LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành chương trình đào tạo khóa học 2011 – 2015, được sự nhất trí của trường Đại học Lâm nghiệp và Khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường, tôi đã thực hiện khóa lu
QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Giới thiệu chung về ngành y tế Việt Nam
Theo thống kê của Bộ Y tế, tính đến năm 2014 trên toàn Việt Nam có
1070 bệnh viện, 47 khu điều dƣỡng phục hồi cá nhân, 285 phòng khám đa khoa khu vực, với tổng số giường bệnh 254300 giường, chiếm 98,5% Bên cạnh các cơ sở y tế nhà nước đã bắt đầu hình thành một hệ thống y tế cá nhân bao gồm 19895 cơ sở ngành y, 14048 cơ sở ngành dƣợc, 7015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 5 bệnh viên tư có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 1,5% và đã góp phần làm giảm bớt sự quá tải của các bệnh viện nhà nước [12]
Về mạng lưới y tế cơ sở Việt Nam hiện nay đã có trên 60% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 100% số xã có trạm y tế trong đó 2/3 xã đạt tiêu chuẩn quốc gia Tuy nhiên sự phát triển chƣa đồng đều ở mỗi cấp, vùng, miền Việc đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe người dân chưa được đảm bảo [12]
Về nhân lực trong ngành,Việt Nam có hệ thống các trường đại học Y, Dược phân bố đều trên cả nước Mỗi năm có hàng nghìn bác sĩ và dược sĩ đại học tốt nghiệp ra trường Ngoài ra còn có hệ thống các trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dược, nha sĩ tại địa phương Ngành y hiện tại của Việt Nam đang đƣợc nhiều tồ chức quốc tế tài trợ vốn ODA và vốn NGO, tính đến năm 2010 Bộ Y tế Việt Nam đang quản lý 62 dự án ODA và trên 100 dự án NGO với tổng kinh phí hơn 1 tý USD, các dự án đƣợc phân bố đều ờ khác các vùng miền [12]
Về mặt quản lý, hệ thống bệnh viện đƣợc phân cấp nhƣ sau:
- 32 bệnh viện gồm 10 bệnh viện đa khoa, 2 bệnh viện y học cổ truyền, 20 bệnh viện chuyên khoa do Bộ y tế quản lý
- 981 bệnh viện gồm 224 bệnh viện đa khoa tỉnh, 46 bệnh viện y học cổ truyền, 142 bệnh viện chuyên khoa và 659 bệnh viện tuyến huyện, thị xã do địa phương quản lý
-72 bệnh viện do ngành khác quản lý
Nhƣ vậy có thể thấy, ngành y tế đang đƣợc quan tâm đầu tƣ rất lớn, do đó đòi hỏi các yêu cầu khắt khe không chỉ các dịch vụ khám chữa bệnh mà còn về chất lượng vệ sinh môi trường của các bệnh viện trên toàn quốc.
Tổng quan về nước thải bệnh viện ở Việt Nam
1.2.1 Nguồn gốc, đặc tính và tính chất của nước thải bệnh viện a Nguồn gốc nước thải của bệnh viện
Nước thải bệnh viện là một dạng nước thải sinh hoạt đô thị và chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng lưu lượng nước thải sinh hoạt của khu dân cư Dòng thải chứa chủ yếu các chất hữu cơ có nguồn gốc từ sinh hoạt của con người Tuy nhiên, do đặc thù của hoạt động khám chữa bệnh, nước thải bệnh viện còn phát sinh ra các nguồn khác nhau Cụ thể, nước thải bệnh viện chủ yếu phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau:
+ Sinh hoạt của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, cán bộ công nhân viên + Các phòng khám, thì nghiệm, phẫu thuật, xét nghiệm, pha chế thuốc, tẩy khuẩn…
+ Từ việc lau chùi vệ sinh khu làm việc, các trang thiết bị…
+ Khu nhà bếp và dịch vụ ăn uống
+ Nước chảy tràn b Đặc tính nước thải của bệnh viện
Do phát sinh từ các nguồn thải khác nhau, nên đặc tính của nước thải bệnh viện tương đối phức tạp Các thành phần chính gây ô nhiễm môi trường trong nước thải bệnh viện gây ra là:
+ Các hóa chất độc hại nhƣ: chất phóng xạ, chất hữu cơ, chất tẩy rửa… + Các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh: Tụ cầu, liên cầu, vi rút tiêu hóa… + Các mầm bệnh sinh học khác nhau có trong máu, dịch đờm…
Nước thải bệnh viện có các chỉ số đặc trưng được nêu ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Một số chỉ số cơ bản của nước thải bệnh viện
Chỉ số BOD COD SS H 2 S T-N T-P Colifiorm Giá trị 128-
(Nguồn: Theo QCVN 28:2010/BTNMT - Nước thải Y tế)
Bảng 1.1 cho thấy nước thải bệnh viện thường có tổng hàm lượng cặn lơ lửng (SS), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD), nhu cầu oxy hóa học (COD), hàm lƣợng Nito, Photpho cao và đặc biệt là Coliform vƣợt quá QCVN 28:2010/BTNMT – Nước thải y tế cho phép từ 2 – 10 lần.Với tính chất như vậy, nước thải y tế là một nguồn có khả năng gây ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn không chỉ đến sức khỏe con người mà còn cả môi trường mà nó thải vào Do vậy, nước thải từ các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh cần được xử lý triệt để các thành phần ô nhiễm trước khi thải ra nơi tiếp nhận
1.2.2 Vấn đề môi trường do nước thải bệnh viện
Nước thải y tế phát sinh trong quá trình khám và chữa bệnh có chứa các vi khuẩn có khả năng gây bệnh từ đờm, dịch tiết từ cơ thể của người bệnh Các mầm bệnh, các vi khuẩn gây bệnh sẽ phát tán vào môi trường theo dòng chảy mặt, gây nguy hại cho con người và môi trường sống Đặc biệt, nếu xả nước thải y tế trực tiếp vào nguồn nước mặt như sông, hồ, ao Nhiều mầm bệnh có trong nước sẽ phát triển, lây nhiễm vào những đối tƣợng tiếp xúc trực tiếp với chúng và lây lan thành dịch bệnh Một số loại virus nguy hiểm có khả năng lây nhiễm cao nhƣ Adenovirus, Pliovirus (gây bệnh bại liệt và nhiều bệnh khác), Echovirus, Hepatitis A virus (bệnh viêm gan siêu vi B), Rotavirus (bệnh tiêu chảy) Nhiều loại vi khuẩn tồn tại trong chất thải của bệnh nhân có thể gây nên các dịch bệnh nguy hiểm nhƣ dịch tả, kiết lị, thương hàn, tiêu chảy… Những loại bệnh này đặc biệt nguy hiểm, có thể gây chết người và có tính lây lan nhanh
Các loại hóa chất điều trị ung thƣ và các sản phẩm chuyển hóa nếu xả thẳng ra môi trường nước mà không được xử lý sẽ có khả năng tích lũy, gây biến chứng lâu dài như quái thai, ung thư cho những người tiếp xúc.
Tổng quan về công nghệ xử lý nước thải bệnh viện
1.3.1 Hiện trạng xử lý nước thải tại các bệnh viện
Hầu hết các bệnh viện ở Việt Nam đều đƣợc xây dựng hệ thống thoát nước thải và trạm xử lý nước thải Tuy nhiên, các hệ thống xử lý nước thải đều không đƣợc hoạt động hoặc đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, nhiều đoạn cống hƣ hỏng, mất nắp, tắc nghẽn… dẫn tới tình trạng nhiều bệnh viện bị ngập úng vào mùa mƣa Tính tới năm 2010 mới có khoảng hơn 40% các bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế đáp ứng đủ quy định nhƣng nhiều nơi rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng Số bệnh viện còn lại chƣa có hoặc đã có nhƣng hệ thống xử lý chất thải chƣa theo đúng quy định Trong đó bệnh viện Trung ƣơng vẫn còn tới 25%, bệnh viện tuyến tỉnh còn gần 50%, bệnh viện tuyến huyện lên tới 60% [12]
Hiện nay một số hệ thống xử lý nước thải mới xây dựng đã được thiết kế tách riêng nước thải và nước mưa chảy tràn Nước thải được dẫn theo hệ thống thu gom tới trạm xử lý nước thải của bệnh viện, trong khi đó nước mưa được dẫn trực tiếp vào hệ thống thoát nước chung của thành phố hoặc vào nguồn tiếp nhận khác, điều này giúp làm giảm lưu lượng nước thải cần xử lý Bên cạnh đó, còn nhiều hệ thống xử lý nước thải của các bệnhviện không đi vào hoạt động thường xuyên hoặc kém hiệu quả Chính vì thế dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng các khu vực tiếp nhận nước thải
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng hoạt động thiếu hiệu quả của hệ thống xử lý nước thải có thể là:
- Các công trình xây dựng từ lâu, xây dựng không đúng theo tiêu chuẩn của nhà nước, xây dựng ở khu vực không thích hợp chịu ảnh hưởng của kết cấu đất
- Việc quản lý vận hành và bảo quản chƣa tốt, không đạt yêu cầu
- Thiếu kinh phí vận hành
- Bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải bệnh nhân làm tăng việc tiêu thụ và sử dụng nước, dẫn tới việc quá tải so với thiết kế của hệ thống xử lý
Vì vậy, trong nhƣng năm gần đây chính phủ và các cơ quan chức năng đã chú trọng hơn đầu tư xây dựng các hệ thống xử lý nước thải tại nhiều bệnh viện trên cả nước Hiện nay đã có rất nhiều công nghệ xử lý nước thải bệnh viện khác nhau đang đƣợc áp dụng tại Việt Nam
1.3.2 Các công nghệ xử lý nước thải bệnh viện ở Việt Nam
Các công nghệ hiện đang được áp dụng để xử lý nước thải y tế ở Việt Nam có thể kể tới nhƣ sau:
Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện theo nguyên lý hợp khối
Nguyên lý hợp khối cho phép thực hiện kềt hợp nhiều quả trình cơ bản xử lý nước thải đã biết trong không gian thiết bị của mỗi mô-đun để tăng hiệu quả và giảm chi phí vận hành xử lý nước thải Thiết bị xử lý hợp khối cùng một lúc thực hiện đồng thời quá trình xử lý sinh học thiếu khí và hiếu khí Việc kết hợp đa dạng này sẽ tạo mật độ màng vi sinh tối đa mà không gây tắc các lớp đệm, đồng thời thực hiện oxy hóa mạnh và triệt để các chất hữu cơ trong nước thải Thiết bị hợp khối còn áp dụng phương pháp lắng có lớp bản mỏng (lamen) cho phép tăng bề mặt lắng và rút ngắn thời gian lưu Đi kèm với giải pháp công nghệ hợp khối này có các hóa chất phụ trợ gồm: chất keo tụ PACN-95 và chế phẩm vi sinh DW-97-H giúp nâng cao hiệu suất xử lý, tăng công suất thiết bị
Với nguyên lý hoạt động nêu trên, Trung tâm CTC đã thiết kế 2 dòng thiết bị xử lý nước thải bệnh viện hợp khối điển hình:
- Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện V- 69: Công nghệ này được Trung tâm CTC thiết kế xây dựng từ năm 1997 tại Bệnh viện V- 69 Thuộc Bộ tƣ lệnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Viện nghiên cứu và bảo quân thi thể Bác Hồ) Từ đó đến nay V- 69 đƣợc phát triển và hoàn thiện nhiều lần Chức năng của các thiết bị xử lý khối kiều V- 69 là xử lý sinh học hiếu khi, lắng bậc 2
7 kiểu lamen và khử trùng nước thải Ưu điểm của thiết bị là tăng khả năng tiếp xúc của nước thải với vi sinh vật và oxy có trong nước nhờ lớp đệm vi sinh có độ rỗng cao, bề mặt riêng lớn, quá trình trao đổi chất và oxy hiệu quả rất cao
- Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện CN – 2000: Trên nguyên lý của thiết bị xử lý nước thải V – 69, thiết bị xử lý nước thải CN - 2000 được thiết kế chế tạo theo dạng tháp sinh học với quá trình cấp khí và không cấp khí đan xen nhau để tăng khả năng khử nitơ Thiết bị CN – 2000 có công suất 120 -
150 m 3 /ngày đêm (trung bình 20 giờ), được ứng dụng để xử lý nguồn nước thải ô nhiễm hữu cơ và nitơ Các thông số nước thải đầu vào: BOD5/COD ≈ 0,5, BOD ≥ 350 mg/l, nồng độ các độc tố có hại cho các quá trình xử lý bằng vi sinh đạt mức cho phép [16]
Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện theo mô hình DEWATS
Công nghệ DEWATS – hệ thống xử lý nước thải phân tán, là một giải pháp mới cho xử lý nước hữu cơ với quy mô dưới 1000 m 3 /ngày đêm, với ưu điểm là hiệu quả xử lý cao, hoạt động tin cậy, lâu dài, thích ứng với sự dao động về lưu lượng, không cần tiêu thụ điện năng nếu khu xử lý có độ dốc thích hợp, công nghệ xử lý thân thiệt với môi trường, xử lý nước thải nhờ các vi sinh vật có trong nước thải hoặc nhờ quá trình tự nhiên mà không sử dụng đến hóa chất, đặc biệt là yêu cầu vận hành và bảo dƣỡng đơn giản, chi phí thấp
Tại Việt Nam, hệ thống này đƣợc áp dụng ở bệnh viện Nhi Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Bệnh viện đa khoa Kim Bảng, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam [17]
Hệ thống xử lý nước thải bệnh viện BIOFASTTM Serie ATC
BIOFASTTM là hệ thống xử lý nước thải theo module ATC C/Z là 2 loại chuyên dụng cho các Bệnh viện Đa khoa từ 30 đến 1000 giường
Các công đoạn bao gồm: Lọc sơ, phản ứng vi sinh (bio-reaction), sục khí O2, thu gom và khử mùi hôi khí thải, khử trùng bằng khuếch tán ozone công suất cao (riêng ở serie C, hệ thống khử trùng bằng chlorine tự động) Một hệ thống Biofast TM ATC gồm có 3 container Tùy theo dung tích nước
8 thải cần xử lý mà các container sẽ có kích cỡ khác nhau Loại lớn nhất là cùng kích thước với container 40 feet (2,4m × 2,4m × 12m), năng lực xử lý 80m 3 /ngày đêm, tương đương bệnh viện 400 giường Khi cần dung tích lớn hơn 100m 3 /ngày đêm, ta lắp thêm các container, hoạt động song song Các container xử lý nước thải bệnh viện được PETECH Corp sản xuất theo chất lượng chuyên dụng, để đạt tuổi thọ trên 20 năm Do vậy, toàn bộ khung sườn, bồn chứa, vách ngăn… đều đƣợc làm bằng thép không gỉ SUS 304 [18]
Công nghệ xử lý nước thải bằng bể phản ứng sinh học hiếu khí – AEROTEN
Bề phản ứng sinh học hiếu khí - Aeroten là công trình bê tông cốt thép hình khối chữ nhặt hoặc hình tròn, cùng có trường hợp người ta chế tạo các Aeroten bằng sắt thép hình khối trụ Thông dụng nhất hiện nay là các Aeroten hình bể khối chữ nhật Nước thải chảy qua suốt chiều dài của bể và được sục khí, khuấy nhằm tăng cường lượng khí oxy hòa tan và tăng cường quá trình oxy hóa chất bẩn hữu cơ có trong nước Nước thải sau khi đã được xử lý sơ bộ còn chứa phần lớn các chất hữu cơ ở dạng hòa tan cùng các chất lơ lửng đi vào Aeroten Các chất lơ lửng này là một số chất rắn và có thể là các chất hữu cơ chƣa phải là dạng hòa tan Các chất lơ lửng là nơi vi khuẩn bám vào để cƣ trú, sinh sản và phát triển, dần thành các hạt cặn bông Các hạt này dần dần to và lơ lửng trong nước Chính vì vậy xử lý nước thải ở Aeroten được gọi là quá trình xử lý sinh vật lơ lửng của quần thể sinh vật Các bông cặn này cũng chính là bùn hoạt tính Để giữ cho bùn hoạt tính ở trạng thái lơ lửng và đảm bảo đảm bảo oxy cho quá trình oxy hóa các chất hữu cơ thì phải luôn luôn đảm bảo việc thoáng gió.Số lƣợng bùn tuần hoàn và số lƣợng khí cần cấp phụ thuộc vào độ ẩm và mức độ yêu cầu xử lý nước thải.Thời gian nước lưu trong bể Aeroten không quá 12 giờ (thường 4 - 8 giờ) [19]
Một số hệ thống xử lý nước thải đang được áp dụng ở bệnh viện hiện nay:
Hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình
Bệnh viện Đa khoa Thành phố Hòa Bình đƣợc tái thành lập năm 2006 Đến cuối năm 2012, bệnh viện có 520 giường bệnh kế hoạch và 778 giường bệnh thực kê Tổng số bệnh nhân đến khám bệnh là 121092 lƣợt, tổng số bệnh nhân vào điều trị nội trú là 27404 lượt Đối tượng người bệnh đến viện chủ yếu là bệnh nhân có bảo hiểm y tế ở tuyến dưới chuyển đến do bệnh viện hiện có rất ít thẻ đăng ký khám chữa bệnh ban đầu
Sơ đồ hệ thống xử lý
Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh
Hòa Bình Thuyết minh sơ đồ:
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU13
Mục tiêu
2.1.1 Mục tiêu chung Đề tài đề xuất được giải pháp nhằm bảo vệ môi trường tại bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên
- Đánh giá được hiện trạng xử lý nước thải của bệnh viện
- Đề xuất được giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nước thải.
Nội dung nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu nói trên, đề tài đã thực hiện ba nội dung nghiên cứu nhƣ sau:
- Nghiên cứu đặc tính của dòng thảitại bệnh viện
- Nghiên cứu thực trạng quản lý và xử lý nước thải của bệnh viện
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả xử lý.
Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu đƣợc thực hiện tại bệnh viện đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên
- Đề tài tập trung vào đánh giá hiệu quả xử lý của hệ thống thông qua một số chỉ tiêu môi trường nước như sau: pH, nhiệt độ, TSS, BOD5, COD, P tổng , NO - 3 , NH 4 + ,Tổng Coliform, Vi khuẩn, KLN…
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu Đề tài đã thu thập và sử dụng những tƣ liệu, kết quả đã đƣợc công bố của các công trình nghiên cứu khoa học, các văn bản mang tính pháp lý, những tài liệu điều tra của các cơ quan có thẩm quyển… liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa và chọn lọc các nghiên cứu đã được thực hiện trước đây, các nguồn thông tin đƣợc kế thừa gồm: Báo cáo hằng năm của thành phố Thái Nguyên về công tác quản lý chất thải; Các giáo trình về về quản lý nước thải, chất thải rắn y tế và các công trình nghiên cứu, tính toán; Các thông tin trên trang web có liên quan…
2.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp Để có đánh giá sơ bộ về chất lượng môi trường bệnh viện, đồng thời thu thập thông tin về nguồn gốc, lưu lượng nước thải và xác định vị trí lấy mẫu Đề tài đã tiến hành điều tra hiện trường Khảo sát hệ thống cấp, thoát nước, các đường ống, kênh dẫn nước của bệnh viện, đồng thời tìm hiểu nguồn gốc của nguồn thải thông qua các kỹ thuật viên của bệnh viện
+ Lấy mẫu: Mẫu được lấy ở khu nước thải tập trung và sau khi xử lý + Dụng cụ lấy mẫu là chai polyetylen đƣợc rửa sạch bằng xà phòng, tráng lại bằng nước cất và sau đó là nước thải
+ Thời gian lấy mẫu: 9h – 10h, ngày 24/3/2015
+ Bảo quản mẫu theo TCVN 4556:1988 - Nước thải, phương pháp lấy mẫu, vận chuyển và bảo quản mẫu
2.4.3 Phân tích trong phòng thí nghiệm
Do nước thải có thành phần và tính chất gần giống nước thải sinh hoạt: pH, nhiệt độ, TSS, BOD5, COD, Photpho tổng số, NO - 3, NH4
+,Tổng Coliform… Theo QCVN 28:2010 về nước thải Y tế
Phương pháp xác định pH theo TCVN 6492:1999 (ISO 10523:1994) - Chất lượng nước
Xác định pH bằng phương pháp đo nhanh ngoài hiện trường lấy mẫu là sử dụng giấy quỳ
Xác định chất rắn lơ lửng (SS)
Phương pháp xác định chất rắn lơ lửng (SS) theo TCVN 6625:2000 (ISO 11923:1997) - Chất lượng nước
Chất rắn lơ lửng (SS-Suspended Solids): Là các chất có khối lƣợng nhỏ không lắng xuống mà bị lơ lửng trong nước Để xác định tổng chất rắn lơ lửng, mẫu nước lấy về nên được phân tích ngay, hoặc phải đƣợc bảo quản ở 4 0 C nhằm ngăn ngừa sự phân hủy chất hữu cơ bởi vi sinh vật
Quy trình phân tích SS như sau: Lấy một thể tích nước nhất định lọc qua giấy lọc đã biết khối lƣợng sau đó thu cặn trên giấy lọc, đem sấy khô ở
105 0 C đến khối lƣợng không đổi Sau đó cân giấy có cặn (residue) trên cân phân tích độ chính xác ±0,20 mg
Khối lƣợng của chất rắn (huyền phù) đƣợc tính bằng hiệu số giữa khối lƣợng của giấy lọc ( hoặc phễu lọc) có chất rắn khô sau khi sấy với khối lƣợng ban đầu của giấy lọc ( hoặc phễu lọc)
Nồng độ của tổng chất rắn lơ lửng bằng khối lƣợng của chất rắn lơ lửng mSS chia cho thể tích của mẫu nước đem phân tích, tính theo mg/l
Khối lƣợng của chất rắn huyền phù:mSS = msau khi sấy – mgiấy sạch (mg)
Trong đó: msau khi sấy : Là khối giấy lọc qua nước thải và đem sấy m giấy sạch : Là khối lƣợng thực của giấy lọc sạch Nồng độ của tổng chất rắn lơ lửng đƣợc xác định bằng công thức:
Chất rắn hòa tan (DS-Dissolved Solidsbao gồm những thành phần có khả năng đi qua giấy lọc Tổng chất rắn hoà tan bằng tổng chất rắn trừ đi tổng chất rắn lơ lửng
Quy trình phân tích: Lọc mẫu nước qua giấy lọc băng xanh để tách các phân tử không tan lơ lửng trong nước Lấy 250ml nước đã lọc làm bay hơi trên bếp cách thuỷ đến cạn khô, sau đó sấy cặn ở 105 0 C đến khối lƣợng không đổi rồi đem cân và tính tổng hàm lượng chất rắn tan có trong nước theo mg/l
Tổng số chất rắn: Tổng số chất rắn là bã rắn còn lại sau khi làm bay hơi và sấy khô mẫu phân tích ở 103 0 C đến 105 0 C Nồng độ của tổng số chất rắn đƣợc biểu diễn bằng số miligam của chất rắn khô có trong 1 lít mẫu và đƣợc xác định theo công thức sau:
Xác định nh cầ o i inh h BOD)
Xác định BOD theo TCVN 6001 - 1:2008 - Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxy hóa sau n ngày (BOD n )
Trong nước luôn xảy ra các phản ứng oxi hoá các chất hữu cơ có sự tham gia của các vi sinh vật Các quá trình này tiêu tốn oxi và đƣợc đặc trƣng bằng chỉ số nhu cầu oxi sinh hoá
Nhu cầu oxi sinh hoá (BOD) là lƣợng oxi mà vi sinh vật đã sử dụng trong quá trình oxi hoá các chất hữu cơ trong nước:
Chất hữu cơ + O2 VSV CO2 + H2O + Sản phẩm cố định
Chuẩn bị dung dịch pha loãng: Nước pha loãng được chuẩn bị ở chai to, rộng miệng bằng cách thổi không khí sạch ở 20 0 C vào nước cất và lắc nhiều lần cho đến khi bão hoà oxi, sau đó thêm 1ml dung dịch đệm photphat, 1ml dung dịch MgSO4, 1ml CaCl2, 1ml FeCl3, định mức bằng nước cất đến 1 lít Trung hoà mẫu nước phân tích đến pH= 7 bằng H2SO4 1N hay bằng NaOH 1N
Pha lượng mẫu nước trước khi xác định bằng nước hiếu khí đã chuẩn bị trước theo các mức sau:
0,1 – 1,0% đối với những mẫu nước có dòng chảy mạnh
1 – 5% đối với những mẫu nước cống chưa hoặc đã để lắng
5 – 25% đối với nước đã bị oxi hoá
25 - 100% đối với những mẫu nước sông đã bị ô nhiễm
Khi pha loãng cần hết sức tránh không để oxi cuốn theo Sau khi pha loãng xong cho mẫu vào trong 2 chai dung tích 300ml để xác định BOD, đóng kín nút chai, một chai dùng để ủ 5 ngày ở nơi tối ở nhiệt độ 20 0 C, một chai dùng để xác định DO ban đầu trong mẫu đã pha loãng
Lƣợng BOD đƣợc tính theo mg O2/ml theo công thức:
DO1 là lƣợng o xi hoà tan (mg/l) của dung dịch mẫu đã pha loãng sau 15 phút
DO5 là lƣợng o xi hoà tan (mg/l) trong mẫu sau 5 ngày ủ ở 20 0 C, P là hệ số pha loãng đƣợc tính nhƣ sau:
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên
Thái Nguyên là tỉnh miền núi thuộc vùng Trung du - Miền núi Bắc bộ, phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội, Phía bắc giáp Bắc Cạn, phía đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, phía tây giáp các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3526,2 km 2 dân số trung bình đến 31/12/2009 là 1.127.430 nghìn người Thái Nguyên là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục y tế của Việt Nam nói chung, của vùng trung du miền Đông Bắc nói riêng Đây là một trong những vùng chè nổi tiếng của cả nước, một trung tâm công nghiệp gang thép của phía bắc, cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa trung du miền núi với đồng bằng Bắc Bộ Sự giao lưu được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình dẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút Tọa độ địa lý nằm 20 0 20’ đến 22 0 25’ vĩ độ Bắc;
105 0 25’ đến 106 0 16’ kinh độ Đông Thái Nguyên là nơi tụ hội các nên văn hóa dân tộc, đầu mối của các hoạt động văn hoá, giáo dục của vùng núi phía Bắc rộng lớn Với 6 trường Đại Học, trên 20 trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật Thái Nguyên xứng đáng là trung tâm văn hóa, nghiên cứu khoa học và giáo dục - đào tạo của các tỉnh miền núi phía Bắc Vị trí địa lý của tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh, thành phố trong vùng, trong cả nước cũng như với nước ngoài trong thời kì hội nhập và phát triển kinh tế
Thái Nguyên ngày nay có 1 thành phố là Thái Nguyên, 1 thị xã là Sông Công, 7 huyện là: Định Hoá, Phú Lương, Võ Nhai, Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên
3.1.2 Địa hình và khí hậu
Thái Nguyên có địa hình đặc trƣng là đồi núi đá vôi và đồi dạng bát úp
Do nằm sát chí tuyến Bắc trong vành đai Bắc bán cầu, nên khí hậu của tỉnh Thái Nguyên mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên vào mùa nóng (mƣa nhiều) từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình khoảng 23-28 0 C và lƣợng mƣa trong mùa này chiếm tới 90% lƣợng mƣa cả năm Mùa đông có khí hậu lạnh (mƣa ít) từ tháng 11 đến tháng
4 năm sau Song do có sự khác biệt rõ nét ở độ cao và địa hình, địa thế nên trên địa bàn Thái Nguyên hình thành các cụm tiểu vùng khí hậu khác nhau Sự đa dạng về khí hậu của Thái Nguyên đã tạo nên sự đa dạng, phong phú về các tập đoàn cây trồng, vật nuôi Đặc biệt tại Thái Nguyên, chúng ta có thể tìm thấy cả cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới Đây chính là cơ sở cho sự da dạng hóa cơ cấu sản phẩm nông nghiệp, phát huy lợi thế so sánh của các yếu tố sinh thái của tỉnh
Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc – Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú về chủng loại và trữ lƣợng, trong đó có nhiều loại có ý nghĩa đối với cả nước như mỏ sắt, mỏ than (đặc biệt là than mỡ) Dưới đây là một số khoáng sản có lợi thế so sánh của tỉnh và các loại khoáng sản có ý nghĩa trong việc cung cấp nguyên vật liệu cho phát triển ngành nghề nông thôn:
- Than mỡ: Trữ lƣợng tiềm năng khoảng trên 15 triệu tấn, chất lƣợng tương đối tốt, trong đó trữ lượng tìm kiếm thăm dò khoảng 8,5 triệu tấn
- Than đá: trữ lƣợng tìm kiếm và thăm dò khoảng trên 90 triệu tấn, phân bố tập trung ở mỏ Khánh Hòa, Núi Hồng, Cao Ngạn
- Sắt: Hiện đã phát hiện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 47 mỏ và điểm quặng, trữ lƣợng trên 50 triệu tấn
- Đất sét: Sét xi măng có trữ lƣợng khá lớn (khoảng 84,6 triệu tấn) phân bố ở Cúc Đường, Khe Me
- Đá vôi xây dựng: Trữ lƣợng khá lớn (khoảng 10 tỷ tấn) Tập trung ở khu núi Voi, La Giàng, La Hiên khoảng 222 triệu tấn
Tài nguyên đất: Kết quả tổng hợp trên bản đồ đất tỷ lệ 1/50.000 của tỉnh cho thấy đất đai của Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi (chiếm đến 85,8% tổng diện tích tự nhiên) Do sự chi phối của địa hình và khí hậu đất đồi núi của tỉnh bị phong hóa nhanh, mạnh, triệt để, đồng thời cũng đã bị thoái hóa, rửa trôi, xói mòn mạnh một khi mất cân bằng sinh thái Do tính đa dạng của nền địa chất và địa hình đã tạo ra nhiều loại đất có các đặc điểm đặc trƣng khác nhau Dưới đây là một số loại đất chính của tỉnh:
- Đất phù sa: Diện tích 19.448 ha, chiếm 5,49% diện tích tự nhiên Loại đất này phân bố tập trung chủ yếu dọc Sông Cầu, Sông Công và các sông suối trên địa bàn tỉnh, trong đó có 3.961 ha đất phù sa đƣợc bồi hằng năm ven sông thuộc huyện Phổ Yên, Đồng Hỷ, thị xã Sông Công và thành phố Thái Nguyên Đất phù sa của tỉnh thường có thành phần cơ giới trung bình, đất ít chua, hàm lƣợng dinh dƣỡng khá, rất thích hợp cho phát triển các loại cây trồng nông nghiệp, đặc biệt là cây trồng ngắn ngày (lúa, ngô, đậu đỗ, rau mầu)
- Đất bạc màu: Diện tích chỉ có 4.331 ha, chiếm 1,22% diện tích tự nhiên Loại đất này phân bố ở các huyện phía nam tỉnh Đất bằng hiện đã đƣợc sử dụng vào sản xuất nông nghiệp
- Đất dốc tụ: Diện tích 18.411 ha, chiếm 5,20% diện tích tự nhiên Loại đất này đƣợc hình thành và phát triển trên sản phẩm rửa trôi và lắng đọng của tất cả các loại đất ở các chân sườn thoải mái hoặc khe dốc, nên thường có độ phì khác nhau và phân tán trên địa bàn các huyện trong tỉnh Đây là loại đất rất thích hợp với trồng ngô, đậu đỗ và các loại cây công nghiệp ngắn ngày
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: Diện tích 4.380 ha, chiếm 1,24 % diện tích tự nhiên Loại đất này phân bố phân tán ở hầu khắp các thung lũng trên địa
26 bàn các huyện trong tỉnh, hiện đã đƣợc sử dụng trồng lúa và một số cây trồng ngắn ngày khác
- Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét: diện tích 136.880 ha, chiếm 38,65% diện tích tự nhiên, đây là loại đất có diện tích lớn nhất Phân bố tập trung thành các vùng lớn thuộc các huyện Phú Lương, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại Từ, Định Hóa Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, cấu trúc dạng cục, ngập nước lâu ngày sẽ có quá trình glây hóa mạnh Trên loại đất này có khoảng 48,5% diện tích có độ dốc từ 8-25 0 , rất thích hợp với phát triển cây chè, cây ăn quả
Tài nguyên nước mặt: Thái Nguyên là một tỉnh có mạng lưới sông suối khá dầy đặc và phân bố tương đối đều Gồm các sông lớn là:
- Sông Cầu: Sông Cầu là sông lớn nhất tỉnh có lưu vực 3.480 km 2 Sông này bắt nguồn từ Chợ Đồn (Bắc Cạn) chảy theo hướng Bắc Đông Nam qua Phú Lương, Đồng Hỷ, Phú Bình gặp Sông Công tại Phù Lôi huyện Phổ Yên Chiều dài sông chảy qua địa bàn Thái Nguyên khoảng 110km Lượng nước bình quân năm khoảng 2,28 tỷ m 3 nước/năm Trên sông này hiện đã xây dựng hệ thống thủy nông Sông Cầu (trong đó có đập Thác Huống) tưới cho 24.000 ha lúa 2 vụ của huyện Phú Bình (Thái Nguyên) và Hiệp Hòa, Tân Yên (Bắc Gang) Theo số liệu quan trắc tại Thác Bưởi huyện Phú Lương, lưu lượng nước trung bình của sông này là 51,4 m 3 /s, lưu lượng nhỏ nhất (tháng 2) là 11,3 m 3 /s và lưu lượng lớn nhất (tháng 8) là 128/m 3 /s
- Sông Công: có lưu vực 951km 2 bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá huyện Định Hóa chạy dọc chân núi Tam Đảo, nằm trong vùng có lƣợng mƣa lớn nhất trong tỉnh Dòng sông đã đƣợc ngăn lại ở Đại Từ thành hồ Núi Cốc có mặt nước rộng khoảng 25 km 2 , chứa khoảng 175 triệu m 3 nước, điều hòa dòng chảy và có khả năng tưới tiêu cho khoảng 12.000ha lúa 2 vụ, màu, cây công nghiệp cho các xã phía Đông nam huyện Đại Từ, thị xã Sông Công, huyện Phổ Yên và cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công.
Điều kiện kinh tế - xã hội
- Sông Dong: Sông này chảy trên địa phận huyện Võ Nhai chảy về Bắc Giang Lưu lượng nước vào mùa mưa 11,1m 3 /s và lưu lượng mùa kiệt là: 0,8m 3 /s Tổng lượng nước đến trong mùa mưa là: 147 triệu m 3 và trong mùa khô là 6,2 triệu m 3 Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn nhiều sông nhỏ khác phân bố đều khắp và một số hồ chứa tương đối lớn tạo ra nguồn nước mặt khá phong phú, phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân trong tỉnh
Tài nguyên du lịch: Thái Nguyên có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, về mặt tự nhiên có một số thắng cảnh tiêu biểu:
Thắng cảnh Hồ Núi Cốc cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 15 km về hướng tây nam Núi Cốc trải nhựa phẳng phiu, uốn lượn là tới khu du lịch Núi Cốc Hồ nằm giữa một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú, sơn thuỷ hữu tình Nơi đây đã nổi tiếng bởi nét đẹp thiên tạo từ bao năm Núi Cốc tên gọi một vùng đất, vùng hồ nên thơ, lung linh sắc màu huyền thoại của câu chuyện tình thủy chung trong truyền thuyết gắn với nàng Công - chàng Cốc Hồ Núi Cốc là hồ nhân tạo, chắn ngang dòng Sông Công, nằm trên địa phận huyện Đại
Từ, ở trên lƣng chừng núi hồ đƣợc khởi công xây dựng năm 1993, hoàn thành vào năm 1994 Hồ gồm một đập chính dài 480m và 6 đập phụ diện tích mặt hồ rộng 25 km 2 Trên mặt hồ rộng mênh mông có tới hơn 89 hòn đảo, lòng hồ sâu 23m, dung tích nước hồ là 175 triệu m 3 Hồ có khả năng khai thác từ
600 - 800 tấn cá/ năm Hồ Núi Cốc là danh thắng và là nơi nghỉ mát lý tưởng
Di tích hang Phƣợng Hoàng, suối Mỏ Gà thuộc xã Phú Thƣợng, huyện
Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên 42 km về phía đông bắc Đây là một quần thể thắng cảnh đẹp của tỉnh Thái Nguyên bởi phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hang động đẹp, nhiều dáng vẻ kì thú Nơi đây có thác nước, dòng suối trong xanh, mùa hạ khí hậu ôn hoà, mát mẻ Di tích danh thắng Phƣợng Hoàng, suối nước và bến tắm hang Mỏ Gà được nhà nước xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1994
3.2 Điề kiện kinh tế - ã hội
3.2.1 Hiện trạng về dân số - lao động
Theo số liệu thống kê năm 2013 toàn tỉnh có 1.127.430 người, sinh sống trên địa bàn: 144 xã, 23 phường, 15 thị trấn thuộc 9 đơn vị hành chính gồm: 2 thành phố, thị xã là Thành phố Thái Nguyên và Thị xã Sông Công; 2 huyện không thuộc huyện miền núi là Phổ Yên, Phú Bình và 5 huyện thuộc miền núi là: Định Hóa, Võ Nhai, Phú Lương, Đồng Hỷ và Đại Từ Đơn vị hành chính, mật độ dân số và dân số nông thôn đƣợc chi tiết ở bảng 3.1
Bảng 3.1: Đơn vị hành chính, mật độ dân số và dân số nông thôn
Hạng mục Đơn vị hành chính Mật độ - dân ố
Mật độ dân ố người/km2)
- Địa bàn có nhiều đơn vị hành chính và dân số trung bình đông là Thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ, huyện Phú Bình, huyện Phổ Yên
- Địa bàn có mật độ dân số thấp là huyện Võ Nhai, huyện Định Hóa, huyện Đồng Hỷ
- Địa bàn có tỷ lệ dân số nông nghiệp cao là: huyện Đại Từ chuyến 95,2% lao động xã hội; Võ Nhai 94,5%; Phú Bình 94,4%; Phú Lương 92,9%; Phổ Yên 91,4%
- Toàn tỉnh dân cư nông thôn hiện có 838.574 người chiếm 74,38% và lao động nông nghiệp 454.840 người chiếm 40,34% lao động toàn xã hội
- Lao động làm việc trong các ngành tạo việc làm mới đƣợc thể hiện qua bảng 3.2
Bảng 3.2: Hạng mục lao động đại bàn thành phố qua 4 năm thống kê
Số l o động đ ng làm việc 616.961 631.217 648.495 665.652
Số l o động nông, lâm, thủy ản 442.749 445.449 450.145 454.840
Số l o động công nghiệp và ây dựng 73.225 78.170 87.404 96.637
Số l o động đƣợc tạo việc làm 14.800 15.000 16.250 16.500
(Nguồn: http://www.thainguyen.gov.vn)
Các Trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp được thể hiện qua bảng 3.3
Bảng 3.3: Các Trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệptrên địa bàn thành phố (Tính đến 31/12/2013)
- Trường Đại học (Trường) + Số lượng giáo viên (người) + Số lƣợng học viên (người)
- Trường C o đẳng (trường) + Số lượng giáo viên (người) + Số lƣợng học viên (người)
- Trường Tr ng học chuyên nghiệp (trường) + Số lƣợng giáo viên (người) + Số lƣợng học viên (người)
- Cơ ở dậy nghề (Cơ sở ) + Số lƣợng giáo viên (người) + Số lƣợng học viên (người)
(Nguồn: http://www.thainguyentrade.vn) 3.2.2 Tình hình kinh tế
Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm gần đây có nhiều thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, một số ngành nghề trọng điểm đều có sự tăng về năng lực sản xuất; các thành phần kinh tế đều có sự tăng trưởng, nhất là kinh tế ngoài quốc doanh đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế nhiều thành phần song cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhƣ: thiên tai, dịch bệnh gia súc; giá cả đầu vào ở hầu hết các ngành sản xuất đều tăng làm cho chi phí sản xuất tăng cao đã đẩy giá thành sản phẩm tăng lên, ảnh hưởng không nhỏ tới sức cạnh tranh; kết cấu cơ sở hạ tầng, nhất là kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn miền núi tuy đã cải thiện nhƣng vẫn thiếu và xuống cấp; lĩnh vực xã hội còn nhiều bức xúc, tai nạn giao thông tuy có nhiều biện pháp nhằm kiềm chế nhƣng vẫn chƣa có xu
31 hướng giảm Song với sự chỉ đạo quyết tâm và nỗ lực cố gắng các cấp, các ngành và nhân dân toàn tỉnh nên tình hình kinh tế xã hội đã thu đƣợc kết quả đáng kể, kinh tế tiếp tục phát triển theo chiều hướng tích cực
Năm 2013, hầu hết các mục tiêu kinh tế-xã hội đều đạt và vƣợt kế hoạch đề ra:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trên địa bàn 12,46%, vượt mục tiêu kế hoạch đề ra và là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay Đóng góp vào mức tăng trưởng chung 12,46% thì khu vực công nghiệp và xây dựng vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất với mức đóng góp lớn nhất là 6,81%, trong đó giá trị sản xuất công nghiệp đạt 7.095 tỷ đồng, mức sản xuất của các thành phần kinh tế đều có sự tăng trưởng, nhất là khu vực ngoài quốc doanh; tiếp đến là khu vực dịch vụ, mức đóng góp 4,11% vào tốc độ tăng chung, trong đó nhóm ngành dịch vụ kinh tế tăng 13,8%, riêng ngành thương nghiệp tăng 16%, vận tải, bưu điện tăng 17,89%, các ngành dịch vụ xã hội tăng 10,15% và khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có mức đóng góp là 1,24%, riêng ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất và có vai trò quyết định đến tốc độ tăng trưởng chung của khu vực này, mức đóng góp của ngành nông nghiệp tăng khoảng 4,75% so với năm 2013
Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, GDP bình quân đầu người cũng có sự tăng đáng kể, năm 2013 đạt 8,8 triệu đồng/người/năm, tăng 1,7 triệu đồng/người/năm Cơ cấu kinh tế trên địa bàn tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng khu vực Công nghiệp – Xây dựng tăng nhanh và cao hơn nhiều so với mức bình quân chung, khu vực dịch vụ tăng xấp xỉ mức bình quân chung toàn tỉnh, trong khi đó khu vục Nông lâm nghiệp và thủy sản tăng chậm nên cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng khu vực Nông lâm thủy sản và tăng tỷ trọng khu vực Công nghiệp – Xây dựng Đánh giá chung, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh những năm gần đây, đặc biệt là năm 2013, tiếp tục phát triển theo hướng tích cực, các chỉ
32 tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của tỉnh đều hoàn thành so với kế hoạch và tăng khá so với cùng kỳ Một số lĩnh vực xã hội cũng có sự cải thiện đáng kể
3.2.3 Điều kiện chăm sóc sức khỏe cộng đồng (y tế) và trình độ (giáo dục) của thành phố Thái Nguyên
Điề kiện chăm c ức khỏe cộng đồng
Công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế đƣợc chú ý, quan tâm, kịp thời tổ chức khám, chữa bệnh đã cơ bản đáp ứng yêu cầu người dân nhân dân Thực hiện hiệu quả, đúng tiến độ chương trình xây dựng hệ thống bệnh viện tuyến huyện, trạm y tế xã trên địa bàn tỉnh, nâng cao chất lƣợng và số lƣợng Thực hiện tốt chương trình khám, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi, công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình thường xuyên được triển khai đến các cấp cơ sở, kịp thời hỗ trợ người dân trong việc chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ sinh sản (Nguồn: Báo cáo thống kê kinh tế xã hội tỉnh Thái
Tình hình giáo dục của thành phố Thái Nguyên
Công tác giáo dục và đào tạo tiếp tục có những chuyển biến tiến bộ Chất lƣợng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn đƣợc nâng lên; tăng cường công tác bồi dưỡng, ứng dụng công nghệ thông tin, thanh kiểm tra để duy trì nề nếp kỷ cương dạy và học, thực hiện hoàn thành tốt mục tiêu nhiệm vụ năm học; tỷ lệ huy động vào các cấp học đạt cao (mẫu giáo mầm non 5 tuổi đạt 99,5%; trẻ vào lớp 1 đạt 99,6%; tỷ lệ huy động học sinh học hết tiểu học vào THCS đạt 99,6%; huy động vào Trung học và dạy nghề đạt 90%); đã chuyển các trường mần non sang loại hình công lập để đảm bảo mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi; công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được thực hiện theo kế hoạch đề ra, dự ước đến hết năm 2015 có 64% số trường đạt chuẩn quốc gia Cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo các địa phương, đơn vị thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục, góp phần huy động được nhiều nguồn lực tham gia phát triển giáo dục và từng bước xây dựng xã hội học tập Chủ động phối hợp với các trường đại học trên địa bàn để tổ chức
Sơ lƣợc về bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên
tốt công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh (Nguồn: Báo cáo thống kê kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên năm 2014)
3.3 Sơ lƣợc về bệnh viện Đ kho Tr ng ƣơng Thái Ng yên
Bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên là bệnh viện hạng I trực thuộc Bộ Y Tế, đƣợc thành lập từ năm 1951, có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân các dân tộc miền núi vùng Đông bắc Việt Nam Bệnh viện đóng trên địa bàn trung tâm của tỉnh Thái Nguyên tại số 479 - Đường Lương Ngọc Quyến - TP Thái Nguyên có trách nhiệm phục vụ trực tiếp cho hơn 1,2 triệu dân của tỉnh
Ngoài ra đây còn là cơ sở đào tạo cán bộ y tế cho 17 tỉnh miền núi phía Bắc, đáp ứng yêu cầu đào tạo đa ngành, chất lƣợng cao, đào tạo chuyên sâu và sau đại học, đồng thời mở rộng cơ sở thực hành cho các trường Đại học Y
- Dƣợc Thái Nguyên và Cao đẳng Y tế Thái Nguyên
3.3.1 Cơ cấu tổ chức, quy mô bệnh viện
Bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên có tổng mặt bằng của bệnh viện là 69.125 m 2 , các công trình đƣợc xây dựng cải tạo, nâng cấp liên tục theo thời gian Tuy nhiên do các hạng mục công trình đƣợc xây dựng từ quá lâu, mặc dù có những hạng mục công trình đƣợc cải tạo nâng cấp phù hợp với điều kiện cũng nhƣ nhu cầu hiện nay, nhƣng còn nhiều hạng mục chƣa đƣợc sửa chữa, nâng cấp lần nào nay đã xuống cấp nghiêm trọng Những hạng mục công trình đƣợc cải tạo nâng cấp trong thời gian gần đây đã phát huy tốt là những nhân tố chính đủ điều kiện hoạt động của bệnh viện nhƣ khoa mổ, khoa tâm thần, khoa dinh dƣỡng… Tuy nhiên sự nâng cấp chƣa đồng bộ Trong thời gian tới bệnh viện sẽ nâng cấp đồng bộ các hạng mục công trình, đáp ứng đƣợc sự phát triển, mở rộng của bệnh viện
Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên có hơn 600 giường bệnh với 40 khoa, phòng và trung tâm đƣợc thể hiện qua sơ đồ 4.1
Hình 3.1: Cơ cấu tổ chức của bệnh viện Đa khoa Trung ương
Theo báo cáo hằng năm của bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên lên thành phố Thái Nguyên (năm 2014) thì trung bình một ngày bệnh viện tiếp nhận và chữa trị gần 500 lƣợt bệnh nhân khám chữa bệnh
3.3.2 Công tác quản lý chất thải rắn của bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Về khối lƣợng chất thải rắn y tế: Khối lƣợng chất thải rắn thay đổi theo từng khu vực, theo mùa và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan nhƣ quy
35 mô bệnh viện, điều kiện kinh tế địa phương, lưu lượng bệnh nhân, phương pháp, thói quen của nhân viên y tế trong khám chữa bệnh
Lƣợng chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên là 1,6 (kg/giường/ngày) thì mỗi ngày với lượng rác trung bình lên tới
1000 kg/ngày; 90 kg chất thải y tế nguy hại/ngày
Về thu gom, phân loại: Bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải rắn y tế tại chỗ Cụ thể là đã phân chất thải rắn y tế thành các nhóm: Chất thải lây nhiễm, chất thải thông thường, chất thải hoá học nguy hại, chất thải phóng xạ Đã tách riêng chất thải tái chế ra khỏi chất thải thông thường, tách riêng chất thải y tế sắc nhọn ra khỏi chất thải lây nhiễm Ở bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên, chất thải y tế đã đƣợc phân loại theo mã màu, nhƣng khi khảo sát còn xảy ra việc phân loại sai quy định, để lẫn chất thải sinh hoạt với CTYT nguy hại; dùng túi màu đen để đựng chất thải giải phẫu) Đánh giá kết quả thực hiện phân loại chất thải tại bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên đạt ở mức trung bình dựa vào tỷ lệ điểm đạt/tổng điểm quy chuẩn theo thang điểm định sẵn
Việc thu gom rác ở bệnh viện đƣợc thực hiện 2 lần mỗi ngày, nhƣ vậy bệnh viện đã thực hiện thu gom chất thải y tế hàng ngày theo quy định
Về vận chuyển, lưu giữ và xử lý rác thải: chất thải y tế của bệnh viện đã được xử lý sơ bộ tại nguồn phát sinh theo các phương pháp an toàn: xử lý bằng hóa chất (Presep 1% hoặc Cloramin B 5%) hoặc tiệt khuẩn bằng hấp ƣớt tại khoa đối với các chất thải của khoa huyết học và sinh hoá, sau đó đƣợc cơ quan có tư cách pháp nhân là Công ty môi trường đô thị chở đi đốt bằng lò đốt chất thải y tế Đây là lò đốt chất thải y tế của bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên do Bộ Y tế trang bị cho bệnh viện năm 2001, hiện nay lò đƣợc lắp đặt tại bãi chôn lấp rác sinh hoạt của thành phố và do Công ty môi trường đô thị vận hành, theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên Đây là một trong những điều kiện tốt để bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên thực hiện việc xử lý chất thải đảm bảo hợp vệ sinh, hạn chế ô nhiễm khí thải từ lò đốt chất thải y tế ảnh hưởng đến khu dân cư xung quanh [3]
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc tính nước thải của bệnh viện Đ kho Tr ng ương Thái Ng yên
4.1.1 Nguồn phát sinh và lưu lượng nước thải a Nguồn gốc phát sinh
Qua điều tra thực tế, nước thải từ bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên phát sinh từ hai nguồn chủ yếu: Nước thải y tế sinh ra trong quá trình khám, chữa bệnh và nước thải sinh hoạt
Ngoài ra, trong mùa mưa, ở bệnh viện có nước mưa chảy tràn vào hệ thống thu gom nước thải chung cuốn theo rác, đất đá và các chất lơ lửng khác, làm tăng lượng nước thải đi vào hệ thống xả Nguồn gốc nước thải tại bệnh viện Thái Nguyên đƣợc tóm tắt ở bảng 4.1
Bảng 4.1: Các nguồn và loại nước thải phát sinh của bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Nguồn phát sinh Mức độ tác động
Biện pháp xử lý Nước thải y tế nguy hại
Các dòng thải từ nước sàn, lavabo, các khu xét nghiệm và X-quang, phòng cấp cứu, khu bào chế dƣợc phầm, phẫu thuật
Lớn, phạm vi rộng và lâu dài
Thu gom, xử lý cơ – lý – hóa tại trạm xử lý nước thải
Các dòng thải từ nước sàn, lavabo và bể phốt của khu hành chính, nhà bếp, nhà ăn…
Lớn, phạm vi rộng và lâu dài
Thu gom, xử lý tại các bể tự hoại trước khi thải ra môi trường
Nước mưa chảy tràn trên bề mặt sân, mái nhà…
Nhỏ, cục bộ, thời gian ngắn, phụ thuộc và lưu lƣợng mƣa
Thu gom qua hệ thống thoát nước mưa của bệnh viện, một phần đi vào hệ thống xử lý nước thải để xử lý
Trong các nguồn phát sinh nước thải tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên thì nước thải từ hoạt động sinh hoạt là chủ yếu tổng lượng nước thải Còn nước chảy tràn chiếm tỉ lệ nhỏ nhất và phụ thuộc vào lượng nước mƣa chảy tràn trên bề mặt b Lưu lượng nguồn thải
Theo điều tra, lượng nước dùng cho Bệnh viện biến đổi rất phức tạp theo từng giờ trong ngày, tập trung nhiều vào các giờ hành chính phụ thuộc vào mục đích sử dụng nước được thể hiện ở bảng 4.2 (tính cho mỗi giường bệnh)
Bảng 4.2: Nước thải cho mỗi giường bệnh
Loại hình nước thải Lư lượng
Rửa sàn, rửa nhà, tưới cây 100
Giặt giũ chăn màn và quần áo 110
Cán bộ công nhân viên phục vụ 25
Nhu cầu khác và rò rỉ (10%) 50
Với mỗi giường bệnh, lượng nước thải phát sinh trung bình là 600 lít/giường bệnh, như vậy, với quy mô 810 giường bệnh (bao gồm 600 giường bệnh đang được sử dụng và 210 giường đang được lắp đặt thêm) thì lượng nước thải phát sinh của bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên một ngày sẽ là:
So sánh với thực tế nước cấp hằng ngày của bệnh viện là khoảng 450 –
500 m 3 /ngày đêm thì hoàn toàn hợp lý c Hệ thống xử lý nước thải y tế bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên có tổng với quy mô hơn 2500 m 2 , hoạt động với công suất 520 m 3 /ngày.đêm
Hệ thống đƣợc quản lý và vận hành bởi 3 nhân viên kỹ thuật của tổ Điện – Nước thuộc phòng hành chính quản trị bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên Công nghệ đƣợc áp dụng tại hệ thống xử lý là lọc sinh học MBBR (Moving Bed Biofilm Reactor ), là công nghệ áp dụng kĩ thuật vi sinh dính bám trên lớp vật liệu có thể di chuyển (giá thể) cho vi sinh dính bám để sinh trưởng và phát triển
Tuy đã có hệ thống xử lý nước thải, nước thải được thu gom hoàn toàn nhưng việc phân loại và tách ra xử lý lại chưa áp dụng Hầu hết nước thải bệnh viện từ các nguồn đề đƣợc dẫn đến bể xử lý chung nên hiệu quả xử lý các chất có trong nước thải chưa được triệt để, làm giảm hiệu suất xử lý đặc biệt là amoni, COD, BOD
Sơ đồ hệ thống xử lý
Hình 4.1: Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải ý tế bệnh viện Đa khoa
Trung ương Thái Nguyên Thuyết minh sơ đồ
Nước thải bệnh viện theo mạng lưới thoát nước riêng được chảy qua song chắn rác thô để loại bỏ các rác thải có kích thước lớn như túi nilon, giấy vụn… Sau đó, đƣợc dẫn sang bể điều hòa Tại bể điều hòa, hệ thống đĩa sục khí nằm dưới đáy bể sẽ khuấy trộn đồng đều nước thải trên toàn bộ diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể sinh ra mùi khó chịu Nước thải tiếp