1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xác định thành phần loài và một số đặc điểm phân bố của các loài thuộc họ gừng zingiberaceae tại xã xuân sơn huyện tân sơn tỉnh phú thọ

103 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm Thanh Hà tôi tiến hành thực hiện chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu xác định thành phần loài và một số đặc điểm phân bố của các loài thuộc họ Gừng Zingiberaceae tại xã Xu

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Sau 4 năm học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, đến nay khóa học 2015 – 2019 đã kết thúc Để đánh giá kết quả học tập của sinh viên trước khi ra trường, được sự nhất trí của trường Đại học Lâm Nghiệp, khoa Quản lý tài nguyên rừng & môi trường và thầy giáo - Ths Phạm

Thanh Hà tôi tiến hành thực hiện chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu

xác định thành phần loài và một số đặc điểm phân bố của các loài thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) tại xã Xuân Sơn – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ”

Chuyên đề được hoàn thành dưới sự cố gắng của bản thân và trực tiếp là

sự hướng dẫn của thầy Phạm Thanh Hà, cùng các thầy cô giáo của trường Đại học Lâm Nghiệp, các cán bộ trong vườn Quốc gia, các cán bộ Kiểm lâm cùng người địa phương tại khu vực xã Xuân Sơn – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ và các bạn sinh viên trong trường đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản khóa luận này Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả tình cảm quý báu đó

Mặc đù đã có nhiều cố gắng nhưng do bản thân còn những hạn chế nhất định về mặt chuyên môn và thực tế, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên khóa luận này không tránh khỏi những thiếu xót nhất định Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô, các bạn sinh viên cũng như những ai quan tâm đến vấn đề này để bản chuyên đề này của tôi được hoàn thiện và sâu sắc hơn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Mai Kim Thúy

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tổng quan nghiên cứu về họ Gừng (Zingiberaceae) trên thế giới 3

1.2 Tổng quan nghiên cứu về họ Gừng (Zingiberaceae) tại Việt Nam 5

1.3 Tổng quan nghiên cứu về họ Gừng (Zingiberaceae) tại VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 7

CHƯƠNG 2.MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 9

2.1.1 Mục tiêu chung 9

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 9

2.2 Nội dung nghiên cứu 9

2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

2.4 Phương pháp nghiên cứu 10

2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu và phỏng vấn 10

2.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp 12

2.4.3 Phương pháp nội nghiệp 16

CHƯƠNG 3.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 19

3.1 Điều kiện tự nhiên 19

3.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu 19

3.1.2 Hiện trạng rừng và sử dụng đất 21

Trang 3

3.1.3 Thảm thực vật, động vật và phân bố của các loài quý hiếm 23

3.1.4 Đặc điểm về cảnh quan, văn hóa và lịch sử 25

3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 27

3.2.1 Dân số, lao động và dân tộc 27

3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội 28

3.2.3 Hiện trạng xã hội 29

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 Thành phần loài họ Gừng tại xã Xuân Sơn – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ 30

4.1.1 Kết quả điều tra các loài thực vật họ Gừng 30

4.1.2 Kết quả điều tra các loài thực vật họ Gừng tại xã Xuân Sơn 31

4.1.3 Đặc điểm đặc trưng của các loài thực vật họ Gừng 32

4.2 Phân bố của các loài thực vật họ Gừng 46

4.2.1 Xây dựng sơ đồ phân bố các loài thực vật họ Gừng 46

4.2.2 Thông tin phân bố theo trạng thái rừng và điều kiện địa hình 60

4.3 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới thực vật họ Gừng và đề xuất một số hướng giải pháp quản lí – bảo tồn tại khu vực nghiên cứu 65

4.3.1 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới thực vật họ Gừng tại khu vực nghiên cứu 65

4.3.2 Đề xuất một số hướng giải pháp quản lí, bảo tồn các loài thực vật họ Gừng tại khu vực nghiên cứu dựa trên kết quả của đề tài 70

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC BIỂU

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Danh sách những người được phỏng vấn 11

Bảng 3 1 Hiện trạng rừng và các loại đất đai Vườn quốc gia Xuân Sơn 21

Bảng 3 2 Hiện trạng trữ lượng các loại rừng Vườn quốc gia Xuân Sơn 22

Bảng 3.3 Thành phần Thực vật rừng Vườn quốc gia Xuân Sơn 25

Bảng 4.1 Danh lục các loài thực vật họ Gừng tại VQG Xuân Sơn 30

Bảng 4 2 Danh lục các loài thực vật họ Gừng xã Xuân Sơn – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ 31

Bảng 4.3 Bảng tổng hợp thông tin phân bố theo trạng thái rừng 61

và điều kiện địa hình 61

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.2 Sơ đồ phân bố loài Gừng gió 46

Hình 4.3 Sơ đồ phân bố loài Ngải tiên 47

Hình 4.4 Sơ đồ phân bố loài Riềng tàu 48

Hình 4.5 Sơ đồ phân bố loài Riềng nếp 49

Hình 4.6 Sơ đồ phân bố loài riềng ấm 50

Hình 4.7 Sơ đồ phân bố Riềng dài lông mép 51

Hình 4.8 Sơ đồ phân bố loài Sa nhân hoa thưa 52

Hình 4.9 Sơ đồ phân bố loài Riềng tía 53

Hình 4.10 Sơ đồ phân bố loài Nghệ đen 54

Hình 4.11 Sơ đồ phân bố loài Sa nhân 55

Hình 4.12 Sơ đồ phân bố loài Riềng Hải Nam 56

Hình 4.13 Sơ đồ phân bố loài Nghệ trắng 57

Hình 4.14 Sơ đồ phân bố loài Lương Khương 58

Hình 4.15 Sơ đồ phân bố tổng thể các loài thực vật họ Gừng 59

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Là một trong 16 nước trên thế giới có tính đa dạng nhất hiện nay Việt Nam là quốc gia nằm dọc trên bán đảo Đông Dương, kéo dài theo hướng bắc nam với hơn 1.600 km trên đất liền Sự chia cắt mạnh và nhỏ tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho các sinh vật phát triển và tạo ra sự phong phú của nhiều phức tạp của bề mặt địa hình là nhân tố quan trọng tạo nên sự đa dạng cao trong đa dạng sinh học ở Việt Nam, điển hình là có tới 3/4 lãnh thổ là đồi núi Tất cả những nhân tố về địa lý, địa hình và khí hậu đã góp phần tạo nên nguồn tài nguyên động – thực vật phong phú, đa dạng Theo thống kê "Tiếp cận các nguồn gen và chia sẻ lợi ích" (của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới - IUCN), thì tại Việt Nam có gần 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc hơn 2.256 chi,

305 họ; 69 loài thực vật hạt trần; 12.000 loài thực vật hạt kín; 2.200 loài nấm; 2.176 loài tảo; 481 loài rêu; 368 loài vi khuẩn lam; 691 loài dương xỉ và 100 loài khác

Trong ngành thực vật hạt kín thì họ Gừng (Zingiberaceae) không phải là

họ lớn, chỉ có khoảng 45 chi, 1.300 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới trong đó chủ yếu là Nam Á và Đông Nam của Châu Á Ở Việt Nam hiện biết 19 chi và 144

loài và thứ, trong đó nhiều cây có giá trị như riềng (Alpinia offcinarum Hance) làm gia vị và làm thuốc, Nghệ (Curcuma domestica Val.) làm thuốc chữa bệnh đau dạ dày, bệnh vàng da, Gừng (Zinggiber officinale Rosc) làm mứt, làm thuốc,

dễ tiêu, Nói chung họ Gừng có số lượng lớn các loài được sử dụng trong nhiều lĩnh vực: y học, dược phẩm, công nghệ thực phẩm Do vậy, nghiên cứu họ gừng

có cơ sở khoa học nhằm khai thác, sử dụng và bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên thực vật đã và đang là mối quan tâm lớn của các nhà khoa học Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về họ gừng mà mới chỉ có các công trình nghiên cứu về tính đa dạng hệ thực vật ở một số khu vực của VQG

VQG Xuân Sơn nằm ở điểm cuối của dãy Hoàng Liên Sơn, thuộc địa phận huyện Tân Sơn – Phú Thọ, có hệ sinh thái rừng điển hình của miền Bắc Việt Nam

Trang 8

Được chuyển từ KBTTT Xuân Sơn thành VQG theo Quyết định của Thủ tướng chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 49/2002/QĐ-TTg ngày 17 tháng 4 năm 2002 Cách Hà Nội 140 km, cách Việt Trì 80 km Với tổng diện tích

là 5.048 ha; được chia thành 03 phân khu: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 9.099 ha, phân khu phục hồi sinh thái với diện tích 5.737 ha và phân khu dịch

vụ hành chính có diện tích là 212 ha Vùng đệm VQG Xuân Sơn được quy hoạch với tổng diện tích 6.208 ha, trên địa bàn 29 thôn; 6 xã thuộc huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, gồm 9 thôn thuộc vùng đệm trong và 20 thôn thuộc vùng đệm ngoài Vườn là khu vực được đặc trung bởi rừng kín thường xanh trên núi đá và nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai, khí hậu thuận lợi cho các loài động thực vật sinh trưởng và phát triển tạo nên sự phong phú và đa dạng về thành phần loài và các hệ sinh thái

VQG Xuân Sơn còn được coi là “lá phổi xanh” là điểm du lịch hấp dẫn nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, có tác dụng to lớn trong việc điều hòa khí hậu, hấp thụ cacbonic và các khí thải công nghiệp Đây còn là nơi phòng hộ đầu nguồn sông Bứa, nơi cung cấp nước sản xuất, sinh hoạt của người dân sống xung quanh khu vực

Trong những năm gần đây, một số hoạt động điều tra, nghiên cứu về tính

đa dạng sinh học ở Vườn quốc gia Xuân Sơn đã được triển khai và phát hiện

được các loài mới như: Orchidantha virosa (thuộc họ Hùng lan), Thông pà cò (Pinus kwangtungensis) Theo số liệu điều tra, hiện nay tổng số loài thực vật đã

được phát hiện tại Vườn là 1263 loài thuộc 186 họ Tuy nhiên, các công trình, đề tài nghiên cứu về thành phần loài, đặc điểm, phân bố của họ Gừng

(Zingiberaceae) còn khá hạn chế, chưa đầy đủ chưa có sự hệ thống và thiếu tính

cập nhật Với hi vọng tìm hiểu, phát triển bảo tồn nguồn tài nguyên thực vật họ

Gừng tôi tiến hành thực hiện khóa luận với đề tài: “Nghiên cứu xác định thành

phần loài và một số đặc điểm phân bố của các loài thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) tại xã Xuân Sơn – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ.”

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu về họ Gừng (Zingiberaceae) trên thế giới

Người đầu tiên nghiên cứu về họ Gừng (Zingiberaceae) là Engelbert

Kaempfer, một bác sĩ người Đức, từ những mẫu vật mà Engelbert Kaempfer thu

được C Linnaeus (1753) đã đặt tên và mô tả 2 loài là Kaempfer galanga và

Kaempfer rotunda, cũng trong thời gian này C Linnaeus đã đặt tên và mô tả 4

chi: Amomum, Alpinia, Curcuma và Costus với 10 loài sau này được xếp trong

họ Gừng, cùng với một số chi và loài thuộc các họ khác nhau có chung đặc điểm nhị hữu nhị và 1 vòi nhụy

Sau C Linnaeus, còn có một số tác giả khác mô tả về các chi và các loài sau này được xếp vào họ Gừng Cũng theo quan điểm trên J G Koenig (1783)

mô tả 21 loài và 4 chi mới: Hura (Globba), languas (Alpinia), Hedychium và

Banksea (Costus)

Đến năm 1807, William Roscoe đã mô tả 66 loài gừng, phần lớn là được trồng ở Liverpool (Anh)

Năm 1815, W Roxburgh đã mô tả 8 chi với 47 loài thuộc họ Gừng ở Ấn

Độ, trong đó hầu hết được minh họa bằng hình vẽ

C L Blume (1823) nghiên cứu hệ thực vật ở Borgor (Indonesia) đã mô tả

8 chi và 20 loài, đến năm 1827 ông đã công bố 12 chi với 57 loài

Lindley (1835) đã đặt tên cho họ Gừng là Zingiberaceae được lấy tên từ tên chi Zingiber làm chi chuẩn Kể từ khi công trình của Lindley được công bố,

họ Gừng chính thức được coi là một taxon bậc họ riêng biệt, làm cơ sở cho các nhà thực vật nghiên cứu và sắp xếp các taxon vào họ Gừng

Năm 1883, G Bentham &J D Hooker đã nâng số chi của họ Gừng lên 21 chi với đặc điểm: Nhị hữu thụ 1, vòi nhụy 1 J G Baker (1894) dựa vào hệ thống của G Bentham & J D Hooker (1883) khi nghiên cứu họ Gừng ở Ấn Độ

đã mô tả 19 chi với 219 loài

Trang 10

J K Mangaly & M Sabu (1993) đã nghiên cứu chi Nghệ (Curcuma) ở

miền Nam Ấn Độ, giới thiệu 17 loài Nghệ có hình vẽ minh họa kèm theo

K Schumann (1904), dựa vào cách sắp xếp của lá thành xếp xoắn, bẹ lá

mở 1 bên hay hình ống, vào các cơ quan như: đài, tràng, nhị hoa, bầu hoa đã

công bố 38 chi, xếp trong 2 phân họ là Zingiberoideae và Costoideae

R E Holttum (1950), nghiên cứu họ Gừng ở Malesia đã mô tả và công bố

22 chi với 156 loài

Đến năm 1959, J Hutchinson đã xây dựng hệ thống phân loại họ Gừng

gồm có 45 chi, được xếp trong 4 tông là: Costeaa, Hedychieae, Globbeae và

Zingiberea với đặc điểm chính là nhị lép phát triển thành dạng cánh tràng, dính

hay không dính với cánh môi và số lượng ô trong bầu

H Melchior (1964) đã công bố 49 chi được xếp trong 2 phân họ là phân

họ Zingiberoideae với 3 tông là Hedychieae, Globbeae và Zingiberea và phân

họ Costoideae chỉ với 1 tông là Costeae

C A Backer (1968) nghiên cứu hệ thực vật Java đã mô tả 13 chi với 55 loài Gừng ở Java, viết dưới dạng khóa định loại

B L Burt và R M Smith (1972) đã công bố 48 chi được xếp vào 2 phân

họ Trong đó, phân họ Zingiberoideae gồm 4 tông: Hedychieae, Globbeae,

Alpiniaea và Zingibereae, và phân họ Costoideae chỉ có 1 tông Costeae

R M Smith (1985, 1986, 1987) nghiên cứu họ Gừng ở Borneo đã mô tả

15 chi với 123 loài

T L Wu & S J Chen (1981) khi nghiên cứu họ Gừng ở Trung Quốc đã

mô tả 19 chi với 144 loài Gừng, đã sử dụng hệ thống phân loại của K Schumann (1904)

J C Wang & al.(2000) nghiên cứu ở Đài Loan đã mô tả 5 chi với 18 loài

HU Qi-ming & Wu De-lin (2011) trong công trình “Flora of Hong Kong” khi nghiên cứu hệ thực vật ở Hồng Kông đã xây dựng khóa định loại và mô tả 4 chi với 29 loài thuộc họ Gừng (Zingiberaceae)

Trang 11

A Takhtajan (1987), cũng căn cứ vào các đặc điểm của nhị lép bên phát triển thành dạng cánh tràng hay tiêu giảm thành dạng dùi, trung đới kéo dài bao lấy vòng nhụy, số lượng các ô trong bầu cũng như cách sắp xếp của lá đã công

bố khoảng 47 chi được xếp trong 4 tông là: Hedychieae, Globbeae, Alpiniaea và

Zingibereae, Tách tông Costeae trong hệ thống của J.Hutchinson ra khỏi họ

Gừng và thành 1 họ riêng biệt là họ Costaceae (Họ Mía Dò)

J Kress và cộng sự (2002) đã công bố 53 chi được xếp trong 4 phân họ là:

Siphonochiloideae, Tamijoideae, Alpinioideae và Zingiberoideae với 6 tông

Một số tác giả khác: S Q Tong (Trung Quốc), Y M Xia (Thái Lan), K Larsen (Malaisia),…

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ sinh học

đã hỗ trợ rất tích cực cho việc nghiên cứu thực vật, bên cạnh các phương pháp truyền thống là phương pháp hình thái so sánh, còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu ở cấp độ phân tử như phân tích sinh học phân tử, hay phương pháp phân tích băng AND, với những thành tựu này thì các kết quả nghiên cứu đảm bảo độ chính xác cao hơn

1.2 Tổng quan nghiên cứu về họ Gừng (Zingiberaceae) tại Việt Nam

Ở Việt Nam, công trình đầu tiên đề cập đến các taxon họ Gừng là của J Loureo (1793) Tác giả đã mô tả 3 chi với 13 loài có ở miền Nam Việt Nam Những nghiên cứu về họ Gừng ở Việt Nam đáng kể nhất phải kể đến công trình nghiên cứu của F Gagnepain (1908) với công trình “Thực vật chí đại cương Đông Dương” (Flore Generale de L'Indo-chine) Tác giả đã lập khóa định loại

và mô tả 13 chi, 118 loài ở Đông Dương, trong đó ở Việt Nam có 13 chi và 63 loài Cho đến nay nguồn tài liệu này dù đã cũ nhưng vẫn là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng

Sau công trình này còn có một số công trình nghiên cứu về họ Gừng ở Việt Nam như trong cây cỏ Việt Nam của Lê Khả Kế và cộng sự (1975), tác giả

đã lập khóa định loại và mô tả 8 chi, 25 loài thường thấy ở Việt Nam

Trang 12

Phạm Hoàng Hộ (1972) giới thiệu ngắn gọn 11 loài Gừng ở miền Nam

Việt Nam Phạm Hoàng Hộ (1993, 2000) trong cây cỏ Việt Nam đã lập khóa

định loại và mô tả 22 chi, 108 loài thuộc cây họ Gừng ở Việt Nam Trong công trình này tác giả nhắc đến hệ thống phân loại của K Schumann (1904) với 2 phân họ và 4 tông, nhưng các taxon bậc chi lại không được mô tả và sắp xếp theo hệ thống, có khóa định loại đến chi nhưng không đầy đủ Tác giả mô tả 108 loài trong 22 chi nhưng chỉ có khóa định loại của 10 chi, không có khóa định loại tới loài Tuy nhiên, “Cây cỏ Việt Nam” là một tài liệu bố sung cho hệ thực vật Việt Nam gần một nửa số chi với một nửa số loài so với Gagnepain (1908) Công trình chỉ mô tả ngắn gọn với hình vẽ đơn giản nhưng dễ nhận ra các chi và loài Công trình này được xuất bản lại vào năm 2000 có bổ sung, chỉnh sửa đã đưa tổng số chi là 25 chi với số loài là 115 loài

Nguyễn Thế Bân (2005) trong công trình “Danh lục các loài thực vật Việt Nam”, tác giả đã đưa ra danh lục đề cập đến 18 chi với 131 loài Tác giả đã cung cấp một số dẫn liệu về vùng phân bố, dạng sống và sinh thái cũng như giá trị sử dụng của mỗi loài

Nghiên cứu đầy đủ và có tính hệ thống nhất về họ Gừng ở Việt Nam phải

kể đến công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quốc Bình (2011) Với công trình này tác giả đã công bố ở Việt Nam có 19 chi với 144 loài và thứ tự được

xếp trong 2 phân họ: Alpinoideae và Zingiberoideae, 3 tông: Alpinieae,

Zingibereae và Globbeae đồng thời cung cấp thông tin về phân bố và giá trị sử

dụng của các loài trong họ Gừng Trong 19 chi thì có 14 chi với 64 loài được sử dụng trong các lĩnh vực như làm thuốc, làm gia vị, làm cảnh và cho tinh dầu

Năm 2015 trên cơ sở các mẫu thu thập được từ năm 2010 đến năm 2014 bởi sự hợp tác nghiên cứu giữa Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và vườn thực vật Singapore, một số nhà khoa học Tp Hồ Chí Minh 9 loài Gừng mới đã được công bố trong tạp chí chuyên nghành Phytotaxa Số lượng loài mới thuộc chi này chiếm 64% số loài Gừng đã biết cho thấy sự phong phú đa dạng của chi Gừng nói riêng và họ Gừng Việt Nam nói chung

Trang 13

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác ở Việt Nam về họ Gừng, tuy nhiên chỉ là các nghiên cứu về một số chi riêng lẻ, hay các công bố về các chi, loài mới bổ sung cho hệ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam trên các tạp chí trong và ngoài nước như của Theilade & J Mood (1999), K Larsen &

M F Newman (2001), T Rehse & J Kress (2003), Nguyễn Quốc Bình

Bên cạnh những công trình nghiên cứu về phân loại và hệ thống học, còn

có một số công trình nghiên cứu về giá trị tài nguyên của họ Gừng như Võ Văn Chi (1997) trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” đã giới thiệu 35 loài thuộc

10 chi làm thuốc

Lê Trần Đức (1997) đã giới thiệu 12 loài thuộc 5 chi các tác dụng làm thuốc

Đỗ Tất Lợi (1995) đã mô tả 13 loài thuộc 5 chi làm thuốc Đỗ Huy Bích

và các tác giả (2004) đã mô tả 16 loài thuộc 7 chi làm thuốc Trần Đình Lý (1993) trong “1900 loài cây có ích ở Việt Nam” đã giới thiệu 8 chi với 24 loài được sử dụng làm thuốc, làm gia vị, cho tinh dầu

Triệu Văn Hùng (2007) trong “Lâm Sản ngoài gỗ ở Việt Nam” đã giới thiệu 13 loài được sử dụng trong lĩnh vực làm thuốc và cho tinh dầu Trong những năm gần đây, VQG Xuân Sơn đã phối hợp với các tổ chức, cá nhân trong

và ngoài nước triển khai thực hiện các công trình, đề tài nghiên cứu và đã phát hiện, bổ sung được nhiều loài thực vật mới cho danh lục thực vật của Vườn

1.3 Tổng quan nghiên cứu về họ Gừng (Zingiberaceae) tại VQG Xuân Sơn – Phú Thọ

Theo kết quả điều tra khảo sát năm 2002 có tổng số 726 loài thực vật Năm 2005 có 1217 loài

Đặc biệt năm 2013 – 2014 VQG Xuân Sơn đã phối hợp với các nhà khoa học thuộc Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam đã điều tra, nghiên cứu thực tế tại hiện trường kết hợp với thu mẫu vật và giám định đã xác định được 02 loài thuộc họ Gừng bổ sung cho danh lục thực vật Việt Nam trong đó có 01 loài thuộc chi

Trang 14

Tiếp đó, phối hợp với trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga nghiên cứu và phát hiện

loài Tỏi rừng mới cho khoa học có tên là tỏi rừng Xuân Sơn (Aspidistra

xuansonnensis) với những kết quả nghiên cứu đó đã bổ sung cho danh lục thực

vật của VQG Xuân Sơn

Tháng 11 năm 2018, Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế cùng với Đội chuyên trách bảo vệ rừng VQG Xuân Sơn đã tiến hành điều tra, giám sát đa dạng sinh học tại khu vực núi Băng trên địa phận xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn,

tỉnh Phú Thọ Kết quả đã phát hiện quần thể Thông pà cò (Pinus

kwwangtungensis), việc phát hiện loài này đã bổ sung thêm 01 loài và 01 họ

thực vật, nâng tổng số thực vật của Vườn lên 1.263 loài và 186 họ

Ngoài ra, cũng đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về thực vật tại Vườn như:

Đỗ Trọng Thưởng (2009), Điều tra, thống kê nhóm cây có ích tại VQG Xuân Sơn – Phú Thọ, Khóa luận tốt nghiệp – Trường Đại học Lâm nghiệp

Nguyễn Thị Yến, Lê Ngọc Công, Đỗ Hữu Thư (2008), Kết quả điều tra tài nguyên thực vật tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Tạp chí KH&CN – ĐHTN, số 1

Nguyễn Thị Yến, Lê Ngọc Công, Đỗ Hữu Thư (2010), Kết quả điều tra sự

đa dạng thành phần loài thực vật ở Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ làm

cơ sở cho công tác quản lý và bảo tồn đa dạng nguồn tài nguyên, Tạp chí KH&CN – ĐHTN, số 6

Tuy nhiên, vẫn các công trình, đề tài nghiên cứu nào liên quan đến họ

Gừng (Zingiberaceae), đặc biệt là các đề tài nghiên cứu về thành phần loài, đặc

điểm phân bố các loài họ Gừng còn khá nhiều thiếu sót, chưa có tính hệ thống, các thông tin về sinh thái, hình ảnh minh họa, mẫu nghiên cứu chưa đầy đủ,…

Do xuất phát từ thực tiễn, tôi đề xuất tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu

thành phần loài và phân bố của các loài thực vật họ Gừng tại xã Xuân Sơn – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ.” nhằm góp phần thống kê được các loài trong

họ Gừng tại VQG Xuân Sơn, từ đó có thể đưa ra được các biện pháp quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ

Trang 15

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu chung

Xây dựng được cơ sở khoa học góp phần quản lí và bảo tồn có hiệu quả

các loài cây thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) tại xã Xuân Sơn – huyện Tân Sơn –

tỉnh Phú Thọ

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

Xác định được thành phần loài thực vật họ Gừng và một số đặc điểm phân

bố cơ bản của chúng làm cơ sở để đề xuất giải pháp quản lí, bảo tồn nhóm tài nguyên này tại khu vực nghiên cứu

2.2 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Nghiên cứu thành phần loài thuộc họ Gừng tại vườn Quốc gia

Xuân Sơn – tỉnh Phú Thọ

Nội dung 2: Xác định một số đặc điểm phân bố cơ bản của các loài thuộc

họ Gừng tại khu vực nghiên cứu

Nội dung 3: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới thực vật họ Gừng tại khu

vực ngiên cứu

Nội dung 4: Đề xuất một số hướng giải pháp quản lí, bảo tồn các loài họ

Gừng tại khu vực nghiên cứu

2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.3.1 Đối tượng nghiên cứu: Các loài trong họ Gừng (Zingiberaceae) dựa

trên cơ sở các mẫu vật và tài liệu

2.3.2 Phạm vi nghiên cứu: Xã Xuân Sơn – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ 2.3.3 Thời gian nghiên cứu: Tháng 1 – 5/2019

Trang 16

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu và phỏng vấn

2.4.1.1 Phương pháp kế thừa số liệu

Trong quá trình điều tra, nghiên cứu tại xã Xuân Sơn – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ đã thu thập được những tài liệu kế thừa cụ thể như sau:

- Các số liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn, đất đai, địa hình, tài nguyên thực vật

- Thông tin, tư liệu về điều kiện kinh tế - xã hội, dân số, lao động, thành phần dân tộc, tập quán canh tác ở khu vực vườn Quốc gia

- Các mẫu vật lưu giữ ở bảo tàng Thiên nhiên vườn Quốc gia Xuân Sơn

- Danh lục thực vật vườn Quốc gia Xuân Sơn – Phú Thọ

- Danh lục các loài thực vật nguy cấp quý hiếm

- Danh lục các loài có trong sách đỏ Việt Nam

- Công trình nghiên cứu vào năm 2013 – 2014 của vườn Quốc gia Xuân Sơn phối hợp với các nhà khoa học thuộc Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam đã

điều tra, nghiên cứu và xác định được 02 loài với 01 loài chi Riềng (Alpinia

pholyantha) và 01 loài thuộc chi Sa nhân (Amomum putressens)

- Và cùng năm là công trình của vườn Quốc gia Xuân Sơn phối hợp với trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga nghiên cứu và phát hiện loài Tỏi rừng mới có tên

là tỏi rừng Xuân Sơn (Aspidistra xuansonnensis)

2.4.1.2 Phương pháp phỏng vấn

- Đối tượng phỏng vấn là các chuyên gia, các nhà khoa học, các cán bộ

làm việc tại vườn Quốc gia, cán bộ kiểm lâm công tác tại vườn Quốc gia và đặc biệt là người dân địa phương có kinh nghiệm lâu năm về cây rừng, có hiểu biết chung về thực vật rừng và đối tượng nghiên cứu là thực vật họ Gừng, có khả năng nhận biết một số loài và nắm rõ về địa hình của khu vực nghiên cứu Cụ thể là khu vực xóm Dù – xã Xuân Sơn – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ

- Số lượng người phỏng vấn gồm 10 người được thống kê trong danh

sách dưới đây:

Trang 17

Bảng 2.1 Danh sách những người được phỏng vấn

1 Đào Văn Thông Cán bộ VQG Phòng KH & HTQT, VQG Xuân Sơn,

xã Xuân Đài – Tân Sơn – Phú Thọ

2 Vũ Thu Hiệp Cán bộ VQG VQG Xuân Sơn, xã Xuân Đài – Tân

Giáo viên Trường Tiểu học Xuân Sơn, xã Xuân

Sơn – Tân Sơn – Phú Thọ

- Phương pháp phỏng vấn được sử dụng là phỏng vấn theo từng cá nhân,

sử dụng kết hợp giữa bảng câu hỏi trả lời trắc nghiệm và phỏng vấn bán định hướng, sử dụng linh động và phù hợp với từng đối tượng phỏng vấn Bảng câu

hỏi được sử dụng cụ thể như sau:

Trang 18

1 Trong khu vực xã Xuân Sơn có những loài cây họ Gừng nào phổ biến

mà cô (bác) biết?

2 Những loài đó thì thường xuất hiện ở những khu vực rừng nào?

3 Đi qua vị trí tuyến đường nào thì có thể bắt gặp các loài cây họ Gừng?

8 Hoạt động mua bán trao đổi loài cây họ Gừng ở địa phương như thế nào?

9 Những tác động chủ yếu của người dân địa phương vào rừng bao gồm những hoạt động nào?

10 Vườn Quốc gia và ban quản lí rừng có những chính sách, hoạt động gì

để khuyến khích người dân tham gia bảo vệ nguồn tài nguyên thực vật họ Gừng nói riêng và bảo vệ tài nguyên rừng nói chung?

2.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp

2.4.2.1 Phương pháp điều tra theo tuyến

Dựa trên kết quả phỏng vấn về các loài thực vật họ Gừng và phân bố của chúng trên địa bàn xã Xuân Sơn, tiến hành thiết lập tuyến điều tra dựa trên các

Trang 19

đường mòn có sẵn để dễ dàng tiếp cận khu vực Tuyến điều tra có chiều dài không giống nhau được xác định đảm bảo đi qua tất cả các sinh cảnh, trạng thái rừng đặc trưng của khu vực nghiên cứu Tuyến điều tra được đánh dấu trên bản

đồ Hoạt động trên tuyến bao gồm dùng máy định vị GPS để xác định vị trí phân

bố của các loài trên các tuyến điều tra và trên bản đồ của vườn Quốc gia Xuân Sơn Chuẩn bị máy ảnh để lưu lại hình ảnh của các loài thực vật họ Gừng bắt gặp trên tuyến điều tra

Thiết lập tuyến điều tra căn cứ vào điều kiện thời gian cũng như về nhân lực vật lực cần thiết phục vụ công tác điều tra, nhằm thực hiện hiệu quả các nội dung của đề tài khóa luận đề ra nhưng vẫn đảm bảo về mặt thời gian, sức khỏe

và các điều kiện cần thiết khác Sau khi xem xét tất cả các yếu tố có liên quan như: Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp của vườn Quốc gia Xuân Sơn, điều kiện địa hình và ý kiến đóng góp của lãnh đạo, cán bộ khoa học – kĩ thuật đã nhiều năm công tác tại vườn Quốc gia cùng các đồng chí Kiểm lâm và người dân địa phương đã thiết lập được 02 tuyến điều tra sau:

- Tuyến I: Rừng rất giàu, đi từ Ban quản lí rừng VQG Xuân Sơn đến xóm Cỏi, chiều dài 9,7 km

- Tuyến II: Rừng giàu, đi từ trường tiểu học Xuân Sơn đến núi Ten, chiều dài 3,5 km

Trên các tuyến điều tra tiến hành quan sát phát hiện, xác định loài và thống kê những chỉ tiêu cần điều tra về thực vật họ Gừng, kết hợp thu mẫu tiêu bản, chụp ảnh đặc tả, ghi chú những đặc điểm cơ bản, dễ mất của mẫu khi khô,

mô tả mẫu vật và sinh cảnh sống của chúng, vị trí độ cao so với mặt nước biển Kết quả điều tra được ghi chép theo mẫu biểu 01

Trang 20

Mẫu biểu 01 BIỂU ĐIỀU TRA TUYẾN

Số hiệu tuyến:

Địa điểm điều tra:

TT Tên phổ

thông

Tọa độ bắt gặp (UTM)

Độ cao (m)

Độ dốc (°)

Hướng phơi

Trạng thái rừng

Mô tả mẫu vật

Đặc điểm nơi mọc

Trên tuyến điều tra tiến hành ghi chép thống kê lại các thông tin vào bảng:

- Tên loài: Các loài đã biết dựa vào các nguồn tài liệu tham khảo và hiểu biết cá nhân, xác định tạm thời tên phổ thông của loài

- Tên địa phương: Xác định dựa vào kiến thức bản địa của người dân địa phương, người dẫn đường đi cùng

- Tọa độ bắt gặp, độ cao: Sử dụng máy định vị GPS để xác định

- Độ dốc: Xác định bằng thước đo độ dốc

- Hướng phơi: Dựa vào la bàn để xác định vị trí hướng phơi

- Trạng thái rừng: Xác định dựa trên bản đồ bằng cách đưa vị trí tọa độ GPS của loài bắt gặp gióng lên trên bản đồ đã xác định sẵn trạng thái rừng

- Đặc điểm nơi mọc: Chú ý quan sát xung quanh vị trí mọc của loài và

mô tả lại các đặc điểm đặc trưng nhất

2.4.2.2 Phương pháp điều tra trong OTC

Trên tuyến điều tra tiến hành lập 01 OTC trên một trạng thái rừng nhằm xác định các chỉ tiêu được thể hiện trong mẫu biểu 02

Tổng số OTC đã điều tra là 02 OTC

Trang 21

Mẫu biểu 02 BIỂU ĐIỀU TRA TRONG OTC

Địa điểm điều tra:

Trạng thái rừng: Thành phần cơ giới đất:

Độ cao thân khí sinh

Chu vi bụi khóm

Số tầng rừng

Loài cây ưu thế trong tầng rừng

Trong OTC cần xác định mật độ cây của từng loài họ Gừng trong diện tích 1000m², số lượng bụi khóm, thân khí sinh của từng loài xuất hiện Cùng với

đó là xác định số tầng thứ của rừng và loài cây chiếm ưu thế trong tầng rừng đó

Xác định nhanh kết cấu đất bằng phương pháp xoe con giun: Lấy tầng đất mặt, vị trí mà rễ cây họ Gừng sống, dùng nước tẩm cho đất dẻo vừa phải, dùng hai lòng bàn tay xoe đất thành thỏi có đường kính 3 cm Nếu đất:

- Không xoe được thành thỏi: Đất cát

- Thành từng mảnh rời rạc: Cát pha

- Đứt đoạn khi xoe tròn: Thịt nhẹ

- Đứt đoạn khi uốn tròn: Thịt trung bình

- Thỏi liền nhưng rạn nứt khi uốn tròn: Thịt nặng

- Thỏi liền, vòng tròn nguyên vẹn: Đất sét

Để xác định môi trường sống của loài thực vật họ Gừng tiến hành điều tra

độ tàn che, che phủ trong OTC Độ tàn che, che phủ được thể hiện trong mẫu biểu 03

Trang 22

Mẫu biểu 03 BIỂU ĐIỀU TRA ĐỘ TÀN CHE, CHE PHỦ

Địa điểm điều tra:

Trạng thái rừng: Độ dốc: Độ cao:

Sử dụng phương pháp 100 điểm để xác định độ tàn che và che phủ như

sau: Dùng giấy cuốn thành ống dài với đường kính 3cm, cuộn vào sào thẳng, lần

lượt đứng vào từng vị trí ngắm độ tàn che ở phía trên và độ che phủ ở phía dưới

từ điểm 1 cho đến hết điểm 100

Mức độ đánh giá độ tàn che, che phủ là:

- Không chạm tán lá, không chạm thảm tươi: 0

- Chạm mép tán lá, chạm mép lá thảm tươi: 0.5

- Chạm giữa tán lá, chạm giữa lá thảm tươi: 1

2.4.3 Phương pháp nội nghiệp

2.4.3.1 Phương pháp nội nghiệp cho nội dung 1 và nội dung 2

• Phương pháp xác định tên loài: Từ mẫu vật, hình ảnh, bảng mô tả đã thu

thập được ngoài thực địa và tài liệu tra cứu bao gồm: Cây cỏ Việt Nam, thực vật

chí Đông Dương, từ điển thực vật rừng thông dụng, danh lục các loài thực vật

Việt Nam, Botanical paintings of chinese zingiberaceae, … Xác định được tên

khoa học của các loài thực vật họ Gừng và thông qua the plantlist, IPNI,

Planphoto,… để chuẩn hóa tên loài Qua đó thiết lập được danh lục các loài

thực vật họ Gừng cho khu vực xã Xuân Sơn – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ

như sau:

Trang 23

Danh lục các loài thực vật họ Gừng xã Xuân Sơn

huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ

mẫu

Số hiệu ảnh Khoa học Phổ thông Địa phương

• Tổng hợp thông tin về đặc điểm phân bố:

- Xây dựng sơ đồ phân bố các loài: Từ bản đồ kĩ thuật số đã được số hóa,

từ phần mềm map info và tọa độ GPS xây dựng được sơ đồ phân bố của từng loài

Từ đó xây dựng được sơ đồ tổng thể của tất cả các loài đã thu thập được tại khu vực nghiên cứu

- Thông tin phân bố theo trạng thái rừng và điều kiện địa hình: Được tổng hợp lại theo mẫu biểu sau:

Biểu tổng hợp thông tin phân bố theo trạng thái rừng S

Độ dốc (°)

Độ cao (m)

Hướng phơi

Độ tàn che

Độ che ph

Thành phần

cơ giới đất

Cây bụi, thảm tươi, TV ngoại tầng

Từ biểu tổng hợp đưa ra được những phân tích, đánh giá về đặc điểm phân bố của các loài thực vật họ Gừng và sự so sánh về phạm vi phân bố của các loài với nhau tại khu vực nghiên cứu

Trang 24

2.4.3.2 Phương pháp nội nghiệp cho nội dung 3

Dựa vào các nguồn tài liệu tham khảo, kế thừa, thông tin từ phỏng vấn, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới thực vật họ Gừng tại khu vực nghiên cứu Cụ thể là các yếu tố về:

- Tự nhiên

- Con người

Từ đó đưa ra được những đánh giá, nhận xét về các yếu tố ảnh hưởng đến tài nguyên thực vật họ Gừng tại khu vực nghiên cứu

2.4.3.3 Phương pháp nội nghiệp cho nội dung 4

Từ các nguồn thông tin đã thu thập được, số liệu đã tổng hợp và các quy định về chính sách pháp luật, thực tế về công tác tuyên truyền, quản lí bảo vệ rừng, hiện trạng sử dụng thực vật họ Gừng tại địa phương kết hợp với ý kiến tham khảo người dân địa phương, cán bộ chuyên trách tại vườn và cán bộ kiểm lâm tại khu vực thì với thực trạng như vậy thì nên có những hướng giải pháp như thế nào và nên có những thay đổi gì trong các chính sách quản lí, bảo tồn hiện tại

Trang 25

CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu

- Phía Bắc giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;

- Phía Nam giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình;

- Phía Tây giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La;

- Phía Đông giáp xã Tân Phú, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

- Kiểu địa hình núi thấp và đồi, độ cao <700m, chiếm khoảng 65% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, phần lớn là các dãy núi đất, có xen lẫn địa hình caster, phân bố phía Đông và Đông Nam Vườn, độ dốc trung bình từ 25 - 300,

độ cao trung bình 400m

- Địa hình thung lũng, lòng chảo và dốc tụ, chiếm khoảng 5% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, nằm xen giữa các dãy núi thấp và trung bình, phần lớn diện tích này đang được sử dụng canh tác nông nghiệp

3.1.1.3 Địa chất, đất đai

• Địa chất

Trang 26

Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984 cho thấy: Khu vực VQG Xuân Sơn có các quá trình phát triển địa chất phức tạp Các nhà địa chất gọi đây là vùng đồi núi thấp sông Mua Toàn vùng có cấu trúc dạng phức nếp lồi Nham thạch gồm nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen kẽ thành các dải nhỏ hẹp

• Đất đai

- Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FeH): Phân bố từ 700-1386m,

tập trung ở phía Tây của Vườn, giáp với huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình), huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La)

- Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp (Fe): Phân bố dưới

700m, thành phần cơ giới nặng, tầng đất dầy, ít đá lẫn, đất khá mầu mỡ, thích hợp cho các loài cây lâm nghiệp phát triển

- Đất Rangin (hay đất hình thành trong vùng núi đá vôi)-R: Đá vôi là loại

đá cứng, khó phong hoá, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hoá đến đâu lại bị rửa trôi đến đó, nên đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núi đá

- Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa và thung lũng (DL):

Là loại đất phì nhiêu, tầng dầy, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là limon (L) Hàng năm thường được bồi thêm một lớp phù sa mới khá màu mỡ

3.1.1.4 Khí hậu thủy văn

• Khí hậu

- Theo tài liệu quan trắc khí tượng thủy văn của trạm khí tượng Minh Đài

và Thanh Sơn, khí hậu tại khu vực VQG Xuân Sơn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa; mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô

- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 90% tổng lượng mưa

cả năm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8,9 hàng năm Lượng mưa bình quân năm là 1.826 mm, lượng mưa cực đại có thể tới 2.453 mm (năm 1971)

- Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ xuống thấp, lượng mưa ít và có nhiều sương mù

Trang 27

- Nhiệt độ trung bình cả năm là 22,50C; nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối vào các tháng 6 và 7 hàng năm, có khi lên tới 40,70

C; nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối vào tháng 11 đến tháng 2 năm sau, có khi xuống tới 0,50C

- Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 86%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 7, 8 (trên 87%), thấp nhất vào tháng 12 (65%)

• Thủy văn

VQG Xuân Sơn có các hệ thống suối như: Suối Thân; Suối Thang; Suối Chiềng các suối này đổ ra hệ thống Sông Vèo và Sông Dày Hai sông này hợp lưu tại Minh Đài, rồi đổ vào sông Hồng tại Phong Vực Tổng chiều dài của sông 120km, chiều rộng trung bình 150m, thuận lợi cho việc vận chuyển đường thủy

từ thượng nguồn về Sông Hồng

3.1.2 Hiện trạng rừng và sử dụng đất

• Diện tích các loại đất, loại rừng

Theo kết quả điều tra hiện trạng rừng và sử dụng đất của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Đông Bắc bộ tháng 1 năm 2013, tổng diện tích tự nhiên là 15.048 ha; trong đó đất sản xuất nông nghiệp 312,4 ha; đất lâm nghiệp 14.617,5 ha; đất phi nông nghiệp 118,1 ha Cụ thể như trong bảng 3.1:

Bảng 3 1 Hiện trạng rừng và các loại đất đai Vườn quốc gia Xuân Sơn Loại đất loại rừng

Diện tích (ha)

Phân theo xã Đồng

Sơn

Tân Sơn

Lai Đồng

Xuân Đài

Kim Thượng

Xuân Sơn

- Không có cây gỗ tái sinh 596,5 39,4 - - 62,6 211,5 283,0

- Có cây gỗ tái sinh 1.305,7 162,3 4,8 - 83,9 535,6 519,1

B Đất phi N.nghiệp 118,1 6,7 - - 27,3 16,3 67,8

Trang 28

Từ kết quả điều tra cho thấy:

- Đất có rừng chiếm 87% diện tích đất lâm nghiệp: rừng tự nhiên chiếm 82,6% tổng diện tích đất có rừng, trong đó rừng giàu chiếm 8,2%, rừng trung bình chiếm 14%, rừng nghèo chiếm 12,5%, rừng phục hồi chiếm 22,6%, rừng núi đá chiếm 39,7% và rừng hỗn giao chiếm 3%; rừng trồng chiếm 17,4% tổng diện tích đất có rừng, loài cây trồng chủ yếu là Keo và Bồ đề;

- Đất chưa có rừng chiếm 13% diện tích đất lâm nghiệp, phân bố rải rác trong VQG Loại đất này có tỷ lệ độ che phủ cao của lớp thảm cỏ, dây leo, bụi dậm và cây gỗ tái sinh, đất còn hoàn cảnh của đất rừng nếu được khoanh nuôi bảo vệ tốt, hệ thực vật rừng sẽ phục hồi và phát triển mạnh

• Trữ lượng các loại rừng

Trữ lượng các loại rừng Vườn quốc gia Xuân Sơn được tổng hợp như sau:

Bảng 3 2 Hiện trạng trữ lượng các loại rừng Vườn quốc gia Xuân Sơn

Đơn vị tính: gỗ-m3; tre nứa- 1000 cây

Loại rừng Tổng cộng

Phân theo xã Đồng

Sơn

Tân Sơn

Lai Đồng

Xuân Đài

Kim Thượng

Xuân Sơn

triển nông thôn năm 2005 - 2010

Trang 29

3.1.3 Thảm thực vật, động vật và phân bố của các loài quý hiếm

• Hệ sinh thái

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

Phân bố thành các mảng tương đối lớn ở độ cao dưới 700m tại khu vực phía Nam của Vườn Thực vật tạo rừng khá phong phú, phổ biến là các loài

trong họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Trinh nữ

(Mimosaceae), họ Vang (Caesalpiniaceae) …

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình

Phân bố ở khu vực núi Ten, núi Voi và phần đất phía Tây của Vườn từ độ cao 700m trở lên Thực vật chủ yếu là các loài cây lá rộng thuộc các họ Dẻ

(Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Thích (Aceraceae), họ Chè (Theraceae), họ Sến (Sapotaceae)…

- Rừng kín thường xanh nhiệt đới trên đất đá vôi xương xẩu

Phân bố tập trung ở hai đầu dãy núi Cẩn Các loài đại diện chính như

Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Trai (Garcinia fagraeoides), Mậy tèo, Ô

rô, Teo nông (Streblus spp.), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Sâng (Pometia

pinnata)…

- Rừng kín thường xanh á nhiệt đới trên đất đá vôi xương xẩu

Phân bố thành những mảng tương đối rộng ở khu vực núi Cẩn từ độ cao 700m trở lên Các loài trong họ Dầu không còn thấy xuất hiện thay vào đó là sự

xuất hiện một số loài lá kim như Sam bông (Amentotaxus argotaenia), Thông tre

(Podocarpus neriifolius) và sự gia tăng của các loài thực vật á nhiệt đới như Re,

Dẻ, Chè

- Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy

Phân bố rải rác trong VQG Các loài đại diện như Hu đay (Trema

oriantalis), Ba gạc lá xoan (Euvodia meliaefolia), Xoan nhừ (Choerospondias axillaries), Màng tang (Litsea cubeba), Chò chỉ (Shorea chinensis)…

- Rừng thứ sinh Tre nứa

Trang 30

Rừng tre nứa chỉ chiếm một diện tích nhỏ (56 ha) ở khu vực phía Đông của Vườn Thực vật tạo rừng chủ yếu là loài Nứa lá nhỏ và một số loài cây gỗ mọc rải rác Dưới tán Nứa, thảm tươi ít phát triển thường là một số loài trong họ

Gừng (Zingiberaceae), họ Cỏ (Poaceae), mọc rải rác Dây leo phổ biến là Sắn

dây, Kim cang, Dất, Bìm bìm Loại rừng này có giá trị kinh tế kém, tuy nhiên trong điều kiện đất rừng ít màu mỡ và có mức độ chiếu sáng cao, rừng tre nứa có vai trò lớn trong việc giữ đất, chống xói mòn và tạo ra những điều kiện môi trường sống cho một số nhóm động vật hoang dã

- Rừng trồng

Trong Vườn có một số diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên người dân tự đầu tư trồng rừng Tuy nhiên, việc trồng các loài cây nhập nội với mục tiêu kinh tế tại VQG là không phù hợp Loài cây gây trồng chủ

yếu là Bồ đề, Keo Diện tích rừng trồng phân bố chủ yếu ở vùng thấp nằm ở

phía Đông và phía Nam của Vườn Việc phục hồi lại rừng ở đây ngoài biện pháp khoanh nuôi bảo vệ lợi dụng tái sinh tự nhiên, có thể tiến hành trồng rừng bằng

các loài cây bản địa như: Lát hoa, Chò chỉ, Chò nâu, Giổi ăn quả, Giổi xanh,

Mỡ, Chò xanh

- Trảng cỏ, cây bụi, cây gỗ rải rác

Phân bố rải rác khắp các khu vực ở cả 2 đai độ cao, nhưng tập trung hơn

cả vẫn là ở đai rừng nhiệt đới thuộc phần đất phía Đông của Vườn Phần lớn loại

thảm này là các trảng cỏ như cỏ tranh, lau lách… Dưới các trảng cỏ này, tình

hình tái sinh của các cây gỗ trở nên khó khăn Bởi vậy, khả năng phục hồi rừng

tự nhiên trên đất chưa có rừng đòi hỏi phải có một thời gian dài

- Hệ sinh thái nương rẫy, đồng ruộng và dân cư

Phân bố rải rác khắp VQG, nhưng tập trung thành diện tích lớn ở phía Đông của Vườn nơi có nhiều bản làng, bao gồm ruộng lúa nước, nương rẫy trồng lúa, hoa màu, chè

• Thành phần và Số lượng các taxon thực vật

Trang 31

Kết quả điều tra đã phát hiện và giám định được 1.259 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 699 chi của 185 họ, trong 6 ngành thực vật (Xem danh mục thực vật kèm theo) Kết quả tóm tắt danh mục thực vật rừng như sau:

Bảng 3.3 Thành phần Thực vật rừng Vườn quốc gia Xuân Sơn

+ Số loài cây có nguy cơ bị tuyệt chủng có tên trong sách đỏ Việt Nam là

46 loài, còn 1 loài (Chò chỉ) có tên trong danh sách đỏ thế giới nhưng không có tên trong sách đỏ Việt Nam là vì loài này ở Việt Nam chưa nguy cấp

+ Số loài cây có nguy cơ bị tuyệt chủng có tên trong danh sách đỏ Thế giới là 3 loài(Chò nâu, Chò chỉ, Máu chó poilane) nhưng chỉ có 2 loài trong số này được ghi tên trong sách đỏ Việt Nam (Chò nâu, Chò chỉ)

+ Trong tổng số 47 loài cây có nguy cơ bị tuyệt chủng tại Vườn quốc gia Xuân Sơn có 2 loài (Trai lý, Gù hương) có tên trong danh sách nhóm IIA ban hành kèm theo Nghị định 32 của chính phủ

3.1.4 Đặc điểm về cảnh quan, văn hóa và lịch sử

VQG Xuân Sơn có môi trường không khí, môi trường nước sạch sẽ, khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm từ 22O

C - 23OC Đặc biệt, một ngày ở Xuân Sơn thời tiết có nét đặc trưng của 4 mùa: buổi sáng mát mẻ, mang đặc trưng của khí hậu mùa xuân, buổi trưa ấm áp như mùa hè, buổi chiều hiu hiu như mùa thu, buổi tối trời se lạnh Một khu thiên nhiên kỳ vĩ với tất cả vẻ hoang

sơ của nó có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với những ai lần đầu đến đây

Trang 32

Xuân Sơn có địa hình đa dạng, nhiều cảnh đẹp và có những đặc điểm tự nhiên hoang dã (rừng, hồ, núi, thung lũng ) Địa hình này tạo sức hấp dẫn đối với khách ưa thích những nơi nhiều rừng, đồi, núi , có địa hình và phong cảnh

đa dạng, có trên 30 hang động, trong đó một số hang động có vẻ đẹp rất kỳ ảo và hấp dẫn như hang Lạng, hang Lun, hang Na, hang Thổ Thần Xuân Sơn có khí hậu mát mẻ, không khí trong lành, đặc biệt vào mùa hè là lợi thế của Vườn quốc gia Xuân Sơn trong phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng Bên cạnh còn có cộng đồng các dân tộc hiện vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc thể hiện trong trang phục, lễ hội như và đời sống sinh hoạt hàng ngày như đan lát đồ dùng thủ công, dệt thổ cẩm, thêu, lễ cấp sắc, múa đâm đuống, múa xòe, uống rượu hoẵng, cơm lam Đây là một trong những tiềm năng của du lịch sinh thái - nhân văn

Nằm trong thế chân kiềng của tổng thể cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ Tam Đảo - Ba Vì - Xuân Sơn Trong trục tâm linh của truyền thuyết lịch sử Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu; Sơn Tinh - Thủy tinh; Vua Hùng, Gà chín cựa đã tạo nên một Xuân Sơn kỹ vĩ và có nhiều lợi thế trong bảo tồn và phát triển bền vững

Trang 33

3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

3.2.1 Dân số, lao động và dân tộc

VQG Xuân Sơn và khu vực vùng đệm có 29 thôn thuộc địa giới hành chính của 6 xã Xuân Sơn, Tân Sơn, Lai Đồng, Đồng Sơn, Kim Thượng và Xuân Đài, huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ Các xóm phân bố chủ yếu dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất, ở độ cao từ 200 - 400 m so với mực nước biển, tập trung ở phía Đông, một phần phía Bắc và Nam của Vườn quốc gia

- Dân số: Theo kết quả thống kê tại các xã năm 2012, VQG Xuân Sơn và khu vực vùng đệm (29 thôn/xóm) có 12.559 người với 2.908 hộ; trong đó nằm trong vùng lõi VQG có 2.984 người với 794 hộ

- Lao động: Tổng số lao động trong VQG và khu vực vùng đệm là 7.391 người, chiếm 58,8% tổng dân số VQG và khu vực vùng đệm; trong đó

số lao động trong vùng lõi là 1.647 người, chiếm 22,3 % tổng số lao động;

số lao động khu vực vùng đệm là 5.744 người, chiếm 77,7% tổng số lao động

- Dân tộc: VQG Xuân Sơn và khu vực vùng đệm có 3 dân tộc đang sinh sống; Trong đó, dân tộc Mường có 2.324 hộ, chiếm 79,9%; dân tộc Dao có 546

hộ, chiếm 18,7 %; dân tộc Kinh có 38 hộ, chiếm 1,4 %

+ Dân tộc Mường

Người Mường sống thành từng xóm riêng biệt tại các xóm Lấp, Lạng và Nước Thang, một số ít sinh sống trong xóm Dù Trong sản xuất, người Mường vẫn giữ được tính cộng đồng Họ thường hỗ trợ lẫn nhau trong các công việc như làm ruộng, nương rẫy, hái lượm Người Mường có truyền thống làm ruộng

nước lâu đời, vì vậy ruộng nước của họ thường rất ổn định và bền vững

+ Dân tộc Dao

Người Dao phân bố ở các xóm Dù, Cỏi, Xoan, Tân Ong, Hạ Bằng và xóm Thân Người Dao ở đây còn giữ được nhiều phong tục tập quán và truyền thống đặc trưng của người Dao ở Việt Nam và đây cũng là nguồn tài nguyên nhân văn quý giá còn lưu giữ lại được ở nơi đây

Trang 34

3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội

• Trồng trọt

- Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là lúa nước, khoai, sắn, một số sản phẩm cây trồng phục vụ cho chăn nuôi Do thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn nên thời gian sinh trưởng của cây trồng kéo dài hơn Bên cạnh đó, phần lớn nguồn nước tưới phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên những tháng mùa khô thường xảy ra thiếu nước nên diện tích lúa nước ít, chủ yếu canh tác 1 vụ

- Diện tích khoai, sắn canh tác ở các sườn đồi, nơi đất ít dốc và hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên năng suất và sản lượng chưa cao

- Các loại cây trồng khác: ngô, đậu, lạc được trồng ở những khu đất cao, bằng phẳng không đủ điều kiện để làm ruộng nước

• Chăn nuôi

Cùng với trồng trọt, chăn nuôi luôn được chú trọng trong mỗi gia đình Nhìn chung hình thức chăn nuôi còn nhỏ lẻ theo hộ gia đình, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ, chưa hướng tới sản xuất hàng hoá tập trung Tuy nhiên, có một

số hộ gia đình chăn nuôi theo mô hình gia trại, trang trại Một số nơi, người dân còn duy trì phong tục chăn thả tự do vào rừng, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng non mới trồng

• Các hoạt động dịch vụ thương mại

- Du lịch sinh thái là thế mạnh của VQG Xuân Sơn, mang lại thu nhập đáng kể cho nhân dân trong vùng Các loại hình du lịch chính gồm: Du lịch sinh thái; du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa; du lịch thăm quan nghỉ dưỡng

- Những hoạt động du lịch vừa mang lại thu nhập cho người dân sinh sống trong vùng, vừa nâng cao ý thức trong việc bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, sinh thái, cảnh quan Tuy nhiên, các hoạt động dịch vụ du lịch mới tập trung ở trung tâm xã Xuân Sơn, hoạt động dịch vụ thương mại chủ yếu là bán lẻ hàng hóa tiêu dùng thiết yếu hàng ngày và nhà nghỉ tạm cho khách đến tham quan du lịch nên

số lượng khách đến thăm Vườn chưa nhiều Số lượng khách thăm quan chưa tương xứng với tiềm năng do một số nguyên nhân sau:

+ Chưa có hệ thống tổ chức quản lý, hướng dẫn và dịch vụ phù trợ như: Nhà hàng, nhà nghỉ, khu vui chơi giải trí

Trang 35

+ Các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu vực còn nhỏ lẻ, tự phát và chưa phát triển

+ Sản phẩm du lịch chưa đa dạng, lực lượng tham gia làm dịch vụ du lịch còn mỏng, chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có

• Đời sống và thu nhập của người dân

- Thu nhập bình quân trên đầu người trong khu vực vùng lõi và vùng đệm VQG khoảng 7,9 triệu đồng/người/năm Nguồn thu nhập chính của người dân trong khu vực chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc

- Tỷ lệ hộ nghèo của 6 xã thuộc VQG Xuân Sơn chiếm (35,9%) thấp hơn mức trung bình của huyện Tân Sơn Tỷ lệ hộ nghèo vùng lõi cao hơn vùng đệm Đây là thách thức cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững VQG Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2013-2020

3.2.3 Hiện trạng xã hội

• Giao thông

Hệ thống đường giao thông vào vùng lõi và vùng đệm VQG luôn được quan tâm đầu tư Tính đến năm 2012, có 94 km đường nhựa và đường bê tông đến trung tâm các xã; 67,7 km đường bê tông được trải đến thôn

• Y tế

Trong khu vực Vườn quốc gia có 1 trạm y tế được xây kiên cố tại trung tâm xã Xuân Sơn (xóm Dù) với 10 giường bệnh, 1 bác sỹ, 2 điều dưỡng, 1 y sỹ,

2 y tá Mỗi xóm có 01 y tá xóm Dụng cụ khám chữa bệnh ở trạm y tế được trang bị đơn giản, chỉ khám, chữa những loại bệnh thông thường Tuy nhiên, công tác y tế ở đây đã có nhiều cố gắng như phát thuốc sốt rét, sốt xuất huyết, tiêm phòng dịch, tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh

• Giáo dục

- Giáo dục trong khu vực VQG đã được chú trọng, hầu hết các xã có trường tiểu học và trường trung học cơ sở Các xóm đều có lớp cắm bản từ lớp 1 đến lớp 5, giáo viên hầu hết là người trên địa bàn huyện Số học sinh trong độ tuổi tiểu học được đến trường đạt 100% Tuy nhiên, số học sinh trong độ tuổi trung học cơ sở và trung học phổ thông đi học khoảng 70%

- Hầu hết các phòng học và phòng ở của giáo viên được xây dựng kiên cố

Trang 36

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thành phần loài họ Gừng tại xã Xuân Sơn – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ

4.1.1 Kết quả điều tra các loài thực vật họ Gừng

Qua đợt điều tra, tìm hiểu và nghiên cứu các loài thực vật họ Gừng tại VQG Xuân Sơn đã thống kê được 20 loài có phân bố tại vườn (theo danh lục họ Gừng của VQG Xuân Sơn) Các loài đều có mẫu vật và hình ảnh lưu lại tại bảo tàng VQG Xuân Sơn Cụ thể được thể hiện trong bảng 4.1

Bảng 4.1 Danh lục các loài thực vật họ Gừng tại VQG Xuân Sơn

Trang 37

4.1.2 Kết quả điều tra các loài thực vật họ Gừng tại xã Xuân Sơn

Theo kết quả điều tra thực địa đã phát hiện và giám định 13 loài thực vật

họ Gừng tại khu vực nghiên cứu Cụ thể như sau:

Bảng 4 2 Danh lục các loài thực vật họ Gừng xã Xuân Sơn – huyện Tân

phương

1 Zingiber zerumbet Gừng gió Gừng

gió

XS20190224016 P01

2 Hedychium coronarium Ngải tiên XS20190223005 P02

3 Alpinia zerumbet Riềng ấm XS20190223006 P03

4 Alpinia galanga Riềng nếp XS20190223008 P04

5 Alpinia purpurata Riềng tía XS20190223002 P05

6 Amomum thysoideum Sa nhân

hoa thưa

XS20190223003 P06

7 Alpinia chinensis Riềng tàu XS20190223004 P07

8 Curcuma zedoaria Nghệ đen XS20190223011 P08

9 Alpinia blepharocalyx Riềng dài

Nhận xét: Kết quả điều tra thu được 13 loài thuộc 5 chi bao gồm:

Zingiber, Hedychium, Alpinia, Amomum và Curcuma Trong đó có 8 loài có

trong danh lục các loài thực vật họ Gừng của VQG Xuân Sơn bao gồm Zingiber

zerumbet, Hedychium coronarium, Alpinia blepharocalyx, Amomum thysoideum, Alpinia chinensis, Alpinia hainanensis, Alpinia galanga, Amomum villosum và 5 loài mới bổ sung cho danh lục của VQG Xuân Sơn gồm Alpinia zerumbet, Alpinia purpurata, Curcuma zedoaria, Curcuma aromatica, Alpinia oblongifolia

Trang 38

Với 8 loài trong khu vực xã Xuân Sơn trên tổng số 20 loài của vườn quốc gia Xuân Sơn – tỉnh Phú Thọ thì các loài thực vật họ Gừng tại khu vực này

chiếm đến 40% tổng số loài thực vật họ Gừng của cả VQG Xuân Sơn Chứng tỏ

đây là khu vực tập trung cao các loài trong họ Gừng, điều kiện vùng lõi của VQG rất phù hợp với các loài thực vật họ Gừng

Hầu hết các loài thực vật họ Gừng tại khu vực nghiên cứu đều có nguồn gốc từ tự nhiên, chỉ có 1 loài được người dân địa phương gây trồng đó là loài

Amomum villosum – Sa nhân, hay còn gọi là Sa nhân đỏ

4.1.3 Đặc điểm đặc trưng của các loài thực vật họ Gừng

4.1.3.1 Zingiber zerumbet (L.) Smith – Gừng gió

Cây thảo, cao 1m hay hơn Thân rễ dạng củ, phân nhánh, lúc non màu vàng và thơm lúc già màu trắng vàng nhạt, đắng có mùi thơm Thân khí sinh khỏe, mọc đứng, nhẵn Lá không cuống, mọc thành hai dãy, hình mác thuôn, gốc hẹp dần, đầu nhọn dài, dài khoảng 20cm, rộng 5cm, mặt trên nhẵ mặt dưới

có lông rải rác, bẹ lá to nhẵn, lưỡi bẹ tròn, dễ gãy

Zingiber zerumbet – Gừng gió

(Nguồn ảnh: Mai Kim Thúy)

Trên thế giới, Gừng gió phân bố ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á, Nam Á, bao gồm một số nước như Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Lào, Việt Nam và Nam Trung Quốc Ở Việt Nam, cây mọc rải rác ở các tỉnh trung du, vùng núi thấp và

Trang 39

đôi khi cả ở đồng bằng Gừng gió là cây ưa ẩm, chịu bóng, thường mọc ở ven rừng và

dưới tán rừng kín thường xanh Ở vùng trung du và đồng bằng, cây mọc lẫn trong các lùm bụi dưới chân đồi hoặc quanh làng bản Gừng gió có hệ thống thân rễ phát triển Mỗi năm từ một nhánh mẹ có thể mọc thêm 2 – 3 nhánh con

Do đó, trong tự nhiên cây thường tạo thành những bụi lớn, có khi chiếm 1 – 2m2

(Nguồn: Từ điển thực vật thông dụng, tập II)

4.1.3.2 Hedychium coronarium Koenig – Ngải Tiên, Bạch Diệp

Hedychium coronarium – Ngải Tiên

(Nguồn ảnh: Mai Kim Thúy)

Cây thảo cao 1 – 2 m, có thân giống cây gừng, lá không cuống hình mũi giác, nhọn cả hai đầu, nhẵn ở mặt trên, có lông dễ rụng ở mặt dưới, dài tới 60

cm, rộng 12 cm, thơm, lưỡi bẹ to, 2 – 3 cm, có vảy dạng màng, tù, nguyên, bẹ lá

có khía, nhẵn, dạng màng

Cụm hoa hình trứng, dạng nón của cây thông, lá bắc lợp, lá bắc con 2 – 3 lần nhỏ hơn lá bắc, đầu có màu lục Hoa to, trắng, rất thơm Đài dạng ống, không có răng Tràng có ống dài gấp đôi, nhẵn, có 3 thùy hẹp màu trắng Nhị có

Trang 40

chỉ nhịn trắng dài bằng cánh môi, mang bao phấn có 2 ô liền nhau và trung đới kéo dài

thành bản ngắn Nhị lép hình trái xoan ngược, có móng dài Cánh môi hình trái xoan ngược, có móng dài, chẻ đến tận giữa 2 thùy tròn

Cây có nhiều dạng khác nhau tùy theo kích thước của cánh môi và của chỉ nhị

Phân bố ở Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Việt Nam, Malaixia, ôxtrâylia,… Ở nước ta cây mọc hoang và cũng được trồng ở nhiều nơi

Thường gặp ở nơi có khí hậu mát lạnh

Ra hoa từ tháng 5 đến tháng 10

Cây được trồng làm cảnh Thân, rễ, quả được dùng làm thuốc Ở Ấn Độ thân, rễ cây tán bột dùng làm thuốc hạ nhiệt và trị tê thấp, tinh dầu dùng làm thuốc trị giun Ở Vân Nam (Trung Quốc) thân, rễ cây dùng làm trị đòn ngã tổn thương, phong thấp, gân cốt nhức mỏi, cảm mạo đau mình mẩy, quả dùng trị đầy bụng, ăn uống không tiêu

(Nguồn: Từ điển thực vật thông dụng, tập II)

4.1.3.3 Alpinia zerumbet (Pers.) Burtt et Sm – Riềng ấm, riềng đẹp, sẹ nước

Cây thảo cao 2-3m Rễ to, mập Lá có phiến to, dài 25-70cm, rộng 10cm, cuống dài 2-5mm, mép cao 1,2cm

6-Cụm hoa ở ngọn, rủ xuống, dài 40cm, trục đầy lông, lá bắc con dài 30mm làm thành bao trắng, chóp hồng, đài cao 2cm, cánh hoa 2,5cm, môi dài 3,5cm, vàng, có sọc đỏ; nhị dài khoảng 25mm; bầu vàng, đầy lông Quả to, đường kính 2cm, đỏ, có lông

20-Phân bố ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc và Việt Nam Ở nước ta cây mọc rải rác ở các tỉnh phía Bắc qua các tỉnh miền Trung vào đến Tây Ninh và Bà Rịa – Vũng Tàu

Cây mọc hoang trong rừng, nơi ẩm mát Cũng thường được trồng làm cảnh

Ra hoa tháng 3-4, có quả tháng 7-10

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Lê Mộng Châu &amp; Lê Thị Huyên, (2000), Thực vật rừng, Giáo trình trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật rừng
Tác giả: Lê Mộng Châu &amp; Lê Thị Huyên
Năm: 2000
7. Nguyễn Hồng Quân, (1984), “Kết hợp chặt chẽ giữa khai thác với tái sinh nuôi dưỡng rừng”, Tạp chí Lâm nghiệp (số 7/1984) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết hợp chặt chẽ giữa khai thác với tái sinh nuôi dưỡng rừng”
Tác giả: Nguyễn Hồng Quân
Năm: 1984
8. Hà Văn Tường (2015). Nghiên cứu đặc điểm phân bố, tái sinh và giải pháp bảo tồn phát triển loài chò chỉ (Parashorea chinensis) tại VQG Xuân Sơn – tỉnh Phú Thọ, khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Lâm Nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm phân bố, tái sinh và giải pháp bảo tồn phát triển loài chò chỉ (Parashorea chinensis) tại VQG Xuân Sơn – tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Hà Văn Tường
Năm: 2015
9. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh học, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh học
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1997
10. Thái Văn Trừng (1978), Thảm thực vật rừng Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học kĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảm thực vật rừng Việt Nam
Tác giả: Thái Văn Trừng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kĩ thuật
Năm: 1978
11. Nguyễn Văn Trương, (1983), “Quy luật cấu trúc rừng gỗ hỗn loài”. Nxb Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy luật cấu trúc rừng gỗ hỗn loài”
Tác giả: Nguyễn Văn Trương
Nhà XB: Nxb Khoa học và kĩ thuật
Năm: 1983
1. Nguyễn Thế Bân (Chủ biên), (2003). Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập II. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
2. Nguyễn Tiến Bân (Chủ biên), (2005). Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập III. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
3. Võ Văn Chi (Chủ biên). Từ điển thực vật thông dụng, tập I. Nxb Khoa học và kĩ thuật Khác
4. Võ Văn Chi (Chủ biên). Từ điển thực vật thông dụng, tập II. Nxb Khoa học và kĩ thuật Khác
5. Võ Văn Chi (Chủ biên), (2012). Từ điển cây thuốc Việt Nam, tập I (bộ mới). Nxb Y học Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w