1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của các loài bướm ngày và đề xuất một số giải pháp quản lý chúng tại khu bảo tồn thiên nhiên pù luông huyện bá thước tỉnh thanh hóa

80 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 10,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa học và đánh giá kết quả học tập tại trường Đại học Lâm nghiệp đồng thời gắn liền với lý thuyết và thực tiễn, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với thực t

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa học và đánh giá kết quả học tập tại trường Đại học Lâm nghiệp đồng thời gắn liền với lý thuyết và thực tiễn, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với thực tế qua đó củng cố và hoàn thiện kiến thức đã được trang bị, biết vận dụng những kiến thức đó ngoài thực tiễn sản xuất, đồng thời được sự đồng ý của Trường Đại học Lâm Nghiệp, Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, bộ môn Bảo vệ thực vật tôi thực hiện luận văn tốt

nghiệp: “Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của các loài bướm ngày và đề xuất một số giải pháp quản lý chúng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa”

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Thế Nhã chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường đã tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn này

Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông và các cán bộ công nhân viên trong Khu bảo tồn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn này

Cuối cùng tôi rất biết ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

ĐHLN, ngày 13 tháng 5 năm 2011

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng

Trang 2

MỤC LỤC

Trang LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG BIỂU

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu bướm trên thế giới 3

1.1.1 Nghiên cứu về đa dạng loài 3

1.1.2 Nghiên cứu về sinh học, sinh thái 4

1.2 Nghiên cứu bướm ở Việt Nam 5

1.2.1 Nghiên cứu về đa dạng bướm ở Việt Nam 5

1.2.2 Nghiên cứu về sinh học, sinh thái bướm ở Việt Nam 6

1.2.3 Nghiên cứu bướm ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông 7

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 8

2.1.1 Mục tiêu chung 8

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 8

2.2 Đối tượng nghiên cứu 8

2.3 Nội dung nghiên cứu 8

2.4 Phương pháp nghiên cứu 9

2.4.1 Công tác chuẩn bị 9

2.4.2 Phương pháp điều tra 11

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu 11

2.4.2.2 Phương pháp điều tra theo tuyến 11

2.4.2.3 Phương pháp điều tra cây thức ăn 14

2.4.2.4 Phương pháp điều tra cụ thể 15

2.4.3 Phương pháp xử lý mẫu vật 16

2.4.4 Xử lý số liệu điều tra 17

CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU BẢO TỒN

THIÊN NHIÊN PÙ LUÔNG 19

3.1 Giới thiệu chung về khu bảo tồn 19

3.1.1 Vị trí của khu bảo tồn 19

3.1.2 Lịch sử và tư cách pháp nhân 19

3.1.3 Các khu vực quản lý và cơ sở hạ tầng địa phương 19

3.2 Điều kiện tự nhiên 20

3.2.1 Địa chất và địa mạo 20

3.2.2 Sự phát triển hang động và thuỷ học 21

Trang 3

3.2.3 Khí hậu 22

3.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 22

3.3.1 Dân số, dân tộc, lao động 22

3.3.2 Tình hình sản xuất, đời sống, thu nhập 23

3.3.3 Cơ sở hạ tầng 23

3.3.4 Nhận định về tình hình dân sinh kinh tế 24

3.3.5 Phân bố dân cư 25

3.3.6 Sử dụng đất 25

3.3.7 Sử dụng rừng 26

3.4 Tài nguyên động thực vật trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông 27

3.4.1 Tài nguyên thực vật 27

3.4.2 Tài nguyên động vật 27

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 28

4.1 Xác định thành phần loài Bướm ngày trong khu vực nghiên cứu 28

4.2 Tính đa dạng của các loài côn trùng bộ cánh vẩy trong khu vực nghiên cứu 35

4.2.1 Đa dạng sinh cảnh sống 35

4.2.2 Đa dạng về hình thái 36

4.2.3 Đa dạng về tập tính sinh hoạt 39

4.2.4 Đa dạng về sinh thái 44

4.2.5 Ảnh hưởng của thời gian đến sự xuất hiện của các loài bướm ngày 45

4.3 Ý nghĩa các loài bướm ngày tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông 47

4.3.1 Các loài mới phát hiện 47

4.3.2 Các loài có tên trong sách đỏ 48

4.4 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu 48

4.4.1 Bướm phượng lớn – Papilio memnon Linnaeus 48

4.4.2 Bướm phượng helen – Papilio helenus Linnaeus 49

4.4.3 Bướm phượng cánh sau vàng - Troides helena hephaestus Fldr 50

4.4.4 Bướm phượng đuôi nheo - Lamproptera curius Fabricius 50

4.4.5 Bướm đốm xanh lớn – Euploea mulciber Cramer 51

4.4.6 Bướm loang – Delias pasithoe Linnaeus 51

4.4.7 Bướm chanh di cư – Catopsilia pomona Fabricius 52

4.4.8 Bướm 6 đốm sáng – Hypolimnas misippus Linnaeus 52

4.4.9 Loài Melanitis sp 53

4.4.10 Họ bướm nhảy - Hesperiidae 53

4.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng tính đa dạng sinh học các loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu 54

4.5.1 Đối với khu bảo tồn 54

4.5.2 Đối với các cấp các ngành tại địa phương 55

4.5.3 Đối với người dân 55

4.5.4 Phục hồi rừng và xây dựng các vườn thực vật 55

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 56

Trang 4

1 Kết luận 56

2 Tồn tại 57

3 Kiến nghị 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ BIỂU

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên

2 IUCN : Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế

3 CITES : Công ƣớc quốc tế về buôn bán các loài động thực vật có nguy

cơ tuyệt chủng

4 NXB : Nhà xuất bản

5 UBND : Ủy ban nhân dân

6 VRTC : Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga

7 IEBR : Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

8 FIPI : Viện điều tra quy hoạch rừng

Trang 6

2

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.01: Đặc điểm cơ bản của tuyến điều tra 13

Bảng 3.1: Tóm tắt đặc điểm của xã tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (2003) 25

Bảng 4.01: Danh lục các loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu 28

Bảng 4.02: Độ bắt gặp của các loài bướm ngày 31

Bảng 4.03: Các loài bướm ngày thường gặp trong khu vực nghiên cứu 32

Bảng 4.04: Các loài bướm ngày ít gặp trong khu vực nghiên cứu 32

Bảng 4.05: Thống kê số loài và số giống theo từng họ 33

Bảng 4.06: Thành phần loài theo các dạng sinh cảnh 35

Bảng 4.07: Một số dạng cánh trước 37

Bảng 4.08: Một số dạng cánh sau 38

Bảng 4.09: Thức ăn của các loài bướm trong khu vực nghiên cứu 40

Bảng 4.10: Biến động của số loài thu thập được trong khu vực nghiên cứu 46

Bảng 4.11: Các loài có tên trong sách đỏ 48

DANH MỤC HÌNH Trang Hình 2.01: Vợt bắt bướm 10

Hình 2.02: Cách gấp bao giữ mẫu 10

Hình 2.03: Phương pháp trải cánh côn trùng 17

Hình 3.01: Địa điểm nghiên cứu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông Hình 4.01: Tỷ lệ độ bắt gặp của các loài bướm ngày 31

trong khu vực nghiên cứu 31

Hình 4.02:Tỷ lệ % số loài và số giống của các họ bướm ngày trong khu vực nghiên cứu 33

Hình 4.03: Thành phần loài theo sinh cảnh 36

Hình 4.04: Một số dạng cánh cơ bản 38

Hình 4.05: Biến động thành phần loài theo thời gian 46

Trang 7

3

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Tên khóa luận: “Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của các loài bướm ngày và đề xuất một số giải pháp quản lý chúng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa”

Giáo viên hướng dẫn : PGS TS Nguyễn Thế Nhã

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hồng

1 Mục tiêu nghiên cứu

2 Nội dung nghiên cứu

- Xác định thành phần loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu

- Đánh giá mức độ đa dạng của các loài bướm ngày

+ Đa dạng thành phần loài + Đa dạng hình thái

+ Đa dạng tập tính sinh hoạt + Đa dạng sinh thái

- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp bảo vệ nhằm tăng tính đa dạng sinh học của các loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu

Trang 8

4

3 Kết quả nghiên cứu

Cho đến nay KBTTN Pù Luông đã thống kê được 162 loài bướm thuộc

91 giống, 10 họ

3.1 Trong thời gian nghiên cứu ở KBTTN Pù Luông tôi đã thu thập được và xác định được 56 loài côn trùng thuộc bộ cánh vẩy gồm 9 họ, 46 giống Qua đợt điều tra đã bổ sung thêm được 4 loài sau đây:

1 Catopsilia pomona Fabricius - Họ Pieridae

3 Hypolimnas misippus Linnaeus - Họ Nymphalidae

4 Potanthus rectifaciatus - Họ Hesperiidae

Trong đó loài thường gặp có 3 loài chiếm 5,36%; loài ít gặp có 6 loài chiếm 10,70%; loài ngẫu nhiên gặp có 47 chiếm 83,90%

3.2 Thành phần loài theo sinh cảnh có sự khác nhau:

Rừng tự nhiên trạng thái (IIb) có tính đa dạng loài cao nhất với 42 loài chiếm 75,00%

Rừng tre, luồng tự nhiên với 36 loài chiếm 64,29%

Trảng cỏ cây bụi với 28 loài chiếm 50,00%

Rừng trồng Keo tai tượng với 34 loài 60,71%

Rừng thứ sinh phục hồi với 30 loài chiếm 53,57%

Vườn cây ăn quả với 16 loài chiếm 28,57%

Rừng thứ sinh ven suối với 9 loài chiếm 16,07%

Trang 9

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính

đa dạng sinh học cao trên thế giới Bảo tồn đa dạng sinh học không chỉ là vấn

đề riêng của một khu vực, một tổ chức hay một quốc gia, mà đã trở thành vấn

đề quan trọng trên toàn thế giới Việt Nam cũng đang chung sức đầu tư xây dựng các khu bảo tồn, vườn quốc gia để bảo vệ các loài nguy cấp, quý hiếm

Nói đến tính đa dạng sinh học ở Việt Nam không thể không kể đến sự phong phú và đa dạng của lớp côn trùng Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông là khu vực điển hình cho tính đa dạng đó Trong đó đáng chú ý là nhóm bướm

ngày, thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera), chúng đa dạng về chủng loại, chúng

thường sống gần các bụi cây nhiều hoa để hút mật hoa, giúp hoa thụ phấn Đặc biệt sự phong phú các loài bướm khác nhau chỉ ra một môi trường đa dạng và lành mạnh

Tuy nhiên, ngày nay do hoạt động khai thác tài nguyên quá mức của con người đã tác động vào tự nhiên quá mức làm suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm giảm tính đa dạng sinh học Hàng năm nước ta có hàng ngàn hecta rừng bị tàn phá làm cho các sinh vật không có nơi trú ngụ và làm giảm nguồn thức ăn của các loài sinh vật hoặc làm thay đổi hoàn cảnh sống của chúng dẫn đến một số loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, suy giảm hoặc biến mất, làm mất cân bằng sinh thái, rối loạn trật tự tự nhiên Đặc biệt do các hoạt động phun thuốc trừ sâu một cách tràn lan, thiếu khoa học làm nhiều loài côn trùng bị suy giảm và bị diệt vong, làm ảnh hưởng xấu đến mạng lưới thức

ăn trong tự nhiên, từ đó làm mất cân bằng hệ sinh thái, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống con người Vì vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học một cách đầy đủ, từ đó làm cơ sở khoa học để tiến hành công tác bảo tồn đa dạng sinh học có hiệu quả

Nhưng cho đến nay những phát hiện và nghiên cứu, các biện pháp bảo

vệ về côn trùng thuộc nhóm bướm ngày cũng như các loài côn trùng khác ở

Trang 10

2

nước ta còn hạn chế Những nghiên cứu về côn trùng tuy bước đầu đã thu được những kết quả nhất định song những kết quả đó chưa đủ để đánh giá được tính đa dạng của côn trùng nói chung và côn trùng thuộc bộ Cánh vẩy

(Lepidoptera) hoạt động vào ban ngày nói riêng

Ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông đã có một số nghiên cứu về đa dạng sinh học, đa dạng thực vật, động vật bậc cao, nhưng nghiên cứu về các loài bướm ngày còn ít Xuất phát từ vấn đề cấp bách là phục hồi, phát triển và nâng cao tính đa dạng côn trùng nói chung và các loài bướm ngày nói riêng,

tôi đã tiến hành khoá luận “Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của các loài bướm ngày và đề xuất một số giải pháp quản lý chúng tại KBTTN Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá” Với mục tiêu xác định thành

phần loài trong bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) hoạt động ban ngày, từ đó làm cơ

sở để đề ra các giải pháp quản lý một cách tốt nhất nhằm tăng tính đa dạng của các loài trong bộ này

Trang 11

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu bướm trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về đa dạng loài

Bướm thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera), là nhóm côn trùng được rất nhiều người quan tâm Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có công trình nghiên cứu về bướm, đặc biệt như các nước Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật, Trung Quốc… Các công trình nghiên cứu về bướm không chỉ giới hạn về thành phần loài mà còn tập trung nhiều vào vấn đề sinh thái, sinh học và bảo tồn

Nghiên cứu mối quan hệ giữa bướm và môi trường là một trong những lĩnh vực được các nhà sinh thái và sinh học quan tâm nhiều Ngày nay môi trường sống của các loài sinh vật nói chung, bướm và côn trùng nói riêng đang bị tàn phá hơn bao giờ hết Nguyên nhân môi trường sống của sinh vật

bị tàn phá là do rừng bị thu hẹp bởi việc chặt phá rừng, khai thác gỗ và nhiều hoạt động khác Côn trùng là những loài có trọng lượng cơ thể nhỏ nhưng sinh khối của chúng rất lớn Chúng là nguồn thức ăn dồi dào để duy trì và nuôi sống rất nhiều loài động vật khác như chim, lưỡng cư, bò sát, nhện và các loài côn trùng ăn thịt

Bướm là nhóm động vật đa dạng và phong phú bắt gặp ở hầu hết các hệ sinh thái trên cạn (New, 1997) Bướm gần gũi với con người và được ưa chuộng vì có giá trị văn hóa Nhu cầu thế giới về việc sử dụng bướm cho mục đích khoa học cũng như mục đích khác là rất lớn Mỗi năm hàng triệu mẫu bướm được thu thập và buôn bán trên phạm vi toàn thế giới Bướm dùng để trang trí, làm quà lưu niệm, làm bộ sưu tập

Trang 12

4

1.1.2 Nghiên cứu về sinh học, sinh thái

Có rất nhiều nguyên nhân làm suy thoái tài nguyên côn trùng đặc biệt

là bướm ngày Tuy nhiên có bốn nguyên nhân chính sau đây gây áp lực làm cho các loài bướm bị đe dọa là: (1) sự phá huỷ và làm thay đổi sinh cảnh (2)

ô nhiễm môi trường, (3) các loài ngoại lai và (4) khai thác thương mại (New

et Collins, 1991)

Các loài bướm rất dễ bị tổn thương vì phân bố hẹp, đời sống gắn liền với rừng, vì vậy, muốn bảo tồn các loài bướm chúng ta cần phải bảo vệ rừng Thomas (1991) nghiên cứu bướm ở Co-xta Ri-ca đã xác định các loài bướm phân bố hẹp về địa lý có khả năng sống ở môi trường bị thay đổi kém hơn so với các loài phân bố rộng Sự giới hạn của các loài này ở các sinh cảnh chưa

bị thay đổi chỉ ra rằng việc phá rừng có ảnh hưởng bất lợi cho sự tồn tại của chúng Thomas et Mallorie (1985) cho rằng đa dạng loài bướm có quan hệ tỷ

lệ với độ che phủ thực vật mặt đất, nhiều loài bướm sống gắn liền với các giai đoạn diễn thế cụ thể của rừng, vì vậy, chiến lược để bảo tồn bướm tốt nhất là bảo vệ nhiều loại sinh cảnh nếu có thể

Để bảo tồn bướm cũng như bảo tồn các loài động vật hay thực vật khác, điều cần thiết đòi hỏi trước tiên giải quyết được ba vấn đề: thứ nhất, cần biết

vị trí của chúng, mối quan hệ của chúng với các loài gần gũi hoặc các loài khác xung quanh chúng; thứ hai, cần biết phân bố địa lý và điều kiện sinh thái như yêu cầu về sinh cảnh hay sự ưa thích sinh cảnh của loài; cuối cùng là cần biết càng nhiều càng tốt về sinh học của loài (Schappert, 2000)

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về sinh học và bảo tồn bướm trên thế giới Có các công trình nghiên cứu rất có giá trị về khoa học, như việc xác định cây chủ, vòng đời, tập tính và phân bố của bướm Trong số các loài bướm, có loài quý, hiếm có trong danh lục của CITES và IUCN cũng được nghiên cứu

Trang 13

5

1.2 Nghiên cứu bướm ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về đa dạng bướm ở Việt Nam

Các nghiên cứu về côn trùng đã thực hiện chủ yếu tập trung vào nhóm côn trùng có hại, biện pháp phòng trừ và thiên địch Một số nghiên cứu về côn trùng có lợi mới chỉ đánh giá về mặt kinh tế mà mà chưa chú ý đến tác dụng nhiều mặt của nó Những nghiên cứu cơ bản về côn trùng Việt Nam cũng dừng lại ở mức độ báo cáo, tài liệu giảng dạy và trong phạm vi hẹp với một số loài đại diện Trên thực tế, ở Việt Nam chưa có tài liệu đầy đủ về côn trùng để phục vụ công tác nghiên cứu, tra cứu và ứng dụng

Kết quả điều tra côn trùng miền bắc Việt Nam (Viện Bảo vệ Thực vật, 1976) với sự tham gia của các nhà côn trùng học hai nước Trung Quốc và Việt Nam, đã xác định 181 loài thuộc 9 họ bướm

Các khảo sát về bướm được thực hiện ở các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên Các nhà côn trùng nước ngoài nghiên cứu bướm ở Việt Nam nhiều nhất đến từ Nhật Bản, Liên Bang Nga, Cộng hoà Séc và một số quốc gia khác Ở Việt Nam, các nghiên cứu và khảo sát về bướm tập trung nhiều ở Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga (VRTC) và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (IEBR)

Các công trình xuất bản sách có kèm theo ảnh minh họa về bướm còn rất hạn chế ở riêng từng Vườn quốc gia hay toàn bộ Việt Nam Nhưng đó cũng làm người đọc dễ hiểu, dễ nhận biết các loài bướm Đó là một số công trình về bướm Vườn quốc gia Cúc Phương (Lương Văn Hào et al., 2004; Ikeda et al., 1998, 1999, 2000); các loài bướm phổ biến ở Việt Nam (Devyatkin et Monastyrskii, 2001)[5]

Ở Miền Trung Việt Nam có một số nghiên cứu về phân bố bướm theo đai độ cao cho thấy đa dạng về loài và phong phú của loài trong quần xã bướm ở đai cao thấp hơn so với ở đai thấp (Vũ Văn Liên, 2005)

Trang 14

6

1.2.2 Nghiên cứu về sinh học, sinh thái bướm ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu về bướm ở Việt Nam đa số đều tập trung vào xây dựng danh sách loài Có rất ít các công trình nghiên cứu về sinh học

và sinh thái

Ở Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về sinh học bướm đã được tiến hành do các nhà nghiên cứu nước ngoài Koiwaya et al (2003)

nghiên cứu vòng đời của 4 loài bướm thuộc giống Theclini (Lycaenidae) ở Pia

Oac (Cao Bằng) và Sapa (Lào Cai) Đây là những loài chỉ sống trên các vùng núi cao Việt Nam

Tạ Huy Thịnh et Hoàng Vũ Trụ (2004) đã so sánh độ tương đồng về thành phần loài bướm giữa một số Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam Tác giả đã xác định yếu tố địa lý - khí hậu là yếu tố quyết định

và độ cao là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tương đồng về thành phần loài bướm giữa các khu vực Tạ Huy Thịnh et al (2005) với kết quả điều tra côn trùng (gồm cả bướm) dọc theo tuyến đường cao tốc dự kiến Hà Nội–Thái Nguyên Tác giả nhận xét về chỉ số tính đa dạng thấp là do tác giả nghiên cứu

ở hệ sinh thái nông nghiệp

Vũ Văn Liên et Đặng Thị Đáp (2002) nghiên cứu bướm ở Vườn quốc gia Cúc Phương xác định rừng thứ sinh có thành phần loài cao hơn so với thành phần loài ở rừng nguyên sinh Spitzer et al., (1993) nghiên cứu bướm ở các loại sinh cảnh khác nhau Kết quả cho thấy ở các loại sinh cảnh có thảm thực vật khác nhau thì tính đa dạng bướm cũng khác nhau Tính đa dạng về bướm ở các sinh cảnh rừng kín tự nhiên cao hơn ở các sinh cảnh rừng thứ sinh

Việc nghiên cứu biến động bướm theo mùa còn rất hạn chế ở Việt Nam Tuy nhiên, cũng đã được đề cập đến như Monastyrskii (2002) nghiên cứu biến động về thành phần loài bướm ở một số Vườn quốc gia ở Việt Nam

là Ba Bể, Hoàng Liên và Cát Tiên Tác giả chỉ ra có hai đỉnh cao về thành

Trang 15

7

phần loài, trong đó, đỉnh cao thứ nhất về thành phần loài của hai Vườn quốc gia rơi vào tháng 4 và tháng 5 và một Vườn quốc gia khác rơi vào tháng 6; đỉnh thứ hai về thành phần loài của hai Vườn quốc gia rơi vào tháng 12 và một Vườn quốc gia khác rơi vào tháng 10 Theo quy luật chung mà các nhà côn trùng đều nhận thấy là ở Miền Bắc Việt Nam, bướm thường phong phú nhất vào tháng 5 và tháng 10 Như vậy, nếu ở Ba Bể hay Hoàng Liên có thành phần loài bướm cao rơi vào tháng 12 là điều không thể Một nghiên cứu khác

về bướm ở Mê Linh, Vĩnh Phúc xác định thành phần loài cao nhất vào tháng

1.2.3 Nghiên cứu bướm ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông

“Khu hệ bướm của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa, Bắc Trung Bộ Việt Nam” của Alexander L Monastyrskii, Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga (2004) thu được một số kết quả sau: Tổng số có 158 loài bướm thuộc 10 họ được ghi nhận ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông: Papilionidae (12 spp.); Pieridae (17 spp.); Danaidae (7 spp.); Satyridae (24 spp.); Amathusiidae (5 spp.); Acraeidae (1spp.); Nymphalidae (34 spp.); Riodinidae (4spp.); Lycaenidae (21 spp.); và Hesperiidae (33 spp.)

Đợt điều tra về khu hệ bướm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông được tiến hành vào mùa thu và mùa đông hiện tại có 158 loài Rất nhiều loài thuộc Bắc trung bộ Việt Nam chỉ sinh sản đơn thế hệ trong một năm và toàn

bộ thời gian của dạng trưởng thành của chúng lại vào mùa xuân và đầu mùa

hạ Vì vậy, danh lục loài bướm hiện tại ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông vẫn chưa được hoàn thiện Từ những lí do trên tôi thực hiện đề tài này nhằm nghiên cứu tính đa dạng của các loài bướm ngày, bổ sung vào danh lục bướm

và đề xuất một số giải pháp quản lý tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông

Trang 16

8

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Chủ yếu là pha trưởng thành của các loài trong bộ cánh vẩy hoạt động ban ngày

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Xác định thành phần loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu

- Đánh giá mức độ đa dạng của các loài bướm ngày

+ Đa dạng thành phần loài + Đa dạng hình thái

+ Đa dạng tập tính sinh hoạt + Đa dạng sinh thái

- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài bướm ngày chính của khu vực nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp bảo vệ nhằm tăng tính đa dạng sinh học của các loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu

Trang 17

- Chuẩn bị nhân lực

Để xác định rõ công tác chuẩn bị nhân lực cần phải xác định rõ địa bàn điều tra (diện tích rừng, đặc điểm địa hình, cấu trúc rừng…) Khi điều tra trên những tuyến khó khăn phức tạp cần có người am hiểu địa hình khu vực điều tra như vậy sẽ tạo điều kiện cho công tác thu thập số liệu

- Chuẩn bị thiết bị, dụng cụ

Trong kế hoạch điều tra cần nêu rõ những thiết bị, dụng cụ cần thiết để

có sự chuẩn bị chu đáo bao gồm bản đồ, máy ảnh, bảng biểu… Các dụng cụ cần thiết cho việc điều tra là vợt bắt bướm, bao giấy, lọ đựng mẫu…

+ Vợt bắt bướm

Vợt được làm bằng vải màn có dạng túi, hình thang, đường kính miệng vợt khoảng 30cm, đáy 20cm, dài 40-50cm, chiều dài cán vợt khoảng 1m Mép vợt tròn cứng, thường bằng kim loại có đường kính 2-4mm và được gắn chặt vào cán vợt

Trang 18

10

Hình 2.01: Vợt bắt bướm

+ Bao giấy giữ mẫu

Bao giấy có tác dụng giữ cho mẫu không hỏng, không bị rách nát và giữ nguyên trạng thái ban đầu Kích thước bao mẫu giữ lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào kích thước của mẫu vật

5

2

Hình 2.02: Cách gấp bao giữ mẫu

Đầu tiên ta gấp chéo đường giấy theo đường chéo (1) sao cho 2 đầu giấy thừa ra bằng nhau (2) và (3) chiều rộng từ 2÷3 cm Sau đó gấp tiếp 2 đầu giấy (2) và (3) vào Gấp 2 góc giấy (4) và (5) ta sẽ được bao giấy giữ mẫu (6) Mỗi bao giấy chỉ chứa một mẫu vật

Trang 19

11

2.4.2 Phương pháp điều tra

Để xác định thành phần loài và đánh giá tính đa dạng của các loài bướm ngày cần tiến hành thu thập mẫu vật trong khu vực nghiên cứu, tôi tiến hành 4 đợt điều tra:

Đợt 1: Từ 15/2/2011 – 22/2/2011

Đợt 2: Từ 28/2/2011 – 6/3/2011

Đợt 3: Từ 11/3/2011 – 18/3/2011

Đợt 4: Từ 25/3/2011 – 31/3/2011

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu

Kế thừa các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở khu vực nghiên cứu

“Khu hệ bướm của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù luông, tỉnh Thanh Hóa, Bắc Trung Bộ Việt Nam”, 2004, của Alexander L Monastyrskii, Trung tâm

nhiệt đới Việt–Nga

“Nghiên cứu đặc điểm khu hệ bướm ngày tại Vườn quốc gia Cát Bà, phục vụ công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên côn trùng”, 2005, của

Nguyễn Văn Phiến Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp

Kế thừa một số tài liệu khác và trên một số trang web

2.4.2.2 Phương pháp điều tra theo tuyến

Xác định tuyến điều tra

Tuyến điều tra phải giúp ta nhanh chóng có được kết quả đại diện cho khu vực điều tra Vì thế, yêu cầu tuyến điều tra phải đi qua các dạng sinh cảnh chính, các dạng địa hình, thực bì khác nhau và phải mang tính đại diện cho khu vực nghiên cứu

Trang 20

12

Các dạng sinh cảnh được chọn theo tiêu chuẩn chung là các dạng sinh cảnh điển hình của khu vực Trong khu vực nghiên cứu tôi đã xác định được một số dạng sinh cảnh sau:

1 Rừng thứ sinh ven suối (A)

2 Rừng trồng Keo tai tượng (B)

3 Rừng tre, luồng tự nhiên (C)

4 Vườn cây ăn quả (D)

5 Rừng thứ sinh phục hồi (E)

6 Trảng cỏ cây bụi (F)

7 Rừng tự nhiên trạng thái (IIb) (G) Trên cơ sở đó xác lập 3 tuyến điều tra như sau:

+ Tuyến 1: Từ UBND xã Lũng Cao đi Bản Nủa chiều dài 4 km

+ Tuyến 2: Từ Đập Nủa đi Bản Pốn chiều dài 8 km

+ Tuyến 3: Từ Bản Nủa đi Bản Cao Hoong chiều dài 10 km

Xác định điểm điều tra

Tiến hành đi dọc tuyến điều tra khi thấy có sự thay đổi về trạng thái rừng hay sinh cảnh lập điểm điều tra tại đó Từ cách bố trí các điểm điều tra như trên tôi đã xác định được 30 điểm điều tra

Trang 21

13

Bảng 2.01: Đặc điểm cơ bản của tuyến điều tra

TT Mã hoá tuyến và

1 I01 Rừng tre, luồng tự nhiên Đơn buốt, cỏ lào, cỏ lá tre,

chuối rừng

2 I02 Rừng thứ sinh ven suối Đơn buốt, cỏ lá tre, bọt ếch,

mâm xôi, chuối rừng

3 I03 Rừng trồng Keo tai tượng Dương xỉ, cỏ lào, đơn buốt

4 I04 Rừng tự nhiên trạng thái

(IIb)

Bã đậu, sa nhân, thường sơn, lóng sổ

5 I05 Rừng tre, luồng tự nhiên Đơn buốt, chó đẻ, chuối

rừng

6 I06 Vườn cây ăn quả Cỏ lá tre, cỏ lào, đơn buốt

Rừng tự nhiên trạng thái (IIb)

Đơn buốt, cỏ lào, cỏ lá tre, thường sơn, mía dại

Rừng tự nhiên trạng thái (IIb)

Đơn buốt, lóng sổ, thường sơn, dương xỉ

9 II09 Trảng cỏ cây bụi Đơn buốt, cỏ lào, mua mua,

(IIb) Mâm xôi, sa nhân, bọt ếch

15 II15 Rừng tre, luồng tự nhiên Đơn buốt, cỏ lào, cỏ lá tre,

dương xỉ, chuối rừng

16 II16 Rừng trồng Keo tai tượng Đơn buốt, cỏ lào, cỏ lá tre

Trang 22

14

17 III17 Trảng cỏ cây bụi Mua mua, sim, cỏ lào

18 III18 Rừng tre, luồng tự nhiên Đơn buốt, chó đẻ, dương xỉ,

21 III21 Rừng trồng Keo tai tượng Đơn buốt, cỏ chít, chó đẻ

22 III22 Rừng tre, luồng tự nhiên Đơn buốt, chó đẻ, dương xỉ,

28 III28 Trảng cỏ cây bụi Đơn buốt, cỏ lào, mua mua

29 III29 Rừng thứ sinh phục hồi Mâm xôi, chuối rừng, lau

lách, chó đẻ

30 III30 Vườn cây ăn quả Dương xỉ, chó đẻ, cỏ lào

2.4.2.3 Phương pháp điều tra cây thức ăn

Để có cơ sở đề xuất biện pháp gây nuôi bướm cần điều tra cây thức ăn của sâu non và sâu trưởng thành Để điều tra cây thức của sâu non chúng tôi tiến hành điều tra trực tiếp và kế thừa tài liệu

Phần lớn các loài bướm sau khi vũ hóa thường bay đi để tìm mật hoa, cây thức ăn để đẻ trứng Vì vậy, dọc tuyến điều tra cũng như các điểm điều tra

Trang 23

15

chúng tôi thường xuyên quan sát một số loài bướm khi có điều kiện xem chúng đậu ở cây gì và sau đó quan sát xem có trứng hoặc sâu non hay không, kết hợp với việc tra cứu các tài liệu sẵn có, tài liệu trên internet sau đó xác định tên loài cây kết hợp với việc thu mẫu tại chỗ

Kết quả thu được ghi vào mẫu biểu sau:

Mẫu biểu 2.01: Thức ăn của các loài bướm trong khu vực nghiên cứu

TT Tên khoa học Tên Việt Nam Cây thức ăn của các loài bướm

2.4.2.4 Phương pháp điều tra cụ thể

Tiến hành đi trên các tuyến điều tra và vợt bắt các loài côn trùng bắt gặp ở dọc đường Khi đến các điểm điều tra dừng lại quan sát và vợt bắt xác định rõ số lượng các thể quan sát, thu thập được Sau đó tiến hành điều tra côn trùng cư trú trên cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, dưới đất… Mẫu thu được cho vào bao giấy đựng để giữ cho mẫu không bị hỏng, rách nát, giữ được trạng thái ban đầu

Trong quá trình di chuyển trên các tuyến điều tra tiến hành thu thập các loại mẫu côn trùng thuộc đối tượng điều tra, ghi lại địa điểm thu bắt được mẫu dựa theo mã số của các điểm điều tra, thời gian thu được mẫu, đặc điểm khí hậu, thời tiết Chụp ảnh mẫu vật tại hiện trường Khi đến điểm điều tra, tiến hành quan sát, đếm số cá thể của các loài Kết quả điều tra trên các tuyến ghi vào mẫu biểu sau:

Trang 24

16

Mẫu biểu 2.02: Phiếu điều tra côn trùng

Số hiệu tuyến điều tra: ……… Ngày điều tra: ………… Người điều tra: ………

TT

Điểm ĐT Loài côn trùng

Tóm tắt đặc điểm nơi thu

2.4.3 Phương pháp xử lý mẫu vật

٭ Phương pháp làm tiêu bản

- Cắm, ghim mẫu côn trùng

Mẫu vật được cắm bằng một loại kim đặc biệt, kim được làm bằng thép không gỉ, dài từ 38-40cm với các kích cỡ khác nhau có đường kính khác nhau

Kim phải cắm thẳng góc với trục thân bướm, bướm phải nằm ở một độ cao nhất định trên kim, cụ thể: Sau khi cắm kim thì 1/3 chiều dài của kim sẽ ở trên, còn 2/3 chiều dài của kim sẽ ở dưới cơ thể của bướm Kim được cắm ở giữa đốt ngực trước

- Sửa tư thế bướm

Dùng giá bướm là mảnh xốp Điều chỉnh sao cho mép sau cánh trước thẳng và vuông góc với thân bướm Sau đó dùng nẹp giấy, kim nhọn tiến hành sửa râu, cánh cho đúng tư thế Tuyệt đối không sờ vào cánh bướm khi đang dang cánh để tránh mất vẩy phấn và không được cắm ghim vào cánh hoặc móc rách cánh

Trang 25

17

- Phơi, sấy khô

Đem các giá bướm ra phơi hoặc đem sấy cho khô Không nên phơi trực tiếp ngoài nắng gắt, bướm dễ bị mất màu Nếu có tủ sấy thì nên để trong tủ sấy từ 2-3 ngày ở nhiệt độ 35-450C Ở nơi không có tủ sấy thì nên đặt giá bướm vào hộp tôn rồi đặt bên cạnh bếp lửa hay bếp than

Hình 2.03: Phương pháp trải cánh côn trùng

2.4.4 Xử lý số liệu điều tra

Dựa vào kết quả điều tra thu được ngoài thực địa tiến hành tính chỉ số P% dùng để xác định độ bắt gặp:

Loài thường gặp P% > 50 Loài ít gặp 25P% 50 

Trang 26

Sách ghi chép Côn trùng Trung Quốc của Lý Nguyên Thắng

Nhận biết những loài Bướm nổi tiếng trên Thế giới của Ngô Vân

Bướm Vân Nam của Phòng nghiên cứu côn trùng Viện khoa học Trung Quốc

Kết quả ghi vào mẫu biểu sau:

Mẫu biểu 2.03: Danh lục các loài trong khu vực nghiên cứu

2.4.5 Mô tả hình thái của một số loài trong khu vực nghiên cứu

Để có các đặc điểm hình thái, tôi tiến hành mô tả mẫu Để mô tả và giám định mẫu vật, cần dựa vào các chỉ tiêu hình thái quan trọng như: Kích thước, màu sắc, hình dạng, kiểu râu đầu và các đặc điểm về cánh bướm

Mô tả về kích thước như: Sải cánh, chiều dài thân, râu đầu, chân

Mô tả về màu sắc hình dạng cánh: Xác định hình dạng cánh, đuôi cánh, móc cánh Mô tả màu sắc mặt trên, mặt dưới các vân có trên cánh

Mô tả một số tập tính quan sát được như: Khi bay, khi đậu, theo đàn hay đơn lẻ, thường ăn loài thức ăn gì…

Từ kết quả trên tôi đề xuất một số biện pháp nhằm tăng tính đa dạng sinh học của các loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu

Trang 27

19

CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU BẢO TỒN

THIÊN NHIÊN PÙ LUÔNG 3.1 Giới thiệu chung về khu bảo tồn

3.1.1 Vị trí của khu bảo tồn

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (200

21' - 20034' vĩ độ Bắc, 1050

02' -

105020' kinh độ Đông) thuộc địa phận 2 huyện Quan Hoá và Bá Thước, phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hoá, Bắc Trung Bộ Việt Nam Khu bảo tồn bao gồm phía Tây của dãy núi đá vôi Pù Luông - Cúc Phương và phía Bắc tiếp giáp với các huyện Mai Châu, Tân Lạc và Lạc Sơn của tỉnh Hoà Bình

Khu bảo tồn thiên nhiên gồm các phần đất thuộc địa phận của 9 xã: Phú

Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân, Phú Nghiêm thuộc huyện Quan Hoá

và Thành Sơn, Thành Lâm, Cổ Lũng và Lũng Cao thuộc huyện Bá Thước Trụ sở của khu bảo tồn này nằm gần thị trấn Cành Nàng của huyện Bá Thước

và dễ dàng đến bằng mọi con đường trong mọi thời tiết

3.1.3 Các khu vực quản lý và cơ sở hạ tầng địa phương

Giống như nhiều khu bảo vệ của Việt Nam, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông gồm 2 khu quản lý chính: các khu bảo vệ nghiêm ngặt và các khu phục hồi sinh thái Hai khu bảo vệ nghiêm ngặt (sau đây được gọi là các vùng lõi) gồm 2 dãy núi chạy song song theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và được

Trang 28

20

ngăn cách với nhau bởi một thung lũng có người dân sinh sống và canh tác Thung lũng này không thuộc vùng lõi nhưng được xác định là vùng đệm của khu bảo tồn, nơi cũng có những sườn dốc thấp hơn của cả 2 dãy núi này Vì vậy, các dãy núi chiếm phần lớn diện tích của 2 vùng lõi Diện tích vùng lõi phía Tây Nam là 4.598 ha, trong khi của vùng lõi phía Đông Bắc là 8.772 ha (Anon., 2004)

Các khu phục hồi sinh thái trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông rộng 4.342 ha, và bao gồm 500 ha trong vùng lõi về phía Đông Bắc trong các khu vực Son-Bá-Mười (Anon., 2004)

Khu bảo tồn thiên nhiên, phía Nam giáp với đường 15a, con đường nối các huyện Quan Hoá và Bá Thước và dẫn tới huyện Mai Châu tỉnh Hoà Bình

và phía Đông Nam thành phố Thanh Hoá Một con đường độc lập (đường 15c) dài khoảng 50km nằm vắt ngang chiều dài thung lũng, từ bến phà La Hán dọc theo sông Mã về phía Đông Nam đến xã Phú Lệ và đường 15a ở phía Tây Bắc Con đường này phần lớn là đường đất và đã có kế hoạch nâng cấp (Anon., 2005) Trong vùng còn một số con đường đất khác

3.2 Điều kiện tự nhiên

3.2.1 Địa chất

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông nằm ở ranh giới 2 khu kiến tạo khu vực là sông Mã và sông Đà Hai khu vực này được ngăn cách bởi đoạn đứt gẫy Sơn La rất sâu và nổi tiếng, kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Khu vực này có đặc điểm địa chất rất phức tạp và đa dạng, bao gồm nhiều loại đá có nguồn gốc khác nhau (800 triệu năm tuổi tính đến nay) Các đoạn đứt gẫy chia cắt khu vực này, làm ảnh hưởng đến địa hình bề mặt của nó, các

hệ thống thoát nước ngầm dưới mặt đất và trên bề mặt các hang động Sự dịch chuyển của khối Ban Công - La Hán rộng 4 km có lẽ là biểu hiện nổi bật nhất của các hang động địa chất này

Trang 29

21

Địa chất và địa mạo của khu vực Pù Luông khác xa với địa chất và địa mạo gần như chỉ được hình thành từ đá cacbonat (đá vôi karst) của vườn quốc gia Cúc Phương Đá trầm tích chiếm phần lớn trong phạm vi phía Đông Bắc vùng lõi Đặc trưng của khu vực này là các loại địa hình đá vôi karst bị chia cắt mạnh và các hệ thống hang động rộng lớn

Phía Tây Nam vùng lõi, nơi nằm giữa dãy núi Pù Luông, được hình thành bởi đá macma và terrigeneous (chủ yếu là bazan) Ở các độ cao cao nhất, dãy núi hình thành nên các vùng đá lộ thiên được xem là có duy nhất ở Việt Nam về mặt địa mạo học Liên khu bảo tồn có độ cao từ 60-1.650m so với mặt nước biển, điểm cao nhất là núi Pù Luông Đặc trưng của vùng đệm lân cận là các thung lũng thẳng có sông phù xa và suối chảy qua, các đồi đá phiến, đá phiến sét và đá cát pha sét thấp và các vùng đá vôi karst nằm biệt lập Averyanov et al., 2004)

3.2.2 Sự phát triển hang động và thuỷ văn

Đặc điểm chủ yếu của hệ thống nước Khu bảo tồn thiên nhiên là trong thung lũng có một đường yên ngựa tại vùng biên chung giữa các xã Phú Lệ và Thành Sơn Đặc điểm này tạo ra đường phân nước giữa hai phụ lưu Pung (chảy theo hướng Tây Bắc) và Cham (chảy theo hướng Đông Nam) trước khi hợp dòng vào sông Mã Sông Mã bao quanh vùng đệm khu bảo tồn về phía Tây, phía Nam và Đông Nam

Hệ thống nước của vùng lõi đá vôi rất phức tạp và không thể có mối quan hệ trực tiếp nào giữa hệ thống nước trên bề mặt và dưới lòng đất Nhiều

hệ thống hang động đã được đưa lên bản đồ khu vực và phần lớn trong số đó phát triển dọc theo đoạn gẫy khúc Tây Bắc - Đông Nam Chúng ẩm ướt và vì thế phát triển Tuy nhiên, đây mới chỉ là một số lượng nhỏ hệ thống hang động trong khu vực, còn nhiều hệ thống được nối với nhau bởi các hệ thống sông ngầm Các nghiên cứu gần đây đã cho rừng có sự tồn tại của hai hệ thống sông ngầm có quy mô đáng kể (Trần Tân Văn et al., 2003) cũng như các hệ thống sông ngầm khác Những dòng sông ngầm này cho thấy nhiều hệ thống nước trong và xung quanh Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông được nối liền với nhau

Trang 30

22

3.2.3 Khí hậu

Theo Anon (1998), Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông có khí hậu nhiệt đới gió mùa và có gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 2, và gió mùa Đông Nam từ tháng 3 đến tháng 10 Một loại gió thổi từ hướng Tây nóng và khô, được biết đến là gió Lào xuất hiện giữa tháng 4 và tháng 5

Nhiệt độ trung bình hàng năm biến động trong khoảng từ 20-250

C Nhiệt độ tối đa đạt xấp xỉ 370C đến 390C, trong khi nhiệt độ tối thiểu trong khoảng từ 5-100C Nhiệt độ trên các vùng cao như Son-Bá-Mười có thể xuống tới điểm đóng băng Lượng mưa trung bình hàng năm tương đối thấp, từ 1.500-1.600 mm Lượng mưa tối đa ước đạt tới 2.540 mm, tập trung từ tháng

7 đến tháng 9 (chiếm 65-70%) Mưa phùn tập trung vào mùa Xuân (từ tháng

12 đến tháng 2) Lượng mưa tối thiểu khoảng 1.000 mm (Anon., 1998)

3.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.3.1 Dân số, dân tộc, lao động

Cộng đồng dân cư sinh sống chủ yếu là đồng bào các dân tộc ít người Theo kết quả điều tra có gần 5.000 hộ với 30.000 nhân khẩu, trong đó có gần

385 hộ, 2000 nhân khẩu sống trong vùng lõi khu bảo tồn, tỷ lệ tăng dân số lớn, nhận thức của người dân từng bước được nâng cao nhưng chưa bền vững, nhu cầu về gỗ làm nhà, gỗ gia dụng, củi, nhu cầu về đất canh tác ngày càng tăng, đường ranh giới dài tiếp giáp với nhiều huyện, tỉnh

Mật độ dân số sinh sống trong khu vực bình quân là 61 người/km2

(cao nhất 132 người/km2

ở xã Thành Lâm và mật độ thấp nhất ở xã Thanh Xuân

42 người/km2

)

Về lao động: Có 18.425 lao động, trong đó lao động nam 8.854, lao động nữ là 9.571 Đặc thù của người dân miền núi phụ nữ là người lo mọi công việc gia đình cho nên lực lượng lao động Nam rất dư thừa đây là yếu tố thuận lợi cho việc thực hiện các dự án

Trang 31

23

3.3.2 Tình hình sản xuất, đời sống, thu nhập

Từ khi quy hoạch rừng đặc dụng Khu BTTN Pù Luông, diện tích sản xuất Nông-Lâm nghiệp của người dân trong vùng bị thu hẹp, nguồn thu nhập

từ sản phẩm rừng tự nhiên hầu như không còn, sản xuất Lâm nghiệp thu nhập thấp, chủ yếu từ việc khai thác sản phẩm rừng trồng như Luồng, Xoan, … Đời sống nhân dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp trình độ canh tác lạc hậu, giống cây trồng vật nuôi chủ yếu là giống địa phương cho năng suất thấp, sản phẩm chủ yếu là Lúa, Ngô, Sắn… sản lượng lương thực đạt thấp, bình quân đầu người 250kg thóc/người/năm, đồng bào thiếu ăn bình quân 2-4 tháng/năm Do đó đời sống nhân dân trong vùng hiện đang gặp rất nhiều khó khăn

3.3.3 Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng thấp kém, giao thông đi lại khó khăn Một số xã đã được xây dựng hệ thống điện lưới Quốc gia, tuy nhiên những xã vùng sâu, xa nhất nhân dân vẫn phải sử dụng máy phát điện cỡ nhỏ lợi dụng nước từ các con suối

Về thuỷ lợi: Hiện nay trên địa bàn chỉ mới đầu tư xây dựng đập thuỷ lợi

Na Khà, xã Cổ Lũng tưới cho 25 ha lúa nước 2 vụ và một số ít công trình thuỷ lợi nhỏ như đập Đuốm, xã Phú Lệ; Đập Hin xã Lũng Cao nhưng chưa đảm bảo nước tưới cho sản xuất Nông nghiệp và nước sinh hoạt cho nhân dân Hiện tại nhiều vùng có thể đầu tư xây dựng các đập thuỷ lợi cung cấp nước tưới tiêu và sinh hoạt

Cung cấp nước sạch: Chưa có đầu tư để xây dựng hệ thống nước sạch, nhân dân chủ yếu sử dụng nguồn nước từ đầu nguồn các con suối là chính

Vấn đề giao thông: Hệ thống giao thông chính nối liền các xã hiện tại

chủ yếu là đường đất hoặc rải đá cấp phối, rất khó cho đi lại, vận chuyển hàng hoá, hầu hết nằm trong tình trạng cần được nâng cấp

Trang 32

24

Vấn đề giáo dục và y tế:

+ Hầu hết các xã đều được xây dựng trường học Phổ thông cơ sở và Tiểu học, mầm non từ các chương trình đầu tư của Nhà nước như chương trình 135, các dự án Quốc tế như ILMC, SIDA,World Vision, Tuy nhiên trang thiết bị phục vụ cho dạy và học còn thiếu thốn

+ Văn hoá xã hội: Tình hình văn hoá xã hội trong khu vực đang còn rất lạc hậu Hệ thống truyền hình, truyền thanh chỉ phủ được một phần nhỏ diện tích khu vực, báo chí luôn đến muộn, việc tiếp thu văn hoá, kỹ thuật mới phục

vụ phát triển sản xuất của nhân dân rất khó khăn

+ Y tế: Hiện tại các trạm xá trong khu vực được xây dựng nhưng số lượng y tá, y sỹ và thuốc cũng như dụng cụ y tế vẫn còn rất thiếu

3.3.4 Nhận định về tình hình dân sinh kinh tế

- Thuận lợi: Cộng đồng địa phương đã tích luỹ được một số kinh

nghiệm trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp thông qua thực hiện giao khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên và trồng rừng Tiềm năng về lao động trên địa bàn rất lớn, có thể tham gia nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi, trồng rừng, các ngành sản xuất khác Nhận thức của người dân về công tác quản lý bảo vệ, xây dựng và phát triển vốn rừng đã được nâng lên so với trước đây

- Khó khăn: Một số xã là nơi sinh sống của đồng bào dân tộc ít người,

là một trong những huyện nghèo nhất của tỉnh Thanh Hoá, khu vực đặc biệt khó khăn của huyện Bá Thước, tỷ lệ tăng dân số cao (1,9% năm), tập quán canh tác còn lạc hậu, diện tích đất canh tác chỉ chiếm 7,7% tổng diện tích tự nhiên, trong khi sản xuất nông nghiệp lại chiếm tỷ trọng tới 98% Lương thực đầu người thấp, thiếu nước sạch trong sinh hoạt Nhu cầu về lương thực, chất đốt, gỗ xây dựng và các loại sản phẩm khác ngày một tăng cao Vùng dự án giáp ranh với tỉnh Hoà Bình với đường ranh giới dài gần 100km trong khi lực

Trang 33

25

lượng làm công tác bảo vệ rừng ít nên rừng tự nhiên luôn có nguy cơ bị tàn phá, làm giảm khả năng phòng hộ và nghèo kiệt tài nguyên rừng

3.3.5 Phân bố dân cư

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông nằm trong khu vực đông dân cư Mật độ dân số cao nhất ở xã Thành Lâm với 119 người/km2 Phần lớn người dân địa phương (>95%) ở đây là các dân tộc Thái, Mường (Anon., 2005)

Bảng 3.1: Tóm tắt đặc điểm của xã tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông

(2003)

(ha) Dân số Số hộ Diện tích trong

khu bảo tồn (ha)

Cổ Lũng 4.899 2.665 564 2.741 Thành Sơn 3.843 2.922 558 2.039

(Nguồn: Tình hình kinh tế xã hội của các xã tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù

Luông năm 2003)

Trong khi người dân sống ở vùng đệm, thì có khoảng 387 hộ và 1.822 nhân khẩu sống trong vùng lõi phía Đông Bắc của khu bảo tồn tại 8 bản: Kịt, Cao Hoong, Thành Công, Son, Bá và Mười của xã Lũng Cao, và các bản Hiêu

và Khuyên của xã Cổ Lũng (Anon., 2005)

3.3.6 Sử dụng đất

Hoạt động kinh tế chủ yếu trong và xung quanh Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông là sản xuất nông nghiệp Các mùa vụ chính là lúa, ngô và sắn, mặc dù các mùa vụ khác cũng được gieo trồng Một số lượng đáng kể người

Trang 34

26

dân địa phương đang phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực trong khoảng từ 3-6 tháng/năm (Uhl et al., 2002; Apel et al., 2002) Nhu cầu đất nông nghiệp tăng cao cùng với việc thành lập khu bảo tồn thiên nhiên Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, các cộng đồng địa phương trồng hàng loạt các cây

gỗ và tre luồng

3.3.7 Sử dụng rừng

Dân cư địa phương đang sống dựa vào nhiều sản phẩm động thực vật trong các khu rừng địa phương Các lâm sản bao gồm gỗ làm nhà và xây dựng, cỏ khô và đồng cỏ cho vật nuôi, củi đun nấu và nhiều loại thức ăn hoang dã khác nhau trong đó bao gồm động vật hoang dã, mật ong, các lá cây xanh và các loại củ, cây thuốc

Cả các hộ nghèo và hộ giàu đều dựa vào các kiểu rừng địa phương, dù

đó là rừng trưởng thành trên đá vôi, rừng thứ cấp tại những khu vực bỏ hoang hay khu vực trồng tre được canh tác mạnh Bất chấp tầm quan trọng của các tài nguyên rừng, không có một đội ngũ chuyên nghiệp nào đi thu hái lâm sản Thêm vào đó, việc khai thác các tài nguyên rừng đã trở thành một phần trong

kế sinh nhai của hầu hết các hộ gia đình Các hộ gia đình luôn thay đổi hoạt động cho phù hợp với mùa, giá cả thị trường, thị trường lao động và nhu cầu của họ

Các sản phẩm động vật rừng cung cấp một nguồn thu nhập và dinh dưỡng quan trọng tiềm tàng cho các cộng đồng địa phương Các động vật nhỏ (đặc biệt là các loài bò sát, động vật lưỡng cư, chim và các động vật không xương sống) bị săn bắn và tiêu thụ tại địa phương và bán cho các thương nhân trong vùng (Apel et al., 2002) Hoạt động săn bắn các loài động vật lớn hơn

để bán cho các hộ gia đình cũng xuất hiện, nhưng chủ yếu đã được thay thế bằng hoạt động săn bắn thương mại

Trang 35

Pù Luông - Cúc Phương Các loại thảm thực vật thứ sinh khác bao gồm cả các trảng tre nứa và cây bụi cũng đã được ghi nhận (Anon., 1997) 552 loài cây thuộc 138 họ thực vật đã được ghi nhận, trong đó có 39 loài có tên trong Sách

đỏ Việt Nam (Anon., 1996)

3.4.2 Tài nguyên động vật

Điều tra một cách hệ thống đầu tiên về khu hệ động vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông được tiến hành bởi Viện điều tra quy hoạch rừng và năm 1997 và đã ghi nhận được 59 loài thú, 162 loài chim, 28 loài bò sát và 13 loài lưỡng cư (Lê Trọng Trải và Đỗ Tước, 1998; BirdLife và FIPI, 2001) Nghiên cứu tiếp theo chú trọng vào các loài khỉ hầu, đặc biệt là loài Voọc

mông trắng Trachypithecus delacouri (Baker, 1999), một loài bị đe doạ

nghiêm trọng, đặc hữu cho khu vực núi đá vôi Pù Luông - Cúc Phương (Nadler et al., 2003)

Vào tháng 4 năm 2003, hàng loạt các nghiên cứu về đa dạng sinh học ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông được tiến hành và tập trung vào sáu nhóm

ưu tiên chính Chúng bao gồm: khỉ hầu (đặc biệt là loài Voọc mông trắng), các loài thú lớn khác, các loài dơi, cá nước ngọt, động vật không xương sống trong các hang động và các loài thân mềm ở cạn) Sau đó thì một nhóm côn trùng khác được bổ sung thêm là các loài bướm ngày Các cuộc điều tra tập trung vào các nhóm kể trên được tiến hành từ năm 2003 đến 2004

Trang 36

28

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 4.1 Xác định thành phần loài Bướm ngày trong khu vực nghiên cứu

Qua các đợt điều tra tôi đã thu thập được 56 loài bướm ngày thuộc 46 giống 9 họ khác nhau của bộ cánh vẩy (Lepidoptera) trong khu vực nghiên cứu Kết quả thu được được thể hiện trong bảng sau 4.01:

Bảng 4.01: Danh lục các loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu

2 Graphium sarpedon Linnaeus 4,16,23,27 13,30

14 Eurema hecabe Linnaeus 1,4,5,7,13,16,24, 25,29,30 33,30

15 Pieris cannidia Linnaeus 1÷7,10,13,15,20,23,26,28,

16 Danaus genutia Cramer 1,8,17,21,28 16,70

17 Tirumala septentrionis Butler 7,18,21,29 13,30

Trang 37

29

21 Melanitis leda ismene Linnaeus 9,16,24,29 13,30

22 Elymnias hypermnestra Linnaeus 2,5,15,17,19,23, 27,29 26,70

25 Lethe confusa Aurivillius 9,14,21,29 13,30

28 Thaumantis diores Doubleday 13,22,27 10,00

29 Discophora sondaica Boisduval 12,19,21,24 13,30

Trang 38

30

44 Zemeros flegyas Cramer 1÷6,13,14,16,23, 26÷30 53,30

49 Spindasis lohita Horsfield 11,22,25 10,00

So với kết quả điều tra ở tài liệu:“Khu hệ bướm của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù luông, tỉnh Thanh Hóa, Bắc Trung Bộ Việt Nam”, 2004, của

Alexander L Monastyrskii, Trung tâm nhiệt đới Việt–Nga, tôi thu được 4 loài mới, 52 loài tương tự và 106 loài không thu được mẫu Như vậy Khu hệ bướm ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông rất đa dạng, phong phú và chắc hẳn chưa được hoàn thiện

Trang 39

31

Từ bảng danh lục trên tôi tiến hành xác định một số chỉ tiêu sau:

- Độ bắt gặp của các loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu

Bảng 4.02: Độ bắt gặp của các loài bướm ngày

Hình 4.01: Tỷ lệ độ bắt gặp của các loài bướm ngày

trong khu vực nghiên cứu

Qua bảng 4.02 và kết quả thể hiện như hình 4.1, tôi thấy đa số loài trong khu vực nghiên cứu là loài ngẫu nhiên gặp với 47 loài chiếm 83,90% trong tổng số loài thu thập, còn lại là loài thường gặp với 3 loài chiếm 5,36%

và loài ít gặp với 6 loài chiếm 10,70% Tuy vậy, những loài thường gặp và những loài ít gặp là những loài bắt gặp ở nhiều dạng sinh cảnh hơn so với loài ngẫu nhiên gặp

Trang 40

32

Để thấy rõ kết quả này, tôi lập danh sách các loài thường gặp và các loài ít gặp trong khu vực điều tra như sau:

Bảng 4.03: Các loài bướm ngày thường gặp trong khu vực nghiên cứu

1 Delias pasithoe Linnaeus Pieridae ABCDEFG

2 Pieris cannidia Linnaeus Pieridae ABCDEFG

3 Zemeros flegyas Cramer Riodinidae ABCDEFG Trong bảng trên ta thấy trong số 3 loài có 2 loài thuộc họ bướm phấn Pieridae và 1 loài còn lại thuộc họ bướm ngao Riodinidae Ba loài bướm này xuất hiện ở tất cả các dạng sinh cảnh, sống ở 7 dạng sinh cảnh tôi xác định được

Bảng 4.04: Các loài bướm ngày ít gặp trong khu vực nghiên cứu

2 Elymnias hypermnestra Linnaeus Satyridae ACEFG

3 Junonia iphita Cramer Nymphalidae ABCEFG

4 Hypolimnas misippus Linnaeus Nymphalidae ABCEFG

5 Neptis hylas hainama Linnaeus Nymphalidae ABCDEFG

Trong bảng 4.04 ta có thể thấy có 6 loài ít gặp trong đó có 4 loài thuộc

họ bướm giáp Nymphalidae, 1 loài thuộc họ bướm phấn Pieridae và 1 loài thuộc họ bướm mắt rắn Satyridae

Các loài ít gặp thường có mặt ở 2 dạng sinh cảnh rừng thứ sinh phục hồi (E) và rừng tự nhiên trạng thái (IIb) (G)

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Cố Mậu Bân, Trần Bội Trân, 1997, Bướm đảo Hải Nam, NXB Lâm nghiệp Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bướm đảo Hải Nam
Nhà XB: NXB Lâm nghiệp Trung Quốc
[3]. Lý Tương Đào, 2006, Bảo tàng Côn trùng, NXB Thời sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng Côn trùng
Nhà XB: NXB Thời sự
[4]. Lý Thành Đức, 2006, Côn trùng rừng, NXB Lâm nghiệp Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng rừng
Nhà XB: NXB Lâm nghiệp Trung Quốc
[5]. Alexander monastyrskii và Alexey Deryakin, 2002. Các loài bướm phổ biến ở Việt Nam sách hướng dẫn. NXB Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loài bướm phổ biến ở Việt Nam sách hướng dẫn
Nhà XB: NXB Lao động – xã hội
[8]. Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, 1997, Côn trùng rừng, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng rừng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
[10]. Lý Nguyên Thắng, 2004, Sách ghi chép Côn trùng Trung Quốc, NXB Viện Khoa học xã hội Thƣợng Hải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách ghi chép Côn trùng Trung Quốc
Nhà XB: NXB Viện Khoa học xã hội Thƣợng Hải
[11]. Ngô Vân, 1999, Nhận biết những loài Bướm nổi tiếng trên Thế giới, NXB Giáo dục Vân Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận biết những loài Bướm nổi tiếng trên Thế giới
Nhà XB: NXB Giáo dục Vân Nam
[12]. Phòng nghiên cứu côn trùng Viện khoa học Trung Quốc, 1999, Bướm Vân Nam, NXB Lâm nghiệp Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bướm Vân Nam
Nhà XB: NXB Lâm nghiệp Trung Quốc
[2]. Đặng Thị Đáp (chủ yếu) và Vũ Văn Liên, Đặng Thị Hường, Nguyễn Thế Hoàng, 2008, Hướng dẫn tìm hiểu về một số loài bướm Vườn Quốc Gia Tam Đảo và giá trị bảo tồn của chúng Khác
[6]. Alexander monastyrskii và Alexey Deryakin, 2003. Danh lục minh họa các loài bướm ngày ở Việt Nam Khác
[7]. Alexander L. Monastyrskii, 2004, Khu hệ bướm của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù luông, tỉnh Thanh Hóa, Bắc Trung Bộ Việt Nam Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w