1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng môi trường khu vực chợ xuân mai thị trấn xuân mai huyện chương mỹ thành phố hà nội

58 38 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do chưa được qui hoạch tổng thể một cách khoa học và cộng thêm ý thức bảo vệ môi trường sống của người mua, kẻ bán, người dân sống trong chợ chưa cao, nên tình trạng mất vệ sinh vứt bỏ r

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Để hoàn thành chương trình đào tạo đại học, kết hợp vận dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất, được sự đồng ý của nhà trường, khoa Quản

lý tài nguyên rừng và môi trường, Bộ môn Quản lý môi trường cho phép chúng tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp với tên:

“Nghiên cứu thực trạng môi trường khu vực chợ Xuân Mai thị trấn Xuõn Mai huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội”

Sau một thời gian thực hiện nghiêm túc, bằng sự nỗ lực của bản thân, nhất là được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn và sự tham gia góp ý của bạn bè đồng nghiệp cho đến nay đề tài đã hoàn thành

Với thành quả có được ngày hôm nay, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tạo điều kiện của Nhà trường Đại học Lâm nghiệp, các thày cô giáo trong khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của cô giáo TS Trần Thị Tuyết Hằng Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn Ban quan lý chợ Xuân Mai, các hộ gia đình và cá nhân kinh doanh trong chợ đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tận tình cho chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Do năng lực, trình độ và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những sai sót nhất định, vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để đề tài nghiên cứu của chúng tôi được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội - 2011 Sinh viên thực hiện Chanthip Sisophon

Trang 2

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Thị trấn Xuân Mai nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 30 km vầ phí Tây, mặc dù có diện tích không lớn song là một khu vực có tốc phát triển kinh

tế nhanh, đồng thời đây là khu vực nằm trong quy hoạch tổng thể của chính phủ về chuỗi đô thị Láng Hòa Lạc - Xuân Mai - Miếu Môn Hiện tại thị trấn Xuân Mai đang có 6 trường đại học, cao đẳng và nhiều đơn vị bộ đội đóng trên địa bàn Cộng thêm sự gia tăng nhanh chóng dân số cơ giới trong 10 năm gần đây, đã khiến cho nhu cầu dịch vụ thương mại phục vụ đời sống sinh hoạt học tập của người dân Xuân Mai ngày càng cao kể cả số và chất lượng

Chợ Xuân Mai nằm gần trung tâm của thị trấn, với địa điểm thuận tiện cho giao thông đi lại, mặt khác là trung tâm thương mại trao đổi hàng hóa nông sản, là nơi buôn bán cung cấp các hàng hóa phục vụ sinh hoạt, đời sống, học tập của hầu hết người dân sống trên địa bàn Do chưa được qui hoạch tổng thể một cách khoa học và cộng thêm ý thức bảo vệ môi trường sống của người mua, kẻ bán, người dân sống trong chợ chưa cao, nên tình trạng mất vệ sinh vứt bỏ rác bừa bãi, đổ nước thải lên mặt đường, cống rãnh thoát nước tắc hàng ngày vẫn diễn ra ở chợ Xuân Mai

Do đặc điểm riêng mà rác thải nếu không thu gom và xử lý kịp thời, đúng kỹ thuật thì sẽ gây ra những hậu quả xấu, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của con người và sự phát triển của nền kinh tế xã hội Bên cạnh đó việc

ô nhiễm rác thải sẽ kéo theo một loạt những hậu quả khác liên quan đến môi trường nước, đất, không khí … Nhưng xét về một góc độ khác nếu có biện pháp xử lý thì rác thải sẽ mang lại nguồn sinh lợi rất đáng kể như, thu hồi được một lượng tài nguyên không nhỏ qua tái chế sử dụng, là nguyên liệu để sản xuất phân bón, đồ gia dụng… Là sinh viên ngành Khoa học môi trường, hàng ngày đi chợ Xuân Mai tôi cảm thấy rất ái ngại cho môi trường chợ nói riêng và môi trường thị trấn nói chung Vì vậy, để góp phần đề xuất giải pháp

Trang 3

nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tăng vẻ đẹp cảnh quan khu vực chợ Xuân Mai tôi đã chọn đề tài nghiên cứu:

“Nghiên cứu thực trạng môi trường khu vực chợ Xuân Mai thị trấn Xuân Mai huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội”

Trang 4

Phần 2

LƢỢC SỬ NGHIÊN CỨU

2.1 NGHIÊN CỨU VỀ RÁC THẢI

2.1.1 Khái niệm về rác thải

Trong quá trình sinh hoạt của con người, một bộ phận vật chất không

có hoặc không còn giá trị sử dụng đối với con người nữa được gọi chung là rác thải Người ta phân biệt rác thải từ nguồn tạo ra nó, các loại rác thải từ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ… gọi là chất thải và rác thải từ quá trình sinh hoạt của con người được gọi là rác thải

Trong khái niệm rác thải trên chỉ mới chú trọng nhấn mạnh đến quá trình sinh hoạt cuốc sống hàng ngày Khi có rác thải thay đổi hoặc lượng rác thải đã được thu gom và di chuyển đi hoặc tái sử dụng có nhưng rất ít hoặc không có thải cuối cùng

Nếu xét về mặt môi trường, người ta quan tâm chủ yếu vào nguồn rác thải gây ra ô nhiễm môi trường và cách thức gây ô nhiễm của rác thải đó Đặc biệt người ta quan tâm đến các rác thải gây ra hậu quả lâu dài hoặc các rác thải thải mất một thời gian sau khi thải mới gây ô nhiễm

2.1.2 Các thuộc tính của rác thải

Rác thải tồn tại ở mọi dạng vật chất như rắn, lỏng và khí mà có thể xác định khối lượng rõ ràng Một số rác thải tồn tại dưới dạng khó xác định như: nhiệt, phóng xạ, bức xạ… Dù tồn tại ở dạng nào thì tác động ô nhiễm của rác thải đều xuất pháp từ các thuộc tính về mặt lý học, hóa học, sinh học của chúng, trong đó thuộc tính hóa học là quan trọng nhất Vì vậy, trong công tác quản lý rác thải ta chú trọng đến các thuộc tính cơ bản của chất thải về mặt hóa học

- Thuộc tính tích lũy dần

- Thuộc tính chuyển đổi

- Thuộc tính môi sinh

Trang 5

2.1.3 Các nguồn phát sinh của rác thải gây ô nhiễm

Ngày nay các nguồn gây ô nhiễm chủ yếu là các cơ sở kinh doanh, sinh hoạt trao đổi mua bán hàng ngày của người dân Các loại rác thải của nguồn này có đặc điểm riêng, nên việc phân loại có ý nghĩa tạo thuận lợi cho quá trình quản lý và nghiên cứu khoa học

Theo nguồn gốc phát sinh, rác thải gây ô nhiễm bao gồm các loại sau:

- Hộ gia đình: rác thải phát sinh từ những thực phẩm thừa, carton, plastic, vải, da, gỗ vụn, thủy tinh, kim loại, tro bếp, lá cây, các chất thải đặc biệt (đồ điện, điện tử hỏng, pin,…) và các chất thải độc hại

- Thương mại: rác phát sinh từ các nhà kho, quán ăn ăn, chợ, văn phòng, khách sạn, trạm xăng, chủ yếu là đồ ăn thừa, dầu mỡ, …

- Cơ quan (trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính…): rác thải ở đây giống như rác thải thương mại

- Xây dựng: các công trình mới, tu sửa từ nhà ở đến công viên, trường học, bệnh viện, khách sạn,… chủ yếu là vôi vữa bê tông, gạch, thép, cốt pha,…

- Dịch vụ công cộng: rửa đường, rác du lịch (công viên, bãi biển, các danh lam thắng cảnh,…)

- Công nghiệp: công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ đều phát sinh ra rác thải, chất thải như vụn giấy, hóa chất,…

- Nông nghiệp: các hoạt động nông nghiệp nguồn phát sinh chất thải như, phân bón, đốt tro, thuốc trừ sâu,…

2.1.4 Đặc điểm của chất thải rắn

Các đặc điểm chính của chất thải rắn được thể hiện ở những tính chất vật lý và tính chất hóa học cơ bản của nó, dưới đây là một số tính chất vật lý hóa học của chất thải rắn:

* Lý tính: Những tính chất vật lý quan trọng của chất thải đô thị bao

gồm, khối lượng, độ ẩm, kích cỡ, phân bố kích cỡ, thể tích chiếm dụng trên hiện trường, độ xốp

Trang 6

- Khối lượng riêng: Khối lượng riêng được tính theo kg/m3 Do khối lượng riêng của rác thay đổi theo cách lẫy mẫu nên số liệu này cần được nói

rõ lấy mẫu trong điều kiện nào Khối lượng riêng là thông số cần thiết để xác định khối lượng và thể tích chất thải rắn cần xử lý

- Độ ẩm: Độ ẩm của chất thải rắn được thể hiện theo 1 trong 2 cách sau: Cách 1: theo phương pháp đo khối lượng ướt, độ ẩm trong mẫu đo được tính theo % của chất thải ở trạng thái ướt

Cách 2: theo phương pháp khối lượng khô, độ ẩm được tính theo % so với khối lượng chất thải khô

Phương pháp khối lượng ướt được sử dụng rộng rãi hơn trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn Độ ẩm được tính theo biểu thức sau:

Trong đó :

M: Độ ẩm % W: khối lượng ban đầu của mẫu (kg) d: khối lượng của mẫu sau khi sấy khô ở 105oC

- Độ thẩm thấu của chất thải nén: Tính thẩm thấu lưu chất của chất thải nén là một thông số vật lý quan trọng, khống chế sự dịch chuyển của chất lỏng và khí trong bãi chôn rác

Hệ số thẩm thấu thường được viết theo biểu thức:

Trang 7

Độ thẩm thấu riêng tiêu biểu của chất thải rắn nén ép ở bãi chôn lấp rác nằm trong khoảng 10-11 – 10-12m theo phương thẳng đứng và khoảng 10-10

m theo nằm ngang

* Hóa tính của chất thải rắn: Các thông tin liên quan đến thành phần

hóa học của chất thải rắn có ý nghĩa quan trọng trong ước tính các biện pháp

xử lý và phương án thu gom Nói chung chất thải thải rắn có thải xem là một hỗn hợp của những chất có thể cháy được và những chất không thể cháy được Nếu chất thải rắn (CTR) được sử dụng làm nhiên liệu thì 4 tính chất quan trọng của nó cần được biết rõ là:

- Độ ẩm (đo được bằng cách làm bốc hơi nước ở 1050c trong 1h)

- Các chất dễ bay hơi (được xác định bằng giảm khối lượng CTR khi đốt ở 9500

c trong lò có nắp đây)

- Cacbon cố định (được xác định theo khối lượng chất cặn cháy được sau khi đã lấy đi chất dễ bay hơi)

- Tro cacbon khối lượng tro sau khi đốt cháy CTR trong lò hơi

- Điểm nóng cháy của tro: Điểm nóng cháy của tro được định nghĩa là nhiệt độ mà ở đó tro nóng cháy rồi đông đặc thành khối khối rắn Nhiệt độ này nằm trong khoảng 1100-12000c

- Các nguyên tố hóa học chính: Đó là tỉ lệ phần trăm của C, H, O, S và tro khi đốt CTR

- Nhiệt trị: Nhiệt trị của CTR có thể được xác định bằng nhiệt lượng kế hay bằng cách tính toán nếu thành phần hóa học của nó được xác định

Ví dụ: Nhiệt trị của thức ăn là 4652 (kj/kg), của rác thành phố nói chung là 1630 (kj/kg)

2.1.5 Phân loạn rác thải:

Rác thải được phân loạn theo nhiều cách khác nhau, theo bản chất nguồn tạo thành, rác thải được phân thành các loại:

Trang 8

- Rác thải sinh hoạt: là chất thải rắn được sản sinh trong sinh hoạt hàng ngày của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại

- Rác thải công nghiệp: là CTR của các cơ sở sản xuất (từ cá thể thủ công đến công nghiệp nhà máy)

- Rác thải xây dựng: là các phế thải như cát đá, bê tông, vôi vỡ,… do các hoạt động phá vỡ công trình, xây dựng công trình

- Rác nông nghiệp: là những chất thải được thải ra thành các hoạt động sản xuất nông nghiệp Ví dụ: trồng trọt chăn nuôi, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm chế biến từ sữa,…

Rác thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ lớn nhất trong 3 loại rác thải trên Ta biết rằng rác thải sinh hoạt thải ra phụ thuộc vào 2 yếu tố chính đó là sự phát triển kinh tế và tỷ lệ dân số Hay có thể nói cách khác sự gia tăng dân số cùng với

sự phát triển kinh tế là nguyên nhân chính là ra tăng lượng rác thải sinh hoạt

Theo mức độ nguy hại rác thải được phân thành:

- Rác thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ cháy gây phản ứng độc hại, chất thải sinh hoạt để thối rữa, các chất dễ cháy nổ hoặc các chất phóng xạ, các chất nhiễm khuẩn lây lan,… có nguy cơ đe dọa sức khỏe con người và sinh vật

- Rác thải y tế nguy hại: là chất thải chứs các chất hoặc hợp chất các những đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc có khả năng tương tác với các chất khác gây nguy hại tới sức khỏe cộng đồng và môi trường Theo quy chế quản

lý chất thải y tế, các các loại rác thải y tế nguy hại được phát sinh từ các hoạt động chuyên môn trong các bệnh viện, trạm y tế

- Rác thải không nguy hại: là những loại chất thải ra không chứa các chất và hợp chất gây nguy hại trực tiếp và có khả năng tương tác thành phần

Theo thành phần hóa học và vật lý có các loại rác thải hữu cơ, vô cơ, rác thải cháy được, không cháy được, kim loại, phin kim

Trang 9

Như vậy, rác thải là một vấn đề ngày càng trở nên nghiêm trọng toàn cầu, các thành phố trên thế giới đang phải đương đầu với một vấn đề nan giải làm làm sao giải quyết được nó Các nhà chức trách, các nhà khoa học đã vào cuộc, đã đầu tư không ít tiền của, công sức của việc giải quyết rác thải nhiều công trình khoa học, nhiều biện pháp quản lý đã được đặt ra nhằm tìm kiếm

mô hình thích ứng giải quyết một cách hiệu quả, đảm bảo vệ sinh môi trường

đô thị, môi trường nơi xử lý Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm vùng miền, trình

độ dân trí, ý thức của cộng đồng cộng thêm tiềm lực kinh tế cũng như các phương tiện kỹ thuật công nghệ mà mỗi biện pháp sử lý của các Nước khác nhau Trong cùng một quốc gia các địa phương khác nhau vẫn còn bộc lộ những nhược điểm nhất định

2.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn ở đô thị nước ta

Khối lượng chất thải trong các đo thị ngày càng tăng do tác động của sự gia tăng dân số, phát triển kinh tế xã hội và sự phát triển trình độ và tính chất tiêu dùng trong đô thị Lượng chất thải rắn nếu không được xử lý tốt sẽ dẫn đến hàng loạt hậu quả tiêu cực đối với môi trường sống

Nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, ngành và nhân dân đã được nâng lên đáng kể Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, sự gia tăng dân số, việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ làm môi trường nước ta bị xuống cấp nhanh Hiện nay, theo thống kê, tổng lượng chất thải rắn phát sinh trong các đô thị cả nước là khoảng 6,4 triệu tấn/năm Trong đó, chất thải rắn sinh hoạt chiếm khoảng 80% Lượng chất thải rắn thu gom tại các đô thị Việt Nam hiện chỉ đạt khoảng 70% yêu cầu so với thực tế và chủ yếu tập trung tại các khu vực nội thành

Trong khi đó việc quản lý chất thải đô thị là rất khó khăn, việc quản lý chất thải không tốt đã gây ra hàng loạt các hậu quả xấu như:

- Thu gom và vận chuyển không hết sẽ dẫn tới tình trạng tồn đọng chất thải trong các đô thị làm mất mỹ quan, gây cảm giác khó chịu cho cả dân cư lẫn khách nước ngoài đang sinh sống ở nơi đó

Trang 10

- Rác thải đổ bừa bãi xuống cống rãnh, ao hồ, kênh rạch,… gây tắc cống làm quá tải hệ thống cấp thoát nước đô thị, ô nhiễm nước ngầm nước mặt, khi có mưa lớn sẽ gây ô nhiễm trên diện rộng

- Trong môi trường khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều chất thải bị thối rữa nhanh là nguyên nhân gây ra dịch bệnh, nhất là chất thải độc hại, chất thải bệnh viện

- Đội ngũ lao động của các đơn vị làm vệ sinh môi trường phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, ô nhiễm nặng ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe

- Các bãi chứa rác không hợp lý vệ sinh là các nguồn gây ô nhiễm cho môi trường đất, nước và không khí

- Không thu hồi và tái chế được các thành phần có ích, có trong rác thải gây lãng phí tài nguyên

Chất thải rắn đang trở thành vấn đề nghiêm trọng đối với chất lượng môi trường ở đô thị Vì vậy đòi hỏi các cấp lãnh đạo ở mỗi đô thị phải có những biện pháp quản lý chất thải rắn phù hợp để góp phần vào việc bảo vệ môi trường của hệ thống đô thị nói riêng và của đất nước nói chung

2.3 Nghiên cứu về chợ nói chung và chất thải tại khu vực chợ Xuân Mai

Ở nhiều nước trên thế giới vẫn có chợ và chợ thường hình thành từ rất sớm Những nước Châu Âu - Mỹ, chợ biến đổi rất nhanh chóng thành các trung tâm thương mại và các siêu thị Ngày nay chúng ta chỉ còn thấy các chợ bán rau quả tươi, đặc sản của nông dân trồng được hoặc một vài đồ do thu công sản xuất Mỗi đô thị chỉ còn một vài chợ như vậy, nó không phải phục

vụ đại trà, hàng ngày

Việt Nam từ thời trung đại chợ vẫn là một nơi trao đổi, tiếp xúc toàn diện giữa các cộng đồng người của các vùng lân cận, về các mặt kinh tế, văn hóa, lối sống và thông tin đại chúng Chợ không những là một nơi trao đổi và tiếp xúc giữa các tầng lớp người trong phạm vi nội bộ đô thị và chủ yếu là một trung tâm trao đổi tiếp xúc giữa Kẻ Chợ và các vùng phụ cận Nó là một

Trang 11

sự đối ngoại thường trực, toàn diện giữa thành thị và nông thôn Nông dân các vùng phụ cận mang sản vật nông nghiệp hoặc thủ công nghiệp của mình vào bán tại các chợ, rồi dùng tiền đó mua sắm một ít các vật dụng cần thiết cho công việc sản xuất và đời sống hàng ngày Trong chợ còn có một loại người buôn bán chuyên nghiệp, bán hàng trong các lều quán dựng sẵn, nhưng phần lớn cũng chỉ là những người buôn bán nhỏ hoặc trung bình

Đa số những người đi chợ mua bán tại các chợ, các lái buôn và giáo sĩ phương Tây khi đến Việt Nam đều nhận xét là phụ nữ Việt nam nói chung và phụ nữ Kẻ Chợ nói riêng đã có một “năng khiếu đặc biệt” về buôn bán Marini đến Kẻ Chợ có nhận xét là: “những người phụ nữ ở đây mải mê với thương mại và họ không ngừng bận rộn về việc bán, mua

Trên đây là chợ đối với các vùng đô thị trên thế giới nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng Còn ở nông thôn đặc biệt là các vùng cao nơi đồng bào thiểu số sinh sống chợ không chỉ là nơi buôn bán, trao đổi hàng hóa mà chợ còn là nơi sinh hoạt văn hóa của rất nhiều địa phương, là điểm du lịch của khách thập phương đến tìm hiểu về những xét sinh hoạt văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Tại một số địa phương người ta đến chợ phiên không phải là đi trao đổi hàng hóa nông sản mà đến để dạo chơi, mua cái may mắn,

có khi đến để hát giao duyên, tìm hiểu đôi lứa…

Những các người dân sống ở đô thị tuy hàng 10 năm các siêu thị đã phát triển khá nhiều và nhân dẫn cũng đã vào mua tại các siêu thị khá thường xuyên, song đa số họ là các tầng lớp trẻ và thu nhập khá giả, là người đương chức Đại bộ phận những người nội trợ vẫn thích mua ở chợ vì: thực phẩm tươi sống hơn, đa dạng hơn, giá rẻ hơn, cho đến nay, chúng tôi dự báo mạng lưới chợ truyền thống vẫn tồn tại lâu dài với người dân Việt Nam

Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích và nét đẹp trong sinh hoạt văn háo hàng ngày thì ngày nay do nhiều nguyên ngân khác nhau mà chợ ở một số địa phương đã trở thành vấn nạn xã hội như: ô nhiễm môi trường, tệ nạn cờ bạc, trộm cắp,…Vì vậy nghiên cứu để xây dựng và bảo tồn những nét đẹp văn hóa

Trang 12

truyền thống của chợ là vấn đề cấp bách không chỉ với các nhà quản lý môi trường mà còn đối với các cấp các ngành

Thị trấn Xuân Mai ngày càng phát triển với nhiều loại hình sản xuất kinh doanh dịch vụ, chợ Xuân Mai do có địa điểm thuận tiện cho việc đi lại nên đây là trung tâm thương mại lớn nhất của thị trấn, là nơi cung cấp những nhu yếu phẩm thiết yếu cho cán bộ, học sinh, sinh viên, bộ đội của hàng chục

cơ quan trường học đơn vị bộ đội đóng trên địa bàn Tuy nhiên, diện tích không rộng lại chưa có qui tổng thể nên vấn đề môi trường ở đây đang là tâm điểm chú ý của các cấp các ngành (Cảnh quan chợ thiếu vẻ đẹp của một thị trấn mà trong đó có nhiều trường học và tương lai của một thành phố văn minh hiện đại Sự sắp xếp lán chợ, hàng quán, mua bán hết sức lộn xộn, đặc biệt là những ngày lễ tết, ngày nghỉ mật độ người mua bán tăng cao Nước thải từ các hàng tươi sống, quán ăn đổ lênh láng trên mặt đường, rác thải chưa thu gom kịp thời gây mất vệ sinh,…) Do vậy việc nghiên cứu thực trạng môi trường tại chợ Xuân Mai là vấn đề cần thiết nhằm quản lý một cách hiệu quả nhất chất thải và góp phần làm đẹp môi trường nơi đây

Hiện nay việc nghiên cứu hiện trạng rác thải của thị trấn Xuân Mai còn hạn chế Việc nghiên cứu về hình hạng chất thải ở khu vực chợ Xuân Mai đã được thực hiện chủ yếu tập chung vào nghiên cứu nguồn gốc phát sinh chất thải, thành phần chất thải, phân loại rác thải tại nguồn và bước đầu đánh giá hiệu quả hoạt động thu gom của Công ty môi trường đô thị Xuân Mai, song vấn đề nghiên cứu cứu ảnh hưởng của rác thải tới môi trường của khu vực chợ vẫn ít được nghiên cứu một cách hệ thống Vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài này, một mặt nghiên cứu tình trạng rác thải tại chợ Xuân Mai Mặt khác nghiên cứu ảnh hưởng của rác thải tới môi trường nơi đây, nhằm đề xuất giải pháp quản lý rác thải, góp phần bảo vệ môi trường khu vực chợ Xuân Mai

Trang 13

Đề xuất giải pháp nhằm hạn chế các tác động gây ô nhiễm môi trường

từ các hoạt động kinh doanh, mua bán tại khu vực nghiên cứu

3.2 NỘI DỤNG NGHIÊN CỨU:

- Nghiên cứu thực trạng hoạt động kinh doanh mua bán tại khu vực chợ Xuân Mai

- Nghiên cứu thực trạng quản lý rác và nước thải từ hoạt động kinh doanh mua bán tại khu vực chợ Xuân Mai

- Đề xuất biện pháp giảm thiểu những tác động gây ô nhiễm môi trường tại khu vực chợ xuân Mai

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu

Do thời gian, kinh phí và năng lực nghiên cưú hạn chế, nên để thực hiện đề tài chúng tôi đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: Kế thừa tài liệu, điều tra phân tích thực nghiệm và phương pháp điều tra xã hội học dựa vào phỏng vấn hộ gia đình và người dân mua bán tại khu vực chợ Xuân Mai

Tài liệu kế thừa: Đề tài đã tham khảo tài liệu số liệu về điều kiện tự

nhiên dân sinh kinh tế xã hôi, một số số liệu về điều tra tình hình rác thải, nước thải của các đề tài đã thực hiện trước đây tại khu vực nghiên cứu

Phương pháp điều tra thực nghiệm: Để đạt được mục tiêu đề ra đề tài

đã tiến hành khảo sát toàn khu vực chợ, vẽ sơ đồ mặt bằng, xác định các tuyến điều tra thực trạng buôn bán kinh doanh trong chợ Điều tra số lượng, phương tiện người đi lại mua bán hang ngày tại chợ Xuân Mai Điều tra nguồn phát thải gây ô nhiễm, lượng rác, nước thải,… cụ thể như sau:

Trang 14

Điều tra 15 tuyến Quan sát và ghi chép các nhận xét trực quan về tình trạng môi trường do hoạt động kinh doanh buôn bán gay ra Quan sát hành

vi, thái độ của người dân trong việc xả rác, thu gom rác tại khu vực nghiên cứu

Phương pháp điều tra xã hội học: Đề tài áp dụng phương pháp đánh

giá nhanh nông thôn RRA ( Rural Rapid Assecsement ) để thu nhập thông tin

về hiện trạng môi trường, như lượng rác, nước thải, ảnh hưởng của rác thải, nước thải tới vẻ đẹp cảnh quan chợ,… bao gồm các nội dụng sau:

Soạn sẵn các mẫu phỏng vấn về tình hình bán hàng, chủng loại sản phẩm, lượng rác hàng ngày… Chọn các hộ kinh doanh mua bán điển hình trên các tuyến và sạp hàng phát phiếu lấy thông tin (có hướng dẫn người cung cấp thông tin) Đối tượng là khách hàng, người bán hàng và các hộ sinh sống xunh quanh chợ, ban giám đốc Công ty môi trường đô thị Xuân Mai

3.3.2 Phương pháp xử lý nội nghiệp

Sau khi có được các tài liệu tham khảo, các số liệu điều tra ngoại nghiệp và số liệu điều tra xã hội học đề tài đã tiến hành tính toán, tổng hợp thành các bảng biểu và áp dụng phương pháp phân tích thông tin tài liệu số liệu dựa trên các bảng biểu tổng hợp, Phương pháp này nhằm phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng và môi trường tại khu vực nghiên cứu thông qua các số liệu, thông tin thu thập được từ các nguồn tài liệu khác nhau Bên cạnh đó đề tài đã sử dụng giáo trình có nội dụng về quản lý rác thải, các nghiên cứu về rác thải tại khu vực thị trấn Xuân Mai, để phân tích và đánh giá thực trạng môi trường nơi đây

Các số liệu điều tra được tổng hợp thành các mẫu biểu tùy theo từng nội dung nghiên cứu Trên cơ sở số liêu tổng hợp bằng những kiến thức đã học đề tài tiến hành phân tích đánh giá thực trạng môi trường Từ thực trạng môi trường đề tài đã đưa ra một số đề xuất nhằm cải thiện môi trường chợ Xuân Mai

Trang 15

- Phía Bắc giáp với xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ

- Phía Nam giáp với xã Hòa Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

- Phía Tây giáp với xã Thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

- Phía Đông giáp với xã Hòa Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

4.1.2 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

- Địa hình: Khu vực Xuân Mai thuộc dạng địa hình đồi bán sơn địa, có dãy đồi thấp nằm trong khu vực núi Luốt, đỉnh cao nhất là 133m so với mực nước biển, độ dốc trung bình 10 - 150, nơi cao nhất là 200

- Đất trong khu vực hầu hết là đất ferarit vàng xám phát triển trên đá

mẹ foocfiarit, tầng từ trung bình dến dày, đất đồi tỷ lệ đá lẫn cao

- Khí hậu: Khu vực Xuân Mai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông hơi lạnh, theo số liệu quan trắc của Bộ môn Quản lý môi trường trong 15 năm gần đây được tập hợp ở bảng 4.1

Trang 16

Bảng 41: Đặc điểm khí hậu khu vực thị trấn Xuân Mai

Chỉ tiêu

Tháng

Nhiệt độ (0C)

Lượng mưa (mm)

Độ ẩm (%)

Số ngày mưa (ngày)

Số liệu bảng 4.1 cho thấy:

- Nhiệt độ trung bình năm 23.10c

Trang 17

Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 - 3 năm sau, trong thời gian này lượng mưa nhỏ hơn lượng bốc hơi cả năm Mùa khô kéo dài khiến hiện tượng thiếu nước sinh hoạt và sản xuất trong mùa khô thường xuyên xảy ra

- Chế độ gió: Khu vực Xuân Mai chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính đó là:

Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 – 3 năm sau

Gió mùa Đông Nam, Tây Nam thổi từ tháng 4 – 10

4.1.2 Các nguồn tài nguyên chính của khu vực

Phần lớn diện tích tự nhiên trong khu vực nghiên cứu là đồng bằng, trong đó một phần của diện tích này là các khu dân cư, thương mại, dịch vụ,

cơ quan công sở , trường học…Số còn lại là diện tích đất canh tác nông nghiệp Loại cây trồng chính lúa nước, rau màu,… Ngoài ra trong khu vực còn có 1 dãy đồi thấp, toàn bộ diện tích đồi đã được phủ xanh bởi các mô hình trồng rừng như: Rừng nghiên cứu thực nghiệm, hỗn giao nhiều loài cây bản địa, rừng thông, thông + keo, keo, keo + bạch đàn,… Dưới tán rừng có các loài thực vật sim, mua, mâm xôi, chân trâu cùng các loại thảm tươi như:

cỏ lá tre, cúc dại, cỏ mật,… có độ che phủ cao, thảm thực vật đa dạng, phong phú phát huy tác dụng phòng hộ, đóng góp vào cải thiện môi trường sinh thái Bên cạnh đó hệ thống động vật cũng vô cùng phong phú gồm nhiều loài như:

Dế dũi, chích chòe, chèo bẻo, khướu,… làm tăng tính đa dạng tự nhiên của khu vực

4.2 ĐIỀU KỆN KINH TẾ XÃ HỘI

4.2.1 Khái quát chung

Thị trấn Xuân Mai thuộc huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội, trước đây thuộc xã Thủy Xuân Tiên sau đó được tách ra thành lập thị trấn theo quyết định số 53/QĐ – HĐBT của hội đồng bộ trường ký ngày 27/03/1984 Hiện nay thị trấn Xuân Mai là trung tâm thương mại lớn nhất huyện Chương

Mỹ, là địa bàn nằm trong chuỗi đô thị Hòa Lạc – Xuân Mai – Miếu Môn, có quốc lộ 6A và 21A chạy qua (nay là đường Hồ Chí Minh) Với diện tích tự

Trang 18

nhiên là 1.051,57 ha, dân số là 15.306 nhân khẩu (không tính đến dân số các

cơ quan đơn vị đóng quân trên địa bàn), được phân bổ thành 9 khu dân cư bao gồm: Khu Đồng Vai, Khu Phố, Khu Tân Xuân, Khu Tân Bình, Khu Chiến Thắng, Khu Tân Mai, Khu Xuân Mai, Khu Tiên Trượng, và Khu Bùi Xá Ngoài ra trên địa bàn còn có 34 cơ quan đơn vị, trường học của trung ương, quân đội, tỉnh, huyện đóng trên địa bàn Khu vực có chợ Xuân Mai là trung tâm buôn bán giao lưu thương mại với các tỉnh Tây Bắc và Xuân Mai được xem là cửa ngõ của thủ đô về phía Tây Bắc Do vậy khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế, thương mại dịch vụ,

4.2.2 Diện tích, dân số

 Tổng diện tích: 1.05,57 ha

 Dân số 15.306 nhân khẩu

 Trong đó nam chiếm 50.8%, nữ chiếm 49,2%

 Tỷ lệ sinh là 1,1% tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng là 18,04%

 Số người trong tuổi lao động chiếm 67%tổng dân số

Ngoài tăng dân số tự nhiên và lượng dân cư có trên địa bàn, hàng năm một số lượng lớn học sinh, sinh viên và người lao động từ các khu vực lân cận đến học tập, kiếm sống trên địa bàn khá lớn Lượng người này thường không

ổn định, thay đổi theo từng khoảng thời gian trong năm, thành phần đi đến rất phức tạp khiến cho điều kiện môi trường và trật tự an ninh xã hội trên địa bàn không hề đơn giản

4.2.3 Cơ cấu và tốc độ phát triển kinh tế

Theo báo cáo tổng kết tình hình triển khai và thực hiện kế hoạch hàng năm của Ủy ban nhân dân thị trấn Xuân Mai năm 2010 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị trấn Xuân Mai đạt được 15%/năm Cơ cấu kinh tế 80 - 10 - 10 (thương mại dịch vụ chiếm 80%, nông nghiệp chiếm 10%, tiểu thủ công nghiệp chiếm 10%) Tỷ lệ thu nhập xã hội đạt 92,5 tỷ đồng/năm Tổng sản lượng lương thực đạt 1474,7 tấn/năm Thu nhập bình quân theo đầu người đạt

Trang 19

6 tr/người ( 375 USD/năm ), số hộ nghèo chiếm 3%, số hộ đạt mức trung bình trở lên chiếm 85%

4.2.4 Cơ sở hạ tầng

Đường giao thông: Thị trấn có 2 đường quốc lộ chạy qua là đường 6A

và đường 21A (đường Hồ Chính Minh), hầu hết các đường liên khu dân cư đều được bê tông hóa, chỉ còn lại một một số ngõ ngách nhỏ (đường liên xóm) là đường cấp phối, đường đất Tuy nhiên một số tuyến đường do vốn tự

có của dân làm đã lâu hoặc không có hệ thống rãnh thoát nước đến nay đã bị xuống cấp nghiêm trọng

Hệ thống điện và thông tin liên lạc: Hiện nay 100% các hộ dân trên địa bàn thị trấn đã được cấp điện lưới Quốc gia để sinh hoạt và sản xuất Hệ thống đèn cao áp đã được lắp đặt dọc đường 6A và 21A

Về thông tin liên lạc, hiện nay số người dùng điện thoại bàn 10 người/máy Hầu hết các hộ gia đình đều có tivi, số dân biết sử dụng iternet ngày càng cao

Giáo dục y tế: Hiện nay thị trấn đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và đang tiến hành phổ cập trung học cơ sở, trên địa bàn thị trấn có 3 trường tiểu học, 2 trường trung học cơ sở và 2 trung tâm y tế và bệnh xá quân đội phục vụ việc chăm sóc sức khỏe cho người dân

Với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội như trên thị trấn Xuân Mai có tiềm năng để phát triển kinh tế đặc biệt là các ngành thương mại, dịch vụ Ngoài ra Xuân Mai còn là điểm tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp,… các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn, dẫn tới lượng dân cư tập trung ở đây là rất cao, chưa tính đến số dân cư thường trú trên địa bàn nên hàng ngày lượng rác thải rất lớn Nếu ngay từ bây giờ không xây dựng các phương án trung và dài hạn để quản lý chất trên địa bàn thì chẳng bao lâu nữa nơi đây sẽ trở thành bãi chứa rác thải Điều này đã và đang là thách thức lớn đối với các cấp lãnh đạo địa phương và nhân dân thị trấn Xuân Mai, đặc biệt

là công ty môi trường đô thị Xuân Mai

Trang 20

Phần 5

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5.1 Thực trạng hoạt động kinh doanh mua bán tại khu vực chợ Xuân Mai

Để tìm hiệu về thực trạng hoạt động kinh doanh mua bán tại khu vực chợ Xuân Mai, đề tài tiến hành thị sát toàn bộ khu vực, vẽ sơ đồ mặt bằng, xác định các tuyến điều tra số lượng cửa hàng, cửa hiệu, người mua bán, mặt hàng kinh doanh mua, bán,… Hình 5.1 là sơ đồ mặt bằng khu vực chợ Xuân

Ma

i

Hình 5.1: Sơ đồ mặt bằng khu vực chợ Xuân Mai

Ghi chú: Rau cỏ, hoa quả (*) Động vật tươi sống (#)

Trang 21

Hình 5.1 cho thấy, Diện tích mặt bằng của khu chợ Xuân Mai không rộng lắm, tổng diện tích khoảng 6.000m2, trong đó có 15 tuyến đường đi quanh và trong chợ Dọc theo các tuyến đường là các hộ gia đình ở, đồng thời kết hợp kinh doanh buôn bán, các lán chợ cố định và bán cố định Bảng 5.1 là tổng hợp số lượng hộ và cá nhân thường xuyên buôn bán trong khu vực chợ

Bảng 5.1: Tổng hợp số lượng hộ và cá nhân thường xuyên buôn bán trong chợ

TT Địa điểm buôn bán Số hộ(cá

Ngoài số hộ và cá nhân thường xuyên, kinh doanh buôn bán trên, vào ngày

lễ tết, thứ bảy, chủ nhật số người bán hàng có thể tăng đột biến do những người dân sống quanh chợ mang hàng hóa nông sản tăng gia được đến bán Những ngày này mật độ hàng quán dày đặc, bày bán kín trên các đường đi, hè nhà, lán chợ,…nhiều khi không còn chỗ cho người và xe cộ đi lại, ảnh hưởng đến giao và mỹ quan của chợ Nhìn tổng thể việc qui hoạch sắp xếp các

Trang 22

chủng loại mặt hàng kinh doanh chưa thật khoa học và hợp lý, nhất là các tuyến đường có các hộ gia đình kết hợp kinh doanh và ở, ví dụ, hàng khô cạnh hàng tươi sống, cửa hiệu may, hàng tạp hóa lẫn hàng tươi sống,…Điều này trông mất mĩ quan và không hợp vệ sinh Khu vực lán cố định nơi tập trung các quấy bán quần áo, vải vóc, dày dép, hàng mã vàng hương,… mật độ quá dày, chủ hiệu tận dụng mọi không gian trên dưới để trưng bày hàng hóa Hầu như không có phương tiện phòng chống cháy nổ vào mùa nắng nóng hoặc mùa khô hanh, nếu xảy ra hỏa hoạn thì cực kỳ nguy hiểm

5.1.1 Chủng loại mặt hàng kinh doanh, buôn bán tại khu vực chợ Xuân Mai

Chợ Xuân Mai là trung tâm thương mại lớn nhất của thị trấn, lại có vị trí thuận tiện cho việc đi lại mua bán, nên chợ thường xuyên họp tất cả các ngày trong tuần, từ 5 giờ sáng đến 18 giờ chiều Chủng loại kinh doanh khá

đa dạng, từ cửa hàng cửa hiệu dịch vụ may mặc, gò hàn, rèn đúc,… đến cửa hàng dịch vụ ăn uống, hàng khô, quần áo, rau củ quả tươi sống, thịt gia cầm gia súc,…

Hàng ngày, chợ Xuân mai luôn tấp nập, người, phương tiện đi lại, cộng thêm tổ hợp nhiều mặt hàng được đưa đến đã làm cho môi trường nơi đây thường xuyên ồn , ô nhiễm bởi rác thải và nước thải Để có cơ sở nghiên cứu

về thực trạng rác thải, nước thải tại chợ Xuân Mai, chúng tôi đã điều tra các mặt hàng kinh doanh được bán trong chợ, số lượng được thống kê theo 2 nhóm:

Nhóm 1 (I) gồm các hộ có nhà riêng trong khu vực hoặc buôn bán trong các lán chợ cố định, bán hàng cả ngày và dọn hàng thường xuyên tất cả các ngày, trừ những ngày đặc biệt của gia đình mới đóng cửa

Nhóm 2 (II) gồm nhân dân sống quanh khu vực, mang hàng hóa nông sản mình tự sản xuất được hoặc những hộ chỉ tranh thủ mua bán trao tay vào những ngày lễ tết hoặc ngày nghỉ của công chức Nhóm này không bán hàng thường xuyên chỉ có mặt ở chợ một số ngày và thường bán một lúc vào sáng

Trang 23

sớm hoặc chiều tối Bảng 5.2 là tổng hợp các mặt hàng được kinh doanh mua bán tại chợ Xuân Mai

Bảng 5.2 Mặt hàng thường xuyên kinh doanh tại chợ Xuân Mai

Nhóm Loại hàng hóa Số hộ Tỷ lệ % Đặc điểm

từ 5g sáng – 18 giờ tối hàng ngày, Thời gian bán hàng tùy thuộc lượng hàng bán hết sớm hay muộn Buổi trưa thường nghỉ

Trang 24

Số liệu bảng 5.2 cho thấy:

Mặt hàng thường xuyên được kinh doanh buôn bán tại chợ Xuân Mai rất

đa dạng, bao gồm hàng hóa nông, lâm thủy sản, bánh kẹo, đồ điện tử, hàng thủ công mỹ nghệ như vàng bạc, quần áo, dầy dép và nhiều loại đồ gia dụng khác Ngoài ra còn các cửa hàng, cửa hiệu dịch vụ ăn uống, may mặc, gò, hàn,…

Trong nhóm I, số lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất (chiếm 38.25%) vẫn là

mặt hàng thực phẩm tươi sống (Thịt lợn, Thịt chó, Thịt bò, Gà có giết mộ, Cá

có giết mổ, Hoa quả, Rau tươi, Đậu phụ, Giò chả, bún phở) Đặc điểm, khối lượng hàng được đưa đến tiêu thụ hàng ngày rất lớn, đặc biệt là những ngày lễ tết, vì đây là nguồn cung cấp chủ yếu cho cán bộ công nhân, sinh viên, bộ đội quanh khu vực thị trấn Xuân Mai Quá trình điều tra cho thấy, khi giết mổ cá,

gà và vịt, súc rửa các nội tạng gia cầm, gia súc đã đưa vào môi trường một lượng lớn chất thải, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhất là những ngày trời nắng nóng

Mặt hàng hóa, dịch vụ có số lượng nhiều thứ 2 (chiếm 21.56%), thường kinh doanh các loại quần áo, vải vóc, giầy dép, vàng bạc, thuốc tây, sách, rèn dao kéo, may mặc, thời trang, đồ điện tử, đồ lưu niệm… Đặc điểm kinh doanh các loại hàng hóa này ít đưa vào môi trường những chất thải, ít gây ô nhiễm hơn Tuy nhiên, do diện tích cửa hàng, cửa hiệu hẹp, để tận dụng không gian, trưng bày được nhiều loại hàng hóa, mà chủ yếu là những vật liệu

dễ cháy nổ vì vậy, nguy cơ cháy nổ rất cao, trong khi chủ cửa hàng hầu như không đầu tư trang bị dụng cụ phòng, chống cháy nổ

Mặt hàng khô có tỷ trọng thấp nhất (chiếm 11.81%), loại hàng chính là gạo, đồ thực phẩm khô, vàng mã, tạp hóa, …Đặc điểm, không gian hẹp, số lượng hàng hóa bày bán nhiều, trong khi nhiều loại hàng khô, gia vị có mùi,

vì vậy, loại hàng này tuy lượng chất thải phát sinh không nhiều, nhưng mùi rất khó chịu, gây ô nhiễm môi trường không khí Mặt khác, chất thải thường

là các vỏ bao bì, túi ni non, đây cùng là loại hàng dễ cháy, nhưng ý thức phòng cháy các chủ hàng cũng chưa cao và đây cũng là nơi tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ Chợ Xuân Mai đã hai lần xảy ra cháy chợ, tuy không có thiệt hại về người, song gây thiệt hại đáng kể về tài sản và tiền bạc cho người dân Mỗi

Trang 25

khi xảy ra cháy chợ tình hình an ninh trật tự và ô nhiễm môi trường đã phức tạp hơn

Nhóm II: Các mặt hàng có số lượng và chủng loại không cố định, thay

đổi theo từng thời điểm khác nhau, được người dân mang bán tại chợ Xuân Mai có tỷ trọng tương đối lớn (chiếm 29.39%) Mặt hàng thường là các loại thực phẩm tươi sống, do dân địa phương sản xuất được như rau củ, hoa, quả,

gà , vịt, cá,… Đặc điểm, số lượng, chủng loại hàng hóa, thời gian và địa điểm bán hàng thường không cố định Thường có số lượng hàng hóa và người bán tăng đột biến vào các ngày lễ tết, ngày nghỉ cuối tuần Nhiều khi người bán không có cả chỗ để ngồi bán hàng, phải cánh rong hoặc để ngay trên xe đạp,

xe máy, đi lên, đi xuống ở các tuyến đường quanh chợ, gây cản trở giao thông

đi lại Mặt khác, đây thường là những chủ hàng vãng lai, nên họ thường không chú ý đến vệ sinh môi trường Khi về họ thường bỏ lại những rác thải tại những khu vưc trống trong chợ, gây mất vệ sinh và ô nhiễm môi trường

Tóm lại: Chợ Xuân Mai là trung tâm thương mại lớn nhất của thị trấn Xuân Mai, có địa điểm đi lại thuận lợi cho giao dịch thương mại, chủng loại hàng hóa được buôn bán tại đây rất đa dạng và phong phú Hoạt động buôn bán nhộn nhịp, vận hành hết công suất hầu như tất cả các ngày trong năm Đặc biệt vào dịp những ngày lễ tết và ngày nghỉ cuối tuần mật độ mua bán đi lại thường tăng đột xuất Ngoài diện tích trong chợ, người dân còn tràn ra cả 2 tuyến đường quốc lộ số 6 và số 21, khiến cho giao thong đi lại tắc nghẽn Đi đôi với hoạt động kinh doanh là nguồn phát sinh rác, nước thải đưa vào môi trường, đã làm tăng thêm mức độ và nguy cơ ô nhiễm môi trường trong khu vực

5.1.2 Số lượng người và phương tiện đến mua hàng hóa tại chợ Xuân Mai

Đề tìm hiểu rõ hơn về đặc điểm hoạt động kinh doanh mua bán tại chợ Xuân mai, chúng tôi điều tra và thống kê số lượng người đến chợ mua hàng

và phương tiện đi lại của của họ, kết quả được thống kê ở bảng 5.3

Trang 26

Bảng 5.3: Thống kê lượng người, phương tiện ra, vào chợ Xuân Mai

Số liệu ở bảng 5.3 cho thấy:

+ Phương tiện xe máy:

- Ngày thấp nhất là 104 trong đó buổi sáng 52 người (chiếm 50%) và buổi chiều 52 người (chiếm 50%)

- Ngày bình thường là 969, trong đó buổi sáng 712 người (chiếm 73,47%)

và buổi chiều 257 người (chiếm 26,52%)

TT Người

(phương

tiện đi lại )

Mật độ đi lại ( số người) Tỷ lệ (%) Mật độ Tổng Sáng Chiều Tổng Sáng Chiều

1 Xe máy

Bình thường

969 712 257

100

73,47 26,52

Thấp nhất

Cao nhất 2452 1642 810 100 66,96 33,03

2 Xe đạp

Bình thường

406 278 128 100 68,47 31,52

Thấp nhất

114 62 52 100 54,38 45,61 Cao nhất 952 580 372 100 60,92 39,07

3 Đi bộ

Bình thường

658 342 316 100 52,00 48,00

Thấp nhất

119 39 80 100 32,77 67,22 Cao nhất 1215 705 510 100 58,02 41,97

4 Xe ôtô

Bình thường

Thấp nhất

Cao nhất 5 2 3

Trang 27

- Ngày cao nhất là 2452, trong đó buổi sáng 1642 người (chiếm 66,96%) và buổi chiều 810 người (chiếm 33,03%)

+ Ngày bình thường là 406, trong đó buổi sáng 278 người (chiếm 68,47%)

và buổi chiều 128 người (chiếm 31,52%)

- Ngày cao nhất là 952, trong đó buổi sáng 580 người (chiếm 60,92%) và buổi chiều 372 người (chiếm 39,07%)

+ Phương tiện ô tô:

Xe ôtô là xe giao hàng hóa cho các đại lý kinh doanh tại khu chợ và một số xe riêng đi qua hoặc vào thăm nhà bạn bè sống trong khu chợ đó Tuy nhiên đề tài chỉ thống kê lượng xe đến giao dịch hàng hóa

Tóm lại: Lượng người và phương tiện đi lại mua bán tại khu chợ Xuân

Mai có những đặc điểm sau

Mật độ người, phương tiện đi lại mua bán tại chợ Xuân Mai thường rất lớn, số lượng luôn thay đổi theo các khoảng thời gian trong ngày, các ngày trong tuần và các ngày trong tháng, trong năm

Đại đa số người dân đi mua, bán vào các buổi sáng (chiểm > 70%) Những ngày cao điểm, mật độ người phương tiện thường chiểm dụng hầu hết

Trang 28

lòng đường, gây tắc nghẽn giao thông, ồn ào, khói, bụi bẩn, đã làm tăng mức

độ ô nhiễm môi trường

Lượng người đi lại bằng xe máy thường chiếm tỷ lệ lớn nhất, sau đó là

số người đi bộ, người đi xe đạp có tỷ lệ thấp nhất Thông thường người dân không có thói quen gửi xe trước khi vào chợ, hơn nữa ngày thường khu vực chợ cũng không có chỗ gửi xe (ngoại trừ mấy ngày giáp tết) Đưa xe vào chợ thường gây va chạm, xô xát, mất vệ sinh và không được văn minh cho lắm

Những ngày vắng người qua lại thường là những ngày thời tiết xấu, mưa, rét, người đi mua chủ yếu là đi bộ Hiếm khi chợ Xuân Mai có cả ngày vắng vẻ

Người và phương tiện đi lại mua bán trong chợ đã làm gia tăng, bụi, khí thải, tiếng ồn trong khu vực chợ Đôi khi làm mất vẻ đẹp mỹ quan và ahr hưởng đến an toàn, an ninh trật tự xã hội

5.2 Thực trạng quản lý rác thải và nước thải từ hoạt động kinh doanh mua bán tại khu vực chợ Xuân Mai

5.2.1 Thực trạng rác thải

+ Nguồn phát sinh rác thải:

Kết quả điều tra cho thấy, nguồn phát sinh rác thải chính trong khu vực chợ Xuân Mai là từ hoạt động kinh doanh buôn bán (chiếm trên 80%), số còn lại là rác thải sinh hoạt từ các hộ gia đình sống trong khu vực chợ

+ Về khối lượng & thành phần rác thải

Theo kết quả điều tra của đề tài & số liệu thu gom rác của nhân viên công ty môi trường đô thị Xuân Mai thì, phát sinh rác thải chợ Xuân Mai mỗi ngày khoảng 6 m3/ngày Trong khi tổng lượng rác thu gom của thị trấn Xuân Mai là 22 m3/ngày Như vậy lượng rác thải của chợ chiếm 27% lượng rác thải thu gom được của thị trấn Xuân Mai Để có cơ sở đề xuất biện pháp thu gom,

xử lý rác thải chợ Xuân Mai hợp vệ sinh, đề tài tiếp tục tìm hiểu về thành phần rác thải Cụ thể là phân loại rác thải thành nhiều loại khác nhau

Trang 29

Có rất nhiều cách phân loại rác thải (phần tổng quan) Do đối tượng nghiên cứu của đề tài là rác thải từ kinh doanh buôn bán tại chợ và rác sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình, nên đề tài đã dựa vào trên 3 tiêu chí: Reduce (Giảm thiểu), Reuse(Tái sử dụng), Recycle (Tái chế) - 3R để phân loại rác theo 4 nhóm sau:

+ Rác hữu cơ dễ phân hủy (1): Rác thực phẩm từ nhà bếp, thức ăn thừa, cành lá hoa quả bỏ không bán được,… sau khi được để riêng biệt với các loại rác khác, sẽ được vận chuyển tới các nhà máy sản xuất phân hữu cơ, vi sinh một loại phân rất tốt và an toàn cho sản xuất nông nghiệp

+ Rác tái chế (2): Các chất thải tái chế như, giấy báo, ni lông, thủy tinh,… sau khi thu gom sẽ được chuyển đến các nhà máy xí nghiệp, làng nghề tái chế phế thải Từ đó rác thải được tái chế và sản xuất ra các nguyên liệu hay các sản phẩm tái chế

+ Chất thải nguy hại (3): Thuốc quá hạn sử dụng, hóa chất pin, ác quy,… loại chất này phải được xử lý triệt để theo nguển tắc quản lý chất thải nguy hại, như đốt trong các lò đốt

+ Rác vô cơ (4): Cát, sỏi, đá,…loại rác này được xử lý dưới hình thức chôn lấp hoặc xử lý để lấp mặt bằng

Phân loại rác như trên nhằm, lựa chọn hình thức xử lý cho các thành phần rác khác nhau Công tác xử lý rác sẽ hiệu quả hơn, giảm thiểu được ô nhiễm môi trường do rác gây ra, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm chi phí thu gom và xử lý rác thải, giảm quỹ đất giành cho chôn lấp rác, hạn chế lãng phí về của cải vật chất cho xã hội

Kết quả điều tra về khối lượng & phân loại thành phần rác chợ Xuân Mai, được tổng hợp ở bảng 5.4

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:10

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w