gấp ba lần kể từ năm 1990 và được dự báo là sẽ tăng gấp đôi từ nay đến năm 2030 Triển vọng này gây lo ngại Cơ quan bảo vệ môi trường Thụy Điển nhấn mạnh rằng cách tốt nhất để xử lý chất thải là tái chế Hoạt động tái chế giấy, nhựa và kim loại tại Thụy Điển tương đối phát triển nhưng bị đình trệ trong những năm gần đây vì lý do kinh tế: Tái chế tốn kém hơn là thiêu hủy Trong khi đó, việc tái sử dụng các chất hữu cơ lại được đẩy mạnh: Phần lớn các khu đô thị Thụy Điển đều có hệ thống thu thập rác thực phẩm để sản xuất khí sinh học, chủ yếu để chạy xe bus.[8]

Trang 20

1.2.1.3 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Thái Lan

Việc phân loại chất thải được thực hiện ngay từ nguồn Người ta chia ra ba loại chất thải và bỏ vào ba thùng riêng: những chất có thể tái sinh, thực phẩm và các chất độc hại Các loại chất thải này được thu gom và chở bằng các xe ép chất thải có màu sơn khác nhau

Chất thải tái sinh sau khi được phân loại sơ bộ ở nguồn phát sinh được chuyển đến nhà máy phân loại chất thải để tách ra các loại vật liệu khác nhau sử dụng trong tái chế Chất thải thực phẩm được chuyển đến nhà máy chế biến phân vi sinh Những chất còn lại sau khi tái sinh hay chế biến phân vi sinh được xử lý bằng chôn lấp Chất thải độc hại được xử lý bằng phương pháp thiêu đốt

Việc thu gom chất thải ở Thái Lan được tổ chức rất chặt chẽ Ngoài những phương tiện cơ giới lớn như xe ép chất thải được sử dụng trên các đường phố chính, các loại xe thô sơ cũng được dùng để vận chuyển chất thải đến các điểm tập kết Chất thải trên sông, rạch được vớt bằng các thuyền nhỏ của cơ quan quản lý môi trường Các địa điểm xử lý chất thải của Thái Lan đều cách xa trung tâm thành phố

ít nhất 30 km.[16]

1.2.2.Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam

Theo Báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2011, Tổng lượng CTR sinh hoạt tại các đô thị phát sinh năm 2011 khoảng 32.000 tấn/ngày, CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn khoảng 31.000 tấn/ngày công tác thu gom và vận chuyển CTR sinh hoạt

dù đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu khi mà lượng CTR phát sinh không ngừng tăng lên, tỷ lệ thu gom không tăng tương ứng, đây là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người

Tỷ lệ thu gom trung bình ở các đô thị trên địa bàn toàn quốc tăng từ 65% (năm 2003) lên 72% (năm 2004) và khoảng 80% (năm 2011) [ 1,2]

Về hiện trạng thu gom, vận chuyển chất thải rắn:

Công tác thu gom và vận chuyển CTR đô thị vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu khi mà lượng CTR phát sinh không ngừng tăng lên, tỷ lệ thu gom trung bình không tăng tương ứng, đây là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường nước mặt, không khí, đất, cảnh quan đô thị và tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng

Mặc dù công tác thu gom và vận chuyển CTR ngày càng được chính quyền các địa phương quan tâm những vẫn đang còn nhiều hạn chế Năng lực thu gom và vận chuyển CTR cả về nhân lực và vật lực đều chưa đáp ứng được nhu cầu, mạng lưới thu gom còn yếu và thiếu Bên cạnh đó do nhận thức chưa cao của người dân trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường dẫn đến hiện tượng đổ rác thải bừa bãi vẫn còn diễn ra phổ biến không chỉ ở khu vực nông thôn mà còn tại các khu vực nội thị Hầu

Trang 21

hết rác thải không được phân loại tại nguồn, được thu gom lẫn lộn và chuyển đến bãi chôn lấp Công việc thu nhặt và phân loại phế thải có khả năng tái chế, hoàn toàn do những người nghèo sinh sống bằng nghề bới rác thực hiện

Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại các đô thị khá cao (84 - 85%), tăng 3 - 4%

so với giai đoạn trước (80-82 % năm 2008) Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt ở khu vực nông thôn còn rất thấp (40%), chủ yếu được tiến hành ở các thị trấn, thị tứ Cho đến nay, vấn đề phân loại rác tại nguồn vẫn chưa được triển khai mở rộng CTR sinh hoạt được xử lý chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp lộ thiên hoặc lò đốt chất thải CTR thông thường từ hoạt động công nghiệp, y tế hầu hết được thu gom,

tự xử lý tại cơ sở hoặc thông qua công ty môi trường đô thị Đối với chất thải nguy hại, công tác quản lý đã được quan tâm đầu tư với khối lượng chất thải nguy hại được thu gom, xử lý tăng qua từng năm, tuy nhiên tỷ lệ vẫn còn thấp (khoảng 40%) Vấn đề quản lý, đầu tư cho công nghệ xử lý CTR nói chung chất thải nguy hại nói riêng chưa có nhiều cải thiện so với giai đoạn trước [2]

Về công tác quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt:

Công tác quản lý CTR sinh hoạt: Phần lớn rác thải sinh hoạt đô thị ở nước ta không được tiêu huỷ một cách an toàn, chủ yếu vẫn là đổ ở các bãi thải lộ thiên không có sự kiểm soát, gây ra nhiều vấn đề môi trường cho dân cư quanh vùng mùi hôi và nước rác là nguồn gây ô nhiễm cho môi trường đất, nước, không khí và là ổ phát sinh ruồi, muỗi, chuột, bọ…

Việc chôn lấp rác đã và đang gây những tác động nhiều mặt đến môi trường sống của cộng đồng: Tốn diện tích đất rất lớn để chôn rác; Gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người và sinh vật sinh sống gần bãi rác; Nước thải từ các đống rác chứa nhiều chất độc hại, kim loại nặng gây ô nhiễm đất và ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp; Túi ni lông khi chôn lấp không bị phân hủy, hoặc thời gian phân hủy trong đất rất lâu có thể lên tới hàng trăm năm dẫn đến làm giảm độ phì nhiêu đất Từ đặc điểm này cho thấy muốn tận dụng các chất thải hữu cơ sinh hoạt làm phân bón, cần thiết phải tiến hành thu gom và phân loại rác ngay tại nguồn

Hầu hết rác thải không được phân loại tại nguồn, thường thu gom lẫn lộn và vận chuyển đến bãi chôn lấp Tỷ lệ thu gom tăng từ 40% - 67% năm 2002 lên đến

70 - 75% năm 2007 ở các thành phố lớn, còn ở các đô thị nhỏ tỷ lệ này tăng lên tới 30% - 50% Tỷ lệ thu gom bình quân toàn quốc vào khoảng 55% [13]

Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động thu gom rác thải chủ yếu dựa vào kinh phí bao cấp từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được các thành phần kinh

tế tham gia, tính chất xã hội hoá hoạt động thu gom còn thấp, người dân chưa thực

Trang 22

sự chủ động tham gia vào hoạt động thu gom cũng như chưa thấy rõ được nghĩa vụ đóng góp kinh phí cho dịch vụ thu gom rác thải

Công nghệ xử lý CTR còn nhiều vấn đề bức xúc, việc lựa chọn các bãi chôn lấp, khu trung chuyển, thu gom chưa đủ căn cứ khoa học và thực tiễn có tính thuyết phục và công nghệ xử lý chất thải chưa đảm bảo kỹ thuật vệ sinh môi trường nên chưa thu được nhiều sự ủng hộ của người dân địa phương Các công trình xử lý CTR còn manh mún, phân tán theo đơn vị hành chính nên công tác quản lý chưa hiệu quả, suất đầu tư cao, hiệu quả sử dụng thấp, gây lãng phí đất…

Công tác xử lý CTR sinh hoạt hiện nay vẫn là chôn lấp với số lượng trung bình là 1 bãi chôn lấp/1 đô thị (Hà Nội và TP HCM, mỗi đô thị có từ 4-5 bãi chôn lấp/khu xử lý) Trong đó 85% đô thị (từ thị xã trở lên) sử dụng phương pháp chôn lấp chất thải không hợp vệ sinh Thống kê, hiện toàn quốc có 98 bãi chôn lấp chất thải tập trung đang vận hành nhưng chỉ 16 bãi thải được coi là chôn lấp hợp vệ sinh (tập trung ở các thành phố lớn) Các bãi còn lại, CTR phần lớn được chôn lấp sơ sài [1]

Những hạn chế trong công tác quản lý và xử lý rác thải tại Việt Nam:

Trong suốt thời gian qua, Chính phủ và địa phương đã tỏ rõ cam kết đối với việc cải thiện công tác quản lý chất thải rắn thông qua các chính sách đầu tư cho xây dựng bãi chôn lấp, tăng cường năng lực quản lý, các văn bản pháp quy cũng như các chính sách khuyến khích thực hiện xã hội hoá công tác quản lý chất thải rắn và hệ thống các tiêu chuẩn về quản lý chất thải rắn Tuy nhiên đây là công tác mang tính tổng thể và lâu dài, do vậy vẫn còn những tồn tại cần được xem xét khắc phục như:

Hệ thống các văn bản pháp quy chưa đủ và thiếu đồng bộ, còn thiếu các văn bản dưới luật, các văn bản còn chưa kín kẽ, còn nhiều sơ hở như việc không quy định rõ mức phạt đối với từng hành vi ở các mức khác nhau

Thiếu năng lực quản lý chất thải rắn cũng như thiếu các biện pháp giảm thiểu chất thải rắn phù hợp, các thiết bị và trách nhiệm của cơ quan trong xử lý, tiêu huỷ chất thải rắn và chất thải nguy hại còn thiếu

Sự phân công phân nhiệm của các ngành trong quản lý chất thải rắn chưa rõ ràng Bộ phận quản lý chất thải rắn ở địa phương còn thiếu và yếu; còn thiếu các công cụ quản lý hiệu quả, mới chỉ là hình thức trên giấy tờ mà chưa đi vào áp dụng trong thực tế Mức phạt tiền tuy đã tăng nhưng vẫn còn thấp, không tạo được hiệu quả quản lý Hoạt động giám sát nhà nước về chất thải rắn chưa đầy đủ, các hoạt động nghiên cứu và triển khai thực hiện công tác quản lý chất thải rắn đang được thực hiện nhưng vẫn còn hạn chế Quan trắc chất thải rắn quốc gia chưa được thực hiện một cách hệ thống ở nhiều đô thị

Đa số các đô thị và khu công nghiệp chưa có quy hoạch bãi chôn lấp chất thải

Trang 23

Tuy đã có một số đô thị, chủ yếu là đô thị lớn đã bắt đầu có các bãi rác hay các khu liên hợp xử lý chất thải rắn, nhưng còn trong giai đoạn xây dựng nên còn thiếu đồng bộ và

có nhiều nơi đã xảy ra sự cố môi trường như tràn nước rác ra khu vực xung quanh gây

ô nhiễm môi trường nước, làm chết cây cối, hoa màu, cá…

Ý thức chấp hành pháp luật của nhà sản xuất cũng như dân cư trong việc giữ gìn

vệ sinh môi trường nói chung và chất thải rắn nói riêng còn nhiều yếu kém

Đầu tư tài chính cho quản lý và xử lý chất thải rắn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước nên không cân đối, chưa đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực này nhằm động viên các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội tham gia quản lý và đầu tư vào

thu gom, xử lý chất thải rắn

1.3 Các công trình nghiên cứu về thực trạng và công tác quản lý CTR tại thị

Nhận xét: Các đề tài trên chủ yếu tập trung vào nghiên cứu đánh giá hiệu quả công nghệ xử lý chất thải rắn và những tác động của hoạt động xử lý, mà chưa đánh giá được thực trạng và công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn thị xã Do vậy, việc thực hiện đề tài này sẽ góp phần vào việc đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn và từ đó đề xuất ra một số biện pháp quản lý rác thải nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường tại thị xã Sơn Tây nói riêng và môi trường sống nói chung

Trang 24

CHƯƠNG II

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

- Hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về địa điểm nghiên cứu: Toàn bộ địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố

Hà Nội

Phạm vi về đối tượng nghiên cứu:

- Hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt gồm: nguồn phát sinh, khối lượng và thành phần chất thải rắn sinh hoạt

- Hoạt động quản lý chất thải rắn: hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu thực trạng chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu

+ Xác định nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương

+ Khối lượng và thành phần chất thải rắn sinh hoạt

+ Hệ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt (kg/ngày/người)

2.3.2 Nghiên cứu hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây

+ Mô hình quản lý CTR sinh hoạt của thị xã

+ Hiện trạng công tác thu gom CTR sinh hoạt tại thị xã: Tuyến thu gom của từng phường điểm tập kết; Tổ chức bộ máy thu gom CTR sinh hoạt của từng phường (số người thu gom/ nhóm, tài chính); Thời gian thu gom, hình thức, phương tiện thu gom

+ Biện pháp xử lí rác thải sinh hoạt của Thị xã: địa điểm, hiệu quả xử lý + Những ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đối với môi trường xung quanh Từ đó, đánh giá hiệu quả thu gom vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây

Trang 25

2.3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây

+ Giải pháp thu gom, thiết kế lại các điểm tập kết CTRSH với thời gian và tần suất hợp lí

+ Giải pháp xử lí: biện pháp xử lý được chuyển đến bãi rác lớn sau đó được

xử lý theo công nghệ

+ Giải pháp về tuyên truyền và hướng dẫn người dân về phân loại rác thải và tầm ảnh hưởng của chúng đến môi trường

+ Giải pháp khác

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu thực trạng chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

2.4.1.1 Phương pháp kế thừa số liệu

Kế thừa tài liệu là sử dụng những tư liệu được công bố của các công trình nghiên cứu khoa học, các văn bản mang tính pháp lý, tham khảo từ các nguồn tài liệu khác nhau như: sách, báo, tạp chí, các báo cáo nghiên cứu khoa học, các luận văn tốt nghiệp, tra cứu trên mạng, tài liệu tham khảo… lựa chọn, chắt lọc những thông tin liên quan, cần thiết phục vụ cho khóa luận tốt nghiệp liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài một cách có chọn lọc Kế thừa tài liệu nhằm giảm bớt khối lượng công việc mà vẫn đảm bảo chất lượng hoặc làm tăng chất lượng của đề tài Phương pháp kế thừa tài liệu được sử dụng để thu thập các số liệu sau:

+ Kế thừa các tài liệu về dân số, điều kiện kinh tế - xã hội và tình hình phát sinh CTR sinh hoạt qua các năm tại thị xã Sơn Tây

+ Nguồn phát sinh chủ yếu

+ Các tài liệu thu thập trên mạng internet, báo chí

+ Các tài liệu liên quan khác

2.4.1.2 Phương pháp điều tra khảo sát hiện trường

Tiến hành khảo sát các khu dân cư, các tuyến đường ở các phường, các điểm tập kết rác, điểm trung chuyển rác từ đó rút ra nhận xét, kết luận chất thải rắn trên địa bàn khu vực nghiên cứu Tiến hành lấy mẫu rác để phân loại và xác định khối lượng CTRSH, cụ thể như sau:

*Đối tượng lấy mẫu:

+ CTR từ các hộ gia đình: các mẫu rác được lấy đại diện theo nghề nghiệp của gia đình (công chức, kinh doanh, nông nghiệp)

+ CTR từ cơ quan hành chính

+ CTR từ trường học

* Số lượng mẫu: Số lượng và tần suất lặp lại các mẫu rác được thể hiện

trong bảng 2.1

Trang 26

Bảng 2.1 Số lượng và tần suất lấy mẫu

TT Loại rác Đơn vị Số lượng Tần suất lấy mẫu (Số lần lặp lại) Tổng số mẫu

* Phương pháp lấy mẫu :

- Đặt túi nilon vào các thùng chứa rác cần thu gom vào khoảng thời gian 16h- 17h ngày đầu tiên của đợt khảo sát

- 16h- 17h ngày hôm sau đến thu gom rác (nhấc túi rác rác khỏi thùng và đặt túi mới)

- Sau khi thu gom, rác được đổ ra bạt để phân loại thành phần theo phân loại rác đã chuẩn bị trước (Bảng 2.2)

- Sau khi phân loại tiến hành xác định khối lượng mỗi loại rác thải bằng cân

và ghi kết quả vào biểu mẫu đã chuẩn bị trước (Bảng 2.2)

- Tần suất lấy mẫu: Mỗi loại rác được lấy 3 lần vào 3 ngày liên tiếp

Bảng 2.2 Mẫu biểu ghi khối lượng và thành phần rác thải

liệu compose

Chất hữu cơ dễ phân hủy (thực phẩm

dư thừa, vỏ rau củ quả…)

3

Nhóm chất

thải nguy hại Chất thải nguy hại

Tổng

Trang 27

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sơn Tây

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

Kế thừa, thu thập tài liệu về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý chất thải rắn của thị xã bao gồm:

+ Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý chất thải, số lượng công nhân tổ chức thu gom, chức năng nhiệm vụ của tổ thu gom, phí vệ sinh và nhân công (chế độ bảo hiểm, mức thu nhập của công nhân)

+ Tần suất thu gom CTR sinh hoạt

+ Tuyến thu gom CTR sinh hoạt của từng phường trong thị xã

+ Thực trạng công tác quản lý, thu gom, CTR sinh hoạt tại thị xã

+ Biện pháp xử lí rác thải sinh hoạt của thị xã

+ Các tài liệu liên quan khác

2.4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu điều tra ngoại nghiệp

* Khảo sát công tác thu gom (thời gian, phương tiện thu gom, tần suất thu gom), tái chế rác thải, ưu nhược điểm của công tác thu gom bằng cách quan sát hàng ngày công nhân đi thu gom rác thải

* Điều tra phỏng vấn: Phỏng vấn bằng các phiếu điều tra, kết hợp hỏi trực tiếp thông qua các cuộc trò chuyện, trao đổi:

- Đối tượng điều tra: Người dân trong khu vực nghiên cứu, nhân viên chuyên trách về công tác môi trường

- Số lượng phiếu điều tra: 40 phiếu

- Nội dung phiếu điều tra: Thời gian thu gom; hình thức thu gom (phương tiện thu gom) CTR sinh hoạt từ hộ gia đình, thái độ của người dân trong việc đổ rác Đối với người dân đánh giá mức độ hợp lý, hài lòng hay ảnh hưởng đến người dân trong khu vực về thời gian thu gom

- Các nội dung (câu hỏi) phỏng vấn cụ thể được thể hiện trong phiếu điều tra tại phụ lục 01 và phụ lục 02

2.4.3 Phương pháp đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt cho người dân tại khu vực nghiên cứu

Từ thực trạng chất thải rắn sinh hoạt, thực trạng công tác thu gom và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã kết hợp với kiến thức nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp về mặt quản lý, kinh tế, kỹ thuật, giáo dục… góp phần nâng cao hiệu quả công tác thu gom và vận chuyển CTR sinh hoạt tại thị xã thời gian tới Trong quá trình thực hiện, khóa luận sử dụng các phương pháp sau:

Trang 28

2.4.3.1 Phương pháp thống kê và phân tích số liệu

Dựa trên thành phần rác thải, số liệu rác thống kê được qua các năm và đề xuất giải pháp quản lí và vận chuyển thu gom CTR tại các điểm tập kết sao cho hợp

2.4.3.2 Phương pháp dự báo dân số và xác định khối lượng CTRSH trong tương lai

Sử dụng công thức dự báo sự gia tăng dân số và tính toán khối lượng CTR sinh hoạt phát sinh từ đó thiết kế những điểm tập kết CTRSH hợp lý

+ Công thức dự báo dân số:

N t = N 0 * (1+ r/100) t (2.1)

Trong đó : Nt: Dân số tương lai (người)

N0: Dân số hiện tại (người)

r: Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên, (tại thị xã Sơn Tây, r = 1,04%) t: Số năm trong thời gian dự báo (năm)

Từ đó, dự báo khối lượng CTR sinh hoạt phát sinh được tính toán theo công thức

sau (Nguồn: VOER-Tài nguyên giáo dục mở Việt Nam):

M = (n * N 0 )/1000 (2.2)

Trong đó: M: Khối lượng chất thải rắn (tấn/ngày)

n: Lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt của một người trong ngày(kg/người/ngày)

N0: Dân số của năm tính toán (người)

+ Công thức tính hiệu quả thu gom:

Hiệu quả thu gom = ( lượng rác thu gom/lượng rác phát sinh)*100 (%) (2.3)

+ Công thức tính tổng lượng CTRSH trong 1 năm:

M sh = P t *(g/1000) * 365 (tấn/năm) (2.4)

Trong đó: Msh: Khối lượng CTRSH phát sinh trong 1 năm (tấn/năm)

Pt: Số dân của năm cần tính (người)

Trang 29

21o01’12” đến 21o10’20” vĩ độ Bắc và từ 105o24’52” đến 105o32’14” kinh độ Đông Ranh giới tiếp giáp với các vị trí như sau:

- Phía Đông : giáp với huyện Phúc Thọ

- Phía Tây : giáp với huyện Ba Vì

- Phía Nam: giáp với huyện Phúc Thọ và huyện Thạch Thất

- Phía Bắc : giáp với tỉnh Vĩnh Phúc qua sông Hồng

Thị xã Sơn Tây là trung tâm văn hóa, kinh tế, khu vực phía Tây của thành phố Hà Nội, hiện có 15 đơn vị hành chính Bao gồm 9 phường và 6 xã: Sơn Lộc, Phú Thịnh, Ngô Quyền , Trung Hưng, Viên Sơn, Trung Sơn Trầm, Xuân Khanh, Lê Lợi, Quang Trung, Đường Lâm, Sơn Đông, Cổ Đông, Xuân Sơn, Kim Sơn, Thanh

Mỹ

3.1.2 Địa hình

a Đặc điểm địa hình

Trang 30

Thị xã Sơn Tây có địa hình trung du, nhiều đồi nhỏ, thấp Đất đai khá đồng nhất về tính chất hóa lý Địa hình dốc từ Bắc xuống Nam theo hướng Tay Bắc – Đông Nam được chia thành 2 dạng địa hình chính:

- Dạng bán sơn địa : gồm các xã , phường : Thanh Mỹ, Trung Sơn Trầm, Kim Sơn, Cổ Đông, phường Xuân Khanh có diện tích khoảng 6.800 ha, chiếm 63% diện tích tự nhiên của thị xã

- Dạng đồng bằng: gồm các xã, phường còn lại, chiếm 37% diện tích thị xã, đồi núi thấp đây sẽ là điều kiện tốt cho việc phát triển cây công nghiệp ngắn và dài ngày, khai thác lâm nghiệp kết hợp với du lịch nghỉ dưỡng

Khu vực nội thành thị xã Sơn Tây có thể chia ra 2 khu vực:

- Khu Sơn Tây cổ gồm 3 phường: Ngô Quyền, Quang Trung, Lê Lợi địa hình tương đối bằng phẳng có cao độ +8,5 đến +10,5 m Độ dốc trung bình thành cổ

1 % dốc từ Bắc xuống Nam

- Khu Sơn Tây mới có các phường : Sơn Lộc, Xuân Khanh, Trung Sơn Trầm, Trung Hưng, Viên Sơn, Phú Thịnh và vùng ngoại thành có địa hình không bằng phẳng, gò đồi bán sơn địa, thấp dần từ Tây sang Đông Cao độ +10 đến +65 m , cao nhất 112m ( Xuân Khanh., Xuân Sơn) độ dốc 10% ÷ 30%

b Đặc điểm địa công trình

Các tài liệu lập bản đồ và khoan thăm dò cho thấy đặc điểm địa chất của Sơn Tây gồm câc đơn vị sau:

- Phức hệ biến chát Sông Hồng: Trong vùng phức hệ này không lộ ra ngoài mặt đất mà được phát hiện qua một số khoan ở chiều sâu từ 20 – 60m Phức hệ được cấu tạo bởi các đá biến chất

- Trầm tích Neogen: Trầm tích Neogen không lộ ra ngoài mặt đất, và được phát hiện trong các hố khoan ở các vùng lân cận với các thành phần là cát, bộ kết, sét kết gắn kết vừa

- Trầm tích Đệ tứ: Trầm tích Đề tứ được phủ khắp diện tích của vùng và bao gồm các hệ tầng sau:

+ Hệ tầng Hà Nội: Tràm tích của hệ Hà Nội chủ yếu là cát, cuội, sỏi phân bố

ở phía bắc khu vực ,với chiều dày tăng dần về phía sông Hồng

+ Hệ tầng Vĩnh Phúc: Trầm tích của hệ tầng Vĩnh Phúc chủ yếu là sét bột có xen các lớp cát mỏng , phần trên bị laterit, chúng kéo dài thành dải theo hướng Tây Nam – Đông Bắc, cắt qua vùng phía tây thị xã

- Trầm tích Holoxen với thành phần là sét, bột, bùn, cát, có chiều dày khoảng 10m phủ hầu như khắp vùng

Trang 31

3.1.3 Khí hậu

Khí hậu của Sơn Tây nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới giớ mùa, mưa và nóng vào mùa hè, khô và lạnh vào mùa đông Khí hậu Sơn Tây còn mang thêm khí hậu của vùng bán sơn địa, thuận tiện cho các cây ưa lạnh phát triển, thích hợp cho phát triển đa dạng sản xuất nồn nghiệp và tạo ra các khu nghỉ dưỡng, du lịch khá tốt cho du khách

- Lượng mưa trung bình năm là 1.839mm

- Nhiệt độ trung bình năm là 22,3oC

- Độ ẩm tương đối trung bình năm 84%, độ ẩm tương đối thấp nhất trung bình năm 66%

- Hướng gió chủ đạo trong năm là hướng Đông Nam về mùa hè và Đông Bắc vào mùa đông

- Về gió và bão: Theo các số liệu thống kê cho thấy Sơn Tây không bị ảnh hưởng nhiều do các cơn bão đi qua

3.1.4 Thủy văn

a Các sông trên địa bàn thị xã Sơn Tây

Thị xã Sơn Tây có 3 con sông chính chảy qua là: sông Hồng, sông Tích, sông Hồng Các sông này nguồn chủ yếu phục vụ cho cấp nước và thủy lợi của thị xã Ngoài ra các sông trên, Sơn Tây còn có các hồ lớn như: hồ Xuân Khanh, hồ Đồng

km rộng 17,6km, độ cao trung bình lưu vực 92 m, độ dốc trung bình lưu vực 5,8% mật dộ lưới sông 0,66 km/km2 Sông Tích chảy qua nhiều vùng đồi đất cứng sức xói yếu Tuy độ dốc của dòng sông Tích không lớn nhưng dộ dốc của các sông nhánh khá lớn, trung bình 10-20 m/km, có suối tới 30m/km Đoạn sông Tích chảy qua thị

xã Sơn Tây dài 10km, rộng trung bình 50 m

b Các hồ ở khu vực Sơn Tây

Trên thượng nguồn sông Tích và sông Hồng có các hồ chứa là hồ Đồng Mô,

hồ Xuân Khanh và các hồ nhỏ khác

Trang 32

 Hồ Đồng Mô:

Có diện tích lưu vực 96,0 km2; dung tích 84,5 triệu m3 được khởi công xây dựng từ năm 1970, hoàn thành năm 1974 có nhiệm vụ cấp nước tưới tiêu 5.300 ha Khu vực hồ Đồng Mô hiện nay được nằm trong quy hoạch của Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam nên mực nước hồ lớn được hạ từ +23,25 m xuống +20,0 m và mực nước chết dâng từ +13,0 m lên +18 m Do phải duy trì mực nước tói thiểu trong hồ để phục vụ du lịch nên thực tế ở vùng Hữu Tích hồ Đồng Mô chỉ tưới được 1.082 ha đất ( trong đó cho thị xã Sơn Tây là 782 ha)

 Hồ Xuân Khanh:

Có diện tích lưu vực 4,07km2; dung tích 6,12 triệu m3 nước, trong đó dung tích hữu ích 5,61 triệu m3; khởi công xây dựng năm 1964 hoàn thành đưa vào khai thác năm 1966, hồ có nhiệm vụ cấp nước tưới gần 1000 ha đất canh tác cho các xã Cam Thượng, Đường Lâm, Trung Hưng, Thanh Mỹ, Xuân Sơn và cấp nước cho cụm công nghiệp Xuân Sơn Trên thực tế quản lí và khai thác cho thấy hồ Xuân Khanh mới đẩm bảo tưới được trên 200 ha, bằng 20% so với thiết kế

Ngoài ra còn một số hồ nhỏ và đập dâng khác để tưới nước cho hàng trăm ha đất nông nghiệp Các hồ này thường tạo với cảnh quan thiên nhiên tạo nên các khu

du lịch sinh thái xung quanh thị xã Sơn Tây

3.1.5 Tài nguyên

3.1.5.1 Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn thị xã Sơn Tây, tài nguyên khoáng sản không nhiều chỉ có một

số loại sử dụng cho việc sản xuất vật liệu xây dựng

3.1.5.2 Hệ sinh thái và tài nguyên sinh vật

Thị xã Sơn Tây nằm trong vùng địa lí tự nhiên đồng bằng Bắc Bộ Về cơ bản so với cảnh quan vùng đồi núi thì cảnh quan vùng đồng bằng không phải là nơi có mức đa dạng sinh học cao, đặc biệt là đa dạng sinh học các hệ sinh thái trên cạn Trên phần địa giới thị xã Sơn Tây, có thể phân biệt được các cảnh quan – địa hình vùng bán sơn địa ( chiếm 63,33% diệ tích đất tự nhiên ), vừa có cảnh quan địa hình vùng đồng bằng ( chiếm 30,64% diện tích ) Tại mỗi cảnh quan có những hệ sinh thái tiêu biểu như trên cạn có hệ sinh thái rừng núi đất mà chủ yếu là rừng, đồng cỏ savan, nông nghiệp, đô thị, dưới

nước có hệ sinh thái sông, hồ - hồ chứa, ao, đầm lầy

3.1.5.3 Tài nguyên cảnh quan du lịch và di tích lịch sử

Thị xã Sơn Tây có nhiều di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh hấp dẫn Tiềm năng phát triển du lịch thị xã rất phong phú và đa dạng Từ thị xã có thể liên kết các tour du lịch liên vùng với các danh lam thắng cảnh của các vùng khác

Trang 33

nhau như Ba Vì, đền Hai Bà Trưng ( Phúc Thọ), chùa Tây Phương ( Thạch Thất), chùa Đậu ( Thường Tín)

Thời gian qua thực hiện nghị quyết 15/NQ – TU về phát triển du lịch, thị xã

đã khai thác khả năng du lịch tiềm năng, bằng việc tổ chức dịch vụ, du lịch ăn uống, nghỉ ngơi cho khách tại địa điểm, các tour du lịch nghỉ dưỡng Toàn thị xã có 48 điểm nhà hàng, nhà nghỉ với 168 phòng phục vụ khách du lịch và kinh doanh

Lượng khách du lịch đến thị xã Sơn Tây ngày một tăng Hằng năm có trung bình trên khoảng 40 – 50 nghìn khách trong nước và 7 – 10 nghìn khách nước ngoài tới thăm quan

3.2.2 Công nghiệp – xây dựng

Theo số liệu niên gián thống kê từ năm 2018 đến đầu năm 2019 giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng của toàn thị xã phát triển ổn định có chiều hướng tăng

so với các năm trước

Trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp 2.273 tỷ đồng, đạt 101,3% kế hoạch năm, tăng 8,6% so với cùng kỳ; giá trị xây dựng 1.809 tỷ đồng, đạt 100,6% kế hoạch năm, tăng 9,4% so với cùng kỳ trước

3.2.3 Nông, lâm nghiệp

Theo số thống kê của năm 2018 đầu năm 2019, tổng thu ngân sách Nhà nước thực hiện được là 534,897 tỷ đồng, đạt 91,51% kế hoạch năm, bằng 135,7% so với cùng kỳ năm 2017 Tốc độ tăng không cao so với kế hoạch đề ra do tiết tình hình thời tiết không thuận lợi làm ảnh hưởng đến diện tích cây trồng

Năm 2018, toàn thị xã gieo trồng được: 5031,01 ha ( trong đó diện tích lúa cả năm là 3142,22 ha, năng suất lúa bình quân đạt 56,4 tạ/ha) Thị xã đã xây dựng các chương trình hỗ trợ phát triển trồng trọt, chăn nuôi năm 2018

3.2.4 Y tế

Trước tình hình thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp thuận lợi cho sự gia tăng nhiều dịch bệnh Ngay từ đầu năm thị xã đã tập trung chỉ đạo tăng cường công

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w