LỜI CẢM ƠN Đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài chim và đề xuất kế hoạch bảo tồn tại xã Vân Hòa và xã Tản Lĩnh thuộc địa phận Vườn Quốc gia Ba Vì, Hà Nội” được thực hiện vớ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI CHIM
VÀ ĐỀ XUẤT KẾ HOẠCH BẢO TỒN TẠI XÃ VÂN HÒA VÀ XÃ TẢN LĨNH THUỘC ĐỊA PHẬN VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ, HÀ NỘI
NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ NGÀNH: 7620211
Giáo viên hướng dẫn : ThS Giang Trọng Toàn
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Hồng Sơn
Hà Nội, 2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài chim và đề xuất kế
hoạch bảo tồn tại xã Vân Hòa và xã Tản Lĩnh thuộc địa phận Vườn Quốc gia Ba
Vì, Hà Nội” được thực hiện với sự hỗ trợ, giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức và cá
nhân Nhân dịp hoàn thiện bản Khóa luận, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, các thầy cô giáo Khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường, Bộ môn Động vật rừng đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt 4 năm học vừa qua
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới ThS Giang Trọng Toàn đã trực tiếp hướng dẫn tôi xây dựng đề cương, định hướng nghiên cứu, hướng dẫn thu thập, xử lý số liệu và hoàn thiện khóa luận
Tôi xin cảm ơn chính quyền và nhân dân địa phương xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã giúp đỡ tôi về chỗ ở và sinh hoạt trong suốt quá trình điều tra thực địa và trả lời trung thực các câu hỏi phỏng vấn
Mặc dù bản thân tôi đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu ngắn và kinh nghiệm nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên bản khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong quý thầy cô và bạn đọc có những ý kiến đóng góp để bản khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xuân Mai, ngày 20 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Hồng Sơn
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BNNPTNT Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
IUCN Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên
nhiên (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources)
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Phân loại chim ở Việt Nam 3
1.2 Đánh giá mức độ đa dạng thành phần loài 7
1.3 Một số nghiên cứu về khu hệ chim tại Vườn quốc gia Ba Vì 8
PHẦN II: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 12
2.1 Vườn quốc gia Ba Vì 12
2.2.1 Vị trí địa lý 12
2.1.2 Địa hình – địa thế 12
2.1.3 Tài nguyên rừng 13
2.1.3.1 Diện tích các loại rừng 13
2.1.3.2 Trữ lượng các loại rừng 14
2.2 Xã Vân Hòa 14
2.2.1 Vị trí địa lý 14
2.2.2 Khí hậu, thủy văn 15
2.2.3 Dân số 16
2.2.4 Hoạt động kinh tế 16
2.3 Xã Tản Lĩnh 16
2.3.1 Vị trí địa lý 16
2.3.2 Khí hậu, thủy văn 17
2.3.3 Dân số 18
2.3.4 Hoạt động kinh tế 18
PHẦN III: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 20
3.1.1 Mục tiêu chung 20
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 20
3.2 Đối tượng nghiên cứu 20
Trang 53.3 Phạm vi nghiên cứu 20
3.3.1 Về địa điểm 20
3.3.2 Về thời gian 20
3.4 Nội dung nghiên cứu 21
3.5 Phương pháp nghiên cứu 21
3.5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 21
3.5.2 Phương pháp phỏng vấn 22
3.5.3 Phương pháp điều tra theo tuyến 23
3.5.4 Phương pháp xác định các mối đe dọa đến các loài chim 27
3.5.5 Phương pháp xử lý số liệu 27
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Thành phần các loài chim tại khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa 30
4.1.1 Thành phần loài 30
4.1.2.Tình trạng bảo tồn của các loài chim tại xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa 45
4.1.3 Loài chim bổ sung cho Vườn quốc gia Ba Vì 49
4.2 Mức độ đa dạng các loài chim tại xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa 51
4.2.1 Mức độ đa dạng giữa các bộ chim 51
4.2.2 Mức độ đa đạng giữa các họ chim tại khu vực nghiên cứu 53
4.3 Các mối đe dọa tới khu hệ chim tại khu vực nghiên cứu 55
4.3.1 Săn bắn động vật hoang dã 56
4.3.2 Cháy rừng 56
4.3.3 Khai thác rừng 57
4.3.4 Thực vật xâm lấn 57
4.3.5 Xếp hạng các mối đe dọa 57
4.5 Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn các loài chim tại khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa 60
4.5.1 Giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng của các mối đe dọa 60
4.5.2 Giải pháp về kinh tế xã hội nâng cao đời sống người dân 61
4.5.3 Nâng cao nhận thức cho cộng đồng và các hình thức hỗ trợ khác 61
4.5.4 Giải pháp bảo tồn các loài chim trong khu vực nghiên cứu 62
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Phân loại Chim tại Việt Nam theo thời gian 3
Bảng 1.2: Cập nhật thay đổi về phân loại chim so với tài liệu kế thừa 10
Bảng 3.1: Nội dung các công việc đã thực hiện của đề tài 21
Bảng 3.2: Phiếu phỏng vấn Kiểm lâm và người dân địa phương 23
Bảng 3.3: Thông tin về các tuyến điều tra chim tại khu vực nghiên cứu 24
Bảng 3.4: Phiếu điều tra các loài chim theo tuyến 26
Bảng 3.5: Biểu điều tra các mối đe dọa đến các loài chim 27
Bảng 3.6: Danh sách các loài chim được ghi nhận tại khu vực nghiên cứu 28
Bảng 3.7: Kết quả đánh giá các mối đe dọa 29
Bảng 4.1: Tổng hợp thành phần các loài chim tại xã Tản Lĩnh và Vân Hòa 30
Bảng 4.2: Danh sách các loài chim được ghi nhận tại khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa 31
Bảng 4.3: Tình trạng bảo tồn của các loài chim tại xã Tản Lĩnh và Vân Hòa 45
Bảng 4.4: Danh sách các loài chim bổ sung cho Vườn quốc gia Ba Vì 49
Bảng 4.5: Mức độ đa dạng các họ chim tại khu vực Tản Lĩnh và Vân Hòa 53
Bảng 4.6: Xếp hạng các mối đe dọa tới khu hệ chim tại khu vực nghiên cứu 58
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ hiện trạng rừng tại VQG Ba Vì 13
Hình 2.2: Bản đồ ranh giới hành chính xã Vân Hòa 15
Hình 2.3: Bản đồ ranh giới hành chính xã Tản Lĩnh 17
Hình 3.1: Vị trí các tuyến điều tra chim tại khu vực nghiên cứu 25
Hình 4.1: Biểu đồ biểu diễn sự đa dạng của các bộ chim 52
Hình 4.2: Biểu đồ biểu diễn các họ chim đa dạng nhất (Số loài lớn hơn 4) 55
Hình 4.3: Bản đồ vị trí các mối đe dọa tới các loài động vật tại khu vực nghiên cứu 59
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu hệ chim Việt Nam đa dạng và phong phú với 887 loài thuộc 88 họ
và 20 bộ chim (Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân, 2011) Số lượng chim ở Việt Nam chiếm hơn 9% tổng số loài chim trên thế giới (9800 loài) (James, Clements F, 2007) và chiếm 34% tổng số loài chim ghi nhận tại vùng Phương Đông (2.586 loài) (Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và Karen Phillipps, 2000) Trong số các loài chim được biết đến ở Việt Nam có 11 loài chim đặc hữu, 40 loài chim quý hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng trên phạm vi toàn cầu (IUCN, 2019) và 76 loài chim đang bị đe dọa tuyệt chủng ở mức độ quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007)
Cũng giống như các nhóm loài động vật khác, các loài chim ở nước ta hiện đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi nguy cơ mất môi trường sống do sự gia tăng dân số thúc đẩy việc chiếm đất nông nghiệp, chặt phá rừng và mở rộng diện tích đất canh tác, xây dựng Bên cạnh đó, nhu cầu và thói quen sở thích ăn thịt rừng của nhiều người dẫn đến việc săn bắn quá mức đe dọa tuyệt chủng của nhiều loài quý hiếm, trong đó có cả các loài chim Vì vậy, việc điều tra thành phần loài chim tại các vùng miền để xây dựng cơ sở dữ liệu bảo tồn chim trên toàn quốc là rất cần thiết
Xã Vân Hòa và xã Tản Lĩnh là 02 trong tổng số 7 xã miền núi của huyện
Ba Vì, thành phố Hà Nội Xã Vân Hòa cách trung tâm huyện Ba Vì khoảng 20
km với tổng diện tích tự nhiên 3.290,98 ha Xã Tản Lĩnh cách trung tâm huyện
Ba Vì 14 km với tổng diện tích tự nhiên 2.773 ha Phần lớn diện tích rừng tự nhiên của cả hai xã trên đều nằm trong vùng lõi của Vườn quốc gia Ba Vì Phần diện tích rừng này tạo nên hệ sinh thái đa dạng với thảm thực vật phong phú, hệ động vật đa dạng và những cảnh quan du lịch nổi tiếng cho Vườn quốc gia Ba
Vì Mặc dù cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về tài nguyên động vật nói chung và các loài chim nói riêng được thực hiện tại Vườn quốc gia Ba Vì như: Trần Văn Long (2010), Lê Đình Thủy (2012), Đỗ Tước và Đặng Thanh Long
Trang 9(2013), Nguyễn Đình Đức (2015), Nguyễn Thị Thu Trang (2017) nhưng các nghiên cứu chuyên sâu về thành phần các loài chim tại các xã trong Vườn quốc gia Ba Vì vẫn còn nhiều hạn chế Phần lớn các nghiên cứu trước đây được thực hiện trên toàn bộ diện tích của Vườn nên không tỉ mỉ và chi tiết cho các khu vực Ngoài ra, việc bổ sung các thông tin về thành phần các loài chim tại các xã
sẽ góp phần cập nhật thành phần các loài Chim cho cả Vườn quốc gia Ba Vì nếu
có các nghiên cứu bổ sung tại các xã khác
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài chim và đề xuất kế hoạch bảo tồn tại xã Vân Hòa và xã Tản Lĩnh thuộc địa phận Vườn Quốc gia Ba Vì, Hà Nội” Mục đích của nghiên cứu này nhằm trả lời 2 câu hỏi:
(1) Mức độ đa dạng các loài chim tại xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa như thế nào?
(2) Làm thế nào để giảm thiểu các tác động tiêu cực của người dân địa phương đến các loài chim và sinh cảnh sống của chúng tại khu vực nghiên cứu?
Trang 10PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Phân loại chim ở Việt Nam
Hệ thống phân loại chim ở Việt Nam thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả (bảng 1.1)
Bảng 1.1: Phân loại Chim tại Việt Nam theo thời gian
Năm Thành phần chim Nguồn thông tin
Võ Quý (1975; 1981) đã xây dựng tài liệu về hình thái và phân loại chim
ở Việt Nam Tác giả đã xây dựng khóa định loại chim cho 773 loài theo phương pháp “phân chia đối lập” Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về mặt hình thái phân loại và phân bố tự nhiên của chim trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên các thông tin mô tả về loài và hình ảnh của các loài còn rất hạn chế
Năm 1995, Võ Quý và Nguyễn Cử đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu tại nhiều vùng trong cả nước và đưa ra danh lục các loài chim ở Việt Nam
gồm 828 loài, 81 họ và 19 bộ trong cuốn “Danh lục Chim Việt Nam” Tên
tiếng Anh, tên khoa học và thứ tự sắp xếp các loài trong bản danh lục được sử
Trang 11dụng theo Richard Howard và Alick Moore “A complete Checklist of the
Birds of the World”
Năm 1999, Võ Quý và Nguyễn Cử tiếp tục tái bản một lần nữa cuốn
“Danh lục chim Việt Nam” Tuy nhiên, số lượng của các loài vẫn không có sự
thay đổi so với các nghiên cứu trước đó
Năm 2000, Nguyễn Cử, Lê Trọng hải, aren Phillips đã xây dựng cuốn
“Chim Việt Nam” trên cơ sở cuốn sách Chim Hồng Kông và Nam Trung Quốc
của các tác giả Clive Viney, Lam Chiu Ying và Karen Phillipps (1994) Trong tài liệu có bổ sung và thay đổi dựa trên các tài liệu mô tả trước đó Tình trạng của các loài và các loài mới được phát hiện ở Việt Nam cũng được cập nhật Trong phần phụ lục của cuốn sách Danh lục Chim Việt Nam có sự kế thừa của các tác giả Võ Quý và Nguyễn Cử (1995, 1999) về thành phần loài và tên phổ thông của các loài Cuốn sách đã sử dụng các bản đồ trong báo cáo mở rộng hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam cho thế kỷ 21 Ngoài ra, các tác giả có mô tả
về đặc điểm loài (có cả hình ảnh minh họa), tình trạng, phân bố, nơi ở của 500 loài trên tổng số 850 loài thuộc 81 họ và 19 bộ Vì vậy, các thông tin về các loài chưa được mô tả cần tiếp tục bổ sung trong các nghiên cứu tiếp theo
Năm 2011, Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân đã xây dựng tài
liệu “Danh lục chim Việt Nam” Bản danh lục là sự kế thừa các nghiên cứu
trước đây của Võ Quý và Nguyễn Cử và sắp xếp danh lục chim theo hệ thống phân loại được đề xuất bởi Sibley - Ahlquist - Monroe (SAM) và được
sử dụng trong Danh lục chim thế giới (Complete Checklist of the Birds of
the World), tái bản lần thứ 3 có chỉnh lý và bổ sung (Dickinson ed.,
2003) Bên cạnh đó, các tác giả có bổ sung một số dẫn liệu mới về phân loại chim được công bố gần đây và tham khảo thêm cuốn Danh lục chim
thế giới (The Clements Checklist of Birds of the World) tái bản lần thứ 6 năm
2007 của James F Clements Một số thay đổi về phân loại của tài liệu này so với các tài liệu trước đó như sau:
Họ Cun cút (Turnicidae) trước đây được đặt trong bộ Sếu (Gruiformes) hay bộ Gà (Galliformes) Nghiên cứu phân loại học của Sibley-
Trang 12Ahlquist đã tách nhóm này ra và sếp vào một bộ mới là bộ Cun cút (Turniciformes) Tuy nhiên, những nghiên cứu toàn diện về nhóm này gần đây
đã xếp chúng vào bộ Rẽ (Charadriiformes)
Bộ Sả (Coraciiformes) vốn bao gồm các họ Bói cá, họ Trảu, họ Sả rừng,
họ Đầu rìu và họ Hồng hoàng Theo nghiên cứu phân loại chim của Ahlquist, các loài trong họ Hồng hoàng được tách riêng ra thành một bộ (bộ Hồng hoàng - Bucerotiformes), theo đó hai phân họ của nhóm này (Bucorvinae
Sibley-và Bucerotinae) được nâng lên thành bậc họ Theo Hackett, 2008, bộ mới Bucerotiformes bao gồm 4 họ: Upupidae, Phoeniculidae, Bucerotidae, Bucorvidae Tuy nhiên, quan điểm phân loại học về việc tách thành bộ mới này còn nhiều điểm chưa hoàn toàn thông nhất và còn tranh cãi Vì vậy, trong danh lục này, các tác giả vẫn tạm giữ nguyên các họ trên trong bộ Sả (Coraciiformes)
Bộ Cắt (Falconiformes) truyền thống trước đây, nay được tách ra thành hai bộ bao gồm: bộ Ưng (Accipitriformes) và bộ Cắt (Falconiformes)
Một số loài chim cũng được sắp xếp lại vào những họ mới Họ Chim xanh (Irenidae) trước đây được chia thành 3 họ gồm: họ Chim nghệ - Aegithinidae, họ Chim lam - Irenidae và họ Chim xanh - Chloropseidae Một số loài như Đớp ruồi xanh gáy đen, Thiên đường đuôi phướn trước được đặt trong cùng họ với các loài Rẻ quạt nay được tách thành hai họ: Rẻ quạt (Rhipiduridae) và Thiên đường (Monarchidae) Các loài chim chiền chiện, chích bông trước đây được đặt trong họ Chim chích (Sylviidae) nay được xếp vào một họ riêng là họ Chiền
chiện (Cisticolidae) Các loài chim thuộc giống Phylloscopus và Seicercus trước
đây được đặt trong họ Chim chích (Sylviidae) nay được tách ra xếp vào một họ riêng là học Chích phylo (Phylloscopidae) Một số loài chim hoét, sáo đất… trước đây được đặt trong họ Chích chòe, nay được tách ra đặt trong họ Hoét (Turnidae) Nhưng ngược lại, các loài oanh, chích chòe, đớp ruồi lại được
gộp trong họ Đớp ruồi (Muscicapidae) Chim mò sò (Haematopus ostralegus) là
loài di cư mới ghi nhận ở Việt Nam trước đây được đặt trong họ Choi choi (Charadriidae) nay được đặt vào họ mới là họ Mò sò (Haematopodidae) Các
Trang 13loài cu rốc, thầy chùa trước được đặt chung trong họ Gõ kiến (Picidae) nay được tách ra họ riêng là họ Cu rốc (Ramphastidae) Một số giống trong họ Chim chích (Sylviidae) trước đây cũng được tách ra thành họ mới Cettiidae, có tên tiếng Anh là Cettiid warblers và chúng tôi tạm đặt cho họ mới này là họ Chích đớp ruồi Họ này bao gồm các loài chim hót, ăn sâu bọ, kích thước nhỏ và cho tới
nay bao gồm 9 giống là: Abroscopus, Pholidornis, Hylia, Erythrocercus,
Urosphena, Tesia, Cettia, Tickellia, Phyllergates Họ Phường chèo nâu -
Prionopidae trên thế giới có 3 giống: Prionops, Tephrodornis, Philentoma, ở Việt Nam hiện có 2 giống là Tephrodornis và Philentoma tổng cộng 3 loài, trước được đặt chung trong họ Phường chèo Campephaghidae
Trong Danh lục chim thế giới họ Xúc cá (Rynchopidae) được chuyển xuống taxon phân họ (Rynchopinae) thuộc họ Mòng bể (Laridae) Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu phân loại gần đây vẫn khẳng định đó là một họ tách biệt nên trong Danh lục chim Việt Nam các tác giả vẫn để các loài trong nhóm này là một họ riêng như trước đây
Một số họ trước đây trong Danh lục chim của Võ Quý và Nguyễn Cử (1995) có đặt tên phổ thông trùng nhau, điều này bất tiện cho việc sử dụng Vì vậy, nhóm tác giả đã đặt tên mới để phân biệt Ví dụ: họ Fringillidae trước đây đặt là họ Sẻ đồng (trùng tên với họ Emberizidae) nay đổi là họ Sẻ thông Họ Ploceidae trước đây đặt tên là họ Sẻ (trùng tên với họ Passeridae) nay đổi là họ Rồng rộc
Nhiều loài chim có sự thay đổi giống so với trước đây dựa trên các kết quả nghiên cứu đạt được gần đây về phân loại chim Ví dụ: loài Ngan cánh trắng
(White-winged Wood Duck) trước đây được đặt trong giống Cairina nay được chuyển sang giống Asarcornis và có tên khoa học mới là Asarcornis scutulata
(Müller, 1842) Loài hướu ngực vàng trước đây chỉ được coi là phân loài của
loài hướu ngực đốm (Garrulax merulina) nhưng nay được tách ra thành một loài riêng có tên khoa học là Garrulax annamensis Đôi khi giống của loài này được tách ra thành giống mới là Stactocichla, nhưng trong danh lục này các
Trang 14trước đây gồm hai phân loài là Lophura edwardsi edwards và L.e hatinhensis
nay được tách thành hai loài riêng biệt là Gà lôi mào trắng (Edwards’s Pheasant)
- L edwardsi và Gà lôi hà tĩnh (Vietnamese Pheasant) - L hatinhensis Một số
loài chim trên thế giới đã xác định có một số phân loài, nhưng ở Việt Nam mới chỉ quan sát ghi nhận ban đầu, chưa xác định được phân loài, nên trong danh lục, nhóm tác giả chỉ giới thiệu tên loài Nhiều loài chim mới cho khoa học được phát hiện gần đây ở Việt Nam cũng được chúng tôi cập nhật Ví dụ, loài chim mới nhất được phát hiện ở Việt Nam trong thời gian gần đây là loài Chích núi đá
vôi (Phylloscopus calciatilis), được phát hiện ở vùng núi đá vôi Phong Nha -
Kẻ Bàng (Quảng Bình) và Hin Namno (Lào) Loài này khá giống với loài chim
Chích ngực vàng Phylloscopus ricketti nhưng về hình thái thì nhỏ hơn, cánh
tròn hơn
Nhìn chung, đến nay có nhiều tài liệu khác nhau về phân loại chim ở Việt
Nam Tuy nhiên, bản “Danh lục chim Việt Nam” của các tác giả Nguyễn Lân
Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011) là tài cập nhật và chi tiết nhất nên được
sử dụng trong nghiên cứu này để xây dựng bảng danh sách các loài chim tại khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa thuộc địa phận Vườn Quốc gia Ba Vì, Hà Nội
1.2 Mức độ đa dạng thành phần loài trong nhƣng năm gần đây
Năm 2010, Phạm Anh Tuấn đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu Khu hệ chim,
đề xuất các biện pháp quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình” Trong bản
Luận văn thạc sỹ, tác giả đã thống kê được 146 loài, 46 họ, 15 bộ chim Tác giả
đã đánh giá được mức độ đa dạng, các nhân tố tác động đến của khu hệ chim và
đề xuất được giải pháp quản lý bảo tồn bền vững khu hệ chim tại khu vực nghiên cứu
Năm 2011, Nguyễn Chí Thành tiến hành “Nghiên cứu tính đa dạng của
khu hệ chim tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Lu ng tỉnh Hòa nh”
đã ghi nhận được 264 loài, 48 họ, 14 bộ chim tại Khu Bảo tồn Ngọc Sơn - Ngổ Luông Trong đề tài, tác giả đề cập tới việc đánh giá mức độ đa dạng của các
Trang 15nghiên cứu Ngoài ra, tác tác giả còn so sánh thành phần loài chim tại KBT Ngọc Sơn – Ngổ Luông với một số Khu bảo tồn và Vườn quốc gia lân cận
Năm 2015, Trần Văn Hà thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm khu hệ
chim tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê - Tỉnh Hà Giang” Trong bản Luận
văn thạc sĩ, tác giả đã thống kê được 183 loài, 41 họ và 12 bộ chim Tác giả đã đánh giá mức độ đa dạng các loài chim tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê theo
số bộ, họ tương tự như bản Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Chí Thành (2011)
Năm 2016, Vũ Văn Mỳ thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần loài
chim tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh”
Trong bản Luận văn thạc sĩ, tác giả đã ghi nhận được 185 loài, 125 giống, 53 họ
và 18 bộ chim Tác giả đã đánh giá mức độ đa dạng các loài chim theo số bộ, số
họ và số loài chim tương tự như luận văn thạc sỹ của Nguyễn Chí Thành (2011)
và Trần Văn Hà (2015)
Năm 2017, Luận văn thạc sỹ của Đào Thế Anh về “Nghiên cứu khu hệ
chim tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa” đã ghi nhận được
186 loài, 40 họ và 17 bộ chim Tác giả đã điều tra được thành phần loài và tính
đa dạng loài chim, nghiên cứu sự phân bố của các loài chim theo các kiểu sinh cảnh và đai cao, các mối đe dọa tới khu hệ chim và đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo tồn bền vững các loài chim tại Khu BTTN Xuân Liên
Năm 2017, Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Tuấn Anh về “Nghiên cứu
tính đa dạng các loài chim và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại khu vực hồ Đồng Mô, Hà Nội” Tác giả đã ghi nhận được 113 loài, 44 họ, 15 bộ chim tại khu vực hồ Đồng Mô đánh giá mức độ đa dạng khu hệ chim thông qua việc thống kê số lượng bộ, họ và số loài chim; các mối đe dọa tới khu hệ chim và đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo tồn bền vững các loài chim
1.3 Một số nghiên cứu về khu hệ chim tại Vườn quốc gia Ba Vì
Năm 2008, Ban quản lý VQG Ba Vì đã tiến hành điều tra bổ sung và ghi nhận được 191 loài chim thuộc 48 họ và 17 bộ Các loài quý hiếm được ghi
nhận: Gà lôi trắng (Lophura nycthemera), Yểng quạ (Eurystomus
Trang 16hai mối đe doạ đến khu hệ chim tại VQG Ba Vì được xác định: mất rừng và săn bắt chim trái phép
Năm 2010, Trần Văn Long trong bản Luận văn thạc sĩ: “Nghiên cứu
thành phần loài và các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến các loài chim làm tổ ở vườn chim Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh a V Hà Nội” đã ghi nhận được 67 loài, 27
họ và 9 bộ chim Tác giả đã điều tra được thành phần loài và tính đa dạng loài chim, nghiên cứu sự phân bố của các loài chim, xác định được 5/67 loài thuộc
họ Diệc, bộ Hạc có tập tính di cư làm tổ tập đoàn và các thành phần tức ăn chính của chúng; 54/67 loài định cư và 13/67 loài có tập tính di cư
Năm 2013, Đỗ Tước và Đặng Thanh Long thực hiện “Chuyên đề điều tra
đa dạng động vật rừng trên địa bàn thành phố Hà Nội” Kết quả nghiên cứu của
đề tài đã ghi nhận trên toàn thành phố Hà Nội hiện có: 65 loài thú, thuộc 22 họ
và bộ; 186 loài chim thuộc 45 họ, 17 bộ; 62 loài bò sát thuộc 14 họ và 02 bộ; 42 loài bò sát thuộc 6 họ và 1 bộ Các loài động vật được ghi nhận chủ yếu ở VQG
Ba Vì, Khu cảnh quan môi trường Hương Sơn và Rừng phòng hộ Sóc Sơn Riêng đối với VQG Ba Vì có: 45 loài thú thuộc 20 họ, 8 bộ; 130 loài chim thuộc
36 họ, 17 bộ; 64 loài bò sát thuộc 13 họ, 2 bộ và 29 loài lưỡng cư thuộc 6 họ, 1
bộ Trong số các loài động vật được ghi nhận ở Ba Vì có 41 loài động vật quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007), Sách đỏ thế giới (IUCN, 2019) và Nghị định 32/NĐ-CP/2006
207 loài, 55 họ, 18 bộ chim tại VQG Ba Vì Đề tài đã liệt kê được thành phần loài, các yếu tố đặc hữu, loài quý hiếm, tình trạng nguồn lợi từ loài động vật rừng và các mối đe dọa tới đa dạng loài tại khu vực……Tuy nhiên, theo tác giả đề tài còn kế thừa nguồn tư liệu khá nhiều và số lượng loài ghi nhận được trên thực địa không cao, kết quả nghiên cứu chưa đề xuất được các giải pháp bảo tồn loài tại khu vực nghiên cứu
Năm 2015, Nguyễn Đình Đức thực hiện đề tài “Nghiên cứu khu hệ chim
và đề xuất giải pháp bảo tồn tại vườn quốc gia Ba Vì” Kết quả nghiên cứu đã
ghi nhận được 65 loài chim thuộc 35 họ và 11 bộ, trong đó có 2 loài có tên trong
Trang 17SĐVN (2007), 5 loài có tên trong Danh lục đỏ IUCN (2014) và 3 loài có tên trong Nghị định 32 (2006)
Năm 2017, Nguyễn Thị Thu Trang thực hiện nghiên cứu: “Nghiên cức đa
dạng sinh học ở VQG Ba Vì, thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội” Trong bản Khóa luận
tốt nghiệp, tác giả đã thống kê 98 loài chim thuộc 32 họ và 11 bộ Qua đó, xác định được nguyên nhân suy giảm, các mối đe dọa về thành phần chim và đề xuất được giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực
Mặc dù đến nay đã có nhiều nghiên cứu về thành phần các loài chim tại VQG Ba Vì nhưng chưa có nghiên cứu tỉ mỉ và chi tiết tại các xã vùng đệm có diện tích rừng tự nhiên nằm trong vùng lõi của Vườn Do vậy, nghiên cứu này được thực hiện là cần thiết Trong các nghiên cứu được đề cập ở trên, nghiên cứu được thực hiện bởi Đỗ Tước và Đặng Thanh Long (2013) được thực hiện trong thời gian dài bởi các chuyên gia uy tín và đã được kiểm duyệt nên được lựa chọn làm tài liệu kế thừa danh sách các loài chim cho nghiên cứu này Tuy nhiên, hệ thống phân loại, tên phổ thông, tên khoa học của các loài chim được cập nhật theo tài liệu phân loại của Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011) Theo đó, những thay đổi về danh sách các loài chim theo theo Đỗ Tước và Đặng Thanh Long (2013) như bảng 1.2
Bảng 1.2: Cập nhật thay đổi về phân loại chim so với tài liệu kế thừa
Đặc điểm phân loại thành phần chim
VQG Ba Vì theo tài liệu của Đỗ Tước
và Đặng Thanh Long (2013)
Thay đổi trong nghiên cứu này theo tài liệu của Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011)
Họ Ưng (Accipitridae) thuộc bộ Cắt
(Falconiformes) Bộ Cắt không phân
tách
Bộ Cắt (Falconiformes) được tách ra thành hai bộ bao gồm: bộ Ưng (Accipitriformes) và bộ Cắt (Falconiformes) Theo đó, họ Ưng thuộc
Trang 18Đặc điểm phân loại thành phần chim
VQG Ba Vì theo tài liệu của Đỗ Tước
và Đặng Thanh Long (2013)
Thay đổi trong nghiên cứu này theo tài liệu của Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011)
Chim nghệ ngực vàng (Aegithina
tiphia) thuộc Họ chim xanh
(Chloropseidae)
Chim nghệ ngực vàng (Aegithina tiphia)
thuộc Họ chim nghệ (Aegithinidae)
Turdidae là Họ Chích chòe Turdidae là Họ Hoét
Chích bông nâu (Orthotomus sepium)
thuộc Họ Chim chích (Sylviidae)
Chích bông nâu (Orthotomus sepium) thuộc Họ Chiền chiện (Cisticolidae)
Các loài: Oanh lưng xanh (Luscinia
cyane); Oanh đuôi đỏ/Oanh cổ trắng
(Luscinia sibilans); Chích chòe
(Copsychus saularis); Chích chòe nước
trán trắng (Enicurus schistaceus); Sẻ
bụi đầu đen (Saxicola torquatus); Hoét
đá (Monticola solitarius), Hoét vàng
(Zoothera citrina); Sáo đất (Zoothera
dauma); Hoét bụng trắng (Turdus
cardis); Hoét đen (Turdus merula); Cô
cô xanh (Cochoa viridis) thuộc họ
Chích Chòe (Turdidae)
Các loài: Oanh lưng xanh (Luscinia cyane); Oanh đuôi đỏ/Oanh cổ trắng (Luscinia sibilans); Chích chòe
(Copsychus saularis); Chích chòe nước trán trắng (Enicurus schistaceus); Sẻ bụi đầu đen (Saxicola torquatus); Hoét đá (Monticola solitarius) thuộc họ Đớp ruồi (Muscicapidae)
Các loài: Hoét vàng (Zoothera citrina); Sáo đất (Zoothera dauma); Hoét bụng trắng (Turdus cardis); Hoét đen (Turdus merula); Cô cô xanh (Cochoa viridis)
thuộc họ (Hoét Turdidae)
Trang 19PHẦN II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Vườn quốc gia Ba Vì
2.2.1 Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Ba Vì có tổng diện tích 10.814,6 ha, thuộc địa giới hành chính của 16 xã, 3 huyện của TP Hà Nội và 2 huyện của tỉnh Hòa Bình Vườn quốc gia Ba Vì cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 60 km về phía Tây, có tọa độ địa lý:
Phía Tây giáp các xã: hánh Thượng, Minh Quang huyện Ba Vì, Hà Nội,
và xã Phú Minh huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
2.1.2 Địa hình – địa thế
Ba Vì là vùng núi trung bình và núi thấp, đồi núi tiếp giáp với vùng bán sơn địa Núi Ba Vì giống một dải núi nổi lên giữa đồng bằng chỉ cách hợp lưu sông Đà và Sông Hồng 20Km về phía Nam
Trong VQG Ba Vì có một số đỉnh núi có độ cao trên 1000m: Đỉnh Vua (1296), đỉnh Tản Viên (1227m), đỉnh Ngọc Hoa (1131m), đỉnh Viên Nam (1081m) và một số đỉnh thấp hơn: đỉnh Hang Hùm 776, đỉnh Gia Dê 714m
Dãy núi Ba Vì gồm hai dải dông chính Dải dông thứ nhất chạy theo hướng Đông – Tây từ suối Ổi đến cầu Lặt qua đỉnh Tản Viên và đỉnh Hang Hùm dài 9km Dải dông thứ 2 chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ Yên Sơn qua
Trang 20đỉnh Tản Viên đến núi Quýt dài 11km, chạy tiếp sang Viên Nam tới dốc Kẽm (Hòa Bình).
Núi Ba Vì có độ dốc khá lớn Sườn phía Tây đổ xuống sông Đà dốc hơn
so với sườn Tây bắc và Đông Nam Độ dốc trung bình khu vực là 250, càng lên cao độ dốc càng tăng Từ độ cao 400m trở lên, độ dốc trung bình là 350
và có vách đá lộ nên việc đi lại trong Vườn là không thuận lợi
Trang 21Rừng tự nhiên 4.200,5 ha; chiếm 51,27% diện tích đất có rừng.
Rừng trồng 3.992 ha, chiếm 48,73 % diện tích đất có rừng
Diện tích đất có rừng phân bố nhiều nhất tại xã Ba Vì với 1.407,0 ha Diện tích rừng trung bình trạng thái IIIA2, IIIB) và rừng nghèo (trạng thái IIIA1) tập trung khu vực núi Ba Vì với 883,9 ha
Trên địa bàn tỉnh Hòa Bình chỉ còn rừng phục hồi với diện tích 1.071,5
ha, phân bố chủ yếu ở xã Yên Quang với 514,6 ha
2.1.3.2 Trữ lượng các loại rừng
Theo số liệu tham khảo kết phân chia 3 loại rừng năm 2005 của Viện Điều tra quy hoạch rừng và kết quả phúc tra tại thực địa năm 2008, Trữ lượng các loại rừng VQG Ba Vì được tính toán và tổng hợp như sau:
Tổng trữ lượng gỗ của Vườn là 309,616 ngàn m3; trong đó trữ lượng rừng
tự nhiên là 221,868 ngàn m3; rừng trồng là 87,748 ngàn m3
Rừng gỗ tự nhiên, tập trung chủ yếu ở các xã Ba Vì, Vân Hòa, Khánh Thượng Rừng tre nứa có 1.041,3 ngàn cây; phân bố chủ yếu ở các xã Ba Vì, Vân Hòa và một ít ở xã Tản Lĩnh, Ba Trại
Trong tổng số 3.992,0 ha rừng trồng thì có 1.694,0 ha là rừng trồng ở cấp tuổi 1 chưa có trữ lượng Rừng Keo và Bạch đàn tuổi 2 có trữ lượng 87,748 ngàn m3; tập trung ở các xã Ba Vì, Vân Hòa, hánh Thượng, Tản Lĩnh, Phú Minh
Phía Đông giáp xã im Sơn, thị xã Sơn Tây;
Phía Tây giáp Vườn Quốc Gia Ba Vì;
Trang 22Phía Nam giáp xã Yên Bài
Hình 2.2: Bản đồ ranh giới hành chính xã Vân Hòa
2.2.2 Khí hậu, thủy văn
Trang 23Về khí hậu, xã Vân Hòa nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa Các yếu tố khí tượng trung bình nhiều năm cho thấy:
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với nhiệt độ trung bình 230C, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 280C Tổng lượng mưa là 1832,2mm (chiếm 90,87% lượng mưa cả năm) Lượng mưa các tháng đều vượt trên 100 mm với 104 ngày mưa và tháng mưa lớn nhất là tháng 8 (339,6mm)
Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3 với nhiệt độ xấp xỉ
200C, tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 15 0C; Lượng mưa các tháng biến động từ 15,0 đến 64,4mm và tháng mưa ít nhất là tháng 12 chỉ đạt 15mm
Về thủy văn, có mạng lưới thủy văn hết sức độc đáo, xung quang có nhiều các dòng suối nhỏ bắt nguồn từ trên đỉnh núi xuống, mùa mưa lượng nước lớn tạo ra các thác nước đẹp như thác Đa, thác Khoang Xanh
2.2.3 Dân số
Toàn xã có 14 thôn, gồm các thôn: Bặn, Mồ Đồi, Đồng Chay, Việt Hòa, Xuân Hòa, Hòa Trung, Bơn, Rùa, Xoan, Nghe, Đa Cuống, Bơn, Muồng Voi, Muồng Cháu, Muồng Phú Vàng
Dân số: năm 2017 có 2.994 hộ dân với 12.084 nhân khẩu Có 2 dân tộc sinh sống chủ yếu là inh, Mường và một số ít dân tộc khác cùng chung sống hòa thuận Tỷ lệ người dân tộc trong toàn xã khoảng 48%
2.2.4 Hoạt động kinh tế
Chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, là địa phương có tiềm năng và ưu thế phát triển kinh tế là du lịch và chăn nuôi bò sữa Có 05 doanh nghiệp và một số doanh nghiệp du lịch đóng trên địa bàn xã
Trang 24Phía Bắc giáp xã Cẩm Lĩnh và xã Thuỵ An,
Phía Nam giáp xã Vân Hoà,
Phía Đông giáp thị xã Sơn Tây,
Phía Tây giáp xã Ba Vì, xã Ba Trại
Hình 2.3: Bản đồ ranh giới hành chính xã Tản Lĩnh
2.3.2 Khí hậu, thủy văn
Khí hậu xã Tản Lĩnh mang tính chất kiểu khí hậu Bắc Bộ với đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít
Trang 25Đặc điểm khí hậu rõ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa, nhiệt độ trung bình 28ºC Từ tháng 11 đến tháng 3 nǎm sau là mùa đông, thời tiết khô ráo, nhiệt độ trung bình 15ºC Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10)
Hệ thống sông ngòi, hệ thống kênh mương được đào đắp để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, hệ thống kênh dẫn trạm bơm và kênh phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng này
2.3.3 Dân số
Toàn xã có 14 thôn gồm: An Hòa, Bát Đầm, Cẩm Phương, Cua Chu, Hoàng Long, Đức Thịnh, é Mới, Yên Thành, Gò Sống, An Hòa, Hiệu Lực, Hà Tân, Hát Giang, Tam Mỹ, Việt Long
Năm 2017: Có 4.325 hộ dân với 16.279 nhân khẩu
Có hai dân tộc chính là inh và Mường, ngoài ra có số ít dân tộc khác cùng sinh sống trên địa bàn
2.3.4 Hoạt động kinh tế
Nghề nghiệp của nhân dân trong xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi bò sữa và sản xuất các sản phẩm từ sữa là chủ yếu, do có đường 414 trung tâm liên huyện, tỉnh với là xã trung tâm các khu du lịch huyện Ba Vì nên tạo ưu thế phát triển các hoạt kinh doanh cá thể phát triển
Nhận xét
- Thuận lợi cho sự cư trú các loài chim và c ng tác quản lý, bảo tồn loài:
+ Tại khu vực nghiên cứu có hệ thống giao thông thuận lợi cho công tác quản l , bảo vệ các loài chim
+ hí hậu của khu vực mang nét điển hình của khí hậu miền Bắc nước ta: vùng nhiệt đới gió mùa ẩm, có mùa đông lạnh kéo dài từ tháng 10 đến hết tháng 12; mùa hè bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10 nên là khu vực có nhiều loài chim di cư bay qua, trú đông, tìm thức ăn và kết đôi sinh sản
+ Tại khu vực có nguồn thức ăn phong phú cho nhiều loài chim
Trang 26+ Tại khu vực nghiên cứu, trình độ dân trí cao, kinh tế ổn định Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho công tác tuyên truyền bảo vệ đa dạng sinh học của khu vực
- Khó khăn cho c ng tác quản lý và bảo tồn loài
+ Diện tích khu vực lớn và nằm trên địa bàn 2 xã nên việc quản l , điều tra, giám sát các loài chim trong khu vực gặp nhiều khó khăn
+ Tại khu vực nghiên cứu có nhiều nhà hàng đặc sản, người dân có thói quen săn bắn chim giải trí, chơi chim cảnh đang là một trong những mối đe dọa đến các loài chim trong khu vực
+ Các khu du lịch đang xây dựng nhiều công trình làm biến đổi sinh cảnh của các loài chim
+ Lực lượng quản l , bảo vệ tài nguyên rừng tại khu vực còn rất hạn chế nên công tác thực thi pháp luật trong việc bảo vệ tài nguyên rừng chưa thực sự đạt hiệu quả
Trang 27PHẦN III MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1 Mục tiêu chung
Đề tài được thực hiện nhằm xác định thành phần các loài chim tại xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa góp phần cập nhật danh sách các loài chim tại Vườn quốc gia Ba Vì
3.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Lập được danh sách các chim tại khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa;
- Xác định mức độ đa dạng của các loài chim tại khu vực nghiên cứu;
- Xác định được các tác động tiêu cực của người dân địa phương đến các loài chim trong khu vực;
- Đưa ra được các kế hoạch quản lý và bảo tồn các loài chim phù hợp với điều kiện thực tiễn tại khu vực nghiên cứu
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các loài động vật thuộc lớp Chim (Aves) tại khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa thuộc Vườn quốc gia Ba Vì, Hà Nội
Trang 28Bảng 3.1: Nội dung các công việc đã thực hiện của đề tài
1 Thu thập, phân tích tài liệu và hoàn thành đề
cương nghiên cứu
Từ 13/01/2019 đến 28/02/2019
2 Thu thập số liệu ngoài thực địa tại khu vực xã
Tản Lĩnh và xã Vân Hòa
Từ 01/03/2019 đến 01/04/2019
3 Xử lý số liệu và hoàn thiện khóa luận Từ 02/04/2019 đến
19/05/2019
3.4 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu trên, 4 nội dung nghiên cứu của đề tài được thực hiện bao gồm:
(1) Điều tra thành phần các loài chim tại khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa
(2) Đánh giá mức độ đa dạng của các loài chim tại khu vực nghiên cứu
(3) Xác định các mối đe dọa đến các loài chim tại khu vực nghiên cứu
(4) Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn các loài chim tại khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa thuộc Vườn quốc gia Ba Vì
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Thu thập tất cả các tài liệu có có liên quan đến vấn đề nghiên cứu; sau đó tiến hành đọc, phân tích, chọn lọc và kết thừa các thông tin cần thiết phục vụ các nội dung nghiên cứu của đề tài Các tài liệu được thu thập bao gồm:
- Bản đồ hành chính xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa, bản đồ Vườn quốc gia
Ba Vì (khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa)
- Báo cáo về dân sinh – kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu;
- Các tài liệu danh lục chim Việt Nam, các nghiên cứu về chim tương
Trang 29- Các tài liệu nghiên cứu về chim tại Vườn quốc gia Ba Vì: Trần Văn Long (2010), Lê Đình Thủy (2012), Đỗ Tước và Đặng Thanh Long (2013), Nguyễn Đình Đức (2015), Nguyễn Thị Thu Trang (2017) Trong các nghiên cứu trên, nghiên cứu của Đỗ Tước và Đặng Thanh Long (2013) được sử dụng làm tài liệu tham khảo chính trong việc kế thừa Danh sách các loài chim tại Vườn quốc gia Ba Vì
3.5.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn được thực hiện nhằm thu thập các thông tin sơ bộ về thành phần loài, hiện trạng, địa điểm thường xuyên bắt gặp và các mối đe dọa đến các loài chim tại khu vực nghiên cứu Ngoài ra, phỏng vấn còn ghi nhận các mẫu vật đang lưu giữ tại các hộ gia đình là những minh chứng để xác định thành phần loài trong khu vực Tuy nhiên, các thông tin thu thập được từ qua trình phỏng vấn cần được kiểm chứng thông qua khảo sát ngoài thực địa
Phỏng vấn được thực hiện trên 2 đối tượng là Kiểm lâm địa bàn và những người dân địa phương thường xuyên đi vào rừng Trong nghiên cứu này, 22 người được lựa chọn phỏng vấn ở các lứa tuổi từ 20 đến 50 tuổi
Các câu hỏi phỏng vấn đơn giản, ngắn gọn và được sắp xếp theo bộ câu hỏi phỏng vấn về: thành phần loài, các mối đe dọa đến các loài chim và công tác quản lý bảo tồn các loài chim tại khu vực nghiên cứu Nội dung của các câu hỏi
phỏng vấn được trình bày chi tiết trong phụ lục 1
Các câu hỏi phỏng vấn được tiếp cận từ khái quát đến chi tiết với câu hỏi đầu tiên về các nhóm loài Các câu hỏi tiếp theo liên quan đến các đặc điểm của từng loài Trong quá trình phỏng vấn luôn khuyến khích người dân địa phương
tự kể về những loài mà họ biết và cho xem những mẫu vật mà họ đang lưu giữ như: lông, mỏ, chân và cả các mẫu vật nuôi làm cảnh hoặc nhồi bông Đối với những loài mà người dân biết cần được mô tả chi tiết về đặc điểm màu sắc lông, hình dạng cơ thể và đặc điểm nổi bật về loài Để kiểm chững lại các thông tin phỏng vấn, bộ ảnh màu về các loài chim được sử dụng để đối tượng phỏng vấn
nhận diện lại Các tài liệu ảnh màu được sử dụng bao gồm: cuốn “Chim Việt
Nam” của tác giả Nguyễn Cử, Lê Trải, & Phillips, K, (2000); Cuốn “Birds Southeast Asia” của tác giả Craig Robson (2005) và cuốn “A Field guide to the
Trang 30Birds of South – East Asia” của tác giả Craig Robson (2008) Các thông tin
phỏng vấn được phân tích, chọn lọc và tổng hợp kết quả vào bảng 3.2
Bảng 3.2: Phiếu phỏng vấn Kiểm lâm và người dân địa phương
Người phỏng vấn: Ngày phỏng vấn: Người được phỏng vấn: Tuổi Địa chỉ: Địa điểm phỏng vấn:………
TT Tên loài Nơi bắt gặp Thời điểm
bắt gặp
Số lượng Ghi
chú Địa phương Phổ thông
3.5.3 Phương pháp điều tra theo tuyến
Điều tra theo tuyến được thực hiện nhằm xác định thành phần các loài chim ngoài thực địa, các sinh cảnh chủ yếu và các mối đe dọa đến loài chim tại khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa thuộc địa phận Vườn quốc gia Ba Vì
Tuyến điều tra được thiết lập dựa vào bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ địa hình và căn cứ vào các thông tin phỏng vấn sơ bộ về các vùng sinh sống chủ yếu của các loài chim trong khu vực Các tuyến điều tra được lập đi qua nhiều dạng sinh cảnh khác nhau, mỗi tuyến từ 2-5 km tùy thuộc vào địa hình Các tuyến điều tra được thiết lập không được cắt nhau và ưu tiên các đường mòn nhỏ để việc đi lại thuận tiện, dễ dàng quan sát Trong nghiên cứu này, 7 tuyến điều tra
Trang 31chim được thiết lập tại 02 xã Tản Lĩnh và Vân Hòa Thông tin về các tuyến điều tra được trình bày trong bảng 3.3 và hình 3.1:
Bảng 3.3: Thông tin về các tuyến điều tra chim tại khu vực nghiên cứu
Tuyến Tọa độ đầu tuyến Tọa độ cuối
tuyến
Chiều dài tuyến (km)
KL Cốt 1100 (đi xuống) vòng ra phía sau đền mẫu kết thúc tại Trạm Kiểm lâm Cốt
đi theo đường bê tông nhỏ theo suối
đi ngược về Thác Bạc, quay về đường nhựa lớn và kéo dài tới Động Núi Hoa
Trang 32Hình 3.1: Vị trí các tuyến điều tra chim tại khu vực nghiên cứu
Trang 33Điều tra trên tuyến được tiến hành vào 2 thời điểm trong ngày là sáng sớm
và chiều tối (vì đây là thời gian chim hoạt động và kiếm ăn nhiều nhất, thuận lợi cho quá trình điều tra) Buổi sáng tiến hành điều tra chim từ 6 giờ sáng đến 9 giờ
và buổi chiều tiến hành điều tra từ lúc 15 giờ đến 18 giờ Mỗi tuyến điều tra được lặp lại 2 lần
Điểm đầu tuyến và kết thúc tuyến được đánh dấu bằng tọa độ GPS, điểm bắt đầu của sinh cảnh và kết thúc sinh cảnh cũng được xác định tọa độ để phục
vụ xác định diện tích và phân chia sinh cảnh trong khu vực nếu cần Trong quá trình di chuyển trên tuyến cần giữ yên lặng, nhẹ nhàng với tốc độ 1,3 đến 2,5 km/h Chim được phát hiện bằng cả mắt thường (quan sát) và bằng cách xác định tiếng hót hay tiếng kêu Trong quá trình điều tra, người quan sát cần ngụy trang màu sắc quần áo phù hợp với màu sắc của môi trường
hi quan sát thấy loài hoặc các dấu vết như như lông, phân, dấu chân tiến hành quan sát kỹ lưỡng để xác định tên loài, đếm số lượng cá thể, đo kích thước dấu vết, chụp ảnh xác định tọa độ GPS điểm bắt gặp Đối với những loài dễ dàng nhận biết qua giọng hót thì xác định tên loài ngay ngoài thực địa Đối với những loài khó phân biệt qua giọng hót, sử dụng thiết bị ghi lại tiếng hót của chim để so sánh, xác định loài và dẫn dụ bằng tiếng kêu của các loài chim đến gần để quan sát Các thông tin nghi nhận trong quá trình điều tra được ghi vào các biểu điều tra thiết kế sẵn (bảng 3.4) và sổ tay ngoại nghiệp
Bảng 3.4: Phiếu điều tra các loài chim theo tuyến
Người điều tra:………Ngày điều tra:……… Tuyến số:………Khu vực điều tra:……… Tọa độ điểm đầu:………Tọa độ điểm cuối:……… Thời gian bắt đầu:……… Thời gian kết thúc:……… Chiều dài tuyến:………
Sinh cảnh
Trang 343.5.4 Phương pháp xác định các mối đe dọa đến các loài chim
Xác định các mối đe dọa đến các loài chim là phương pháp tìm hiểu các tác động của cộng đồng địa phương đến các loài chim tại khu vực nghiên cứu từ
đó đề xuất các giải pháp bảo tồn
Trong quá trình điều tra trên tuyến, ngoài những thông tin về thành phần loài, các tác động khác của con người như: điểm gặp bẫy, điểm gặp người dân khai thác lâm sản, khu vực chăn thả gia súc được đánh dấu tọa độ và ghi chép các thông tin về diện tích ảnh hưởng, cường độ tác động và mức độ nguy cấp của các tác động vào sổ tay ngoại nghiệp và phiếu đánh giá các mối đe dọa như trong bảng 3.5
Bảng 3.5: Biểu điều tra các mối đe dọa đến các loài chim
Các số liệu thu thập được nhập dữ liệu trong Microsoft Excel để phân tích
và vẽ các biểu đồ Tọa độ các điểm GPS thu thập trên các tuyến được chuyển vào phần mềm Mapinfor 10.5 và Arc Gis 9.5 để xây dựng các tuyến điều tra và các khu vực phân bố loài chim tại khu vực nghiên cứu
3.5.5.1 Phương pháp xử lý số liệu xác định thành phần loài chim
Từ các số liệu thu thập, danh sách các loài chim tại khu vực xã Tản Lĩnh
và xã Vân Hòa được tổng hợp vào bảng 3.6 Tên phổ thông, tên khoa học và hệ
thống phân loại các loài chim được sử dụng theo tài liệu “Danh lục chim Việt
Nam” của Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011) Các loài chim
qu hiếm được tra cứu tình trạng trong Sách đỏ Việt Nam (2007), IUCN (2019),
Trang 35Tên Khoa học
trạng bảo tồn
Khả năng bắt gặp
Quan sát
Tiếng kêu
Phỏng vấn
Tài liệu
1 Loài
2 Loài
3.5.5.2 Phương pháp đánh giá mức độ đa dạng các loài chim
Đánh giá mức độ đa dạng của các loài chim khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa theo phương pháp thống kê số lượng loài, bộ, họ chim ghi nhận trong đợt điều tra
Mức độ đa dạng các loài chim tại khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa thuộc địa phận Vườn quốc gia Ba Vì, Hà Nội so với cả nước được sử dụng theo tài liệu cập nhật của Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011) là
887 loài, 88 họ và 20 bộ
Mức độ đa dạng giữa các bộ, họ chim trong khu vực nghiên cứu dựa vào việc thống kê số lượng bộ, họ loài chim ghi nhận trong đợt điều tra và thể hiện trên các biểu đồ
3.5.5.3 Phương pháp đánh giá các mối đe dọa tới các loài chim
Sau khi liệt kê được các mối đe dọa trong khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa tiến hành đánh giá cho điểm theo thứ tự từ 1 đến n điểm tương ứng với n mối đe dọa và sử dựng phương pháp TRA (Threats Reduction Assessment) được phát triển bởi (Margoluis & Salafsky, 2001) Phương pháp đánh giá mối đe dọa dựa vào 3 tiêu chí: diện tích ảnh hưởng, cường độ ảnh hưởng và tính cấp thiết
Diện tích ảnh hưởng: tỷ lệ diện tích bị ảnh hưởng bởi các mối đen dọa trong khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa thuộc địa phận Vườn Quốc gia Ba Vì,
Hà Nội Cho điểm cao nhất đối với mối đe dọa ảnh hưởng tới diện tích lớn nhất
Trang 36và cho điểm thập nhất là 1 điểm cho những mối đe dọa ảnh hưởng tới diện tích nhỏ nhất
Cường độ ảnh hưởng: là mức độ phá hủy của mối đe dọa tới sinh cảnh (Mối đe dọa phá hủy toàn bộ sinh cảnh hay một phần) Cho điểm cao nhất với mối đe dọa ảnh hưởng lớn nhất và giảm giần theo cường độ ảnh hưởng của của các mối đe dọa
Tính cấp thiết: mối đe dọa hiện tại hay sẽ xảy ra trong tương lai Việc cho điểm tương tự với các tiêu chí trên, mối đe dọa nào có tính nguy cấp nhất cho điểm cao nhất và giảm dần theo tính cấp thiết Kết quả đánh giá và và cho điểm các mối đe dọa được tổng hợp vào bảng 3.7
Bảng 3.7: Kết quả đánh giá các mối đe dọa
STT Các mối đe dọa Tiêu chí xếp hạng Tổng
điểm
Xếp hạng Diện tích
ảnh hưởng
Cường độ ảnh hưởng
Tính cấp thiết
3.5.5.4 Cở sở đề xuất các giải pháp bảo tồn
Các cở sở đề xuất giải pháp bảo tồn đưa ra phải thực tiễn và khả thi và được thực hiện như sau:
- Cở sở thứ nhất: dựa theo các tuyến và phiếu điều tra trong quá trình nghiên cứu xác định được các loài, đặc biệt là các loài chim quý hiếm để đề xuất các giải pháp ưu tiên bảo tồn loài và sinh cảnh sống của chúng
- Cơ sở thứ hai: dựa vào phương pháp đánh giá các mối đe dọa tới các loài chim như săn bắn, bẫy, phá hoại sinh cảnh Trên cơ sở đó đề suất các giải pháp giảm thiểu các mối đe dọa và nâng cao ý thức của người dân địa phương trong việc bảo tồn tài nguyên rừng của khu vực
Trang 37PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thành phần các loài chim tại khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa
4.1.1 Thành phần loài
Kết quả điều tra từ nhiều nguồn thông tin khác nhau đã ghi nhận được 164 loài, 46 họ, 16 bộ chim tại khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa Thông tin tổng hợp về thành phần các bộ chim ghi nhận được tại hai xã trên như bảng 4.1 Danh sách cụ thể các loài chim tại khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa được trình bày trong bảng 4.2
Bảng 4.1: Tổng hợp thành phần các loài chim tại xã Tản Lĩnh và Vân Hòa
TT Tên Bộ chim
Số họ Số loài Tên phổ thông Tên khoa học
Trang 38Bảng 4.2: Danh sách các loài chim đƣợc ghi nhận tại khu vực xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa
TT Tên phổ thông Tên khoa học Nguồn thông tin Tình trạng bảo tồn
SĐVN (2007)
IUCN (2019)
NĐ06 (2006)
NĐ160 (2013)
TT04 (2017)
Trang 39TT Tên phổ thông Tên khoa học Nguồn thông tin Tình trạng bảo tồn
SĐVN (2007)
IUCN (2019)
NĐ06 (2006)
NĐ160 (2013)
TT04 (2017)
18 Cắt nhỏ bụng trắng Microhierax melanoleucos PV, TL IIB PL II
Trang 40TT Tên phổ thông Tên khoa học Nguồn thông tin Tình trạng bảo tồn
SĐVN (2007)
IUCN (2019)
NĐ06 (2006)
NĐ160 (2013)
TT04 (2017)
9 Họ Cà kheo Recurvirostridae
10 Họ Choi choi Charadriidae
VIII BỘ BỒ CÂU COLUMBIFORMES