LỜI CẢM ƠN Được sự đồng ý của Khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường trường Đại học Lâm nghiệp tôi đã thực hiện đề tài “Phân tích các nguyên nhân gây ngập lụt cho quận Cầu Giấy thàn
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi đưới
sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Xuân Dũng
Các số liệu, kết quả trong nghiên cứu là trung thực đảm bảo tính khách quan, khoa học, dựa trên kết quả khảo sát thực tế Các số liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2019
Sinh Viên
Đỗ Thị Hoài Vân
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường trường
Đại học Lâm nghiệp tôi đã thực hiện đề tài “Phân tích các nguyên nhân gây
ngập lụt cho quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội trong quá trình đô thị hóa”
Trong quá trình làm đề tài này tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy, cô, các cơ quan, đơn vị, bạn bè và gia đình
Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo, PGS.TS Bùi Xuân Dũng, người thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài
Qua đây cũng cho phép tôi xin trân trọng cảm ơn Trung tâm Khí tượng thủy văn Trung ương đã cung cấp số liệu để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã cố gắng hết sức, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi thiếu sót, tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô
và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2019
Sinh Viên
Đỗ Thị Hoài Vân
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Phần 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
2.1 Tính khoa học và thực tiến của đề tài 2
2.2 Tổng quan về vấn đề ngập lụt 2
2.3 Tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan ngập lụt đô thị 7
Phần 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 11
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
3.3 Nội dung nghiên cứu 11
3.4 Phương pháp nghiên cứu 11
Phần 4 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 17
4.1.Đặc điểm tự nhiên 17
4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 19
Phần 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
5.1 Hiện trạng ngập lụt tại Cầu Giấy 26
5.2 Phân tích nguyên nhân ngập của một số điểm ngập tại thành phố Hà Nội 29 5.2.1 Nguyên nhân khách quan 29
5.2.2 Các nguyên nhân chủ quan 31
5.3 Đề xuất một số giải pháp 38
Phần 6 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 44
6.1 KẾT LUẬN 44
6.2 TỒN TẠI 44
6.3 KIẾN NGHỊ 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ BIỂU
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Bảng tính toán hệ số dòng chảy mặt của từng điểm điều tra 15
Bảng 4.1 Dân số trung bình Quận Cầu Giấy giai đoạn 2005 – 2010 19
Bảng 4.2 Tỷ trọng các ngành kinh tế trên địa bàn Quận 21
giai đoạn 2005 – 2010 21
Bảng 5.1 Thống kê mực ngập bình quân của một số trận mưa lớn 28
tại Hà Nội 28
Bảng 5.2 Ngày mưa lớn nhất trong năm của các trận mưa theo thời gian xuất hiện của quận Cầu Giấy 33
Bảng 5.3 Khả năng thoát nước của các điểm điều tra 34
Bảng 5.4 Lưu lượng nước ngập của các điểm điều tra 36
Bảng 5.5 Thời gian ngập của điểm điều tra 37
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Mô tả cách khoanh vẽ diện tích cung cấp nước 13
Hình 3.2 Mô phỏng công thức đánh giá dòng chảy mặt tập trung lớn nhất cho từng trận mưa theo phương pháp Rational 14
Hình 3.3 Mô phỏng công thức tính toán thủy lực của Manning 16
Hình 3.4 Một số hình ảnh điều tra thực địa 16
Hình 4.1: Vị trí của quận Cầu Giấy 17
Hình 5.1 Số điểm ngập thường xuyên của thành phố Hà Nội giai đoạn 2014 – 2018 26
Hình 5.2 Biến động điểm ngập của thành phố Hà Nội 27
năm 2016, 2017 và 2018 27
Hình 5.3 Thi công cống thoát trên phố Phan Văn Trường 27
Hình 5.4 Ngập sâu ở phố Hoa Bằng ngày 30/4/2019 28
Hình 5.5 Bản đồ địa hình thành quận Cầu Giấy 29
Hình 5.6 Lượng mưa bình quân năm quận Cầu Giấy từ năm 1994 đến 2018 30
Hình 5.7 Diện tích hai loại hình sử dụng đất quận Cầu Giấy năm 2010 và 2015 31
Hình 5.8 Sự biến động ao, hồ tại quận Cầu Giấy giai đoạn 2010 - 2015 32
Hình 5.9 Đường cong tần số của các trân mưa theo thời gian xuất hiện của quận Cầu Giấy 32
Hình 5.10 Vị trí các điểm điều tra 33
Hình 5.11 Sơ đồ hệ thống thoát nước tại các điểm điều tra 34
Hình 5.12 Khả năng thoát nước của các điểm điều tra 35
Hình 5.13 Lưu lượng ngập của các điểm điều tra theo thực tế 36
Hình 5.14 Thời gian ngập tại phố Hoa Bằng 38
Hình 5.15 Thời gian ngập tại phố Trần Bình 38
Hình 5.16 Biện pháp tăng của thu nước để giảm ngập lụt 40
Hình 5.17 Xếp gạch kết hợp với trồng cỏ cho bãi đỗ xe 41
Hình 5.18 Sử dụng gạch xếp và sỏi làm vỉa hè để tăng tính thấm cho đô thị 42
Hình 5.19 Đường hầm chứa nước thông minh ở Kuala Lumpur – Malaysia 42
Hình 5.20 “Mái nhà xanh” ở khu đô thị Culemborg, Gelderland, Hà Lan 43
Trang 6Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Đô thị hóa là xu hướng tất yếu của một nền kinh tế phát triển Tuy nhiên,
đi đôi với quá trình đô thị hóa là các ảnh hưởng làm biến đổi môi trường tự nhiên Việc sử dụng đất để xây dựng các công trình nhà cửa, đường xá, khiến quỹ đất tự nhiên ngày càng bị thu hẹp thay vào đó là diện tích đất đai bị bê tông hóa Rất nhiều sông hồ bị lấp, kênh mương thì bị lấn chiếm, các nhà cao tầng mọc lên san sát thay thế các khu đất trống làm giảm diện tích thoát nước tự nhiên cũng như khả năng thấm, tăng thời gian nước chảy tràn trên bề mặt Nó đang trở thành vấn đề nóng của mọi thành phố đô thị to nhỏ trên khắp thế giới
Cầu Giấy nằm ở cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà Nội, là một trong những khu phát triển chính của thành phố Hệ thống thoát nước quận Cầu Giấy lưu vực sông Tô Lịch – Hà Nội là một phần quan trọng trong toàn bộ hệ thống thoát nước chung thành phố Hà Nội
Trong những năm gần đây do quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tốc độ
đô thị hoá nhanh, nhiều dự án lớn đã đang triển khai và sắp triển khai Nhiều khu đô thị, khu dân cư hình thành nhanh chóng kéo theo sự thay đổi về nhu cầu thoát nước trong khu vực Các khu đô thị, khu dân cư mới hình thành làm thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp, san lấp nhiều ao hồ, đồng ruộng, làm giảm khả năng trữ nước, chôn nước dẫn đến làm tăng hệ số tiêu nước Mỗi khi mưa lớn đều xuất hiện tình trạng ngập úng cục bộ tại một số khu vực trong quận gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sinh hoạt của người dân cũng như nhiều hoạt động khác
Vì vậy việc “Phân tích các nguyên nhân gây ngập lụt cho quận Cầu
Giấy thành phố Hà Nội trong quá trình đô thị hóa” là hết sức cần thiết và có ý
nghĩa thực tiễn
Trang 7Phần 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Tính khoa học và thực tiến của đề tài
Ý nghĩa khoa học:
Đề tài xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn đáng tin cậy làm cơ sở khoa học cho cơ quan quản lý nhà nước hoạch định các chính sách, và giải pháp trống ngập trên thế giới vào điều kiện thực tế nước ta hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn:
Việc nghiên cứu, đánh giá hiện trạng ngập lụt đô thị tại thành phố giúp cho ta hiểu được bản chất của việc ngập lụt, nguyên nhân chủ yếu từ đó đưa ra các chính sách và giải pháp hợp lý để giải quyết vấn đề trên
2.2 Tổng quan về vấn đề ngập lụt
Đô thị hóa:
Trên quan điểm một vùng: Đô thị hoá là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị
Trên quan điểm kinh tế quốc dân: Đô thị hoá hoá là một quá trình biến đổi
về sự phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo chiều sâu
Tóm lại, đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số
Lũ lụt:
Là hiện tượng nước sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó giảm dần Lụt có thể do nước từ các sông, hồ tràn ra khu vực lân cận khi lương nước vượt quá sức chứa của chúng hay do nước từ các dòng sông tràn ra vùng đất lân cận khi cường độ dòng nước quá lớn Hiện tượng này thường sảy ra tại các chỗ phân nhánh sông hay những đoạn sông quanh co
Trang 8Ngập lụt đô thị:
Hiện nay có một khái niệm còn khá mới nhưng cũng đang là một vấn
đề được bàn luận nhiều trong những năm gần đây đó là ngập lụt đô thị, hiện tượng ngập tràn nước trong khu vực đô thị Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến ngập lụt đô thị đặc biệt là vấn đề quy hoạch xây dựng và hệ thống thoát nước Với sự tập trung dân số đông và các ngành nghề đa dạng, ngập lụt đô thị luôn gây ra những hậu quả to lớn hơn so với những tính toán ngập lụt ở những vùng
nông thôn
Ngập lụt đô thị ở Việt Nam
thị”, đặt chính quyền đối diện với rất nhiều vấn đề phát sinh khó giải quyết: tắc nghẽn giao thông, ngập nước nội thành, thiếu nhà ở, ô nhiễm khói bụi, quá tải dân số Việc phát triển đô thị mà không tính toán giải quyết triệt để các vấn đề phát sinh thì dù có mang lại hiệu quả kinh tế trước mắt nhưng sẽ là “tăng trưởng âm” nếu tính toán đến những giá trị về văn hóa, tinh thần, môi trường đời sống
bị mất đi mà không thể khắc phục được Trong những hậu quả của quá trình tăng trưởng kinh tế thì ngập lụt trong các khu vực đô thị ở Việt Nam cũng đang dần gia tăng
Các thành phố, thị xã trong cả nước và khu vực ở Việt Nam hầu hết nằm
ở trong lưu vực các con sông lớn, có mạng lưới sông rạch chằng chịt Những năm gần đây, cùng với tốc độ đô thị hóa diễn ra khá nhanh, sự bùng nổ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và đặc biệt là sự gia tăng dân số cơ học đã làm cho khối lượng chất thải, nước thải vào môi trường ngày một nhiều hơn Do mặt đất đã bị cứng hoá do xây đường sá, nhà cửa, khả năng thoát úng tự nhiên của đất trong các đô thị thấp hơn hẳn so với nông thôn Theo Nguyễn Thị Thu Trang (2009) các đô thị với bề mặt đất bị cứng hoá từ 75% đến 100% chỉ có khả năng tự thoát bằng một phần năm so với đất tự nhiên Hơn một nửa lượng nước mưa sẽ biến thành nước chảy tràn Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến nạn ngập nước đô thị ngày càng trở nên đáng báo động
Trang 9Tuy các khu vực đô thị đã được triển khai nhiều giải pháp khắc phục nhưng cũng mới chỉ mang tính cục bộ do chưa nắm vững được bản chất vật lý của khu vực bị ngập nước cũng như tính mất cân bằng của lưu vực trong quá trình đô thị hóa Những nhà cao tầng được xây mà lại không không xây dựng hồ điều hòa, không căn cứ trên lưu vực trên khoa học lưu vực và giải quyết những
vấn đề đô thị ngập triều
Ngập lụt Hà Nội
Theo Tổng cục thống kê năm (2018), sau khi được mở rộng, với khoảng 8,2 triệu dân và diện tích 3.334 km2 , quy hoạch hạ tầng, nhất là các lĩnh vực giao thông, cấp - thoát nước của Hà Nội trở nên quá tải và không còn phù hợp Theo Nguyễn Thủy (2018), trong cơn “đại hồng thủy” năm 2008, Hà Nội đã gây ngập úng trên diện rộng, thiệt hại lớn về người và của Một nguyên nhân quan trọng dẫn đến trận ngập lụt này là do hệ thống công trình thoát nước đầu tư chưa đồng bộ, chiều dài của cống vẫn còn thấp, mới chỉ đáp ứng được 60% diện tích nền đường, tương đương 0,2m cống trên một người dân (thế giới là 2m cống trên một người dân), nhiều tuyến cống được xây dựng từ thời thuộc Pháp nên xuống cấp trầm trọng, không tiêu thoát được Đặc biệt, một số tuyến phố lại có cốt đường thấp hơn nhà dân từ 60 - 80 cm nên mưa xuống nước là gây ngập úng Với những trận mưa lên đến 600mm, thì không chỉ Hà Nội mà một số thành phố lớn trên thế giới cũng không tránh được ngập Toàn bộ hệ thống thoát nước trên địa bàn Hà Nội quá yếu kém bởi được sử dụng hỗn hợp cho cả việc thoát nước mưa và nước thải Mật độ cống thấp, chiều dài cống so với chiều dài đường mới chỉ chiếm 60% trên đường phố và 29% đường ngõ xóm Thêm vào
đó, từ 1995 đến nay, khoảng 30% diện tích kênh, mương, hồ điều hòa bị mất do lấn chiếm Đáng lẽ các hồ phải phục vụ cho việc thoát nước, thì trên thực tế, chính quyền ở một số nơi lại cho phép các công ty quản lý, khai thác các hồ cho
tư nhân thuê để nuôi cá Chính vì vậy, việc hạ mức nước tại các hồ này gặp nhiều khó khăn, khiến công tác điều tiết, tiêu thoát nước khi mưa xuống bị chậm trễ
Trang 10Để đảm bảo việc thoát nước, bất kỳ đô thị nào cũng phải có một cao độ chuẩn cho cả đô thị hoặc cho riêng từng khu vực, nhưng Hà Nội chưa có Cao
độ chuẩn này đặc biệt quan trọng vì khi xây dựng hệ thống thoát nước, bao giờ cũng phải dẫn từ cao độ chuẩn với độ dốc từ 5-7% Đáng tiếc là, trong kiểm tra quy hoạch những năm gần đây, thành phố Hà Nội không xác định được một cao
độ chuẩn để từ đó xác định ra hướng thoát nước tự nhiên Trong điều kiện như vậy, việc tiêu thoát nước chỉ có thể trông chờ vào giải pháp thoát nước cưỡng bức Nhưng khi thiết kế xây dựng các trạm bơm lại quá thấp, khi nước lên, trạm cũng bị ngập, không thể hoạt động được Quy hoạch thoát nước Hà Nội hiện là một bài toán lớn, phức tạp bởi thiếu tầm nhìn xa Do vậy, hệ thống tiêu, thoát nước không được cải thiện bao nhiêu dù được đầu tư lớn
Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng cho rằng, trận lũ lịch sử của Hà Nội nằm ngoài tầm kiểm soát của các công trình xả lũ Với tốc độ đô thị hóa nhanh, công trình dân sinh nhiều nên gây ách tắc, hạn chế dòng chảy Theo kết quả của cuốn Báo cáo Hồ Hà Nội 2015 do Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng, trong 5 năm (từ 2010 - 2015), số lượng và diện tích mặt nước hồ vẫn có
xu hướng giảm Cụ thể về số lượng hồ, từ năm 2010 – 2015, có 17 hồ đã bị san lấp hoàn toàn và 7 hồ mới được bổ sung Như vậy, tổng số lượng ao, hồ Hà Nội trong năm 2015 là 112, giảm 10 cái so với năm 2010 Về diện tích mặt nước hồ, tổng diện tích nước mặt hồ năm 2015 là 6.959.305 m2, giảm 72.540 m2
so với năm 2010 Các nhà khoa học cảnh báo do bê tông hóa không khoa học, các hồ tại Hà Nội đang mất đi chức năng điều tiết nước mỗi khi có mưa lớn Hiện chưa
có một bài toán thoát nước thay thế nào khi cho lấp mặt hồ làm nhà và chỉ cần một cơn mưa to là cuộc sống của hàng triệu người dân trở nên bế tắc
Một nguyên nhân nữa sẽ dẫn đến ngập lụt là sự hạ thấp bề mặt địa hình
Hà Nội Cụ thể là nền đất bị sụt lún do các công trình, cụm công trình xây dựng
do việc khai thác nước ngầm quá mức, sụt lún do vận động của vỏ Trái đất (sụt lún kiến tạo) Hà Nội hiện có một dải đất yếu tập trung ở khu vực đông nam và nam Hà Nội cũ Khu vực này rất dễ bị sụt lún làm cốt nền đất Hà Nội bị hạ thấp
Trang 11tương đối lớn thường xuyên bị ngập úng khi có mưa lớn Cụ thể là khu vực quận Hoàng Mai, Hai Bà Trưng, Thanh Trì, Ba Đình và một phần huỵện Từ Liêm Chính vì thế, đô thị có diện tích xây dựng càng dày đặc như nội thành Hà Nội thì nguy cơ úng ngập càng cao và khả năng tự thoát lụt càng chậm Đây là
lý do khiến tình trạng úng ngập của Hà Nội trầm trọng thêm mỗi khi mùa mưa đến
Đến bây giờ, khả năng ứng phó của hệ thống thoát nước thành phố là câu hỏi lớn nhất, gây nhiều bức xúc nhất Việc nghiên cứu và đưa ra một mô hình thoát nước hiệu quả, lâu dài cho Hà Nội cần được thực hiện một cách nghiêm túc Theo kế hoạch thì quy hoạch tổng thể dự án thoát nước Hà Nội, do JICA (Nhật Bản) lập và đã được Chính phủ phê duyệt từ năm 1995 (giai đoạn 1995 - 2010), có phạm vi cho toàn bộ lưu vực sông Tô Lịch và sông Nhuệ (135km2) Giai đoạn một của dự án đã hoàn thành với tổng mức đầu tư 180 triệu USD, giai đoạn 2 sắp sửa tiến hành với số vốn 370 triệu USD Trong đó, phía Bắc và phía Đông giáp đê sông Hồng; phía Tây giáp sông Nhuệ và phía Nam giáp hạ lưu sông Kim Ngưu, với chu kỳ bảo vệ là 10 năm, ứng với trận mưa có lưu lượng 310mm/2 ngày Tổng mức đầu tư ban đầu của toàn dự án là 1.162 triệu USD, được phân kỳ đầu tư phù hợp với điều kiện kinh tế của từng thời điểm Dự án thoát nước của Hà Nội được đưa ra cách đây gần 20 năm Về phạm vi nghiên cứu của dự án thoát nước, tổng lưu vực nghiên cứu khi đó mới tương ứng với diện tích 17.000ha, trong khi Hà Nội mới mở rộng có diện tích gấp 20 lần Như vậy dự án cấp thoát nước đến nay đã không còn phù hợp Nước chảy từ nơi cao xuống nơi thấp nên không thể chỉ nghiên cứu quy hoạch trong một vùng nhỏ, mà phải nghiên cứu tổng thể trên cả địa bàn thành phố Và thực tế là hiện Hà Nội đang tiến hành bơm rút nước bằng hệ thống máy bơm hồ Yên Sở thì ngay lập tức nước ở các nơi khác lại tràn về Theo dự án thoát nước của Hà Nội thì hiện nước mới chỉ được dồn xuống hồ Yên Sở thông qua sông Tô Lịch và các hệ thống kênh mương khác rồi mới bơm ra sông Hồng Hoặc dùng đập tràn để tràn nước ra sông Nhuệ Cũng trong quy hoạch thoát nước cũ thì sông Nhuệ ở phía Tây thành phố, nằm ở vùng ngoại vi Nhưng nay, khi Hà Nội đã được mở rộng
Trang 12thì sông Nhuệ lại nằm ở giữa, và khu đô thị ở hai bên sông Nhuệ đều đang phát
triển quá nhanh khiến sông Nhuệ bị quá tải Quy hoạch thoát nước đã không còn
phù hợp nữa Cho dù hoàn thành toàn bộ dự án, năng lực thoát nước của Hà Nội
cũng chỉ dừng lại ở trận mưa 310 mm trong 2 ngày Trong trận mưa năm 2008,
riêng nội thành mưa trung bình trên 500 mm Trong khu vực Hà Nội cũng liên
tiếp đón nhận hàng loạt trận mưa lớn, cảnh ngập lụt cục bộ diễn ra khắp nơi
Với trận ngập lụt kỷ lục tại Hà Nội và nước triều dâng lịch sử tại
TP.HCM thì yêu cầu giải bài toán thoát nước đô thị đã trở nên thực sự cấp thiết
Hiện những người lập quy hoạch đang bắt tay tìm ra hướng giải quyết hiệu quả
nhất bắt đầu từ công tác quy hoạch, định hướng phát triển cũng như tất cả vấn đề
giải quyết hệ thống thoát nước, hệ thống căn bằng sinh thái để tạo sự phát triển
bền vững cho đô thị Các tham luận của các nhà khoa học Việt Nam và các
chuyên gia đến từ Trung Quốc Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore, Bỉ, Anh Quốc
đã đưa ra những giải pháp tối ưu, thiết lập hệ cân bằng mới về thoát nước đô thị
của lưu vực kết hợp nạo vét kênh rạch đối với vùng cao Việc giải quyết vấn đề
ngập lụt đô thị không đơn giản chỉ có việc thoát nước mà đây thực sự là một bài
toán phức tạp về kinh tế, kỹ thuật và xã hội Để làm tốt vấn đề này hướng tới sự
phát triển bền vững thì cần có một cách nhìn toàn diện gắn với các giải pháp
đồng bộ và ý thức trách nhiệm của các ngành chức năng
2.3 Tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan ngập lụt đô thị
Trên thế giới:
Có nhiều giải pháp, bài học kinh nghiệm về chống ngập đã được sử dụng
ở trên thế giới rất đáng được quan tâm và xem xét cho việc áp dụng tại Việt
Nam:
Quy hoạch thành phố trên vùng đất cao, cách xa bờ sông, xây mạng lưới
hồ chứa nước đa mục đích (Trung Quốc);
Đánh giá tác động xã hội, tạo điều kiện cho nhà đầu tư tham gia lựa chọn
hệ thống thoát nước, thay đổi ý thức cộng đồng dân cư (Thái Lan, Indonesia);
Hạn chế phát triển và bắt buộc phải có biện pháp phòng lụt khi cải tạo các
công trình, khu đất nằm trong vùng có nguy cơ ngập lụt tại một số thành phố
Trang 13trên thế giới như Calgary (Canada) Dự án chỉ có thể được chấp nhận nếu không làm giảm diện tích mặt nước và giảm thiểu tác động nguồn chảy
Thực hiện song song hai giải pháp công trình và phi công trình nhằm kiểm soát và giảm thiểu ngập lụt (Nhật Bản) Trong đó, triển khai đồng bộ các phương án: cải tạo sông và kênh rạch; phân vùng chậm lũ; xây dựng các trạm bơm thoát nước, hệ thống giếng và đường hầm thoát nước, đường hầm điều tiết lũ; sử dụng xe bơm chống ngập cục bộ; lập bản đồ phân bổ khu vực ngập nội đô
và lũ trên sông; dự báo lũ và hệ thống cảnh báo, điều hành
Ở Đài Loan, hệ thống dự báo lũ phát huy hiệu quả cao Nhờ có thiết bị rađa
đo mưa hiện đại, trung tâm phòng chống lũ có thể dự báo và mô phỏng chính xác chuyển động lũ trong 6 tiếng trước khi lũ về Ngoài ra, Đài Loan cũng thực hiện rất tốt công tác chống ngập lụt nhờ các dự án tái quy hoạch trung tâm đô thị như xây dựng kênh tiêu Jhong-Gang, phát triển bền vững và phục hồi vùng đất ven biển Chiayi, quy hoạch xây dựng hồ chứa nước ngầm trong đô thị, triển khai chương trình thoát nước bền vững, triển khai các giải pháp thấm nước trên mái nhà và tấm lát, đơn nguyên chứa nước sinh thái hoặc nước mưa vườn hoa
Đặc biệt, mô hình đường hầm giao thông thoát lũ tại Kualalumpur đã giúp Malaysia giải quyết dứt điểm tình trạng ngập ở Thủ đô Với cấu tạo 3 tầng, 2 tầng trên dành cho giao thông, 1 tầng dưới dành cho thoát nước, đường hầm được thiết kế để có thể chứa được dung tích tối đa 3 triệu m3 nước Khi có bão
lũ, các trạm giám sát sẽ theo dõi nhu cầu đóng cửa xa lộ, các cổng hầm tự động
mở để nước mưa tràn vào và thoát lũ ra hồ chứa Khi hết lũ, đường hầm mở cửa lại trong vòng 48 giờ kể từ khi đóng cửa
Quan điểm cơ bản của các nhà lập quy hoạch trên thế giới đó là ngập lụt
đô thị không phải đơn giản chỉ có việc thoát nước mà thực sự là một bài toán phức tạp về kinh tế, kỹ thuật và xã hội, đòi hỏi tính chiến lược của nhà quản lý, tính ứng dụng cao từ các công trình khoa học và sự đồng thuận của cộng đồng, cùng hướng đến việc phát triển bền vững
Trang 14 Tại Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến lũ lụt nhưng chủ yếu là lũ lụt ở hệ thống các sông Đối với ngập lụt đô thị, đặc biệt là
đô thị Hà Nội đây gần như là một đề tài khá mới Một số đề tài đã được thực hiện:
1 Bài báo : “Giải pháp thoát ngập cho vùng nội đô Hà Nội trên cơ sở
nghiên cứu nút mất cân bằng, một số giải pháp kỹ thuật nhằm thoát ngập úng cục bộ” (2015) của nhóm tác giả Phạm Mạnh Cổn, Trần Ngọc Anh, Đặng Đình Khá, Đặng Đình Đức, Nguyễn Mạnh Khải, Phạm Quang Hà thực hiện Bài báo
trình bày việc nghiên cứu các kết quả mô phỏng của các trận ngập lụt tại nội đô
HN trong các ngày 31/10 – 2/11 năm 2008 và 8/8 – 9/8 năm 2013 từ đó tìm ra nguyên nhân ngập úp là mất cân bằng hệ thống nước mặt Giải pháp để giải quyết tình trạng ngập úng cho nội đô Hà Nội là tác động để điều chỉnh trạng thái cân bằng của các nút mất cân bằng nhạy cảm và quan trọng nhất là theo thứ tự
ưu tiên xét trên khía cạnh địa chính trị Các kết quả nghiên cứu sử dụng mô hình
mô phỏng MIKE FLOOD, kết nối các mô đun Mike Urban và Mike 21
2 Bài báo: “Đánh giá hiệu quả giảm ngập úng của việc áp dụng giải pháp
thu trữ nước mưa cho trường đại học Thuỷ Lợi” (2014) tác giả Phạm Tất Thắng
Các kết quả phân tích cho thấy: Sơ bộ ước tính thiệt hại do ngập úng gây ra trên địa bàn Thành phố Hà Nội lên đến hàng nghìn tỷ đồng/năm Kiểm soát nước mưa
là giải pháp bền vững giải quyết vấn đề tiêu nước Có hai phương pháp kiểm soát nước mưa: (1) Thu trữ và sử dụng nước mưa cho các nhu cầu sử dụng nước của con người; (2) Đưa nước mưa vào lòng đất (tầng không áp và có áp) Hiệu quả giảm lũ (cắt đỉnh lũ) của các giải pháp sử dụng nước mưa và đưa nước mưa vào lòng đất tính toán điển hình cho Trường Đại học Thủy lợi là 28,1 %
3 Luận văn thạc sĩ: “ Ứng phó với ngập lụt của người dân Hà Nội”
(Nghiên cứu trường hợp xã Tân Triều huyện Thanh Trì và phường Tân Mai
quận Hoàng Mai, Hà Nội) tác giả Bùi Văn Đề (Đại học Quốc Gia HN - trường đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn)
Trang 15Các đề tài này đã đƣa ra đƣợc một số giải nhằm giảm thiểu ngập lụt cho thành phố Hà Nội tuy nhiên phạm vi nghiên cứu vẫn còn bó hẹp tại một địa điểm nhỏ, hay phân tích dựa trên một giai đoạn cụ thể Trong khi đó sự đô thị hóa là nguyên nhân chính gây ra tình trạng ngập lụt thì chƣa đƣợc khai thác, đánh giá Do vậy để có thể đƣa ra những giải pháp dài hạn hơn cần nghiên cứu ngập lụt gắn với quá trình đô thị hóa
Trang 16Phần 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG,
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất một số giải pháp giảm thiểu nguy cơ ngập lụt cho quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
Mục tiêu cụ thể
(1) Xác định được hiện trạng ngập lụt của quận Cầu Giấy
(2) Phân tích được nguyên nhân gây ngập tại các điểm nghiên cứu
(3) Đề xuất được một số giải pháp giảm thiểu nguy cơ ngập lụt
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Hiện tượng ngập lụt đô thị tại quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Đề tài được tiến hành trong khoảng thời gian từ ngày 21/01/2019 đến ngày 12/05/2019
Phạm vi không gian: Tại quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội
3.3 Nội dung nghiên cứu
(1) Xác định hiện trạng ngập lụt của quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội (2) Phân tích nguyên nhân ngập lụt của một số điểm ngập
(3) Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu nguy cơ ngập lụt
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp xác định hiện trạng ngập
- Các tiêu chí: số lượng điểm ngập, vị trí điểm ngập, bản đồ vị trí điểm ngập
Trang 17- Phương pháp thu thập: kế thừa từ các tài liệu, bài báo công bố của công
ty TNHH một thành viên thoát nước Hà Nội về thông tin các điểm ngập qua các năm
Phương pháp phân tích nguyên nhân ngập lụt của một số điểm ngập
Tiêu chi điều tra:
- Nguyên nhân khách quan gây ngập
- Nguyên nhân chủ quan: Đặc điểm mưa, đặc điểm hệ thống thoát và khả năng thoát, thời gian ngập
Phương pháp phân tích:
Nguyên nhân khách quan:
Kế thừa các tài liệu về địa hình, lượng mưa của thành phố Hà Nội để tìm
ra nguyên nhân khách quan gây ngập
Nguyên nhân chủ quan
+ Tốc độ đô thị hóa
Kế thừa các thống kê về hiện trạng sử dụng đất, tỷ lệ tăng dân số của Tổng cục thống kê và các đề tài nghiên cứu trước
+ Đặc điểm mưa:
Dựa vào số liệu lượng mưa trong khoảng thời gian 25 năm (1994-2018)
do trung tâm khí tượng thủy văn trung ương cung cấp dự báo thời gian xuất hiện trở lại của các trận mưa 1 năm, 5 năm, 10 năm 25 năm bằng phương pháp phân tích tần suất xuất hiện mưa:
Trong đó:
Tr :Thời gian xuất hiện trở lại của một trận mưa (năm)
n: Số năm nghiên cứu
m: Số hạng của trận mưa
(1)
Trang 18+ Đặc điểm hệ thống thoát
- Điều tra thực tế xác định tiết diện cống bằng cách sử dụng thước đo trực tiếp hệ thống cống tại khu vực điều tra để xác định chiều dài, chiều rộng và
độ sâu của cống Đếm số lượng giếng thu nước mưa tại từng điểm điều tra Căn
cứ vào Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7557: 2008 về thoát nước - Mạng lưới công
trình bên ngoài - Tiêu chuẩn thiết kế, để xác định độ đầy của mực nước trong
mương dẫn
- Xác định danh giới diện tích cung cấp nước cho từng điểm ngập dựa trên hệ thống thoát nước, bản đồ quy hoạch của khu vực và điều tra thực tế để
xác định hướng nước chảy của khu vực điều tra để khoanh vẽ ranh giới
Hình 3.1 Mô tả cách khoanh vẽ diện tích cung cấp nước
Trang 19- Đánh giá dòng chảy mặt tập trung lớn nhất cho từng trận mưa theo
phương pháp Rational:
Trong đó:
Q: Lưu lượng cực đại (ft3/s)
C: Hệ số dòng chảy, hệ số thực nghiệm biểu thị mối quan hệ giữa tốc độ
mưa và tốc độ dòng chảy cao nhất (Cnhà cửa = 0,9 ; Cđường = 0,9; Cđất khác = 0,15;
Crừng= 0,1)
i: Cường độ trung mưa bình (in/hr)
A: diện tích tập trung nước (m2)
Hình 3.2 Mô phỏng công thức đánh giá dòng chảy mặt tập trung lớn nhất
cho từng trận mưa theo phương pháp Rational
(2)
Trang 20Hệ số dòng chảy mặt C của từng điểm sẽ được tính toán theo bảng sau:
Bảng 3.1 Bảng tính toán hệ số dòng chảy mặt của từng điểm điều tra
% Diện tích của X = Diện tích X: Diện tích cung cấp nước
(Với X là các đối tượng trong khu vực nghiên cứu)
• Sử dụng công thức tính toán thủy lực của Manning để xác định khả năng thoát nước của hệ thống cống:
Trang 21Hình 3.3 Mô phỏng công thức tính toán thủy lực của Manning
• Khảo sát thực tế hiện trạng mương dẫn (cát sỏi bồi lắng, rác…) từ đó
tính toán khả năng thoát nước thực tế của hệ thống
Hình 3.4 Một số hình ảnh điều tra thực địa + Xác định lưu lượng ngập, thời gian ngập
Sử dụng phần mềm excel dựa trên kết quả tính toán dòng chảy mặt, khả năng thoát lý thuyết và thực tế của hệ thống
- Lưu lượng gây ngập = Lưu lượng đầu vào – Lưu lượng thoát (m3/giờ)
- Thời gian ngập = Lưu lượng gây ngập : Lưu lượng thoát (giờ)
Trang 22Phần 4 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm tự nhiên
Hình 4.1: Vị trí của quận Cầu Giấy
Quận Cầu Giấy được thành lập theo Nghị định 74/CP ngày 22/11/1997 của Chính Phủ trên cơ sở tách từ huyện từ Liêm với diện tích tự nhiên là 1202.98ha và 8,29 vạn nhân khẩu Ban đầu, Quận bao gồm 4 thị trấn (Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Mai Dịch, Cầu Giấy) và 3 xã (Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa) tách ra từ huyện Từ Liêm Nay, tất cả đều gọi là phường, thị trấn Cầu Giấy được đổi tên thành phường Quan Hoa Năm 2005, phường Dịch Vọng Hậu được thành lập trên cơ sở tách từ 2 phường Quan Hoa và Dịch Vọng Từ đó đến nay, Quận Cầu Giấy có 8 phường với diện tích tự nhiên như sau:
Trang 23Địa hình:
Quận có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Bắc xuống Nam Các khu vực đã xây dựng như khu tập thể, cơ quan, trường học, làng xóm cũ có độ cao bình quân từ +8,0 ÷ +12m Các khu vực đất trống chủ yếu là ruộng đất canh tác tập trung ở phường 3 phường Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa, có độ cao thay đổi từ +7,0 ÷ +8,0m
Thời tiết khí hậu
Nhìn chung thời tiết, khí hậu của quận mang những đặc trưng của vùng châu thổ sông Hồng Đây là một điều kiện thuận lợi cho đời sống và sản xuất
Cụ thể các chỉ số thời tiết và khí hậu của quận như sau:
- Về nhiêt độ: Nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 6, trung bình 29,40C và nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1, trung bình là 16,90C Độ ẩm trung bình hàng năm là 84,5 %, số giờ nắng trung bình 1620 giờ, bức xạ mặt trời 102kcal/cm2/năm
- Về lượng mưa: lượng mưa trung bình hằng năm của Quận là 1577,3
mm Lượng mưa này chỉ thuộc mức trung bình của vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhưng phân bố không đều trong năm Lượng mưa thường cao nhất vào tháng 7
và tháng 8 (tháng 8 có lượng mưa 338,7 mm) tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 12 (khoảng 13,29 mm)
Đặc điểm sông ngòi
Rìa phía Đông khu vực là sông Tô Lịch chảy dài suốt chiều dài địa giới phía Đông quận, đóng vai trò địa giới hành chính với quận Tây Hồ, quận Ba Đình và quận Đống Đa, đặc biệt là hệ thống thoát nước chính của khu vực
Trang 24Hiện tại sông Tô Lịch là tuyến thoát nước mưa, thoát nước bẩn chính, đang được cải tạo, chỉnh trang làm sạch dòng chảy, xây kè, làm đường hai bên, trồng cây xanh tạo thành công viên Trong tương lai hai bên bờ sông sẽ là một không gian thoáng mát, môi trường trong sạch
4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Bảng 4.1 Dân số trung bình Quận Cầu Giấy giai đoạn 2005 – 2010
(Báo cáo của phòng thống kê Quận Cầu Giấy)
Tỷ lệ tăng cơ học hàng năm cho thấy đang có sự chuyển dịch nhiều về dân cư vào địa bàn Quận, một phần từ nội thành dãn ra, một phần từ ngoại thành chuyển đến Song song với quá trình tăng cơ học về dân số, cơ cấu lao động trong Quận cũng có những thay đổi theo chiều hướng lao động nông nghiệp giảm dần và chiếm tỉ lệ thấp trong tổng số người trong độ tuổi độ tuổi lao động (tỷ lệ 8,3% trong tổng số 72000 lao động) Phường Nghĩa Tân, Dịch Vọng, Quan Hoa không còn lao động nông nghiệp Phường Nghĩa Đô còn 1,7% Phần chủ yếu lao động nông nghiệp ở các phường Mai Dịch, Yên Hòa, Trung Hòa, đây cũng là 3 phường còn diện tích đất nông nghiệp nhiều nhất (chiếm 85% diện tích đất nông nghiệp của toàn Quận
Quận Cầu Giấy là một trong những khu vực phát triển chính của thủ đô
Hà Nội Trong Quận có sông Tô Lịch chạy dọc theo chiều dài phía Đông của
Trang 25Quận Các đường giao thông vành đai và các trục đường giao thông chính của Thành phố như đường Cầu Giấy – Xuân Thủy, đường Trần Duy Hưng, đường Hoàng Quốc Việt, đường Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng
Về lĩnh vực kinh tế
Kinh tế tiếp tục có những bước phát triển mạnh và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa Năm 2009-2010, kinh tế quận tiếp tục tăng trưởng khá cao Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống buôn lậu và gian lận thương mại tiếp tục được đẩy mạnh, tăng cường kiểm tra kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển, buôn bán gia súc, gia cầm không để xảy ra dịch bệnh trên địa bàn
Dịch vụ - thương mại là ngành có giá trị gia tăng lớn, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng chung của kinh tế Quận Tốc độ tăng giá trị tăng thêm là 43,77%, gấp 3 lần chỉ tiêu đề ra
Sản xuất ngành công nghiệp – xây dựng cơ bản tốc độ tăng giá trị tăng thêm là 36,75% hàng năm, vượt gần 5 lần chỉ tiêu đề ra Chú trọng phát triển các ngành có giá trị gia tăng lớn và trình độ công nghệ cao
Lĩnh vực nông nghiệp: giá trị và tỷ trọng giảm xuống 0,04% (theo lãnh thổ) và 0,09% (theo Quận quản lý) Quận tập trung chỉ đạo chuyển đổi mô hình hợp tác xã nông nghiệp sang hợp tác xã dịch vụ tổng hợp Hỗ trợ vốn cho nông dân phát triển nghề truyền thống Thu chi ngân sách trên địa bàn đạt kết quả tốt Thu ngân sách trên địa bàn liên tục vượt dự toán được giao hàng năm, vượt chỉ tiêu thành phố giao từ 5 – 10%, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006 – 2010 đạt 36,63% Tính riêng 9 tháng đầu năm 2010, thu ngân sách quận ước đạt 1.870 tỷ đồng đạt 87,29% kế hoạch năm; Chi ngân sách ước thực hiện 369,6 tỷ đồng đạt 70,8% kế hoạch, đảm bảo đáp ứng nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của quận Tổng chi ngân sách trên địa bàn đảm bảo phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển Các thành phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển, cơ chế quản lý đã dần phù hợp với quản lý kinh tế
Trang 26Bảng 4.2 Tỷ trọng các ngành kinh tế trên địa bàn Quận
(Nguồn: Báo cáo phòng kinh tế Quận Cầu Giấy)
Lĩnh vực xây dựng, phát triển và quản lý đô thị
- Công tác quy hoạch và quản lý xây dựng theo quy hoạch: Quận đã tập trung xây dựng và quản lý quy hoạch theo hướng nâng cao chất lượng, tăng cường hiệu lực và hiệu quả, đảm bảo thống nhất giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch xây dựng phát triển đô thị Nhiều dự án hạ tầng
xã hội, dự án nhà ở, công trình công cộng đã và đang được hình thành làm thay đổi cơ bản diện mạo không gian kiến trúc, cảnh quan đô thị
Công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị và quản lý xây dựng theo quy hoạch có chuyển biến tích cực Quận đã cải cách công tác cấp phép xây dựng, giáo dục và tuyên truyền và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân xin cấp giấy phép xây dựng Năm 2006 – 2009, trên địa bàn Quận cấp được 4.301 giấy phép bằng 771.914 m2 sàn xây dựng, đạt tỷ kệ kiểm soát công trình xây dựng 94,6%, vượt chỉ tiêu từ 10 – 15%
Quận đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tốt trật tự xây dựng trên địa bàn, không để tình trạng xây dựng trái phép, lấn chiếm đất công Hầu hết các công trình xây dựng trái phép đều được xử lý kịp thời, dứt điểm Năm 2006 –
2009 đã lập hồ sơ xử lý đối với 950 trường hợp vi phạm, phạt tiền 240 trường hợp, ngừng thi công 671 trường hợp, xử lý tự khắc phục 194 trường hợp, cưỡng chế 238 trường hợp
Trang 27- Công tác quản lý đầu tư xây dựng: Công tác đầu tư xây dựng cơ bản có bước phát triển rõ rệt, môi trường đầu tư được cải thiện, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn Năm 2006 – 2009, nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung thực hiện 34 dự án, hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng 20 dự án, chuyển tiếp
14 dự án với tổng số vốn được thực hiện 500,8 tỷ đồng Bằng nguồn vốn của Quận đã thực hiện 209 dự án, hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng 209 dự án, chuyển tiếp 20 dự án với tổng số vốn đã thực hiện 651 tỷ đồng Các phường đã đầu tư xây dựng 283 dự án với tổng số vốn 125,13 tỷ đồng, đầu tư cho các lĩnh vực: Giao thông, cấp thoát nước, giáo dục và y tế…
- Công tác quản lý và phát triển nhà: Để đảm bảo chỉ tiêu đến năm 2010 bình quân diện tích nhà ở cho mỗi người dân đạt từ 9 – 10 m2/người, những năm qua, Quận tiếp tục đầu tư cho chương trình nhà ở chung cư phục vụ tái định cư: Triển khai khu nhà ở chung cư Tây Nam đại học Thương Mại tại phường Mai Dịch gồm 3 nhà chung cư cao 6 -17 tầng với 523 căn hộ, diện tích sàn 49.201 m2 Khu đô thị mới Cầu Giấy 50,7 ha, đã thực hiện hoàn thành cơ bản phần hạ tầng kĩ thuật phục vụ công tác đấu giá quyền sử dụng đất, xây dựng nhà
ở, nhà tái định cư và các nhu cầu khác của Thành phố, trong đó có 5 nhà ở chung cư cao 15 – 21 tầng với 817 căn hộ, tổng diện tích sàn 140.029 m2 Dự án nhà ở cao tầng phục vụ tái định cư tại khu 5,3 ha phường Dịch Vọng với 1.381 căn hộ, đã hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng 12 tòa nhà chung cư cao 14 –
17 tầng
Ngoài ra còn các dự án xây dựng nhà ở để bán của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn Quận như: Khu nhà chung cư 11 tầng và nhà liền kề với tổng diện tích sàn 10.489 m2 tại phường Trung Hòa Khu nhà X1, X2 tại phường Yên Hòa, tổng diện tích sàn 5.682 m2 Khu nhà cán bộ công nhân viên Tổng công ty vật tư nông nghiệp, tổng diện tích sàn 4.992 m2 Khu đất dãn dân phường Yên Hòa, tổng diện tích sàn 2.177 m2
- Công tác xây dựng và quản lý đô thị:
Trang 28Về cấp nước: Năm 2006 – 2009 Xí nghiệp kinh doanh nước sạch Cầu Giấy đã đầu tư cải tạo và xây dựng mới hệ thống cung cấp nước sạch trên địa bàn Quận với tổng kinh phí 78,7 tỷ đồng Hiện công ty đang cấp nước sạch cho 100% hộ dân, lượng tiêu thụ 1.136.256m3/tháng, đạt 185 lít/người/ngày
Về cấp điện: Năm 2006 – 2009, Điện lực Cầu Giấy đã xây dựng thêm 46 trạm biến áp với dung lượng 50.700KVA, hạ ngầm được 10,725km cáp điện, kinh phí đầu tư phục vụ điện sinh hoạt và sản xuất 14,45 tỷ đồng, đã tiếp nhận quản lý, bán điện trực tiếp cho 57.069 hộ dân, công suất tiêu thụ 335.587000 KW/h, cung cấp điện ổn định, không xảy ra sự cố
Về thoát nước: Năm 2006 – 2009, Quận đầu tư xây dựng 22 dự án thoát nước với tổng kinh phí 8,68 tỷ đồng Các phường bằng nguồn vốn tự có đã đầu
tư xây dựng 40 công trình đường và thoát nước với tổng kinh phí 15,2 tỷ đồng Thực hiện duy trì thoát nước theo phân cấp, trong năm 2007, kinh phí để duy trì
là 1,1 tỷ đồng, năm 2008 là 1 tỷ đồng
Về chiếu sáng đô thị: Hàng năm, Quận kết hợp với Sở giao thông công chính tiến hành khảo sát, thống kê nhu cầu lắp đặt hệ thống chiếu sáng cá tuyến đường, ngõ tại các phường Hầu hết các tuyến đường chính và các ngõ xóm đã
có hệ thống chiếu sáng đô thị đáp ứng đời sống nhân dân Năm 2007 – 2008, bằng nguồn vốn của Quận đã đầu tư xây dựng lắp đặt mới hệ thống chiếu sáng với chiều dài 17,67km, kinh phí 4,67 tỷ đồng Thực hiện duy tu hệ thống chiếu sáng theo phân cấp, kinh phí thực hiện hàng năm 1,3 tỷ đồng Quyết định từ ngày 12/3/2011, Quận tiếp nhận quản lý hệ thống chiếu sáng trên địa bàn Quận
Về vệ sinh môi trường: Tốc độ đô thị hóa đang diễn ra nhanh trên địa bàn Quận, nên vấn đề bảo vệ môi trường được Quận quan tâm, chỉ đạo, trước hết là giải quyết, xử lý rác, phế thải xây dựng, vệ sinh môi trường các sông, hồ trên địa bàn Công tác xã hội hóa vệ sinh môi trường đã được triển khai sâu rộng Hàng năm, Quận được giao duy trì thường xuyên 43 tuyến đường Khối lượng thu gom rác thải sinh hoạt năm 2007 – 2008 là 68.703 tấn Kinh phí thực hiện vệ sinh môi trường năm 2007 – 2008 là 94,24 tỷ đồng
Trang 29Lĩnh vực văn hóa – xã hội
- Sự nghiệp giáo dục – đào tạo có bước phát triển mạnh cả về quy mô và chất lượng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu học tập của nhân dân và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục được nâng cao Quận đã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập bậc trung học Nhiều giáo viên và học sinh đạt thành tích cao trong các kì thi cấp thành phố, quận Cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư đáp ứng nhu cầu dạy và học Tập trung chỉ đạo xây dựng 10 trường đại học đạt chuẩn quốc gia Đã xây mới 13 trường học và nâng cấp, sửa chữa tất cả các trường học trong Quận với tổng số tiền gần 400 tỷ đồng Đến nay, 100% số trường học trong Quận đã được xây dựng kiên cố, ngành giáo dục – đào tạo Quận giữ vững 5 năm liên tục đạt đơn vị xuất sắc lá cờ đầu thành phố
- Các lĩnh vực an sinh xã hội được tập trung giải quyết có hiệu quả: Công tác tạo việc làm được chú trọng, hàng năm đã tạo việc làm 4.700 lao động (chỉ tiêu đề ra là 3.500 lao động) Công tác đào tạo nghề có bước phát triển cả về quy
mô, ngành nghề và hình thức đào tạo, góp phần quan trọng tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo nói chung Quan tâm hỗ trợ các đối tượng chính sách và người nghèo được thực hiện có hiệu quả Đã giảm hết số nghèo theo chuẩn thu nhập bình quân từ 350.000đ/tháng trở xuống Riêng năm 2009, Quận đã giải quyết việc làm cho 4.574 lao động đạt 91% kế hoạch, giảm 53 hộ nghèo đạt 133% kế hoạch thành phố giao, đưa 104 đối tượng đi cai nghiện bắt buộc đạt 110% kế hoạch Quận, các phường và các đơn vị tổ chức gặp mặt, động viên, thăm hỏi, tặng quà các đồng chí lão thành cách mạng, người có công, các đối tượng chính sách, tổ chức đón Tết Trung thu cho trẻ em trên địa bàn quận được đầm ấm vui tươi Đảm bảo 100% trẻ có hoàn cảnh khó khăn, tàn tật được quan tâm hỗ trợ dưới mọi hình thức Làm tốt công tác chăm sóc các gia đình thương binh liệt sĩ, đối tượng chính sách, đối tượng xã hội
Trang 30- Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm và có nhiều thành tích Chất lượng khám, chữa bệnh được chú trọng, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được quan tâm đầu tư từng bước hiện đại, công tác xã hội hóa lĩnh vực y tế được đẩy mạnh, mức độ hưởng thụ các dịch vụ y tế của người dân từng bước được cải thiện Mạng lưới y tế dự phòng hoạt động có hiệu quả, đã chủ động phòng ngừa, không để phát sinh các dịch bệnh trên địa bàn.100% các phường đạt chuẩn quốc gia về y tế
- Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình được triển khai sâu rộng, có hiệu quả từ Quận tới cơ sở Tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn thực hiện mục tiêu kế hoạch hóa gia đình, ổn định tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, thực hiện nhiều biện pháp nhằm giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng Năm 2010, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm xuống còn 8%, vượt chỉ tiêu đề ra 0,7% Tỷ lệ sinh con thứ 3 tính đến năm 2010 là 1,94%, vượt chỉ tiêu
đề ra
Trang 31Phần 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 5.1 Hiện trạng ngập lụt tại Cầu Giấy
Hình 5.1 Số điểm ngập thường xuyên của thành phố Hà Nội
giai đoạn 2014 – 2018
Ta thấy, giai đoạn 2014 – 2018 số lượng điểm ngập của cả thành phố đã giảm hơn một nửa trong khi đó quận Cầu Giấy cũng đã giải quyết được một trong ba điểm thường xuyên ngập
Tuy nhiên, việc giải quyết các điểm ngập mới chỉ thực hiện trên một quy
mô cục bộ, là giải pháp trước mắt Chưa có quy hoạch chung, giải pháp lâu dài
để giảm thiểu ngập lụt cho thành phố Ngoài ra, công tác quản lý ngập lụt đô thị cũng còn nhiều hạn chế
Trang 32Hình 5.2 Biến động điểm ngập của thành phố Hà Nội
năm 2016, 2017 và 2018
Cho đến năm 2018, điểm ngập tại đường Phan Văn Trường quận Cầu Giấy đã được giải quyết Đường Phan Văn Trường là một trong những điểm thường xuyên úng ngập khi có mưa lớn, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống và hoạt động kinh doanh của hàng trăm hộ dân cũng như các tiểu thương đang kinh doanh tại chợ Nhà Xanh Do đó để hạn chế ngập úng Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội đã cho xây dựng thêm tại đây một tuyến cống với kích thước 2m x 2m và dài gần 500m, thu gom và dẫn nước mưa từ phố Phan Văn Trường
ra hệ thống cống trên đường Xuân Thủy
Hình 5.3 Thi công cống thoát trên phố Phan Văn Trường
Trang 33Bảng 5.1 Thống kê mực ngập bình quân của một số trận mưa lớn
tại Hà Nội
(Nguồn: Công ty TNHH thoát nước Hà Nội) Qua bảng thống kê trên ta thấy, những trận mưa với lượng mưa nhỏ hơn như trận mưa ngày 13/5/2018 và 30/4/2019 nhưng lại có mức ngập bình quân ở các điểm ngập cao hơn Do đó có thể thấy, việc ngập lụt đô thị chủ yếu là do các nguyên nhân chủ quan Ngoài ra, các trận mưa lớn vào tháng 7 (mùa bão) lại có mức ngập thấp hơn do các hệ thống lúc này đã được chuẩn bị cho công tác phòng bão chống lụt
Hơn nữa, trong trận mưa ngày 30/4 vừa qua mặc dù chỉ có lượng mưa trung bình là 80mm/ngày nhưng tại phố Hoa Bằng đã ngập sâu 70-80 cm trên tuyến phố dài 300m và ngập úng trong 14 giờ Theo người dân ở đây, tình trạng ngập úng nặng như vậy cũng một phần do công trình thi công đã lấp kín miệng cống làm nước thoát chậm
Hình 5.4 Ngập sâu ở phố Hoa Bằng ngày 30/4/2019
Trang 345.2 Phân tích nguyên nhân ngập của một số điểm ngập tại thành phố Hà Nội
5.2.1 Nguyên nhân khách quan
a Địa hình và khả năng thoát nước của sông Tô Lịch
Hình 5.5 Bản đồ địa hình thành quận Cầu Giấy
Quận có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Bắc xuống Nam Các khu vực đã xây dựng như khu tập thể, cơ quan, trường học, làng xóm cũ có độ
Trang 35cao bình quân từ +8,0 ÷ +10m Các khu vực đất trống chủ yếu là ruộng đất canh tác tập trung ở phường 3 phường Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa, có độ cao thay đổi từ +7,0 ÷ +8,0 m
Quận Cầu Giấy nằm trong lưu vực sông Tô Lịch Sông Tô Lịch ngày nay bắt đầu từ dốc Bưởi và chảy cùng hướng với đường Láng và đường Kim Giang
về phía nam tới sông Nhuệ Sông Tô Lịch là con sông dài nhất trong bốn con sông thoát nước của Hà Nội với tổng chiều dài là 13,5 km, rộng trung bình 20-
45 m, sâu từ 3-3,5 m Sông Tô lịch chịu trách nhiệm tiêu thoát nước cho cả thành phố Theo kết quả nghiên cứu của JICA trong dự án Thoát nước Hà Nội từ năm 1996-2003, khả năng thoát nước hiện tại của sông chỉ vào khoảng 30-35
m3/s trong khi công suất yêu cầu để thoát cho trận mưa có chu kỳ 10 năm là 170
m3/s Đây có thể nói là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng ngập úng cho thành phố Hà Nội nói chung và cho quận Cầu Giấy nói riêng
b Mưa
Lượng mưa trung bình hằng năm của Quận là 1577,3 mm Lượng mưa này chỉ thuộc mức trung bình của vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhưng phân bố không đều trong năm Lượng mưa thường cao nhất vào tháng 7 và tháng 8 (tháng 8 có lượng mưa 338,7 mm) tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 12 (khoảng 13,29 mm) Sự phân bố không đồng đều này cũng là một nguyên nhân gây ngập lụt cho quận Cầu Giấy vào những tháng có lượng mưa cao
Hình 5.6 Lượng mưa bình quân năm quận Cầu Giấy từ năm 1994 đến 2018
Trang 365.2.2 Các nguyên nhân chủ quan
a Đô thị hóa và tăng dân số
Quận Cầu Giấy là khu vực đang diễn ra quá trình đô thị hóa nhanh, thể hiện rõ nét ở tỷ lệ tăng dân số hàng năm và sự biến đổi về cơ cấu lao động Dân
số hiện nay trên địa bàn toàn Quận là 236.834 người (năm 2010), dân cư hàng năm luôn biến động theo chiều hướng gia tăng từ 10-12%, trong đó tỷ lệ tăng tự nhiên 1,3%, tăng cơ học từ 5-7%
Hình 5.7 Diện tích hai loại hình sử dụng đất quận Cầu Giấy
năm 2010 và 2015
Từ biểu đồ trên ta thấy, giai đoạn từ năm 2010 – 2015, diện tích đất đô thị của quận Cầu Giấy tăng từ 415,63 ha lên 466,76 ha trong khi đó diện tích đất nông nghiệp của quận giảm 39,7 ha Do đó diện tích thấm tự nhiên giảm mạnh
là một trong các nguyên nhân quan trọng làm cho tình trạng ngập lụt tăng lên
Ngoài ra, quá trình đô thị hóa còn làm giảm diện tích các hồ chứa tự nhiên Theo thống kê của Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Cầu Giấy (2016), trong giai đoạn 2010 – 2015 diện tích mặt nước ao, hồ giảm từ 13,17 ha (2010) xuống còn 12,56 ha (2015) và có 5 ao, hồ đã bị san lấp hoàn toàn trong giai đoạn này
Trang 37Hình 5.8 Sự biến động ao, hồ tại quận Cầu Giấy giai đoạn 2010 - 2015
b Đặc điểm của các trân mưa theo thời gian xuất hiện của quận Cầu Giấy
Sử dụng công thức (1) để lập biểu đồ đường cong tần số cho khu vực nghiên cứu Số liệu sử dụng cho quận Cầu Giấy được lấy tại trạm khí tượng Láng – Hà Nội
Hình 5.9 Đường cong tần số của các trân mưa theo thời gian xuất hiện
của quận Cầu Giấy
Trang 38Bảng 5.2 Ngày mƣa lớn nhất trong năm của các trận mƣa
theo thời gian xuất hiện của quận Cầu Giấy
TT Ngày mƣa lớn nhất trong
Tiến hành điều tra tại hai điểm “đen” ngập lụt của quận Cầu Giấy đó là:
Hình 5.10 Vị trí các điểm điều tra
Trang 39Hình 5.11 Sơ đồ hệ thống thoát nước tại các điểm điều tra
Phân tích khả năng thoát nước của các điểm điều tra
Sử dụng công thức (2) để tính lưu lượng nước đầu vào và công thức (3) để tính lưu lượng thoát dựa trên các số liệu thu thập được
Bảng 5.3 Khả năng thoát nước của các điểm điều tra
Khả năng thoát nước của điểm điều tra
Lưu lượng thoát thiết kế (m3/giờ)
Lưu lượng thoát thực tế (m3/giờ)
Hiệu suất thoát thực