1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại xã nga văn huyện nga sơn tỉnh thanh hóa

72 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả đạt được Sau khi nghiên cứu xong đề tài “Truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa” đã làm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG & MÔI TRƯỜNG

-

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA CỘNG ĐỒNG

VỀ GIẢM THIỂU CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI

XÃ NGA VĂN, HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

MÃ SỐ: 7440301

Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hảo

Sinh viên thực hiện : Dương Thị Duyên

Mã sinh viên : 1653060157

Lớp : K61-KHMT

Khóa : 2016 - 2020

Hà Nội, 2020

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường - Trường Đại Học Lâm Nghiệp em đã thực tập tại xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, để hoàn thiện và nâng cao kiến thức của bản thân và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp

Để đạt được kết quả như ngày hôm nay, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban chủ nhiệm khoa, cùng các thầy cô giáo khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường – Trường Đại Học Lâm Nghiệp đã truyền đạt cho em những kiến thức cũng như tạo mọi điều kiện học tập và giúp đỡ em trong suốt quá trình

học tại trường

Đặc biệt hơn cả, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô ThS Nguyễn Thị Bích Hảo, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận Cảm ơn cô luôn tận tình chỉ bảo, truyền đạt cho em những vốn kiến thức mới, chia sẻ, bảo ban kiến thức chuyên môn giúp tôi hoàn thành tốt khóa luận của mình

Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã hết lòng tận tình, chỉ bảo hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập

Vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên nội dung của khóa luận không tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên, các anh chị, cô chú tại UBND xã Nga Văn để báo cáo được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà nội, ngày 07 tháng 07 năm 2020

SINH VIÊN

DƯƠNG THỊ DUYÊN

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vi

TÓM TẮT KHÓA LUẬN vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 9

1.1 Một số vấn đề chung về chất thải rắn 11

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 11

1.1.2 Phân loại 11

1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khỏe cộng đồng, cảnh quan và môi trường 12

1.2 Hiện trạng quản lí chất thải rắn ở một số nước 14

1.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn ở Việt Nam 16

1.3.1 Trình tự ưu tiên các hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt 16

1.3.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt hiện nay ở Việt Nam 19

1.4 Một số vấn đề chung về truyền thông môi trường 20

1.5 Hoạt động truyền thông giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam 23

1.6 Tình hình nghiên cứu về hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa 24

1.6.1 Về công tác thu gom xử lý rác thải sinh hoạt 24

1.6.2 Công tác truyền thông giảm thiểu chất thải rắn tại địa phương 25

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 26

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26

2.3 Nội dung nghiên cứu 26

Trang 4

2.3.1 Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Nga

Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa 26

2.3.2 Xây dựng và thực hiện chương trình truyền thông về giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn cho người dân tại khu vực nghiên cứu 27

2.3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu 28

2.4 Phương pháp nghiên cứu 28

2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu 28

2.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 29

2.4.3 Phương pháp khảo sát bằng phiếu phỏng vấn 29

2.4.4 Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu 33

2.4.5 Phương pháp thực nghiệm 33

CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI 36

3.1 Vị trí địa lý 36

3.2 Điều kiện tự nhiên 36

3.3 Dân số, đặc điểm về văn hóa, dân tộc và phân bố dân cư 37

3.4 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội 39

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

4.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa 40

4.1.1 Các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 40

4.1.2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt 40

4.1.3 Đánh giá của công nhân vệ sinh môi trường về công tác quản lý 41

4.2 Kết quả thực hiện chương trình truyền thông về giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn cho người dân tại khu vực nghiên cứu 42

4.2.1 Nhận thức và mức độ tiếp cận của người dân về giảm thiểu và phân loại CTRSH 42

4.2.2 Lập kế hoạch và lựa chọn phương tiện truyền thông 47

4.2.3 Thiết kế sản phẩm truyền thông 50

4.2.4 Đánh giá hiệu quả thực hiện chương trình truyền thông 53

Trang 5

4.2.5 Đánh giá chung về kết quả thực hiện chương trình truyền thông tại khu

vực nghiên cứu 56

4.3 Đề xuất giải pháp truyền thông nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu 56

4.3.1.Giải pháp về công tác giáo dục và truyền thông 56

4.3.2 Giải pháp về lựa chọn phương tiện truyền thông 57

4.3.3 Giải pháp về nội dung và hình thức giáo dục và truyền thông môi trường 57

4.3.4 Giải pháp về nhân lực 58

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN,TÔN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Tồn tại 59

5.3 Kiến nghị 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 1 Các nguồn phát sinh chất thải rắn 11

Bảng 4 1 Thành phần CTRSH tại xã Nga Văn 40

Bảng 4 2 Hiện trạng và công tác quản lý rác thải sinh hoạt 41

Bảng 4 3 Nhận thức của người dân tại khu vực nghiên cứu về phân loại và giảm thiểu CTRSH 43

Bảng 4 4 Mức độ tham gia hoạt động phân loại và giảm thiểu CTRSH 44

Bảng 4.5 Các tiêu chí lựa chọn 45

Bảng 4.6 Khảo sát nhận thức của cộng đồng về chất thải rắn sinh hoạt và giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt trước khi tiến hành truyền thông 46

Bảng 4.7 Nội dung thực hiện kế hoạch truyền thông 48

Bảng 4.8 Loại hình truyền thông mà cộng đồng mong muốn 49

Biểu đồ 4 1: Biểu đồ % thành phần CTRSH tại xã Nga Văn 41

Biểu đồ 4 2 Tỉ lệ % người dân có và không phân loại rác tại nhà 42

Biểu đồ 4.3 Nhận thức của người dân tại khu vực nghiên cứu về phân loại, giảm thiểu RTSH 43

Biểu đồ 4.4 Mức độ tham gia hoạt động phân loại và giảm thiểu CTRSH 44

Biểu đồ 4.5 Tỉ lệ (%) số hộ dân có và không phân loại được rác thải 47

Biểu đồ 4.6 Tỉ lệ (%) số hộ dân cho rằng CTRSH có và không gây ô nhiễm môi trường 47

Biểu đồ 4.7 Loại hình truyền thông mong muốn của cộng đồng 49

Biểu đồ 4 8 Sự quan tâm của người dân về CTRSH sau khi truyền thông 55

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 - Trình tự ưu tiên quản lý chất thải rắn sinh hoạt 17

Hình 1 2 Vị trí của xã Nga Văn trong huyện Nga Sơn 36

Trang 8

KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

1 Tên khóa luận:

“Truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa”

2 Sinh viên thực hiện: Dương Thị Duyên

Lớp: 61A_KHMT

Mã sinh viên:1653060157

3 Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Bích Hảo

4 Mục tiêu nghiên cứu:

+ Đề xuất giải pháp truyền thông nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản

lý và giảm thiểu chất thải rắn tại khu vực nghiên cứu

5 Nội dung nghiên cứu:

- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Nga

Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Xây dựng và thực hiện chương trình truyền thông về giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn cho người dân tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất giải pháp truyền thông nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu

Trang 9

6 Kết quả đạt được

Sau khi nghiên cứu xong đề tài “Truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa” đã làm rõ được một số vấn đề sau:

Nhìn chung, chính quyền và các cấp ban ngành địa phương đã quan tâm tới vấn đề giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương, mặc dù thế công tác quản lý còn nhiều hạn chế và bất cập

Cộng đồng dân cư tại khu vực nghiên cứu bước đầu đã nhận thức được tầm quan trọng của giảm thiểu chất thải rắn Mặc dù vậy, do thói quen và nhận thức còn hạn chế khiến hành vi của người dân chưa thật sự đúng đắn, tích cực với môi trường Sau khi chương trình truyền thông về chất thải rắn sinh hoạt được thực hiện góp phần nhận được sự quan tâm và hưởng ứng tích cực của cộng đồng dân cư tại khu vực nghiên cứu.Truyền thông đi vào hoạt động tác động tới nhận thức của người dân và thái độ của cộng đồng trong việc giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt

Khóa luận đã đề xuất một số giải pháp về truyền thông và quản lí như: Giải pháp về công tác giáo dục và truyền thông, giải pháp lựa chọn phương tiện truyền thông và giải pháp về nội dung và hình thức giáo dục và truyền thông môi trường

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cùng với sự gia tăng dân số mạnh mẽ và sự hình thành, phát triển vượt bậc của các ngành nghề sản xuất trong thời gian qua, một mặt thúc đẩy phát triển Kinh tế – Xã hội của đất nước, mặt khác đã làm gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu, năng lượng và cũng làm gia tăng nhanh chóng lượng chất thải rắn phát sinh Chất thải rắn tăng nhanh chóng về số lượng, với thành phần ngày càng phức tạp đã và đang gây khó khăn cho công tác quản lý, xử lý

Bên cạnh đó, công tác quản lý, xử lý chất thải rắn ở nước ta thời gian qua chưa được áp dụng theo phương thức quản lý tổng hợp, chưa chú trọng đến các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải dẫn đến khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp cao, không tiết kiệm quỹ đất, tại nhiều khu vực chất thải chôn lấp ở các bãi chôn lấp tạm, lộ thiên, hiện đã và đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường Ngoài ra, công tác triển khai các quy hoạch quản lý chất thải rắn tại các địa phương còn chậm; việc huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng khu xử lý, nhà máy xử lý chất thải rắn còn gặp nhiều khó khăn; đầu tư cho quản lý, xử lý chất thải rắn còn chưa tương xứng; nhiều công trình xử lý chất thải rắn đã được xây dựng và vận hành, nhưng cơ sở vật chất, năng lực và hiệu suất xử lý thải rắn chưa đạt yêu cầu Chính vì vậy, hiệu quả đạt được trong công tác quản lý, xử lý chất thải có những hạn chế nhất định đồng thời việc xử lý chất thải rắn không đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về môi trường đã gây những tác động tổng hợp tới môi trường, sức khỏe cộng đồng và phát triển Kinh tế – Xã hội

Bãi rác phía Nam (thuộc địa bàn giáp ranh giữa 2 xã Nga Nhân và Nga Văn) cũng trong tình trạng tương tự với khối lượng rác thải từ các xã, thị trấn của huyện Nga Sơn tập kết hàng ngày về đây lên đến cả trăm tấn, cao điểm có lúc lên đến 160 tấn Sự quá tải tại bãi rác này đã trở nên “căng thẳng” hơn kể từ năm 2017 đến nay, kéo theo đó là tình trạng ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất của người dân xung quanh khu vực này Sự quá tải đã khiến bãi rác này không hợp vệ sinh khi hình thức chôn lấp là lộ thiên, việc thực hiện

Trang 11

đốt rác thải tại đây không thể theo kịp với sự gia tăng lượng rác thải; hệ thống thu gom, xử lý khí thải, cũng như rỉ nước thải, rác thải chưa đạt quy chuẩn, do vậy đã gây ô nhiễm môi trường cục bộ tại khu vực này Vì vậy, việc quản lý môi trường, đặc biệt là quản lý chất thải rắn sinh hoạt đang là vấn đề cấp bách Chất thải rắn chưa được thu gom và xử lý hiệu quả là nguyên nhân gây mất mỹ quan Xuất phát từ những lý do trên, khóa luận đã chọn đề tài: “Truyền thông

nâng cao nhận thức của cộng đồng về giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại

xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa” nhằm góp phần nâng cao hiệu

quả của hoạt động quản lý chất thải rắn tại khu vực nghiên cứu

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Một số vấn đề chung về chất thải rắn

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải rắn, một số thuật ngữ liên quan được giải thích như sau:

- Chất thải rắn (CTR) là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản

xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại

- Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) Chất thải rắn phát thải từ

hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt

động khác được gọi chung là chất thải rắn công nghiệp

- Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý,

đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người

1.1.2 Phân loại

Các nguồn phát sinh CTR bao gồm: Khu dân cư, khu thương mại, cơ quan công sở, công trình xây dựng và phá hủy, dịch vụ công cộng đô thị, nhà máy xử

lý chất thải, công nghiệp, nông nghiệp

Bảng 1 1 Các nguồn phát sinh chất thải rắn STT Nguồn phát sinh Nơi phát sinh Các dạng chất thải rắn

1 Khu dân cư Hộ gia đình, biệt thự,

chung cư

Thực phẩm dư thừa, giấy, can nhựa, thủy tinh, can thiếc, nhôm

2 Khu thương mại

Nhà kho, nhà hàng, chợ, khách sạn, nhà trọ, các trạm sửa chữa và dịch vụ

Giấy, nhựa, thực phẩm thừa, thủy tinh, kim loại, chất thải nguy hại

Trang 13

3 Cơ quan công sở Trường học, bệnh viện,

văn phòng cơ quan

Giấy, nhựa, thực phẩm thừa, thủy tinh, kim loại, chất thải nguy hại

4 Công trình xây

dựng và phá hủy

Khu nhà xây dựng mới sửa chữa nâng cấp mở rộng đường phố, san nền xây dựng

Gạch, bê tông, thép, gỗ, thạch cao, bụi,

5 Dịch vụ công cộng

đô thị

Hoạt động dọn rác vệ sinh đường phố, công viên, khu vui chơi giải trí, bãi tắm

Rác vườn, cành cây cắt tỉa, chất thải chung tại các khu vui chơi, giải trí

6 Nhà máy xử lý

chất thải

Nhà máy xử lý nước cấp, nước thải và các quá trình

xử lý chất thải công nghiệp khác

Bùn, tro

7 Công nghiệp

Công nghiệp xây dựng, chế tạo, công nghiệp nặng, nhẹ, lọc dầu, hóa chất, nhiệt điện

Chất thải do quá trình chế biến công nghiệp, phế liệu

và các rác thải sinh hoạt

8 Nông nghiệp

Đồng cỏ, đồng ruộng, vườn cây ăn quả, nông trại

Thực phẩm bị thối rữa, sản phẩm nông nghiệp thừa, rác, chất độc hại

(Nguồn: McGRAW-HILL, 1993)

1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khỏe cộng đồng, cảnh quan và môi trường

a Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khỏe cộng đồng và cảnh quan

Chất thải rắn (hay còn gọi là rác thải) khi thải vào môi trường gây ô nhiễm đất, nước, không khí Ngoài ra còn làm mất vệ sinh công cộng, làm mất mỹ quan môi trường Rác thải là nơi trú ngụ và phát triển lý tưởng của các loài gây bệnh hại cho người và gia súc [7]

Trang 14

Một trong những dạng chất thải nguy hại xem là ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và môi trường là các chất hữu cơ bền Những hợp chất này vô cùng bền vững, tồn tại lâu trong môi trường, có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản phẩm, thực phẩm, trong các nguồn nước mô mỡ của động vật gây ra hàng loạt các bệnh nguy hiểm đối với con người, phổ biến nhất là ung thư Đặc biệt, các chất hữu cơ trên được tận dụng nhiều trong trong đời sống hàng ngày của con người ở các dạng dầu thải trong các thiết bị điện trong gia đình, các thiết

bị ngành điện như máy biến thế, tụ điện, đèn huỳnh quang, dầu chịu nhiệt, dầu chế biến, chất làm mát trong truyền nhiệt [7]

Tại các bãi CTR lộ thiên, nếu không được quản lý tốt sẽ gây ra nhiều vấn

đề nghiêm trọng cho cộng đồng dân cư trong khu vực: gây ô nhiễm không khí, các nguồn nước, ô nhiễm đất và là nơi nuôi dưỡng các vật chủ trung gian truyền bệnh cho con người Một số vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, tồn tại trong chất thải có thể gây bệnh cho con người như bệnh: sốt rét, bệnh ngoài da, dịch hạch, thương hàn, phó thương hàn, tiêu chảy, giun sán, lao, [8]

Rác thải ảnh hưởng tới môi trường nhiều hay ít phụ thuộc vào khả năng thu gom và xử lý rác thải, mức độ hiểu biết và trình độ nhận thức của mỗi người dân

b Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường đất

Trong thành phần rác thảicó chứa nhiều chất độc, do đó khi rác thải được đưa vào môi trường thì các chất độc xâm nhập vào đất sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích cho đất như: giun, vi sinh vật, nhiều loài động vật không xương sống, ếch nhái…làm cho môi trường đất bị giảm tính đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng Đặc biệt hiện nay sử dụng tràn lan các loại túi nilon trong sinh hoạt và đời sống, khi xâm nhập vào đất cần tới 56-60 năm mới phân hủy hết và do đó chúng tạo thành các bức tường ngăn cách trong đất hạn chế mạnh đến quá trình phân hủy, tổng hợp các chất dinh dưỡng, làm cho đất giảm độ phì nhiêu, đất bị chua và năng suất cây trồng giảm sút [8]

c Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường nước

Theo thói quen của nhiều người thường đổ rác tại các bờ sông, hồ, ao, cống rãnh Lượng rác này sau khi bị phân hủy sẽ tác động trực iếp và gián tiếp đến

Trang 15

chất lượng nước mặt, nước ngầm trong khu vực Rác có thể bị cuốn trôi theo nước mưa xuống ao hồ, sông, ngòi, sẽ làm nguồn nước mặt ở đây bị nhiễm bẩn Nước ngấm xuống đất từ các chất thải được chôn lấp, các hố phân, nước làm lạnh tro xỉ, làm ô nhiễm nước ngầm

- Nước chảy khi mưa to qua các bãi chôn lấp, các hố phân, chảy vào các mương, rãnh, ao, hồ, sông, suối làm ô nhiễm nước mặt

Nước này chứa các vi trùng gây bệnh, các kim loại nặng, các chất hữu cơ, các muối vô cơ hoà tan vượt quá tiêu chuẩn môi trường nhiều lần.[8]

d Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường không khí

Nguồn rác thải từ các hộ gia đình thường là các loại thực phẩm chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ khối lượng rác thải ra Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mưa nhiều ở nước ta là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ phân hủy Các chất thải khí phát ra từ quá trình này thường là H2S, NH3, CH4, SO2, CO2

- CTR hữu cơ phân hủy tạo ra mùi và các khí độc hại như CH4, CO2,

NH3, gây ô nhiễm môi trường không khí

- Khí thoát ra từ các hố hoặc chất làm phân, chất thải chôn lấp chứa CH4,

H2S, CO2, NH3, các khí độc hại hữu cơ

- Khí sinh ra từ quá trình thu gom, vận chuyển, chôn lấp CTR chứa các vi trùng, các chất độc lẫn trong CTR.[8]

1.2 Hiện trạng quản lí chất thải rắn ở một số nước

Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt trung bình toàn cầu khoảng 0,74 kg/người/ngày, trong đó ở quốc gia thấp nhất là 0,11 kg/người/ngày, cao nhất là 4,54 kg/người/ngày Tổng khối lượng CTR đô thị phát sinh trên toàn cầu vào khoảng 2 tỷ tấn năm 2016, trong đó nhiều nhất là

ở khu vực Đông Á-Thái Bình Dương với 468 triệu tấn (~23%) và thấp nhất là Trung Đông và Bắc Phi với 129 triệu tấn (~6) Dự báo CTR đô thị sẽ tăng lên 2,59 tỷ tấn năm 2030 và 3,4 tỷ tấn năm 2050, trong đó tốc độ tăng nhanh nhất ở các khu vực châu Phi cận Sahara, Nam Á và Trung Đông Đối với các nước Châu Á, chôn lấp CTR vẫn là phương pháp phổ biến để tiêu hủy vì chi phí rẻ Trung Quốc và Ấn Độ có tỷ lệ chôn lấp tới 90% Tỷ lệ thiêu đốt chất thải của

Trang 16

Nhật Bản và Đài Loan (Trung Quốc) vào loại cao nhất, khoảng 60 - 80% Hàn Quốc chiếm tỷ lệ tái chế chất thải cao nhất khoảng trên 40%.[8]

Đối với chất thải hữu cơ, ủ phân compost là phương pháp tiêu hủy chủ yếu

Ấn Độ và Philippines ủ phân compost tới 10% lượng chất thải phát sinh Tại hầu hết các nước, tái chế chất thải đang ngày được coi trọng

Ở nhiều quốc gia Châu Âu và một số nước tiên tiến Châu Á đã quản lý chất thải rắn thông qua hoạt động phân loại nguồn, mang lại hiệu quả xử lý cao, đem lại lợi ích cao về kinh tế và môi trường Tại các nước như Đan Mạch, Anh, Hà Lan, Đức… việc phân loại rác thải tại nguồn được quản lý chặt chẽ và nền nếp.[8]

Singapore

Là một nước nhỏ, không có nhiều diện tích đất chôn lấp chất thải rắn như những quốc gia khác nên đã kết hợp xử lý chất thải bằng phương pháp đốt và chôn lấp Cả nước Singapore có 3 nhà máy đốt chất thải Những thành phần CTR không cháy được chôn lấp ở bãi chất thải ngoài biển Đảo – đồng thời là bãi chất thải Semakau với diện tích 350 ha, có sức chứa 63 triệu m3

chất thải, được xây dựng với kinh phí 370 triệu USD và hoạt động từ năm 1999 Tất cả CTR của Singapore được chất tại bãi này Mỗi ngày, hơn 2000 tấn chất thải được đưa ra đảo Dự kiến chứa được chất thải đến năm 2040 Bãi chất thải này được bao quanh bởi con đập xây bằng đá dài 7km, nhằm ngăn chặn sự ô nhiễm

ra xung quanh Đây là bãi CTR nhân tạo đầu tiên trên thế giới ở ngoài khơi và cũng đồng thời là khu du lịch sinh thái hấp dẫn của Singapore

Nhật Bản

Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau theo quy định: rác hữu cơ, rác vô cơ, giấy, vải, thủy tinh, rác kim loại Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lí rác thải để sản xuất phân vi sinh Các loại rác còn lại: giấy, vải thủy tinh, kim loại, được đưa đến cơ sở tái chế hàng hóa Tại đây rác được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và được chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh vào các chất hữu cơ và phân giải chúng một cách triệt để Sau quá trình xử lí đó, rác chỉ coi như một hạt cát mịn

Trang 17

Các cặn rác không còn mùi sẽ được đem nén thành các viên gạch lát vỉa hè rất xốp, chúng có tác dụng hút nước khi trời mưa.[8]

1.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn ở Việt Nam

Theo tiêu chuẩn Môi trường năm 2019 ở Việt Nam, lượng CTR sinh hoạt phát sinh khoảng khoảng 25,5 triệu tấn năm 2018, trong đó CTR sinh hoạt đô thị khoảng 38.000 tấn/ngày và CTR sinh hoạt nông thôn – khoảng 32.000 tấn/ngày CTR sinh hoạt ở các đô thị hiện chiếm hơn 50% tổng lượng CTR sinh hoạt của

cả nước và chiếm khoảng 60-70% tổng lượng CTR đô thị Dự báo lượng CTR sinh hoạt ở Việt Nam sẽ tăng lên 54 triệu tấn vào năm 2030 [3]

1.3.1 Trình tự ưu tiên các hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Trong mô hình canh tác kiểu truyền thống cộng với điều kiện kinh tế trước đây của nông thôn Việt Nam thì lượng rác thải sinh ra là rất nhỏ và hầu như được tận dụng hoàn toàn Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây, khi điều kiện kinh tế phát triển, lượng rác thải nông thôn tăng mạnh, cùng với đó là sự xuất hiện của túi nilon, là chất không phân hủy hay tái chế được, khiến tình hình rác thải ở nông thôn trở thành vấn đề nghiêm trọng Bên cạnh đó là sự gia tăng mạnh mẽ về dân số, tạo thêm một áp lực lớn cho vấn đề rác thải nông thôn Hiện nay, công tác quản lý rác thải sinh hoạt đặc biệt là rác thải sinh hoạt ở khu vực nông thôn chưa được quản lý chặt chẽ Chủ trương của tỉnh là tất cả các xã trong tỉnh đều phải quy hoạch địa điểm chôn lấp rác tập trung và thành lập đơn vị thu gom.[8]

Trang 18

(Nguồn: Dự án Cấp nước và vệ sinh Bình Định 2013)

Hình 1.1 - Trình tự ưu tiên quản lý chất thải rắn sinh hoạt

a Tiết giảm tại nguồn

Giảm thiểu chất thải rắn, là một trong những phần quan trọng để giảm ô nhiễm môi trường đồng thời là mục tiêu đầu tiên trong quản lý chất thải rắn đối với cơ quan quản lý Giai đoạn đầu của vấn đề giảm lượng chất thải rắn sinh hoạt là phải nhận thức được chất thải rắn sinh hoạt là CTR không mong muốn, không biết được trước quá trình trao đổi của nó ở trong vùng và những tác động

do chúng gây ra

b Tái sử dụng

Nhiều loại CTR được sử dụng lại mà không cần thêm kỹ thuật nâng cấp, tái chế Tận dụng CTR đã qua lần đầu sử dụng để có thể sử dụng nhiều lần tiếp theo Ví dụ như sử dụng nilon vẫn còn sạch để đựng vật dụng, đồ dùng nhựa, kim loại cũng có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau

Trang 19

c Tái chế, sản xuất phân compost

Việc tái chế rác thải không chỉ có ý nghĩa về mặt môi trường mà còn đem lại lợi ích về kinh tế Chúng làm giảm sự phụ thuộc của con người vào việc khai thác,

sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt Với lượng hữu cơ lớn trong RTSH (50-70%) thì đây sẽ là nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất phân vi sinh, một loại phân rất tốt cho cây trồng và thân thiện với môi trường Bên cạnh đó việc tái chế còn giúp chúng ta thu hồi các loại nguyên liệu như : nhựa, giấy, kim loại…, tránh lãng phí tài nguyên, ngăn ngừa được sự ô nhiễm

d Thiêu đốt, tận thu nhiệt

Thiêu đốt là quá trình xử lý chất thải ở nhiệt độ cao Thiêu đốt ở nhiệt độ cao chất thải được xử lý triệt để, đảm bảo loại trừ các độc tính, có thể giảm thiểu thể tích rác đến 90-95% và tiêu diệt hoàn toàn vi khuẩn gây bệnh Phương pháp này tận dụng nhiệt cho lò hơi, lò sưởi hoặc các lò công nghiệp và phát điện, chất thải được biến thành những chất trung gian có giá trị, có thể sử dụng để biến thành những vật liệu tái chế hoặc thu hồi năng lượng

Tuy nhiên, chôn lấp rác hiện nay đang gây ra nhiều vấn đề môi trường nếu không được quản lý và xử lý đúng phương pháp của bãi chôn lấp hợp vệ sinh như : hệ thống thu khí sinh học, che phủ lớp vật liệu, chống thám và xử lý nước

rỉ rác… Mặt khác, vấn đề lựa chọn địa điểm chôn lấp rác thải đang là vấn đề gặp nhiều khó khăn ở các nước do dân số ngày một tăng, quỹ đất ngày một hạn chế.[10]

Trang 20

1.3.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt hiện nay ở Việt Nam

Cùng với sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn

ra mạnh mẽ, chất thải rắn (CTR) đang gia tăng cả về khối lượng và chủng loại

Ở nước ta, công tác quản lý CTR còn nhiều bất cập như tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt nông thôn còn chưa cao; CTR sinh hoạt chưa được phân loại tại nguồn; tỷ

lệ tái chế còn thấp; phương thức xử lý chủ yếu là chôn lấp không hợp vệ

sinh…[2]

` Theo tiêu chuẩn môi trường năm 2019 lượng CTR sinh hoạt phát sinh ở Việt Nam hiện nay khoảng 25,5 triệu tấn/năm, trong đó CTR sinh hoạt đô thị khoảng 38.000 tấn/ngày và CTR sinh hoạt nông thôn - khoảng 32.000 tấn/ngày CTR sinh hoạt ở các đô thị hiện chiếm hơn 50% tổng lượng CTR sinh hoạt của

cả nước và chiếm khoảng 60-70% tổng lượng CTR đô thị Dân số tăng nhanh, trung bình 10-16 % mỗi năm

a Thu gom CTR

Đối với CTR sinh hoạt đô thị, tỷ lệ thu gom đã tăng từ 78% năm 2008 lên 85,5% năm 2017 Dịch vụ thu gom đã được mở rộng tới các đô thị loại V Một

số đô thị đặc biệt, đô thị loại I như Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng (có tỷ

lệ thu gom khu vực nội thành đạt 100%); riêng TP Hà Nội đạt khoảng 98% ở 12 quận và thị xã Sơn Tây Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn mới đạt khoảng 40-55% Tỷ lệ thu gom tại các vùng nông thôn ven đô hoặc thị trấn,

thị tứ đạt tỷ lệ cao hơn, khoảng 60-80%, còn tại một số nơi vùng sâu, vùng xa, tỷ

lệ thu gom chỉ đạt dưới 10%

Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt ở đô thị đạt khoảng

85,5% và ở nông thôn – khoảng 40-55% năm 2018, cao hơn mức bình quân của

các nước thu nhập trung bình thấp trên thế giới.[3]

b Tái chế

Năm 2018 tỷ lệ tái chế CTR sinh hoạt hiện vẫn còn thấp, khoảng 8-12%

CTR sinh hoạt đô thị và 3,24% đối với CTR sinh hoạt vùng nông thôn Một số

công nghệ tái chế chất thải như chế biến phân vi sinh, viên nhiên liệu hay đốt thu hồi năng lượng cũng đã được triển khai Cả nước hiện có khoảng 35 cơ sở

Trang 21

xử lý CTR bằng công nghệ ủ sinh học làm phân hữu cơ, điển hình như ở Hải Phòng, Nam Định, Hà Tĩnh, Ninh Thuận, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương Hoạt động tái chế phi chính thức ở các làng nghề được phát triển như tái chế nhựa ở Minh Khai (Hưng Yên), tái chế chì ở Chỉ Đạo (Hưng Yên), tái chế giấy ở Văn Phong (Bắc Ninh), tái chế chất thải điện tử ở Văn Môn (Bắc Ninh) , đang gây ô nhiễm môi trường.[3]

1.4 Một số vấn đề chung về truyền thông môi trường

a Khái niệm truyền thông và truyền thông môi trường

Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, ý tưởng, tình cảm, suy nghĩ,

thái độ giữ hai hoặc một nhóm người với nhau để đạt được sự hiểu biết lẫn nhau.[6]

Truyền thông môi trường là một công cụ quản lý quan trọng, cơ bản của

quản lý quan trọng, cơ bản của Quản lý môi trường Nó có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của người dân trong cộng đồng, từ đó thúc đẩy họ tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, và không chỉ tự mình tham gia mà còn lôi cuốn những người khác cùng tham gia,

để tạo ra kết quả có tính đại chúng [6]

Truyền thông môi trường không nhắm quá nhiều vào việc phổ biến thông tin mà nhằm vào việc chia sẻ nhận thức về một phương thức sống bền vững và khả năng giải quyết các vấn đề môi trường cho các nhóm người trong cộng đồng

xã hội.[6]

Trang 22

b Mục tiêu và nguyên tắc của truyền thông môi trường

Các mục tiêu cơ bản của các hoạt động truyền thông môi trường [6]

Đối với các chương trình TTMT mà đối tượng là cộng đồng với mục tiêu thay đổi hành vi đối với môi trường, thì các bước để đạt đến mục tiêu của truyền thông thường là:

+ Xây dựng nhận thức về vấn đề môi trường: kết quả đạt được ở bước này

là đối tượng truyền thông có nhận thức về vấn đề môi trường được đề cập mà trước đó chưa có nhận thức hoặc chưa lưu tâm

+ Tăng cường sự quan tâm về vấn đề môi trường: khi nhận thức về vấn đề

môi trường đã được thiết lập thì người ta sẽ quan tâm hơn khi nhận thêm thông tin về vấn đề đó

+ Thay đổi thái độ về vấn đề môi trường: khi đã có sự quan tâm, người ta

có thể thay đổi thái độ đối với vấn đề môi trường tại địa phương

+ Thay đổi hành vi có liên quan đến vấn đề môi trường đang được đề cập:

khi đã có thay đổi về thái độ, cần phải tạo cơ hội cho cộng đồng thay đổi hành vi sau đó

+ Củng cố thành tập quán ngay trong cộng đồng để giải quyết vấn đề môi

trường: hành vi cần được duy trì trong một thời gian dài để hình thành thói quen mới, trên cơ sở đó thành lập tập quán

Các nguyên tắc của truyền thông môi trường [6]

- Là mắt xích để gắn kết các vấn đề môi trường với quá trình hoạch định chính sách và sự tham gia của người dân

- Quan tâm tới lợi ích của đối tượng truyền thông

- Cách thức truyền thông cần phù hợp với đối tượng truyền thông (chẳng hạn như: đơn giản, cụ thể và phù hợp về văn hóa- xã hội

- Truyền thông có tính định hướng tới các vấn đề cần được giải quyết hay các nhu cầu của cộng đồng

- Tính tới chi phí-hiệu quả và có tính sáng tạo bằng cách sử dụng các cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, phương tiện truyền thông sẵn có ở địa phương hơn là dựa vào các sản phẩm truyền thông đắt tiền

Trang 23

- Trao quyền cho cộng đồng

- Có sự hợp tác giữa những người có trình độ khác nhau, chức năng khác

nhau (giữa các cấp chính quyền, các tổ chức, khu vực tư nhân, các cơ quan

nghiên cứu, các cơ quan truyền thông…)

- Kết hợp các kênh, phương tiện, sản phẩm truyền thông khác nhau

- Thử nghiệm trước các sản phẩm truyền thông trước khi được đưa vào sử

dụng chính thức

- Có sự hòa hợp giữa người truyền thông và cộng đồng

- Nhấn mạnh vào tính bền vững

c Vai trò của truyền thông trong việc nâng cao nhận thức

Truyền thông môi trường là một công cụ đặc biệt của quản lý môi trường

nhằm tạo ra một phong trào quần chúng rộng rãi tham gia bảo vệ môi trường,

hướng tới một lối sống mới, một đạo đức mới thân thiện với môi trường truyền

thông môi trường có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thái độ, hành

vi của con người trong cộng dồng, từ đó khuyến khích họ tự nguyện và có ý

thức tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường cũng như lôi cuốn người

khác tham gia

Công tác truyền thông môi trường trong cộng đồng là công tác rất quan

trọng, nhằm tạo cho cộng đồng tiếp nhận thông tin một cách đầy đủ về các khái

niệm môi trường từ đó, những thói quen, lối sống hòa hợp với môi trường và

đặc biệt là có những hoạt động tích cực trong việc giữ gìn và bảo vệ môi

trường.[6]

d Tầm quan trọng của truyền thông trong giáo dục môi trường cho cộng

đồng

Trong bảo vệ môi trường ta phải dùng nhiều loại công cụ khác nhau: pháp

chế, kinh tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, đạo đức và

giáo dục (hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả truyền thông) Giữa các công cụ đó,

giáo dục có vị trí ưu tiên hàng đầu, công cụ pháp chế, kinh tế không phải là xã

hội nào cũng sử dụng Công cụ về khoa học và công nghệ về tài nguyên và môi

trường không phải xã hội nào cũng đầy đủ Giáo dục môi trường với những trình

độ khác nhau thì tất cả các xã hội đều có thể thực hiện được Giáo dục môi

Trang 24

trường không chỉ có vị trí ưu tiên mà còn có tác dụng tổng quát vì bảo vệ môi trường với các công cụ pháp chế, kinh tế, khoa học và công nghệ cũng như văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, đạo đức đều phải thông qua giáo dục môi trường.[6]

1.5 Hoạt động truyền thông giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam

a Trên thế giới

- San Francisco (Mỹ) có một mục tiêu đầy tham vọng là “không thải” vào năm 2020 với việc tái chế tích cực Khoảng 55% chất thải được tái chế hoặc tái

sử dụng hiện nay tại thành phố này

- Nhật Bản quản lý CTR rất chặt chẽ Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải tự chịu trách nhiệm về lượng CTR của mình theo quy định các luật BVMT Ngoài ra, Chính quyền tại các địa phương còn tổ chức các chiến dịch “Xanh, sạch, đẹp” tại các phố, phường nhằm nâng cao nhận thức của người dân Chương trình này đã được đưa vào trường học và đạt hiệu quả [8]

b Ở Việt Nam

Ngày 12/7, tại Hà Nội, Trung ương Đoàn, Trung ương Hội Liên hiệp thanh

niên Việt Nam đã tổ chức họp báo giới thiệu Chiến dịch “Hãy làm sạch biển” năm 2018; phát động Cuộc thi thiết kế poster và sáng kiến “Hãy làm sạch biển – Giảm thiểu ô nhiễm rác thải sinh hoạt”

Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức buổi Toạ đàm trực tuyến với chủ đề: “Ô nhiễm rác thải và các giải pháp phát triển công nghệ điện rác tại Việt

Nam” ngày 29/5/2020 tại Thành Phố Đà Nẵng

Trung tâm Truyền thông tài nguyên và Môi trường trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa tổ chức Lễ phát động Cuộc thi GreenTech – sáng kiến, giải pháp, mô hình giảm thiểu và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên toàn quốc trong hai năm 2019 - 2020 Cuộc thi đã thu hút rất nhiều các bạn sinh viên tại Hà Nội quan tâm Cuộc thi Greentech – Sáng kiến, giải pháp và mô hình giảm thiểu và xử lý chất thải rắn sinh hoạt là một cuộc thi giúp ý tưởng của bạn kết nối với cộng đồng, biến nó thành hành động giúp cải thiện môi trường.[8]

Trang 25

1.6 Tình hình nghiên cứu về hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại

xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Trước tình hình nước thải, rác thải làm ô nhiễm môi trường, gây bức xúc trong nhân dân; địa phương đã nhiều lần kiểm tra, ký cam kết, lập biên bản xử lý các hộ gây ô nhiễm môi trường và có chủ trương xây dựng lò đốt rác tập trung Được sự hỗ trợ của UBND tỉnh, UBND huyện đến năm 2016 lò đốt rác tập trung của xã đã đi vào hoạt động đã gần như chấm dứt được tình trạng vứt rác bừa bãi

ra khu dân cư.[12]

Xác định công tác bảo vệ môi trường là vô cùng quan trọng, một trong những vấn đề sống còn của nhân loại, là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống cho nhân dân, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế

xã hội và phát triển kinh tế của địa phương; từ đó cấp ủy, chính quyền địa phương đã thường xuyên quán triệt nâng cao hơn nữa trách nhiệm của từng cán

bộ từ xã xuống thôn trong công tác tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành

và thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường để toàn thể cán bộ và nhân dân hiểu được, biết được giá trị của môi trường đối với con người; trước mắt tập trung vào việc xử lý rác thải sinh hoạt; vì vậy ngoài việc tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh, tuyên truyền ở các hội nghị, UBND xã còn chỉ đạo bằng hình thức kẻ các khẩu hiệu tường và tham mưu cho Đảng ủy xã chỉ đạo lấy Hội phụ

nữ làm nòng cốt trong việc thu gom rác thải, quét dọn đường làng ngõ xóm vào ngày 24 hàng tháng.[12]

1.6.1 Về công tác thu gom xử lý rác thải sinh hoạt

Công tác thu gom xử lý rác thải sinh hoạt là nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt

là việc tìm người làm công tác thu gom rác vì thu nhập hàng tháng không cao và còn ảnh hưởng đến sức khỏe

Tại lò đốt tập trung UBND xã đã ký hợp đồng với 2 người trực tiếp quản

lý, trông coi và xử lý rác thải của các tổ chuyển đến; người quản lý được trang bị đầy đủ phương tiện, dụng cụ và bảo hộ lao động phục vụ cho công tác xử lý rác thải UBND xã chi trả công cho 2 người xử lý rác mỗi tháng là 7.000.000 đồng UBND xã đã họp với người những thu gom vận chuyển rác ở các thôn và người quản lý vận hành lò đốt rác tập trung để quán triệt đồng thời chia lịch thời gian theo thứ trong tuần cho các tổ vận chuyển rác đến lò đốt để lượng rác được

Trang 26

rải đều trong tuần, không gây ùn ứa, xử lý không kịp Vì vậy công tác vận chuyển và xử lý rác thải tại lò đốt của xã rất nhịp nhàng, khuôn viên lò đốt sạch

sẽ, không gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.[12]

Hình ảnh chi tiết được thể hiện ở phần phụ lục II

1.6.2 Công tác truyền thông giảm thiểu chất thải rắn tại địa phương

Hội Phụ nữ huyện Nga Sơn thực hiện điểm mô hình “Nhà sạch, vườn đẹp, ngõ văn minh” tại xã Trường Sơn - xã đang trong lộ trình xây dựng nông thôn mới nâng cao, thu hút 40 hộ tham gia Để mô hình hoạt động hiệu quả, Huyện hội đã trao 80 thùng đựng rác, 500 nghìn đồng/hộ cho các hộ thực hiện mô hình

để phân loại rác thải hữu cơ, vô cơ, làm ống nước, đồng thời tặng 74 chiếc làn nhựa cho các hộ tham gia mô hình và người dân với thông điệp: Hãy chung tay bảo vệ môi trường bằng những việc làm thiết thực Cùng với đó, Hội LHPN huyện tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về tác hại của chất thải nhựa, túi nilon đối với xã hội, môi trường và sức khỏe con người; ra quân bảo vệ môi trường, chống rác thải nhựa tại địa bàn dân cư; tăng cường sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường

Tại địa phương, các cấp chính quyền đã tiến hành các chương trình truyền thông về giảm thiểu rác thải sinh hoạt nhưng mới chỉ thực hiện trên lý thuyết

Về thực tế thì chỉ có số ít nhà trong toàn xã thực hiện việc phân loại rác tại gia đình trước khi thải ra bãi rác tập trung.[12]

Trang 27

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

+ Đề xuất được giải pháp truyền thông nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lí và giảm thiểu chất thải rắn tại khu vực nghiên cứu

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Cộng đồng dân cư tại xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Tìm hiểu nguồn phát sinh và thành phần CTRSH,

- Tìm hiểu khối lượng phát thải phát sinh hằng ngày tại xã Nga Văn

- Nghiên cứu công tác phân loại, thu gom CTRSH tại xã Nga Văn

+ Các hình thức phân loại CTR

+ Thu gom CTR

+ Địa điểm thu gom, phương tiện thu gom

- Các biện pháp xứ lý CTRSH tại địa bàn xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Trang 28

- Đánh giá nhận thức và ý thức của người dân trong vấn đề bảo vệ môi

trường nói chung và công tác thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH nói riêng

2.3.2 Xây dựng và thực hiện chương trình truyền thông về giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn cho người dân tại khu vực nghiên cứu

*Poster

Poster được thiết kế theo 4 nội dung như sau:

+ Nội dung 1: Xác định vấn đề và phân tích đối tượng truyền thông

+ Nội dung 2: Xác định mục tiêu và lập kế hoạch truyền thông

+ Nội dung 3: Tạo ra sản phẩm truyền thông

+ Nội dung 4: Thực hiện phản hồi truyền thông

Poster được thiết kế với kích thước 80x100cm Đề tài thiết kế Poster với nội dung thông điệp “Việc làm nhỏ - ý nghĩa lớn” với nội dung dễ hiểu, dễ tiếp cận với cộng đồng Hình ảnh trên poster được thể hiện là hình ảnh một em bé và hai người lớn Trong tay mỗi người cầm những túi rác thải và đang đi ra những chiếc thùng rác đã được phân loại để vứt bỏ rác Và trên bốn chiếc thùng bốn màu khác nhau có ghi tên, màu sắc, và kí hiệu như sau:

+ Thùng màu xanh lá cây: Rác thải hữu cơ

+ Thùng màu xanh nước biển: Rác thải khó phân hủy

+ Thùng màu vàng: Rác thải vô cơ

+ Thùng màu đỏ: Rác thải nguy hại

- Thử nghiệm sản phẩm: Sản phẩm được thử nghiệm tại xã Nga Văn

- Thực hiện truyền thông: Treo poster từ ngày 22/4/2020 đến ngày 25/5/2020

- Đánh giá hiệu quả: đề tài thực hiện phỏng vấn cộng đồng khi kết thúc chương trình thực hiện truyền thông để đánh giá hiệu quả của poster

* Tờ rơi

- Thiết kế sản phẩm: tờ rơi được thiết kế bằng khổ A4 có thể gấp được với kích cỡ 297mm, chiều rộng 210mm Tờ rơi được thiết kế 2 măt gồm: tờ rơi mặt trong và tờ rơi mặt ngoài

- Nội dung thông điệp: nói về cách phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, giảm thiểu rác thải và bảo vệ môi trường bằng những hành động ý nghĩa

Trang 29

+ Tờ rơi mặt ngoài có nội dung “Phân loại rác tại nguồn” trong tờ rơi này làm rõ mục tiêu và lợi ích của việc phân loại rác tại nguồn Bên cạnh đó đưa ra cách phân loại chất thải rắn sinh hoạt một cách phù hợp và hợp lí

+ Tờ rơi mặt trong “ Hãy sống xanh - hành động xanh vì môi trường”

- Thử nghiệm sản phẩm: Sản phẩm được thử nghiệm tại xã Nga Văn

- Thực hiện truyền thông: phát tờ rơi vào thứ 5 và chủ nhật hàng tuần ngày 22,26,29 tháng 4 và ngày 2,5,9,16,23 tháng 5 năm 2020

- Đối tượng tiếp nhận sản phẩm truyền thông: cộng đồng dân cư xã Nga Văn

2.3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu

- Giải pháp tuyên truyền, giáo dục truyền thông

- Giải pháp về lựa chọn phương tiện truyền thông

- Giải pháp về nội dung và hình thức

- Giải pháp về nhân lực thực hiện truyền thông

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu

Phương pháp này được sử dụng nhằm giảm tải khối lượng công việc trong quá trình thu thập số liệu, đồng thời xác minh thu thập thông tin thực địa từ điều tra có sẵn

Dựa trên cơ sở kế thừa tài liệu và chọn lọc các nghiên cứu trước đây, các nguồn thông tin tham khảo để đưa vào báo cáo các tài liệu liên quan tới khóa luận thông qua nhiểu nguồn khác nhau như: internet, sách báo, tạp chí, số liệu của bệnh viện, khóa luận tốt nghiệp, các QCVN hiện hành,…

Đối với nội dung 1 (2.3.1) phương pháp kế thừa số liệu được sử dụng nhằm thu thập được các thông tin có ích, hiểu được phần nào hiện trạng CTRSH tại địa bàn nghiên cứu, từ đó đánh giá được một cách khách quan nhất về hiện trạng CTRSH tại xã Nga Văn

Đối với nội dung 3 (2.3.3) phương pháp kế thừa số liệu được sử dụng để trên cơ sở các biện pháp đã có, đề tài sẽ đưa ra thêm các biện pháp khác nhằm đạt hiệu quả tối ưu cho công tác quản lý CTRSH tại địa bàn nghiên cứu

Trang 30

2.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa

Phương pháp khảo sát thực địa là phương pháp thu nhận thông tin giữa các

chủ thể và đối tượng nghiên cứu nhằm hiểu rõ hoàn cảnh thực tế của đối tượng

cần nghiên cứu

Phương pháp này giúp kiểm chứng lại số liệu kế thừa, bổ sung thêm số liệu cần

thiết phục vụ cho nội dung nghiên cứu Đây là phương pháp rất cần thiết và quan

trọng đòi hỏi mức độ nhiệt tình cao, ghi chép cẩn thận và đầy đủ, nghiêm túc

Đối với nội dung 1 (2.3.1) sử dụng phương pháp điều tra khảo sát thực địa

để xác định các thông tin sau:

- Quá trình thu gom CTRSH của xã Nga Văn, huyện Nga Sơn

Rác thải sinh hoạt từ các hộ gia đình sau khi đã sử dụng được gom lại theo

từng hộ, mỗi nhà có cách phân loại và vứt bỏ riêng biệt Rác thải sau khi

được thải bỏ mang ra điểm tập kết để công nhân vệ sinh dễ dàng thu gom

- Quá trình vận chuyển CTRSH của xã Nga Văn, huyện Nga Sơn

Rác thải sau khi được thu gom tại các địa điểm tập kết trên trục đường lớn,

xe của công ty vệ sinh môi trường sẽ đến thu gom và đưa đến bãi rác tập kết trên

địa bàn huyện Nga Sơn

- Quá trình xử lý CTRSH của xã Nga Văn, huyện Nga Sơn

Rác thải được mang đến bãi rác lớn, tại đây công nhân môi trường tiến

hành phân loại lại Chất thải dễ phân hủy mang đi đổ Rác thải khó phân

hủy chôn lấp, một phần khác mang đi thiêu dốt với nhiệt độ 70%, lượng rác

thải thiêu đốt này chiếm khoảng 65% tổng lượng rác thải trên địa bàn xã

- Khảo sát, thu thập số liệu tại xã Nga Văn, huyện Nga Sơn

Tiến hành khảo sát điều tra bảng bảng câu hỏi phỏng vấn theo hộ gia đình

và dùng mẫu biểu để ghi chép lại

2.4.3 Phương pháp khảo sát bằng phiếu phỏng vấn

Khóa luận sử dụng phương pháp khảo sát bằng phiếu phỏng vấn nhằm thực

hiện các nội dung: Nội dung 1 (2.3.1), nội dung 2 (2.3.2), nội dung 3 (2.3.3)

Phương pháp khảo sát bằng phiếu phỏng vấn bao gồm đầy đủ các câu hỏi

trong phiếu Và tiến hành phỏng vấn theo từng hộ gia đình sẽ sử dụng một phiếu

Trang 31

bảng hỏi Số đợt phỏng vấn chia làm 3 đợt khác nhau phục vụ cho các nội dung phỏng vấn nhƣ sau

Từ ngày 12/3/2020 đến ngày 17/3/2020

Thử nghiệm sản phẩm truyền thông nâng cao nhận thức về giảm thiểu và phân loại chất thải rắn sinh hoạt

Poster

Từ ngày 24/4/2020 đến ngày 25/5/2020

Tờ rơi

Nhận thức của cộng đồng sau khi tiến hành truyền thông giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt

Từ ngày 26/5/2020 đến ngày 2/6/2020

Trang 32

Với cả 3 nội dung trên, khóa luận sử dụng phương pháp khảo sát bằng phiếu phỏng vấn cụ thể như sau:

Phát phiếu điều tra: Điều tra 50 hộ gia đình theo tiêu chí ngẫu nhiên

Bảng 2 1 Hiện trạng và công tác quản lý rác thải

Cách phân loại của người dân tại nhà

Tần suất thu gom rác (lần/tuần)

Phương tiện thu gom

Hình thức

xử lý rác tập trung

có không

Trang 33

Bảng 2 2 Khảo sát nhận thức của cộng đồng về chất thải rắn sinh hoạt và giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt trước

khi tiến hành truyền thông

STT

Chủ

hộ

Lượng rác phát sinh

từ hoạt động nào

Người dân hiểu chất thải rắn sinh hoạt

là gì

Người dân có phân biệt được từng loại rác không

Chất thải rắn sinh hoạt có gây ô nhiễm môi tường không

Tầm quan trọng của việc phân loại và giảm thiểu CTRSH

Mức độ tham gia hoạt động phân loại và giảm thiểu CTRSH

Có nên giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt thay vào

sử dụng

và tái chế không

Phương pháp giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt

có không có không

Rất quan trọng

Quan trọng

Không quan trọng

Thường xuyên

Thi thoảng

Không bao giờ

có không

Trang 34

Bảng 2 3 Kết quả thử nghiệm sản phẩm truyền thông nâng cao nhận

thức về giảm thiểu và phân loại chất thải rắn sinh hoạt

Ông/bà có hiểu nội dung tờ rơi/

poster không?

Có câu nào trên tờ rơi/poster ông/bà thấy khó hiểu không?

Ông/bà có hài lòng về thông điệp trên tờ rơi/poster không?

Bảng 2 4 Nhận thức của cộng đồng sau khi tiến hành truyền thông

giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt

STT Chủ hộ

Lượng rác thải sinh hoạt trong gia đình có giảm không

Gia đình đã biết cách phân loại chất thải rắn sinh hoạt chưa

Gia đình đã tận dụng, tái chế và sử dụng lại chất thải nào

Gia đình thấy cách làm đó có phù hợp hay không

2.4.4 Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu

Đối với nội dung 3 (2.3.2) sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp số liệu

để so sánh, nhận xét, đánh giá và đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn nghiên cứu

2.4.5 Phương pháp thực nghiệm

Chương trình truyền thông nâng cao nhận thức về giảm thiểu và phân loại CTRSH được thực hiện dựa trên cơ sở phân tích những đặc điểm của hoạt động sinh hoạt của người dân tại khu vực nghiên cứu và đánh giá nhận thức của họ đối với việc bảo vệ môi trường sống của mình, từ đó nghiên cứu và thiết kế sản

Trang 35

phẩm truyền thông phù hợp với đối tượng Chương trình truyền thông được thực hiện qua 4 giai đoạn:

* Giai đoạn 1: Xác định vấn đề

- Bước 1: Phân tích tình hình và xác định vấn đề

Xác định hiện trạng môi rường tại khu vực nghiên cứu

Phương pháp được sử dụng trong bước này là:

+ Thu thập và kế thừa tài liệu thứ cấp

+ Khảo sát thực địa

+ Điều tra xã hội học

- Bước 2: Phân tích đối tượng truyền thông

Phân tích đối tượng truyền thông nhằm xác định mức độ tác động của từng nhóm đối tượng đến môi trường từ đó có các hoạt động truyền thông phù hợp với tùng đối tượng

Phương pháp phân tích đối tượng

+ Tiến hành khảo sát thực địa nhằm đánh giá tổng quát các đối tượng

+ Phân tích nhận thức: thái độ- hành vi của đối tượng thông qua điều tra xã hội học (bảng phỏng vấn)

- Bước 3: Xác định mục tiêu truyền thông

Mục tiêu phải nhằm vào nâng cao nhận thức, tác động đến thái độ, làm thay đổi hành vi tiêu cực của nhóm đối tượng truyền thông trong việc giữ gìn bảo vệ môi trường

* Giai đoạn 2: Lập kế hoạch truyền thông

- Bước 4: Lập kế hoạch thực hiện

Để có thể xây dựng được chương trình truyền thông phù hợp cần: nêu ra những nguồn lực cần thiết trong kế hoạch thực hiện

- Bước 5: Lựa chọn các phương tiện truyền thông

Lựa chọn phương tiện truyền thông nhằm xác định ưu và nhược điểm của các phương tiện truyền thông, sự mong muốn của các đối tượng đối với loại hình truyền thông để lựa chọn phương tiện truyền thông thích hợp

Trang 36

* Giai đoạn 3: Tạo sản phẩm truyền thông

- Bước 6: Thiết kế thông điệp truyền thông

Thông điệp truyền thông chính là sản phẩm cuối cùng sẽ được tể hiện trong sản phẩm truyền thông Do đó, vai trò của thông điệp là thể hiện một phần mục tiêu của chương trình truyền thông, dựa vào thông điệp, đối tượng truyền thông thấy được thông tin mà những người làm chương trình truyền thông muốn gửi đến họ, góp phần làm thay đổi thái độ đối với vấn đề đang được đề cập đến và cuối cùng là thay đổi hành vi của bản thân

- Bước 7: Sản xuất và thử nghiệm sản phẩm truyền thông

+ Sản xuất sản phẩm truyền thông

Sản xuất sản phẩm truyền thông cần có kế hoạch để sản xuất sản phẩm đúng thời gian, thực hiện kết hợp các phương tiện truyền thông

+ Thử nghiệm sản phẩm truyền thông

Cần tiến hành thử nghiệm sản phẩm truyền thông tại khu vực nghiên cứu với sự tham gia của đối tượng truyền thông, đánh giá được sản phẩm truyền thông có độ tin cậy hay không, có tác động tới sự thay đổi hành vi không

* Giai đoạn 4: Thực hiện và phản hồi

- Bước 8: Thực hiện truyền thông

Cần ấn định thời gian và địa điểm thích hợp để thực hiện các hoạt động truyền thông

- Bước 9: Giám sát, đánh giá và tư liệu hóa

Giám sát cần tiến hành liên tục trong suốt quá trình thực hiện các hoạt động truyền thông

Đánh giá khi kết thúc chương trình truyền thông để ước lượng về tính hiệu quả và bền vững của chương trình

Xây dựng và thực hiện chương trình truyền thông:

Thực hiện chương trình truyền thông sử dụng phương tiện :Poster và tờ rơi Mục tiêu: nội dung truyền thông được nêu lên trên tờ rơi và poster nhằm nâng cao nhận thức của người dân địa phương có ý thức tự giác trong việc giảm thiểu CTRSH

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w