Mục tiêu nghiên cứu: - Tìm hiểu được thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn và sử dụng túi nilong trên địa bàn phường Hữu Nghị và phường Phương Lâm, Thành Phố Hoà
TỔNG QU N VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tổng quan về chất thải rắn
Luật bảo vệ môi trường 55/2014/QH11 định nghĩa một số khái niệm liên quan đến chất thải rắn nhƣ sau:
- Chất thải rắn (CTR): là toàn bộ các loại vật chất ở thể rắn bị con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế -xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng, )
- Chất thải rắn sinh hoạt (CHRSH): là những thành phần tàn tích hữu cơ dạng rắn phục vụ cho hoạt động sống của con người, chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại môi trường sống khác
- Chất thải nguy hại: là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính nguy hại khác), hoặc tương tác với chất khác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người
- Quản lý chất thải rắn: là hoạt động của các tổ chức và cá nhân nhằm giảm bớt ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người, môi trường hay mỹ quan Các hoạt động đó liên quan đến việc thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế chất thải… Quản lý chất thải rắn cũng có thể góp phần phục hồi các nguồn tài nguyên lẫn trong chất thải
- Thu gom chất thải rắn: là hoạt động tập hợp, phân loại đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm tới địa điểm hoặc cơ quan có thẩm quyền chấp nhận khác
- Vận chuyển chất thải rắn và chất thải nguy hại: là quá trình chuyên chở chất thải rắn và chất thải nguy hại từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thể kèm theo việc thu gom, đóng gói, bảo quản, lưu giữ tạm thời, trung chuyển, sơ chế chất thải nguy hại khác
- Xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại: là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật nhằm biến đổi, loại bỏ, cách ly, tiêu huỷ hoặc phá huỷ tính chất, thành phần nguy hại của chất thải nguy hại (kể cả việc tái chế, tận thu, thiêu đốt, đồng xử lý, cô lập, chôn lấp) với mục đích cuối cùng là không gây tác động xấu đến môi trường và sức khoẻ con người khác)
- Tái sử dụng, tái chế chất thải: là việc trực tiếp sử dụng lại hoặc thu hồi, tái chế lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để biến thành các sản phẩm mới, hoặc các dạng năng lƣợng để phục vụ các hoạt động sinh hoạt và sản xuất.
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn
Chất thải rắn phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau:
Từ khu dân cư : Bao gồm các khu dân cƣ tập trung, những hộ dân cƣ tách rời Nguồn rác thải chủ yếu là: thực phẩm dƣ thừa, thuỷ tinh, gỗ, nhựa, cao su, còn có một số chất thải nguy hại
Từ các động thương mại : Quầy hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng cơ quan, khách sạn, Các nguồn thải có thành phần tương tự như đối với các khu dân cƣ (thực phẩm, giấy, catton, )
Các cơ quan, công sở : Trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính: lượng rác thải tương tự như đối với rác thải dân cư và các hoạt động thương mại nhưng khối lượng ít hơn
Từ xây dựng : Xây dựng mới nhà cửa, cầu cống, sửa chữa đường xá, dỡ bỏ các công trình cũ Chất thải mang đặc trƣng riêng trong xây dựng: sắt thép vụn, gạch vỡ, các sỏi, bê tông, các vôi vữa, xi măng, các đồ dùng cũ không dùng nữa
Dịch vụ công cộng của các đô thị : Vệ sinh đường xá, phát quan, chỉnh tu các công viên, bãi biển và các hoạt động khác, Rác thải bao gồm cỏ rác, rác thải từ việc trang trí đường phố
Các quá trình xử lý nước thải : Từ quá trình xử lý nước thải, nước rác, các quá trình xử lý trong công nghiệp Nguồn thải là bùn, làm phân compost,
Từ các hoạt động sản xuất công nghiệp: Bao gồm chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công, quá trình đốt nhiên liệu, bao bì đóng gói sản phẩm, Nguồn chất thải bao gồm một phần từ sinh hoạt của nhân viên làm việc
Ảnh hưởng của chất thải rắn
1.2.1 Đối với môi trường a Đối với môi trường đất
Chất thải rắn từ các hộ dân cư, trường học hay khu thương mại khi thải vào môi trường làm thay đổi thành phần và tính chất của đất như độ pH, hàm lƣợng kim loại nặng, độ tơi xốp,… Đối với rác không phân hủy (nhựa, cao su…) nếu không có giải pháp xử lý thích hợp sẽ là nguy cơ gây thoái hóa và làm giảm độ phì của đất, ảnh hưởng tới sự phát triển của thực vật và động vật sống trong đất
Quản lý CTR không đúng quy trình và việc tiêu hủy tại các bãi chôn lấp không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khan b Đối với môi trường không khí
CTR từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra những tác động xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh vào không khí Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hại NOx, dioxin, furan,… từ lò đốt và CH4, NH3, H2S,… từ bãi chôn lấp Các khí này đều không đƣợc thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cộng đồng dân cư xung quanh c Đối với môi trường nước
Nước rỉ rác từ các trạm chung chuyển và bãi rác có nồng độ các chất ô nhiễm cao, gấp nhiều lần nước thải sinh hoạt thông thường, nếu không được quản lý chặt chẽ sẽ có nguy cơ gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm
Nước chảy tràn khi mưa to qua các bãi chôn lấp, các hố phân,… vào mương rãnh, ao, hồ, sông suối làm ô nhiễm nước mặt
CTR còn có thể làm tắc các đường ống dẫn nước, sông ngòi,… gây cản trở sự lưu thông của dòng nước.
1.2.2 Đối với sức khỏe con người
Tác hại của CTR lên sức khỏa con người thông qua ảnh hưởng của chúng lên các thành phần môi trường, thông qua chuỗi thức ăn và các tiếp xúc trực tiếp
Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lý thích hợp thì sẽ trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan chuyền dịch bệnh Các chất độc hại có nguy cơ gây bệnh hiểm nghèo, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh.
1.2.3 Đối với mỹ quan đô thị
CTR nếu không đƣợc thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý quy định, tồn tại các bãi rác lộ thiên, tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra lòng lề đường… gây mất vệ sinh môi trường, làm xấu mỹ quan đường phố, thôn xóm,
Phân loại chất thải rắn sinh hoạt
Mỗi nguồn thải khác nhau có các loại chất thải đặc trƣng khác nhau cho từng nguồn thải, nên việc phân loại chất thải rắn cũng đƣợc tiến hành theo nhiều cách.
1.3.1 Phân loại theo vị trí hiện hành
Gồm các loại chất thải rắn trong nhà, ngoài nhà, trên đường phố, chợ
1.3.2 Phân loại theo thành phần hóa học và vật lý
Gồm có các loại: chất hữu cơ, chất vô cơ, cháy đƣợc, không cháy đƣợc, kim loại, phi kim, cao su
1.3.3 Phân loại theo bản chất nguồn tạo thành
- Chất thải rắn sinh hoạt: Là các loại chất thải rắn sinh ra từ các hoạt động của con người, được tạo ra trong quá trình sinh hoạt, nguồn gốc chủ yếu từ các khu dân cư, khu đô thị, các cơ quan, trường học,các trung tâm dịch vụ, thương mại
- Chất thải rắn công nghiệp: Là chất thải rắn sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
- Chất thải rắn xây dựng: Là các chất thải trong quá trình xây dựng các công trình (đất, đá, gạch,ngói, bê tông vỡ, )
- Chất thải rắn nông nghiệp: Là các chất thải rắn sinh ra trong quá trình sản xuất nông nghiệp nhƣ trồng trọt, thu hoạch cây trồng, các sản phẩmthải ra từ các lò giết mổ gia súc, gia cầm
1.3.4 Phân loại theo mức độ nguy hại
- Chất thải rắn thông thường: giấy, vải, thủy tinh…
- Chất thải rắn nguy hại: chất thải công nghiệp nguy hại, chất thải nông nghiệp nguy hại, chất thải y tế nguy hại…
1.3.5 Phân loại theo khu vực phát sinh
- Chất thải rắn đô thị: Là vật chất mà con người tạo ra ban đầu vứt bỏ trong khu vực đô thị không đòi hỏi sự bồi thường cho sự bỏ đi đó Thêm vào đó chất thải đƣợc coi là chất thải rắn đô thị nếu chúng đƣợc xã hội nhìn nhận nhƣ một thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy
- Chất thải rắn nông thôn: Là chất thải rắn đƣợc sinh ra trong quá trình sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, làng nghề, các phụ phẩm nông nghiệp (rơm, rạ, trấu ) ở khu vực nông thôn
1.3.6 Phân loại theo công nghệ xử lý hoặc khả năng tái chế
- Chất phải phân hủy sinh học, phân thải khó phân hủy sinh học,
- Chất thải cháy đƣợc, chất thải không cháy đƣợc,
- Chất thải tái chế đƣợc: kim loại, cao su, giấy, gỗ…
Túi nilong và tác hại đến môi trường
Túi nhựa, túi nhựa dẻo hoặc bao bì nhựa PVC, túi nylon, bao bì nylon, bịch nylon (phương ngữ Nam Trung Bộ) là một loại túi đựng được làm bằng màng nhựa, chất dẻo, nhựa nhiệt dẻo, vải không dệt hoặc vải làm từ nhựa mỏng và dẻo Túi nhựa, bao gồm cả túi làm bằng nylon, PVC và các chất dẻo khác thường được sử dụng để chứa và vận chuyển hàng hóa như thực phẩm, sản phẩm, bột, nước đá, tạp chí, hóa chất và chất thải Nó là một hình thức phổ biến của bao bì
Hầu hết các túi nhựa được niêm phong bằng nhiệt tại các đường nối, trong khi một số đƣợc liên kết với chất kết dính hoặc đƣợc khâu
Nhiều quốc gia đang đƣa ra luật pháp về loại bỏ túi nhựa nhẹ, vì sự phân hủy sinh học của túi nhựa có thể kéo dài từ 10 đến 20 năm trong môi trường biển, hoặc hơn 500 năm trong môi trường trên mặt đất, gây ô nhiễm chất dẻo và ảnh hưởng đến môi trường Hàng năm, khoảng 1 đến 5 nghìn tỷ túi nhựa đƣợc sử dụng và vứt bỏ trên thế giới.
1.4.2 Những ảnh hưởng của việc sử dụng và thải bỏ túi nilong
Ngày nay, túi nilon đã trở nên quen thuộc trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng Với ƣu điểm bền, chắc, tiện dụng và giá thành thấp, túi nilon, đặc biệt là các loại túi siêu mỏng đƣợc sử dụng phổ biến và hầu nhƣ có mặt ở mọi nơi từ của hàng bán rau, dƣa cà muối đến các siêu thị và những trung tâm thương mại lớn, ngay cả ở của hàng bán cháo dinh dưỡng dành cho trẻ em cũng là mặt hàng khá quen thuộc Tuy nhiên, những ảnh hưởng của nó đến môi trường và sức khoẻ là rất lớn nhưng hầu như chúng ta không ai chú ý đến
Túi nilong gây tác hại ngay từ khâu sản xuất bởi vì việc sản xuất túi nilon phải sử dụng nguyên liệu đầu vào là dầu mỏ và khí đốt, và các chất phụ gia chủ yếu đƣợc sử dụng là chất hoá dẻo, kim loại nặng, phẩm màu… là những chất cực kỳ nguy hiểm tới sức khoẻ và môi trường sống của con người, do đó trong quá trình sản xuất nó sẽ tạo ra khí CO 2 làm tăng hiệu ứng nhà kính, thúc đẩy biến đổi khí hậu toàn cầu
Theo các nhà khoa học, túi nilon đƣợc làm từ những chất khó phân huỷ, khi thải ra môi trường phải mất hàng trăm năm đến hàng nghìn năm mới bị phân huỷ hoàn toàn Sự tồn tại của nó trong môi trường sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đất và nước bởi túi nilon lẫn vào đất sẽ ngăn cản ôxi đi qua đất, gây xói mòn đất, làm cho đất bạc màu, không tơi xốp, kém chất dinh dưỡng, từ đó làm cho cây trồng chậm tăng trưởng Nghiêm trọng hơn các nhà khoa học còn phát hiện ra rằng từ đất và nước bị ô nhiễm bởi túi nilon sẽ ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sức khoẻ con người Thực tế nhiều loại túi nilon được làm từ dầu mỏ nguyên chất khi chôn lấp chúng dưới đất sẽ ảnh hưởng tới môi trường đất và nước còn đốt chúng sẽ tạo ra khí thải có chất độc dioxin và Fura gây ngộ độc, ảnh hưởng tuyến nội tiết, gây ung thư, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn chức năng tiêu hoá và các dị tật bẩm sinh ở trẻ nhỏ,…và đặc biệt trong một số loại túi nilon có lẫn lưu huỳnh, dầu hoả nguyên chất khi đốt cháy gặp hơi nước sẽ tạo thành axít Sunfuric dưới dạng các cơn mƣa axit rất có hại cho phổi
Túi nilon kẹt sâu trong cống rãnh, kênh rạch còn làm tắc nghẽn gây ứ đọng nước thải và ngập úng Các điểm ứ đọng nước thải sẽ là nơi sản sinh ra nhiều vi khuẩn gây bệnh, bên cạnh đó túi nilon còn làm mất mỹ quan tới cảnh quan.
Trong trào lưu chung của Thế Giới các túi nilon chủ yếu sử dụng một lần rồi bị thải ra môi trường ngày một gia tăng Việc này không chỉ gây lãng phí về kinh tế mà còn là hiểm hoạ khôn lường cho nhân loại Nhận thức được tác hại của túi nilon đối với môi trường và sức khoẻ cộng đồng, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những giải pháp mạnh để giải quyết vấn đề này nhƣ:
Ban hành lệnh cấm sản xuất túi nilon khó phân huỷ, đánh thuế nặng đối với sản xuất túi nilon đã được áp dụng tại Đài Loan, Trung Quốc, Vương quốc nh và một số bang ở Hoa Kỳ, Thuỵ Sỹ, Nam Phi, Đan Mạch…; ngoài ra các nước này cũng yêu cầu người tiêu dùng phải trả tiền mua túi nilon khi mua hàng để khuyến khích người dân tái sử dụng túi nilon hoặc sử dụng các loại túi thân thiện với môi trường Một số quốc gia ở châu Phi như:Uganda, Kenya, Tanzania… cũng có nhƣng động thái cấm nhập khẩu, sản xuất, tăng thuế đối với túi nhựa nhằm hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường
1.4.4 Đối với Việt Nam Ở Việt Nam trong những năm gần đây, các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương, các cộng đồng đã và đang rất quan tâm tới vấn đề chất thải túi nilon với nhiều sáng kiến đƣợc đƣa ra áp dụng nhƣ các chiến dịch truyền thông “nói không với túi nilon”, “ngày không túi nilon” và đặc biệt vào sáng ngày 16/9/2011 tại thành phố Hồ Chí Minh, Hội thảo “Kiểm soát ô nhiễm môi trường do việc sử dụng bao bì nilon khó phân huỷ” đã diễn ra, TS Hoàng Dương Tùng, Phó Tổng cục Tổng cục Môi trường tham dự và chủ trì Hội nghị được thực hiện nhằm định hướng một số giải pháp kiểm soát ô nhiễm chất thải là các loại bao bì túi nilon khó phân huỷ; sự cần thiết của việc sản xuất và sử dụng các loại túi nilon thân thiện với môi trường
Tuy nhiên, chỉ riêng những nỗ lực của các tổ chức, cá nhân riêng lẻ chƣa đủ sức mạnh để giảm thiểu tác hại do túi nilon gây ra Điều quan trọng nhất là thái độ và hành động của cả cộng đồng đối với việc này Trong khi chƣa có những chính sách pháp luật và các loại túi thay thế để hạn chế việc sử dụng túi nilon, mỗi người dân chúng ta cần có những hành động thiết thực và cụ thể để hạn chế đến mức thấp nhất tác hại do túi nilon gây ra cho sức khoẻ và môi trường sống
Chỉ cần một hành động nhỏ nhƣ thay đổi thói quen dùng túi một cách tiết kiệm, hợp lý, sử dụng nhiều lần… cũng đã làm cho môi trường giảm đi được rất nhiều ô nhiễm Điều cần thiết hơn chính là việc phải tăng cường tuyên truyền để người dân nâng cao ý thức trong việc bảo vệ môi trường bằng chính hành động: Nói không với túi nilong.
Vai trò của truyền thông trong việc nâng cao ý thức và thay đổi hành vi đối với môi trường
vi đối với môi trường
1.5.1 Khái niệm về truyền thông môi trường
Truyền thông môi trường là: “công cụ quản lý quan trọng, cơ bản của quản lý môi trường Nó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi nhận thức, thái độ hành vi của người dân trong cộng đồng, từ đó thúc đẩy họ tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường và không chỉ tự mình tham gia mà còn cuốn theo những người khác tham gia để tạo ra kết quả có tính đại chúng.” Hay nói cách khác truyền thông môi trường là một hình thức truyền thông với chủ đề môi trường (Nguyễn Thị Bích ảo, 2011)
Truyền thông môi trường không nhầm quá nhiều vào việc phổ biến thông tin mà nhằm vào khả năng giải quyết các vấn đề môi trường
Từ những khái niệm về giáo dục và truyền thông môi trường cho thấy cái phương thức này đều nhằm giáo dục, ý thức, thái độ, hành vi ứng xử của con người đối với môi trường Tuy nhiên ở mỗi phương thức lại có cách thể hiện riêng: Giáo dục môi trường nhằm cung cấp truyền đạt thông tin cho tất cả các đối tượng tuy nhiên chưa chú trọng sự phản hồi của người tiếp nhận, trong khi đó truyền thông môi trường thông qua các sản phẩm như báo in, báo đọc, các buổi gặp gỡ thảo luận, mang đến những thông tin có tính hấp dẫn có sự trao đổi thông tin hai chiều để đạt đƣợc sự hiểu biết lẫn nhau và cuối cùng mong muốn đƣợc sự phản hồi
Sự kết hợp giữa giáo dục và truyền thông môi trường là một trong những công cụ truyền đạt thông tin hiệu quả hữu ích nhất, trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường đích cuối cùng không chỉ làm cho mọi người hiểu sự cần thiết bảo vệ môi trường mà quan trọng phải có thói quen, hành vi ứng xử thân thiện với môi trường
1.5.2 Mục tiêu và đối tượng Truyền thông môi trường
Truyền thông môi trường có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của người dân trong cộng đồng từ đó thúc đẩy họ tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường; không những tham gia mà có lôi quấn người khác tham gia để tạo kết quả có tính đại chúng
1 Nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên
2 Tác động đến chính sách, các dự án BVMT thay đổi đối với từng hoàn cảnh đối tƣợng phù hợp Chia sẻ những kiến thƣc sđể có cái nhìn toàn diện hơn
3 Có tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực trong việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, để họ có thể tham gia hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể nơi họ ở và làm việc
4 Xây dựng nguồn nhân lực và mạng lưới truyền thông góp phần thực hiện công tác xã hội hoá bảo vệ môi trường
5 Phổ biến các cơ quan tổ chức đến môi trường như: GFF - Quỹ hỗ trợ những dự án nhỏ, UN – Liên hợp quốc,… (Nguyễn ồng ạnh, 2014)
- Đối tƣợng Đối tượng truyền thông môi trường tùy thuộc vào chương trình dự án có thể là cộng đồng, chính quyền, cơ quan, ban ngành với môi trường có nhà tài trợ hay cơ quan truyền thông Là các đối tƣợng có trình độ học vấn chuyên môn,vị trí xã hội mỗi đối tƣợng lại có những hình thức tuyên truyền khác nhau mục đích chính của truyền thông môi trường nhằm chia sẻ nhận thức sự trao đổi lẫn nhau có sự phản hồi thông tin giữa hai người hay một nhóm người để dẫn đến hiểu biết lẫn nhau mang thông điệp ý nghĩa về bảo vệ môi trường thông qua các loại hình truyền thông như bản tin, sách, báo, tờ rơi,
Nhƣ vậy việc giáo dục cung cấp kiến thức kết hợp các thông điệp mang ý nghĩa bảo vệ môi trường sẽ giúp mọi người có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về vấn đề môi trường hiện nay Cuối cùng có những hành động tích cực bảo vệ môi trường dù chỉ là hành động nhỏ nhất.
1.5.3 Các bước xây dựng và thực hiện kế hoạch truyền thông Để xây dựng kế hoạch truyền thông môi trường cần trải qua 4 giai đoạn và 9 bước:
Giai đoạn 1: Xác định vấn đề
Bước 1: Phân tích tình hình và xác định vấn đề
Bước 2: Phân tích đối tượng truyền thông
Bước 3: Xác định mục tiêu truyền thông
Giai đoạn 2: Lập kế hoach
Bước 4: Lựa chọn và kết hợp các chương trình truyền thông
Bước 5: Lên kế hoạch và thực hiện
Giai đoạn 3: Tạo sản phẩm truyền thông
Bước 6: Thiết bị thônh điệp truyền thông
Bước 7: Sản xuất và thử nghiệm sản phẩm mới
Giai đoạn 4: Thực hiện phản hồi
Bước 8: Thực hiện truyền thông
Buóc 9: Giám sát và đánh giá tƣ liệu hoá.
1.5.4 Vai trò của truyền thông môi trường trong quản lý môi trường
Hiện nay, công tác quản lý môi trường (QLMT) đang đứng trước các thách thức to lớn khi mà các mong muốn về hưởng thụ một môi trường trong lành, an toàn luôn mâu thuẫn với nhu cầu hưởng thụ một đời sống vật chất sung túc gắn với các hoạt động gây tác động tiêu cực đến môi trường Nói cách khác, công tác QLMT đang phải đối mặt với các mâu thuẫn trong suy nghĩ, thái độ, hành vi về môi trường giữa các nhóm người khác nhau trong xã hội, giữa người này với người khác và ngay cả trong bản thân một con người
Vì vậy, TTMT cần phải đƣợc xem nhƣ là một công cụ cơ bản trong công tác
QLMT nhằm xã hội hoá BVMT Nó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thái độ, hành vi của con người trong cộng đồng, từ đó thúc đẩy họ tự nguyện tham gia vào các hoạt động BVMT và không chỉ tự mình tham gia mà còn lôi cuốn những người khác cùng tham gia, tạo nên những kết quả chung của toàn xã hội
TTMT còn là một quá trình tương tác xã hội hai chiều, giúp cho mọi đối tƣợng tham giavào quá trình đó cùng tạo ra và cùng chia sẻ với nhau các thông tin về MT, với mục đích đạt đƣợc sự hiểu biết chung về các vấn đề môi trường có liên quan, từ đó có khả năng chia sẻ trách nhiệm BVMT
Tóm lại, TTMT có 3 vai trò chính trong công tác QLMT:
- Thông tin: Thông tin cho đối tƣợng cần truyền thông biết tình trạng QLMT và BVMT của địa phương nơi họ sống, từ đó lôi cuốn họ cùng quan tâm đến việc tìm kiếm các giải pháp khắc phục
- Huy động các kinh nghiệm, kỹ năng, bí quyết của tập thể và cá nhân vào các chương trình, kế hoạch hoá BVMT
- Thương lượng: Thương lượng, hoà giải các xung đột, khiếu nại, tranh chấp về MT giữa các cơ quan và trong cộng đồng
1.5.5 Một số hoạt động truyền thông môi trường tại khu vực nghiên cứu
Sở Tài nguyên và Môi trường thường xuyên làm việc và cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tin đại chúng của Hòa Bình (Báo Hải Phòng, Báo n ninh Hòa Bình) và các cơ quan khác đƣa tin, bài về hoạt động bảo vệ môi trường, giới thiệu các văn bản pháp luật mới, các chính sách mới về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững
Trên các phương tiện thông tin đại chúng, xây dựng và tổ chức thực hiện các chuyên đề “Khoa học và Đời sống” 15 ngày một lần, trang báo Hòa Bình chuyên san bảo vệ môi trường, các bài, tin về bảo vệ môi trường được phản ánh thường xuyên, các cơ quan thông tin đại chúng đã có kế hoạch và tích cực tham gia
Việc đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục ở các cấp học đã bắt đầu đƣợc tiến hành (có đề tài nghiên cứu), có các chiến dịch về bảo vệ môi trường như: Những hạt mưa xanh; Trại hè sinh thái; Thi vẽ và biểu diễn về bảo vệ môi trường; thí điểm thành lập câu lạc bộ xanh trong 20 trường học; thi tuyên truyền viên giỏi về môi trường cho các cấp quận, huyện, thị và phường xã… đã thực sự có tác động đến các lứa tuổi học sinh đối với nhận thức và hành động về bảo vệ môi trường Đặc biệt trong thời gian qua, Hòa Bình đã từng bước và thực nghiệm đưa các nội dung môi trường vào các trường học bằng phương pháp thích hợp, lồng ghép, liên hệ và thông qua các hoạt động ngoại khóa Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng đang triển khai dự án nghiên cứu biên soạn giáo trình về môi trường cho các bậc học với ngân sách của địa phương
Các lớp tập huấn chuyên đề:
MỤC TIÊU, NỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung Đề tài đƣợc thực hiện nhằm góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng địa phương về phân loại chất thải rắn và giảm thiểu sử dụng túi nilong tại địa phương.
2.1.2 Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu chung, khóa luận hướng tới các mục tiêu cụ thể nhƣ sau:
- Tìm hiểu đƣợc thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt và sử dụng túi nilong trên địa bàn phường Hữu Nghị và phường Phương Lâm, Thành Phố Hoà Bình
- Xây dựng, thực hiện và đánh giá được hiệu quả chương trình truyền thông về phân loại chất thải rắn và sử dụng túi nilong cho cộng đồng tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất đƣợc một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông bảo vệ môi trường tại địa bàn nghiên cứu.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Cộng đồng nơi triển khai thực hiện tại phường Hữu Nghị và phường Phương Lâm, thành phố Hòa Bình.
- Đề tài được thực hiện tại phường Hữu Nghị và phường Phương Lâm, thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình
Nội dung nghiên cứu
Để đạt đƣợc những mục tiêu trên đề tài tiến hành những nội dung sau:
2.3.1 Tìm hiểu thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt và sử dụng túi nilong trên địa bàn Thành Phố oà Bình;
2 3 2 Xây dựng, thực hiện và đánh giá hiệu quả chương trình truyền thông về phân loại chất thải rắn và sử dụng túi nilong cho cộng đồng tại khu vực nghiên cứu
2 3 3 Đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động truyền thông về bảo vệ môi trường tại khu vực nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu Đây là phương pháp kế thừa tham khảo thông tin tài liệu và số liệu có sẵn trong các đề tài, tạp chí, dự án, các chương trình liên quan tới khu vực nghiên cứu nhƣ:
+ Điều kiện tự nhiên kinh tế văn hóa xã hội và kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan
+ Tài liệu báo cáo môi trường 2017 – 2018 của thành phố Hòa Bình
2.4.2 Phương pháp phỏng vấn bán định hướng
Thu nhập thông tin bằng phương pháp giao tiếp bằng lời nói có tính đến mục đích đặt ra Một số câu hỏi có tính chất quyết định được định hướng hóa còn có câu hỏi khác đƣợc phát biểu tuỳ vào tình hình cụ thể
Các đối tƣợng phỏng vấn chính:
Cán bộ phường, trưởng thôn, bí thư thôn: Đây chỉ là thành phần lãnh đạo của địa phương giám sát chỉ đạo đưa ra các hướng phát triển của địa phương
Người dân trong phường địa bàn nghiên cứu.
2.4.3 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Phỏng vấn bằng bằng hỏi là phương pháp phỏng vấn được thực hiện với nhiều người theo một bảng hỏi in sẵn Người được hỏi trả lời đánh dấu vào các ô vuông tương ứng
Thiết lập bảng hỏi (Phụ lục 01) nhằm mục đích thu nhập thông tin về thực trạng quản lý môi trường hiện trạng nhận thức của người dân quanh khu vực nghiên cứu về vấn đề vệ sinh môi trường cũng như hiện trạng công tác truyền thông trên địa bàn
Đối tượng: Cộng đồng địa phương tại khu vực
Kết quả sẽ đƣợc tổng hợp vào bảng 2.1.
Bảng 2.1 ết quả phỏng vấn tại địa phương về phân loại rác thải sinh hoạt và sử dụng túi nilong ở địa phương
Phân loại rác thải sinh hoạt nhƣ thế nào
Số lần sử dụng túi nilong
Phương thức truyền thông thích hợp
2.4.4 Phương pháp thực nghiệm a Truyền thanh
Sử dụng loa phát thanh dưới dạng bản tin trong tuần để tuyên truyền nâng cao ý thức hiểu biết của cộng đồng về vấn để phân loại chất thải rắn và sử dụng túi nilông trên địa bàn
Tuyên truyền những kiến thức kiến hoạch về vệ sinh môi trường trên toàn dân trên địa bàn Bảo vệ môi trường đồng thời phê phán những hành vi gây mất vệ sinh trường
Bước 1: Chọn bài tuyên truyền về công tác phân loại rác thải môi trường cho cộng đồng trên địa bàn phường với nội dung về tầm quan trọng trong môi trường sống ở tác hại của việc không phân loại rác và tác hại của việc sử dụng túi nilông, một số giải pháp trong việc phân loại rác và hạn chế sử dụng túi nilông… Bài tuyên truyền đƣợc chọn: Phân loại chất thải rắn và giảm thiểu sử dụng túi nilông trong cuộc sống hàng ngày
Một số nội dung chính đƣợc trình bày nhƣ sau:
Mở đầu: Phân loại chất thải rắn và giảm thiểu sử dụng túi nilông
- Chất thải rắn là gì
- Tác hại của chất thải rắn
- Tuyên truyền về phân loại và cách xử lý chất thải rắn
Nội dung tuyên truyền về túi nilông hiện nay và một số giải pháp thay thế túi nilông trong cuộc sống hàng ngày của người dân
- Tác hại nguy hiểm của túi nilông đối với môi trường
- Ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân
- Các giải pháp thay thế
Bài truyền thanh về phân loại chất thải rắn và giảm thiểu sử dụng túi nilông trong môi trường của người dân trên địa bàn nghiên cứu đưa ra những kiến thức cơ bản và các phương pháp thiết thực để giảm thiểu sử dụng
Bước 2: Đưa bài truyền thanh về các xóm trong phường và phát 1 tuần/
2 lần vào thứ 4 và chủ nhật hàng tuần
Sau khi thực hiện chương trình truyền thanh một thời gian, khóa luận đã thực hiện phát phiếu phỏng vấn cho người dân để thu phản hồi về chương trình b Truyền thông qua phương tiện nhìn
Truyền thông về phân loại chất thải rắn và giảm sử dụng túi nilông tới cộng đồng thông qua poster và từ rơi bằng những hình ảnh sinh động bắt mắt
Thiết kế poster và từ rơi để phát cho cộng đồng treo lên các loại đường tập trung đông dân cư của phường
Poster và tờ rơi về môi trường sẽ được thiết kế với nền màu xanh mát, thông điệp phù hợp và được phát cho năm mươi hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu
Phát và thu phiếu phỏng vấn và phản hồi sau khi thực hiện truyền thông qua phương tiện nghe nhìn.
2.4.5 Phương pháp thống kê toán học
Sau khi thực hiện các cuộc phỏng vấn bán định hướng và phiếu điều tra, khóa luận tiến hành thống kê kết quả hoàn chỉnh bằng phương pháp sử dụng phần mềm excel và các công thức liên quan.
ĐIỀU KI N TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊ BÀN NGHIÊN CỨU
Đặc điểm tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý và địa hình
Thành phố Hòa Bình có 133.34 km² diện tích tự nhiên và dân số 189.210 người Địa giới hành chính thành phố Hòa Bình:
- Phía Đông giáp huyện Kỳ Sơn và huyện Kim Bôi;
- Phía Tây giáp huyện Cao Phong và huyện Đà Bắc;
- Phía Nam giáp huyện Cao Phong;
- Phía Bắc giáp huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Thành phố Hòa Bình thuộc vùng đồi núi đá vôi, là vùng có nhiều khả năng thâm canh phát triển nông nghiệp và một số ngàng nghề công nghiệp dệt, công nghệ chế biến, công nghệ cơ khí và các ngành nghề truyền thống.
3 1 2 2 Khí hậu Đặc điểm khí hậu Thành phố Hòa Bình mang tính chất chung của khí hậu đồng bằng Bắc Bộ, là khí hậu chí tuyến gió mùa ẩm, có thời tiết bốn mùa xuân - hạ - thu - đông tương đối rõ rệt;
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 – 24ºC, số tháng có nhiệt độ trung bình lớn hơn 20ºC từ 8 - 9 tháng Mùa đông, nhiệt độ trung bình là 18,9ºC, tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2 Mùa hạ, nhiệt độ trung bình là 27ºC, tháng nóng nhất là tháng 7 và tháng 8 Tổng tích ôn nhiệt từ 8.550 - 8.650ºC/năm; Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình năm 80 - 85%, giữa tháng có độ ẩm lớn nhất và nhỏ nhất không chênh lệch nhiều, tháng có độ ẩm cao nhất là 90%(tháng 3), thấp nhất là 81%(tháng 11).
Lƣợng mƣa trung bình trong năm từ 1.700 - 1.800 mm Lƣợng mƣa phân bổ không đều trong năm, mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 10, lƣợng mƣa chiếm gần 80% lƣợng mƣa cả năm, các tháng mƣa nhiều là tháng 7, 8, 9 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lƣợng mƣa chiếm 20% lƣợng mƣa cả năm Các tháng ít mƣa nhất là tháng 12, 1, 2, có tháng hầu nhƣ không có mƣa Tuy nhiên, có những năm mưa muộn ảnh hưởng đến việc gieo trồng cây vụ đông và mưa sớm ảnh hưởng đến thu hoạch vụ chiêm xuân
Hàng năm trung bình có tới 250 ngày nắng, tổng số giờ nắng từ 1650-
1700 giờ Vụ hè thu có số giờ nắng cao khoảng 1.100 - 1.200 giờ, chiếm 70% số giờ nắng trong năm.
Hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, tốc độ gió trung bình cả năm là 2 - 2,3 m/s Mùa đông hướng gió thịnh hành là gió đông bắc với tần suất 60 -70%, tốc độ gió trung bình 2,4 - 2,6 m/s, những tháng cuối mùa đông, gió có xu hướng chuyển dần về phía Đông Mùa hè hướng gió thịnh hành là gió đông nam, với tần suất 50 - 70%, tốc độ gió trung bình 1,9 - 2,2 m/s, tốc độ gió cực đại(khi có bão) là 40 m/s, đầu mùa hạ thường xuất hiện các đợt gió tây khô nóng gây tác động xấu đến cây trồng
Nhìn chung, các yếu tố khí hậu thời tiết ảnh hưởng đến môi trường sống và sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Do nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng - ẩm, nhiệt độ TB/năm cao, độ ẩm TB lớn cùng với sự phân hóa đa dạng cả về thời gian và không gian là một thuận lợi lớn cho phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới với nhiều loại nông sản phong phú(cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả,
Điều kiện Kinh tế - Xã hội
Hạn chế: Đối với sản xuất nông nghiệp: Sự phân phối ẩm không đều trong năm gây hạn chế cho việc khai thác nhiệt Chính vì vậy thủy lợi vẫn là vấn đề hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh nhất là trong mùa khô, yêu cầu là phải tiết kiệm nước, phải tính đến việc thay đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp(ví dụ, trong mùa khô có thể hạn chế diện tích trồng lúa nước, hoặc những loại cây có nhu cầu về nước lớn) Trong điều kiện thời tiết nóng - ẩm, sâu bệnh dễ phát sinh và lây lan trên diện rộng gây hại cho cả cây trồng lẫn vật nuôi Các hiện tượng thời tiết cực đoan, nhiễu động thời tiết thường xảy ra vào thời gian chuyển mùa làm cho sản xuất nông - lâm - ngƣ thêm bấp bênh Bão thường tập trung vào tháng 6 - 9, có năm bão đổ bộ vào sớm, có năm muộn Đối với hoạt động du lịch, nghỉ dƣỡng, tham quan, Tính chất gió mùa cũng ảnh hưởng khá sâu sắc, hiệu quả khai thác giảm hẳn.
3.2 Điều kiện inh tế - Xã hội
Với sự chỉ đạo điều hành của UBND thành phố và nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân, cộng đồng các doanh nghiệp, nền kinh tế - xã hội của Thành phố Hòa Bình tiếp tục đƣợc duy trì ổn định và phát triển
Dân số toàn huyện 98.856 người gồm dân tộc chính là Kinh Lực lượng lao động đông, số lao động phi nông nghiệp ngày càng gia tăng, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 55%, điều này cho thấy huyện có thế mạnh về nguồn lực lao động:
- Phấn đấu giảm tỷ lệ sinh mỗi năm 0,6‰, tỷ lệ nghèo giảm 1,5 - 2%/năm(theo chuẩn nghèo mới); nâng mức sống của các hộ đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo
- Đến năm 2020, tỷ lệ đô thị hóa ít nhất đạt khoảng 45 - 50%; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động khoảng 77%
- Đến năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt khoảng 40%, đến năm 2020 khoảng 50 - 60% Đến năm 2010, có 80 - 85% lao động có việc làm sau khi đào tạo.
3.2.3 Dân số và cơ cấu lao động
Theo thống kê của cán bộ xã, tính đến tháng 11/2016 trên địa bàn Thành phố Hòa Bình có 2.855 hộ gia đình với 11.449 nhân khẩu, trong đó số người trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động là 5.982 người Trong đó tỷ lệ tăng dân số bình quân là 1% trong năm 2016
Tốc độ đổi mới công nghệ đạt bình quân 20 - 25%/năm Đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường an ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội.
3.2.4 Về bảo vệ môi trường
Môi trường luôn được quan tâm bảo vệ và ngày càng được cải thiện Giảm đến mức thấp nhất tình trạng ô nhiễm ở các làng nghề và đến năm 2010, khoảng 90% dân số được sử dụng nước sạch; thu gom và xử lý trên 90% rác thải sinh hoạt; quản lý và xử lý 100% chất thải công nghiệp nguy hại, chất thải y tế
Bảo tồn và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn và tôn tạo các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt và sử dụng túi
4.1.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố
4.1.1.1 Hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hòa Bình
Mỗi ngày trên địa bàn thành phố Hòa Bình thải ra khoảng 1.200m 3 rác (có khoảng 75% phế thải công nghiệp và bệnh viện), hiện mới thu gom về đổ ở các ga chứa đƣợc 80% tổng lƣợng chất thải phát sinh Việc thu gom chất thải rắn đƣợc tiến hành nhƣ sau: bộ phận quét dọn, thu gom chất thải rắn vào xe đẩy tay sau đó chất thải đƣợc chuyển về đổ ở các ga chứa
Chất thải rắn sinh hoạt: Mỗi ngày Công ty Môi trường đô thị thu gom hơn 500 tấn rác thải từ các khu dân cư, khu thương mại, dịch vụ, trên đường phố và các nơi công cộng Ngoài ra, chất thải rắn sinh hoạt còn có trong rác thải của các cơ sở sản xuất, các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở y tế… Mỗi một khu dân cƣ đều có một tổ chịu trách nhiệm thu gom rác thải mỗi ngày theo thời gian quy định Tại các khu buôn bán, khu chợ, khu thương mại… rác thải đều đƣợc thu gom mỗi ngày Bảng 4.1 thống kê lƣợng chất thải rắn sinh hoạt đƣợc thải bỏ theo các năm
Bảng 4.1 hối lƣợng chất thải rắn sinh hoạt của thành phố qua các năm
STT Năm Dân số (người) hối lựợng CTRS
(Nguồn: Phòng Tài nguyên – Môi trường, 2018)
4.1.1.2 Hoạt động thu gom, phân loại, vận chuyển, và xử lý chất thải rắn sinh hoạt
Hiện nay chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố đƣợc thu gom, vận chuyển và xử lý theo quy trình sau:
Chất thải rắn của thành phố khi thu gom không đƣợc phân loại ngay từ đầu nguồn, không qua trạm trung chuyển rác để sơ tuyển, phân loại rác mà trực tiếp vận chuyển đến đổ chung với các loại rác thải tại bãi thải của thành phố
Hiện nay thành phố có trên 100 ga chứa rác, trong đó có 15 ga là các Con-tainer, 85 ga rác tận dụng đường phố làm nơi chứa rác, có mở rộng, xây bao quanh tùy theo điều kiện của các điểm và có 23 điểm tập kết rác tạm thời
Có 2 trạm trung chuyển đƣợc xây dựng đảm bảo tiêu
Về phương tiện, thiết bị thu gom, trước năm 2014, 3 công ty có 750 xe đẩy tay, 5 xe tải thu gom phân bắc, 4 xe phun nước rửa đường Hầu hết là xe cũ, thời hạn sử dụng trung bình là 10 năm Từ năm 2014, Công ty Môi trường đô thị Hòa Bình tiếp nhận một số xe chuyên dụng từ dự án quản lý và xử lý chất thải rắn Hòa Bình (vốn OD Hàn Quốc) gồm 20 xe ép rác, 4 xe chở Container, 1 xe hút bụi chân không, 2 xe quét đường, 3 xe phun nước rửa đường, 1 xe cẩu tự hành, 3 xe tải và một số xe chuyên phục vụ trong nhà máy chế biến compost
4.1.2 Tình hình sử dụng túi nilong trên địa bàn
Dựa vào báo cáo của phòng tài nguyên môi trường thành phố Hòa Bình năm 2018 về tình hình sử dụng túi nilong trên địa bàn thành phố đƣợc trình bày tóm tắt trên biểu đồ 4.1 ình 4.1: Biểu đồ sử dụng túi nilong của một số hộ gia đình trên địa bàn thành phố òa Bình
(Nguồn: Báo cáo môi trường, 2018)
Thông qua biểu đồ sử dụng túi nilong trên địa bàn Thành phố cho thấy:
- Phần lớn các hộ gia đình đều sử dụng từ 5 đến 10 bao nilon mỗi ngày
- Số lƣợng các hộ gia đính sử dụng nhiều hơn 10 bao nilon mỗi ngày là không nhiều
- Số lƣợng bao nilon sử dụng hàng ngày của mỗi hộ gia đình nhƣ vậy là rất nhiều, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tổng số bao nilon bị thải ra môi trường hàng ngày là rất lớn Thói quen sử dụng túi ni lông tràn lan, theo các nhà khoa học, là vô cùng nguy hiểm Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của gia đình mà nó còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng vì tình trạng ô nhiễm môi trường
4.1.3 Những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý môi trường tại khu vực nghiên cứu
Theo Báo cáo hiện trạng môi trường thành phố Hòa Bình năm 2018 cho thấy vấn đề vệ sinh môi trường đã nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, các ngành Phía Đảng ủy đã đƣa ra kế hoạch để hành động Tuy nhiên, hầu hết các chương trình đều mang tính khởi động, một số phường xã trên địa bàn chỉ theo hướng phong trào chư a mang lại hiệu quả cao Nhận thức của người dân ở địa phương chưa được cải thiện và chưa có biện pháp tích cực đến từng hộ dân Những vấn đề còn tồn tại ở địa phương bao gồm:
- Công tác quản lý môi trường chưa triệt để còn lỏng lẻo ở nhiều khâu;
- Các chương trình truyền thông về môi trường có ít chỉ thực hiện trong một thời gian ngắn, thường mang tính phong chào đi khả năng tác động tới nhận thức của người dân chưa cao;
- Ở địa phương được cụ thể hóa văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường còn hạn chế;
- Hoạt động quản lý môi trường ở địa phương còn bị động thiếu sự thống nhất với các công trình đầu tƣ đối sự theo dõi đánh giá hiệu quả của các công trình dẫn đến tình trạng không đồng bộ dàn trải không giải quyết dứt điểm vấn đề nóng của môi trường;
Những tồn tại trong công tác quản lý môi trường tại thành phố Hòa Bình giải thích một phần về tình trạng mất vệ sinh môi trường và đăng ảnh xấu đến cuộc sống và sinh hoạt của cộng đồng Một trong những giải pháp nhằm giải quyết vấn đề này là thực hiện một cách hiệu quả các chương trình truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng về vệ sinh môi trường.
Kết quả thực hiện chương trình truyền thông về phân loại chất thải rắn và giảm thiểu sử dụng túi nilong tại thành phố Hòa Bình
4.2.1 Đánh giá nhận thức của cộng đồng về phân loại chất thải rắn sinh hoạt và sử dụng túi nilong tại khu vực nghiên cứu
Thành phố Hòa Bình là một thành phố thuộc vùng núi phía Bắc Dân cƣ cũng nhƣ trình độ nhận thức phát triển, theo thống kê của UBND thành phố cho biết có khoảng 60% là người dân công chức, viên chức, 40% còn lại là người lao động và sinh sống bằng nghề nông nghiệp Đánh giá nhận thức của cộng đồng địa phương về vấn đề phân loại chất thải rắn và sử dụng đúng nilông khóa luận đã sử dụng bằng hỏi kết quả tổng hợp của bảng hỏi thu về đƣợc tóm tắt qua bảng 4.2.
Bảng 4.2 Nhận thức của cộng đồng tại khu vực nghiên cứu về phân loại chất thải rắn sinh hoạt và sử dụng túi nilong
S và hạn chế sử dụng túi nilong tốt
S và hạn chế sử dụng túi nilong trung bình
Phân loại rác SH và hạn chế sử dụng túi nilong kém
(Nguồn: Khóa luận tốt nghiệp, 2019)
Kết quả khảo sát bằng phiếu phỏng vấn cho thấy, nhận thức của người dân về phân loại chất thải rắn sinh hoạt và hạn chế sử dụng túi nilong khá cao, chiếm 64%, nhưng bên cạnh đó vẫn có một số trường hợp còn chưa ý thức đƣợc việc phân loại rác thải sinh hoạt và sử dụng túi nilong thậm trí còn gây những nhận thức không đúng chưa phù hợp thậm trí ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường và sức khỏe như: Đốt bao bì nilong, chôn lấp tại vườn….
Bảng 4.3 Đánh giá hành vi của cộng đồng tại khu vực nghiên cứu về bảo vệ môi trường
Tham gia các hoạt động của địa phương
Không tham gia hoạt động của địa phương
Hành vi tích cực hàng ngày
Hành vi chƣa tích cực
(Nguồn: Khóa luận tốt nghiệp, 2019)
Kết quả trên bảng 4.3 cho thấy, người dân hầu như tham gia các hoạt động của địa phương lên đến 45/50 chiếm 90%, bên cạnh đó vẫn có 10% người dân không tham gia các hoạt động tại địa phương
Tuy nhận thức ban đầu và tốt xong hành vi hằng ngày của người dân chưa tích cực gây ảnh hưởng xấu đến vệ sinh môi trường nguyên nhân được xác định chủ yếu là do thói quen tập quán lúc này của cộng đồng địa phương nhận thức khi tiếp xúc chương trình truyền thông, chương trình giáo dục môi trường cộng đồng với công tác quản lý môi trường tại địa phương chưa có hiệu quả khiến vấn đề vệ sinh môi trường ở khu gần kiểu trở nên nóng hơn bao giờ hết Dựa vào kết quả của bảng 4.2 và bảng 4.3, đề tài đƣa ra mục tiêu truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về phân loại chất thải rắn sinh hoạt và giảm thiểu sử dụng túi nilong tại một số phường trên địa bàn Thành phố Hòa Bình.
Các mục tiêu truyền thông nâng cao nhận của cộng đồng về phân loại chất thải rắn sinh hoạt và giảm thiểu sử dụng túi nilong gồm:
- Tăng cường sự quan tâm
Mục tiêu cụ thể của chương trình được trình bày tóm tắt trên bảng 4.4.
Bảng 4.4 Mục tiêu của chương trình truyền thông
TT Tiêu chí ết quả trước khi thực hiện ết quả mong muốn
Người dân bước đầu nhận thứcđƣợc phân loại rác thải sinh hoạt và sự nguy hiểm của túi nilong
Cung cấp cho cộng đồng kiens thức phân loại rác thải sinh hoạt và sự nguy hiểm của túi nilong
100% người dân đều nhận thứcđƣợc phân loại rác thải sinh hoạt và sự nguy hiểm của túi nilong
100% người dân đều nhận thứcđƣợc phân loại rác thải sinh hoạt và sự nguy hiểm của túi nilong
3 Tăng cường sự quan tâm
Người dân chỉ quan tâm chƣa chú trọng đến môi trường
Hơn 80% người quan tâm đến vấn đề phân loại rác thải sinh hoạt và sự nguy hiểm của túi nilong
4 Thay đổi thái độ Đa số người dân còn thờ ơ
Thay đổi đƣợc hơn 70% ý thức của người dân
34% người dân có hanhf vi tích cực
Hơn 70% người dân có hành vi tích cực
(Nguồn: Khóa luận tốt nghiệp, 2019)
4.2.3 Cơ sở lựa chọn phương thức truyền thông và lập kế hoạch truyền thông
4.2.3.1 Cơ sở lựa chọn phương thức truyền thông a Cơ sở vật chất về phương tiện truyền thông ở địa phương
Qua khảo sát 02 phường Hữu Nghị và Phường Phương Lâm trên địa bàn Thành phố, đề tài đã thu được kết quả về phương tiện truyền thông trên địa bàn và đƣợc trình bày trên bảng 4.5
Bảng 4.5 Các phương tiện truyền thông đã và đang được áp dụng STT Loại hình truyền thông Phương tiện
1 Truyền thông trực tiếp Họp cộng đồng
2 Truyề thông qua phương tiện nghe Loa, đài phát thanh
3 Truyền thông qua phương tiện nhìn Băng rôn, poster
(Nguồn: Khóa luận tốt nghiệp, 2019)
Trong các phương tiện truyền thông áp dụng tại địa phương thì phương tiện phổ biến nhất là phương tiện loa đài Hình thức họp cộng đồng chỉ được tổ chức khi có sự kiện cần lấy ý kiến của người dân, các hình thức khác như: băng rôn, khẩu hiệu ít đƣợc chú ý vì thiết kế quá đơn giản, chƣa gây đƣợc sự thích thú tò mò cho người dân b Dạng truyền thông mong muốn của cộng đồng
Kết quả khảo sát về dạng truyền thông mong muốn của cộng đòng địa phương được trình bày trên hình 4.2.
Tờ rơi, poster tivi truyền thanh
Hình 4.2 Dạng truyền thông cộng đồng mong muốn
(Nguồn: Khóa luận tốt nghiệp, 2019)
Kết quả khảo sát cho thấy, loại truyền thông người dân ưa chuộng là họp cộng đồng với 7 phiếu; Tờ rơi, poster: 15 phiếu; truyền thanh: 12 phiếu, và sách báo internet, tivi: 10 phiếu Theo ý kiến của người dân, mặc dù tivi là phương tiện hầu như gia đình nào cũng sử dụng nhưng hầu hết mọi người dung để giải trí, ít khi để ý đến vấn đề vệ sinh môi trường c Tiêu chí lựa chọn hình thức truyền thông
Các phương tiện truyền thông lựa chọn những hình thức quan trọng sau:
- Loại hình phản hồi cao, dễ tiếp cận vơi cộng đồng;
- Các loại hình cộng đồng yêu thích;
- Cơ sở vật chất địa phương đáp ứng
Dựa vào tiêu chí trên đề tài quyết định lựa chọn phương án: tờ rơi; poster và truyền thanh.
4 2 3 2 Lập kế hoạch truyền thông
Chương trình truyền thông sẽ thực hiện ở Phường Hữu Nghị và Phường Phương Lâm thuộc địa bàn Thành phố Hòa Bình từ ngày 08/3/2019-5/5/2019
Kế hoạch thực hiện chương trình được tóm tắt trong bảng 4.6.
Bảng 4.6 ế hoạch truyền thông về bảo vệ môi trường
TT Nội dung ết quả mong muốn Thời gian thực hiện
1 Khảo sát đánh giá ý kiến cộng đồng trướ khi thực hiện chương trình truyền thông
Làm rõ hành vi thái độn nhận thức của công đồng 9/1/2019
2 Khảo sát các chương trình truyền thông ở khu vực nghiên cứu
Cập nhập thông tin lựa chọn phương tiện truyền thông
Tờ rơi và poster Nội dung ngắn gọn xúc tích 16/1/2019 truyền thông
Nội dung chính xác đáng tin cậy 16/1/2019
4 Thử nghiệm phương trình truyền thông
Nhận đƣợc sự đông đảo của cộng đồng 3/2/2019
5 Chờ đợi phản hồi Sự phản hồi tốt 6/3/2019
Thay đổi nhận thức những hang vi tiêu cực của cộng đồng đến vệ sinh môi trường
Poster để bàn và phát tờ rơi 10/3/2019
7 Đánh giá kết quả truyền thông Chương trình truyền thông có tác động tích cực đến cộng đồng
(Nguồn: Khóa luận tốt nghiệp, 2019)
4.2.4 Thiết kế sản phẩm truyền thông Đề tài sử dụng phần mềm Ronyasoft poster designer và phần mềm Photoshop để thiết kế poster a Thiết kế poster
Poster được thiết kế 2 mặt theo khổ 4 kích thước 297x210 cm có thể để trƣng bày trang trí trên bàn Ngoài ra còn có loga của Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, thông điệp về phân loại rác thải sinh hoạt và hạn chế sử dụng túi nilong trên địa bàn Thành phố Hòa Bình
Posrer có 2 mặt một mặt với thông điệp “Phân loại rác thanh lọc cuộc sống”, có hình ảnh biểu tƣợng phân loại rác thải sinh hoạt theo màu sắc đem lại sự tò mò cho người dân về sản phẩm Nội dung poster được trình bày trên hình 4.3 và 4.4.
Hình 4.3 Poster về phân loại rác
(Nguồn: Khóa luận tốt nghiệp, 2019)
Mặt còn lại của poster có thông điệp “Hạn chế nilon mở rộng tương lai” đi kèm với đó là những sản phẩm thay thế túi nilong nhƣ vỏ giấy, túi đựng bằng bột ngô, ống hút tre….
Hình 4.4 Poster về Hạn chế sử dụng túi nilong
(Nguồn: Khóa luận tốt nghiệp, 2019) b Thiết kế tờ rơi
Hình 4.5 Thiết kế của tờ rơi
(Nguồn: Khóa luận tốt nghiệp, 2019)
Tờ rơi thiết kế 2 mặt 4 theo kích thước 40x60 cm có màu sắc hài hòa khá bắt mắt.Mang những con số tác hại về túi nilong, sự nguy hại ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như môi trường sống Mặt sau của tờ rơi là những sản phẩm thay thế túi nilong, bịch nhựa, hình ảnh to và thiết thực Và áp dụng phương thức 5R đối với sử dụng túi nilong đó là
Về tổng thể, tờ rơi chọn màu xanh làm hài hòa và dễ gây thu hút với người đọc, bên cạnh đó tờ rơi còn đưa ra những hình ảnh về những sản phẩm có thể thay thế túi nilong và thân thiện với môi trường sống
4.2.5 ết quả thử nghiệm tờ rơi và poster Đối với các sản phẩm truyền thông trước khi đưa vào sản xuất với số lƣợng lớn thì cần phải thử nghiệm vì từ nghiệm sản phẩm truyền thông sẽ tránh đƣợc những rủi ro đối tƣợng truyền thông chƣa hiểu đƣợc ý định,bên cạnh đó việc thử nghiệm sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí
Thử nghiệm chương trình và sản phẩm truyền thông còn giúp người thiết kế kiểm tra lại đƣợc nội dung thử nghiệm xem có thích hợp với văn hóa xã hội của địa phương hay không; có hiểu dễ nhớ; có sự chấp nhận của cộng đồng hay không Đối với sản phẩm trên thùng sử dụng phương tiện nhìn lựa chọn thiết kế tờ rơi và poster nhằm gây ấn tƣợng mạnh cho cộng đồng thay đổi nhận thức hành vi của cộng đồng đối với vấn đề phân loại chất thải rắn sinh hoạt và giảm thiểu túi nilong trên địa bàn thành phố Hoà Bình a Thử nghiệm sản phẩm poster
Tờ rơi được phát thử nghiệm cho 10 người dân của Phường Phương Lâm và Phường Hữu Nghị sau hai ngày thu được kết quả: hầu hết 10 người đều hiểu được nội dung của tờ rơi, khảo sát cho thấy 7/10 người thấy sản phẩm dễ nhìn và ghi nhớ, nhƣng một số hình ảnh chƣa rõ cần nổi bật hơn Thông điệp của tờ tơi đưa ra thiết thực và người dân muốn thực hiện
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông về phân loại rác thải sinh hoạt và giảm thiểu sử dụng túi nilong trên địa bàn thành phố Hòa Bình
4.3.1 iải pháp lựa chọn phương tiện truyền thông
- Loại hình truyền thông có khả năng phản hồi cao dễ tiếp nhận nhƣ loa, đài phát thanh,…
- Các loại hình truyền thông nhƣ tờ rơi, poster
- Các phương tiện truyền thông lựa chọn khả năng cập nhập thông tin cao nhƣ họp cộng đồng, internet….
4.3.2 iải pháp về nội dung và hình thức tryền thông
- Nội dung: Phải chính xác rõ rang dễ hiểu, trình bày đƣợc nội dụng chính về phân loại chất thải rắn và giảm thiểu túi nilong;
- Thông tin mang tính chọn lọc cao;
- Hình thức truyền thông dễ tiếp cận với cộng đồng Kháo luận sử dụng tờ rơi, poster và truyền thanh;
- Chú ý nội dung và hình tức không tể tách rời.
4.3.3 iải pháp về nhân lực
4 3 3 1 Truyền thông cho đối tượng là học sinh, sinh viên
Lồng ghép kiến thức môi trường và bảo vệ môi trường vào chương trình giảng dạy tại các cấp của hệ thống giáo dục quốc dân Thông qua hệ thống giáo dục các trường phổ thông, bổ túc văn hóa, lồng ghép kiến thức về môi trường trong các môn học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn
Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về môi trường và bảo vệ môi trường như các cuộc thi vẽ tranh về môi trường, thi sáng tác thơ về môi trường, viết thư quốc tế UPU về chủ đề môi trường, các hội diễn văn nghệ về chủ đề môi trường giữa các trường trong quận, trong thành phố… Các chương trình này không chỉ nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm với môi trường của học sinh, sinh viên mà qua đó còn góp phần phổ biến kiến thức về môi trường và bảo vệ môi trường tới cộng đồng và toàn xã hội
Các cán bộ phụ trách đoàn đội tại các trường học, được tham gia tập huấn về kỹ năng phân loại rác sau đó sẽ hướng dẫn lại cho các học sinh, sinh viên trường mình thông qua các buổi sinh hoạt tập thể của toàn trường
Các trường tổ chức các chương trình như tháng hành động vì môi trường, đạp xe vì môi trường, kêu gọi không sử dụng túi nylon…thi giữa các lớp trong một khối, giữa các khối trong trường, kết thúc mỗi chương trình có quà cho các đơn vị có thành tích xuất sắc nhằm khích lệ tinh thần tham gia chương trình
4.3.3.2 Truyền thông cho hộ dân
- Việc tuyên truyền cho đối tƣợng hộ gia đình đƣợc thực hiện thông qua các cuộc họp tổ dân phố Người trực tiếp tuyên truyền là cán bộ của Phòng Tài nguyên và Môi trường của phường hoặc là các Đoàn viên thanh niên với sự hỗ trợ của các Tổ trưởng, Tổ phó tổ dân phố Hướng dẫn cách thức phân loại rác tại nguồn và kết hợp phát tờ rơi của chương trình Ngoài việc tuyên truyền bằng lời và cung cấp các tờ rơi cho người tham dự, các tuyên truyền viên sẽ kết hợp với chiếu phim để tạo sự trực quan, sinh động trong buổi tuyên truyền
- Sau mỗi đợt tuyên truyền một thời gian khoảng 2 tuần đến 1 tháng sẽ tổ chức một buổi họp tổ dân phố nhằm lắng nghe những ý kiến phản hồi từ người dân sau một thời gian thực hiện chương trình Qua buổi họp này, các tuyên truyền viên, Tổ trưởng, Tổ phó sẽ ghi nhận những vướng mắc, những khó khăn của người dân để có hướng khắc phục và hỗ trợ.
4.3.4 iải pháp về quản lý
- Mở các lớp tập huấn, phổ biến kiến thức về môi trường, bảo vệ môi trường, về phân loại rác thải, tái sử dụng chất thải… cho các cán bộ, công nhân viên trong cơ quan, công ty
- Hoạt động truyền thông môi trường phải được lồng ghép với các hoạt động phong trào của các ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp và khả năng hướng tới xã hội hóa bảo vệ môi trường
- Tổ chức các cuộc thi về môi trường và bảo vệ môi trường như các hội diễn văn nghệ, cuộc thi tuyên truyền viên giỏi trong cơ quan, công ty lồng ghép với các cuộc thi là các cuộc phát động phong trào mọi người chung tay bảo vệ môi trường ở cuối mỗi chương trình
C ƢƠN V ẾT LU N – TỒN TẠI – IẾN N Ị
- Trung bình mỗi ngày thành phố Hòa Bình thải khoảng 1.200m 3 chất thải rắn sinh hoạt Khối lƣợng chất thải rắn theo thống kê, tăng nhanh chóng từ năm 2015 đến năm 2018 Kết quả khảo sát bằng phiếu phỏng vấn cho thấy việc nhận thức đúng về phân loại chất thải rắn tại nguồn và sử dụng túi nilong còn chưa mới chỉ đạt 64% (số người được phỏng vấn);
- Kết quả thực hiện chương trình truyền thông về phân loại chất thải rắn tại nguồn và giảm thiểu sử dụng túi nilong đã bước đầu thu được những thành công nhất định Tờ rơi và poster là hai sản phẩm truyền thông nhận đƣợc sự đánh giá cao, phản hồi tích cực với 84% cho tờ rơi và 90% cho poster Đặc biệt, chương trình truyền thanh phát trên loa đạt được hiệu quả vƣợt trội, với 100% các hộ gia đình đón nhận
- Khóa luận đã đề xuất một số giải pháp về nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện công tác truyền thông tại khu vực nghiên cứu, nhƣ giải pháp về lựa chọn phương tiện truyền thông, giải pháp về nội dung, hình thức truyền thông, giải pháp nhân lực, giải pháp để quản lý
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài đã đạt đƣợc một số kết quả khả quan nhƣng vẫn còn một số hạn chế nhƣ sau:
- Do thời gian và kinh phí nên chương trình chỉ thử nghiệm trong phạm vi nhỏ hẹp
- Nguồn tài liệu cung cấp ở địa phương chưa cụ thể khá ít và cũng có sai sót trong mảng truyên thông
- Bản thân còn nhiều thiếu sót về kiến thức kinh nghiệm nên không tránh khỏi sai sót trong quá trình làm khoá luận
Xuất phát từ tồn tại trên, để những chương trình truyền thông sau đạt hiệu quả tốt hơn, đề tài xin đƣa ra kiến nghị sau:
- Cần nghiên cứu sâu sắc củng cố kiến thức và thử nghiệm chương trình truyền thông;
- Phân bố thời gian hợp lý và bổ sung thêm nguồn kinh phí;
- Địa phương cập nhập thông tin và tài liệu một cách liên tục để người làm truyền thông đúng đắn và lựa chọn truyền thông phù hợp với hoàn cảnh nghiên cứu để mang lại hiệu quả cao nhất
[1] Đào Tác Việt, Đinh Thị Hồng Minh, Lê Sơn, Nguyễn Thị Tuyết
Lan,(2008) Chiến lược truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về môi trường
[2] Lê Sơn và Nguyễn Thị Tuyết Lan( 2008 ), Tài liệu giáo dục truyền thông về môi trường
[3] Nguyễn Thị Tuyết Lan,( 2008 ) Giới thiệu công tác truyền thông và bảo vệ môi trường
[4] ThS Nguyễn Thị Bích Hảo (2016) Bài giảng truyền thông môi trường
[5] Trần Hồng Hà,( 2004) Tài liệu hướng dẫn xây dựng mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường, NXB Hà Nội
[6] Bộ Xây Dựng (1999), Chiến lược quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam, NXB Xây Dựng
[7] Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố òa Bình, năm( 2018)
[8] Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hòa Bình (2018), Báo cáo công tác quản lý, xử lý chất thải rắn tại thành phố òa Bình
[9] Mạng lưới giáo dục đào tạo và truyền thông môi trường Việt Nam (2004),
Sổ tay công tác truyền thông môi trường
TÌM IỂU N N T ỨC VỀ V SIN M I TRƯỜN
Phiếu phỏng vấn này được thực hiện nhằm thu thập thông tin cho khóa luận tốt nghiệp dành cho người dân sinh sống trên địa bàn thành phố òa Bình
Truyền thông nâng cao nhận thức về phân loại chất thải rắn và giảm thiểu sử dụng túi nilong cho cộng đồng tại TP òa Bình – tỉnh òa
Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác của quý ông/bà để hoàn thành các câu hỏi sau đây:
Tên ông/bà: ……… Địa chỉ: ……… Nghề nghiệp:………
1 Môi trường của ông bà có đảm bảo chất lượng vệ sinh?
B Môi trường ô nhiễm mất vệ sinh
2 Theo quý vị chất thải rắn chia có mấy loại?
3 Ở địa phương có biện pháp nào để phân loại chất thải rắn chưa?
4 Gia đình ông bà có phân loại trước khi thải ra môi trường không? Chỉ ra một số biện pháp
5 Gia đình ông bà có đề xuất nào trong công tác quản lý chất thải rắn ở địa phương?
6 Gia đình ông bà có thường xuyên sử dụng túi nilông không?
7 Ông bà biết tác hại của túi nilông không?
8 Ông bà hay quan tâm vấn đề môi trường qua tờ rơi, poster hay không?
9a Địa phương ông bà có tuyên truyền về phân loại chất thải rắn và sử dụng túi nilông hay không?
9b Các quy định này đƣợc phổ biến rộng rãi không?
9c Nếu có đƣợc phổ biến qua hình thức nào?
B Qua thông báo loa đài
10 Ông bà thích chương trình truyền thông nào dưới đây? Họp cộng đông
D Các chương trình khác( báo, tivi, internet )
Cảm ơn ông/bà đã tham gia trả lời câu hỏi !
B Ì TRUYỀN TH NH VỀ PH N LO I RÁC THẢI SINH HO T
VÀ GIẢM THIỂU SỬ DỤNG TÚI NILONG Trong cuộc sống hang ngày việc quan tâm đến phân loại rác thải sinh hoạt và giảm thiểu sử dụng túi nilong trên địa bàn thành phố ảnh hưởng đến mỹ quan và chính sức khỏe của chúng ta Vì vậy để có một môi trường trong lành ta cần phân loại rác thải sinh hoạt và giảm thiểu sử dụng túi nilong: