1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đa dạng thành phần loài bò sát lưỡng cư tại xã tản lĩnh thuộc địa phận vườn quốc gia ba vì

83 10 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

i LỜI CẢM ƠN Đề tài: “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài bò sát, lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh thuộc địa phận Vườn quốc gia Ba Vì” được thực hiện từ tháng 01 năm 2019 đến nay đã hoàn thành.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI BÒ SÁT, LƯỠNG CƯ TẠI XÃ TẢN LĨNH THUỘC ĐỊA PHẬN VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ

MÃ SỐ : 7620211

Giáo viên hướng dẫn : ThS Giang Trọng Toàn

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Huy Hoàng

Hà Nội, 2019

Trang 2

i

LỜI CẢM ƠN

Đề tài: “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài bò sát, lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh thuộc địa phận Vườn quốc gia Ba Vì” được thực hiện từ tháng 01

năm 2019 đến nay đã hoàn thành

Nhân dịp này, Tôi xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ths Giang Trọng Toàn đã trực tiếp hướng dẫn từ định hướng nghiên cứu, xây dựng đề cương và hoàn thiện bản Khóa luận này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo và các cán bộ công nhân viên chức Vườn quốc gia Ba Vì đã cho phép và tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài nghiên cứu tại Vườn quốc gia Ba Vì

Tôi xin cảm ơn chính quyền và nhân dân địa phương xã Tản Lĩnh đã giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp và trả lời các câu hỏi phỏng vấn

Tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã ủng hộ tôi cả về vật chất

và tinh thần trong suốt thời gian học tập tại trường Đại học Lâm nghiệp và thực hiện nghiên cứu này

Mặc dù bản thân tôi đã nỗ lực và cố gắng nhưng do năng lực còn hạn chế

và thời gian nghiên cứu ngắn nên bản khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo; sự đóng góp

ý kiến của bạn đọc để khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà nội ngày 20 tháng 5 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Huy Hoàng

Trang 3

ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

iii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Lược sử nghiên cứu về bò sát, lưỡng cư tại Việt Nam 3

1.2 Phương pháp xác định mức độ đa dạng loài 5

1.3 Một số nghiên cứu về bò sát, lưỡng cư tại Vườn Quốc gia Ba Vì 7

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 8

2.1 Điều kiện tự nhiên 8

2.1.1 Vị trí địa lý 8

2.1.2 Địa hình 9

2.1.3 Khí hậu 9

2.1.4 Thủy văn 9

2.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 9

2.2.1 Dân số và dân tộc 9

2.2.2 Cơ cấu kinh tế 10

2.2.3 Cơ sở hạ tầng 10

2.3 Nhận xét 10

2.3.1 Khó khăn 10

2.3.2 Thuận lợi 11

Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 12

3.1.1 Mục tiêu chung 12

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 12

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 12

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu 12

3.3 Nội dung nghiên cứu 13

3.4 Phương Pháp nghiên cứu 13

Trang 5

iv

3.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 13

3.4.2 Phương pháp phỏng vấn 14

3.4.3 Phương pháp điều tra theo tuyến 15

3.4.4 Phương pháp xử lý mẫu và mô tả loài 19

3.4.5 Phương Pháp xử lý số liệu 21

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 Thành phần các loài Bò sát và Lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh 23

4.1.1 Thành phần loài 23

4.1.2 Đánh giá mức độ đa dạng về thành phần bò sát, lưỡng cư 34

4.1.3 Mức độ quý hiếm của các loài lưỡng cư và bò sát tại xã Tản Lĩnh 36

4.2 Mô tả một số loài bò sát và lưỡng cư được ghi nhận trong đợt điều tra 38

4.2.1 Rắn rồng trung quốc (Sibynophis chinensis) 39

4.2.2 Rắn leo cây thường (Dendrelaphis pictus) 40

4.2.3 Rắn sãi trơn (Amphiesma modesta) 41

4.2.4 Nhái bầu bút lơ (Microhyla butleri) 42

4.2.5 Rắn khiếm trung quốc (Oligodon chinensis) 44

4.2.6 Thằn lằn phênô đốm (Sphenomorphus maculatus) 45

4.2.7 Thằn lằn êmô đuôi xanh(Plestiodon quadrilineatus) 46

4.2.8 Rắn hổ mang trung quốc (Naja atra) 47

4.2.9 Rắn hoa cỏ nhỏ (Rhabdophis subminiatus) 49

4.3 Đánh giá mức độ đa dạng của các loài bò sát, lưỡng cư theo các dạng sinh cảnh sống 50

4.3.1 Mô tả sinh cảnh sống của bò sát, lưỡng cư tại khu vực nghiên cứu 50

4.3.2 Mức độ đa dạng về số loài bò sát, lưỡng cư theo các sinh cảnh 54

4.4 Xác định các mối đe dọa tới bò sát, lưỡng cư tại khu vực 57

4.4.1 Săn bắt bò sát, lưỡng cư 57

4.4.2 Ảnh hưởng của hoạt động du lịch 58

4.5 Các giải pháp quản lý và bảo tồn các loài bò sát, lương cư tại Vườn Quốc Gia Ba Vì 59

4.5.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 59

4.5.2 Đề xuất các giải pháp 60

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

v

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Các công việc đã được thực hiện của đề tài 13

Bảng 3.2: Phiếu Phỏng vấn bò sát, lưỡng cư 15

Bảng 3.3: Thông tin về các tuyến điều tra bò sát, lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh 16

Bảng 3.4: Phiếu điều tra bò sát, lưỡng cư theo tuyến 18

Bảng 3.5: Các mối đe dọa đến các loài bò sát, lưỡng cư 18

Bảng 3.6: Xử lý mẫu bò sát, lưỡng cư để bảo quản 19

Bảng 3.7: Bảng danh sách thành phần loài bò sát, lưỡng cư tại KVNC 21

Bảng 4.1: Tổng hợp thành phần bò sát và lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh 23

Bảng 4.2: Danh sách các loài bò sát được ghi nhận tại xã Tản Lĩnh 24

Bảng 4.3: Danh sách các loài lưỡng cư được ghi nhận tại xã Tản Lĩnh 30

Bảng 4.4: Danh sách các loài bò sát, lưỡng cư bổ sung cho VQG Ba Vì 34

Bảng 4.5: Danh sách các loài bò sát, lưỡng cư quý hiếm tại xã Tản Lĩnh 36

Bảng 4.6: Thành phần và số lượng loài trong các sinh cảnh 54

Bảng 4.7: So sánh tính đa dạng các loài bò sát, lưỡng cư giữa các sinh cảnh 56

Trang 7

vi

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Bản đồ vị trí xã Tản Lĩnh nằm trong hệ thống VQG Ba Vì 8

Hình 3.1: Sơ đồ các tuyến điều tra bò sát và lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh 17

Hình 4.1: Biểu đồ so sánh đa dạng giữa bò sát và lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh 34

Hình 4.2: Biểu đồ biểu diễn mức độ đa dạng giữa các họ bò sát 35

Hình 4.3: Biểu đồ so sánh mức độ đa dạng giữa các họ lưỡng cư 36

Hình 4.4: Rắn rồng trung quốc - Sibynophis chinensis 39

Hình 4.5: Rắn leo cây thường - Dendrelaphis pictus 40

Hình 4.6: Rắn sãi trơn - Amphiesma modesta 42

Hình 4.7: Nhái bầu bút lơ - Microhyla butleri 43

Hình 4.8: Rắn khiếm trung quốc - Oligodon chinensis 45

Hình 4.9: Thằn lằn Phênô đốm - Sphenomorphus maculatus 46

Hình 4.10: Thằn lằn Ê mô đuôi xanh - Plestiodon quadrilineatus 47

Hình 4.11: Rắn hổ mang trung quốc - Naja atra 48

Hình 4.12: Rắn hoa cỏ nhỏ - Rhabdophis subminatus 49

Hình 4.13: Sinh cảnh rừng tự nhiên tại xã Tản Lĩnh 51

Hình 4.14: Sinh cảnh rừng trồng tại xã Tản Lĩnh 52

Hình 4.15: Sinh cảnh rừng hỗn giao gỗ + tre nứa + suối tại xã Tản Lĩnh 53

Hình 4.16: Sinh cảnh khu dân cư tại xã Tản Lĩnh 53

Hình 4.17: Hoạt động du lịch 58

Hình 4.18: Rác thải của khách du lịch 58

Trang 8

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ cuối thế kỷ XX đến nay, bò sát và lưỡng cư đang là đối tượng quan tâm của nhiều nhà khoa học, tiêu biểu như: Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, Ngô Đắc Trứng, Trần Hậu Khanh, Lê Nguyên Ngật, Lưu Quang Vinh v.v Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào tìm kiếm loài mới

và bổ sung loài cho các vùng miền Hiện nay, tổng số các loài bò sát được biết đến ở nước ta trên 400 loài và trên 200 loài lưỡng cư; con số này lớn hơn rất nhiều so với Danh lục bò sát, lưỡng cư Việt Nam của Nguyen Van Sang et al., (2009) với 368 loài bò sát và 175 loài lưỡng cư Việc phân loại loài chủ yếu dựa vào những đặc điểm hình thái bên ngoài như: hình dạng, kích thước, số lượng của các bộ phận, màu sắc, sự xuất hiện các đặc điểm sai khác (củ lồi bàn chân, đĩa bám, giác bám) v.v Các loài mới được công bố phải được đánh giá qua tiêu chuẩn di truyền với sự sai khác về kiểu gen với các mẫu chuẩn đã công bố

Sinh cảnh sống của các loài bò sát và lưỡng cư cũng khá đa dạng Trong khi các loài lưỡng cư là những động vật đầu tiên sống trên cạn nên cơ thể vẫn chưa hoàn thiện về tổ chức cơ thể sống, còn nhiều đặc điểm nguyên thủy của động vật sống dưới nước (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998) và sống phụ thuộc vào nước (đặc biệt là giai đoạn nòng nọc) nên chúng không sống được ở môi trường khô hạn, nước mặn hay nước lợ Trong khi đó, các loài bò sát có nhiều tiến hóa hơn như: da phủ vẩy hoặc mai, yếm; hô hấp hoàn toàn bằng phổi nên có khả năng sống được nhiều môi trường khắc nhiệt hơn so với lưỡng cư

Sự phân bố của các loài bò sát, lưỡng cư theo sinh cảnh cũng là một trong những

cơ sở đánh giá chất lượng sinh cảnh và sự phong phú về nguồn tài nguyên của khu vực

Trước sự suy thoái nhanh tróng về tài nguyên ĐDSH, nhiều loài bò sát và lưỡng cư đang đứng bên bờ tuyệt chủng Số lượng cá thể của nhiều loài hiện còn

rất ít ở ngoài tự nhiên như: Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah), Rùa hộp

ba vạch (Cuora trưansrifasciata), Ếch vạch (Annandia delacouri), Ếch cây kio (Rhacophorus kio) v.v Các hoạt động săn bắt thiếu kiểm soát và hủy diệt của

con người đang là mối đe dọa mất loài nghiêm trọng trong tương lai Trong số các loài bò sát, lưỡng cư ở Việt Nam có 40 loài bò sát và 14 loài lưỡng cư có tên trong Sách đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007) Nếu các hoạt động

Trang 9

2

săn bắt, buôn bán trái phép, phá hủy môi trường sống của các loài động vật không thể kiểm soát thì có thể trong tương lai, chúng ta sẽ mất đi những nguồn gen quý hiếm, mất đi sự đa dạng thành phần loài Chính vì vậy, các nghiên cứu

về bảo tồn và phát triển các loài bò sát, lưỡng cư tại tất cả các vùng miền là rất cần thiết

Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, Vườn quốc gia (VQG)

Ba Vì được thành lập năm 1991với diện tích khoảng 5000 ha, nhằm bảo vệ nguyên vẹn nguồn tài nguyên rừng hiện có tại khu vực Đến tháng 5 năm 2003, VQG Ba Vì được Chính phủ quyết định mở rộng quy hoạch sang tỉnh Hoà Bình với tổng diện tích là 10.814,6 ha thuộc địa phận ranh giới hành chính của 16 xã

và 3 huyện của TP.Hà Nội và 2 huyện của tỉnh Hòa Bình

Từ khi thành lập đến nay, tại VQG Ba vì đã có rất nhiều nghiên cứu về tài nguyên động vật rừng, trong đó có những nghiên cứu về bò sát, lưỡng cư tiêu biểu như của Nguyen Van Sang et al., (1995), Phạm Tuấn Dũng (2013), Phan Viết Đại (2013), Nguyễn Đình Gươm (2017) Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu diễn ra trong thời gian ngắn và chưa tỉ mỉ trên toàn bộ diện tích của VQG nên có thể chưa phản ánh được sự đa dạng tài nguyên bò sát và lưỡng cư của Vườn Do vậy, các nghiên cứu tỉ mỉ tại các xã trong VQG Ba Vì là cần thiết để bổ sung về thành phần loài và nâng cao hiệu quả quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài bò sát, lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh thuộc địa phận Vườn quốc gia Ba Vì” Mục đích của nghiên cứu này nhằm cập nhật mức độ đa dạng về

thành phần loài bò sát, lưỡng cư góp phần bảo tồn ĐDSH tại VQG Ba Vì

Vì vậy, nghiên cứu sẽ tập trung đi tìm câu trả lời cho 02 câu hỏi:

- Mức độ đa dạng về thành phần bò sát và lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh như thế nào?

- Các hoạt động của con người ảnh hưởng như thế nào đến tài nguyên bò sát lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh?

Kết quả của nghiên cứu sẽ là cơ sở để đưa ra các giải pháp quản lý và bảo tồn tài nguyên bò sát, lưỡng cư tại VQG Ba Vì

Trang 10

3

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lược sử nghiên cứu về bò sát, lưỡng cư tại Việt Nam

Nghiên cứu thành phần loài bò sát, lưỡng cư ở Việt Nam đã được tiến hành từ cuối thế kỷ XIX ở nhiều khu vực trên toàn lãnh thổ Các phân loại dựa trên các đặc điểm hình thái bên ngoài như: đầu, mõm, chân, da, đuôi, màu sắc, cách trang trí, hình dạng các tấm sừng ở mai và yếm Tuy nhiên, các nhà khoa học đều thống nhất phân chia lớp bò sát thành 3 dạng: dạng Thằn lằn và Cá sấu, dạng Rắn, dạng Rùa Các loài lưỡng cư được chia thành 3 dạng: Ếch nhái có đuôi, Ếch nhái không đuôi và Ếch nhái không chân (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998)

Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã xây dựng “Danh lục bò

sát và lưỡng cư Việt Nam” Đây là kết quả nghiên cứu tổng hợp từ các cuộc điều

tra của nhiều nhà khoa học tại tất cả các vùng miền trong cả nước, nhất là ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa Trong bảng danh lục này, các tác giả đã thống kê được 258 loài bò sát và 82 loài lưỡng cư ở Việt Nam

Từ năm 1997 đến nay, có rất nhiều nghiên cứu lớn nhỏ về bò sát, lưỡng

cư khắp cả nước, chẳng hạn: Nguyễn Quảng Trường và Hồ Thu Cúc (1997 – 2003) nghiên cứu tại khu vực Đông Bắc Việt Nam trên 11 tỉnh đã phát hiện ra 3 giống mới và 79 loài mới và phân loài mới cho khoa học Ngoài ra có ít nhất 90 loài lần đầu tiên được nghi nhận ở Việt Nam trong gian đoạn này

Năm 2000, Nguyễn Quảng Trường đã nghiên cứu bò sát, lưỡng cư tại một

số khu vực Bắc Trường Sơn Kết quả điều tra đã thu thập được hơn 750 mẫu, qua phân tích và thống kê, bước đầu xác định được 62 loài thuộc 17 họ, 3 bộ Trong số đó, lớp bò sát ghi nhận được 34 loài, 12 họ, 2 bộ và lớp lưỡng cư ghi nhận được 28 loài, 5 họ, 1 bộ

Năm 2005, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường đã

xây dựng lại “Danh lục bò sát lưỡng cư Việt Nam” với 296 loài bò sát thuộc 24

họ, 3 bộ và 162 loài lưỡng cư thuộc 10 họ, 3 bộ do có nhiều phát hiện mới từ

Trang 11

4

năm 1996 đến năm 2005 Bản Danh lục này đã bổ sung thêm 38 loài bò sát và

80 loài lưỡng cư so với Danh lục của Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc (1996) Mặc dù trong bảng Danh lục, các loài được mô tả chi tiết về giá trị nhưng không được đề cập về tình trạng của loài ngoài tự nhiên và nơi lưu trữ mẫu vật

Năm 2009, Lưu Quang Vinh, Cẩn Kim Hưng và Nguyễn Hoàng Tú đã nghiên cứu đa dạng thành phần loài bò sát tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, tỉnh Hòa Bình Kết quả điều tra đã xác định được 51 loài bò sát, lưỡng cư thuộc 13 họ, 2 bộ; trong số đó có 13 loài quý hiếm, có tên trong Nghị định 32 (NĐCP, 2006), Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2009) và Công ước CITES (2006)

Năm 2009, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường tổng hợp các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học tại các vùng miền trong

cả nước đã xây dựng danh lục các loài bò sát và lưỡng cư Việt Nam trong cuốn

sách “Herpetofauna of Vietnam” Bảng danh lục thống kê được 368loài bò sát

thuộc 24 họ, 3 bộ và 175 loài lưỡng cư thuộc 10 họ, 3 bộ Từ năm 2009 đến nay

đã có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về thành phần các loài bò sát, lưỡng cư ở các vùng miền trong cả nước Số loài mới được phát hiện tại Việt Nam không ngừng được tăng lên

Năm 2011, Đồng Thanh Hải, Giang Trọng Toàn, Nguyễn Hữu Văn đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm khu hệ bò sát, lưỡng cư tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên Kết quả điều tra đã ghi nhận được 29 loài bò sát thuộc 10 họ, 2 bộ và 14 loài lưỡng cư thuộc 6 họ, 1 bộ Ngoài ra, nghiên cứu đã bổ sung thêm 1 loài bò sát và 3 loài lưỡng cư cho khu vực nghiên cứu

Năm 2013, Đồng Thanh Hải và Vũ Tiến Thịnh đã nghiên cứu sự đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại khu vực đề xuất thành lập Khu bảo tồn Tân Phượng, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Kết quả điều tra sơ bộ đã ghi nhận được

24 loài lưỡng cư thuộc 8 họ, 3 bộ và 42 loài bò sát, thuộc 11 họ, 2 bộ

Năm 2014, Phạm Thị Kim Dung, Lưu Quang Vinh và Nguyễn Quảng Trường đã thực hiện nghiên cứu thành phần loài bò sát tại Khu bảo tồn thiên

Trang 12

5

nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn Kết quả điều tra đã ghi nhận được 27 loài bò sát thuộc 11 họ và 2 bộ

Năm 2015, Hoàng Thị Nghiệp đã nghiên cứu dẫn liệu về tài nguyên lưỡng

cư, bò sát ở vùng Tây Bắc tỉnh Cà Mau Kết quả đã lập được các danh lục gồm

72 loài lưỡng cư, bò sát thuộc 48 giống, 20 họ, 5 bộ; trong đó, lớp bò sát có 55 loài, 37 giống, 14 họ, 3 bộ và lớp lưỡng cư có 17 loài, 11 giống, 6 họ, 2 bộ

1.2 Phương pháp xác định mức độ đa dạng loài

Ở cấp độ đa dạng loài, trong nghiên cứu ĐDSH, việc mô tả đa dạng loài là rất quan trọng Robert Whittaker (1972) đã sử dụng một hệ thống 3 bậc đơn giản

mô tả quy mô của đa dạng loài, cụ thể là:

Đa dạng alpha (α): Đa dạng alpha là tính đa dạng xuất hiện trong một sinh cảnh hoặc trong một quần xã

Đa dạng beta (β): Đa dạng beta là sự đa dạng tồn tại vùng giáp ranh giữa các sinh cảnh hoặc quần xã

Đa dạng gamma (γ): Đa dạng gamma là sự đa dạng tồn tại trong một quy

mô địa lý

Nghiên cứu đa dạng α, β và γ có ý nghĩa quan trọng đối với việc xem xét quy mô khi thiết lập những ưu tiên cho bảo tồn và ra các quyết định quản lý Trong nghiên cứu quy mô đa dạng các loài bò sát, lưỡng cư việc sử dụng đa dạng α, β và γ cho chúng ta sự so sánh về mức độ đa dạng loài giữa các sinh cảnh khác nhau Việc xác định được dạng sinh cảnh có mức độ đa dạng loài cao trong khu vực, giúp chúng ta có được hướng thiết lập ưu tiên bảo tồn cho các loài bò sát, lưỡng cư một cách hợp lý

Ở cấp độ đa dạng hệ sinh thái, việc đánh giá mức độ đa dạng của các loài động, thực vật nói chung thông qua các số liệu định lượng cơ bản có ý nghĩa to lớn đối với công tác quản lý và bảo tồn loài Đối với các loài bò sát, lưỡng cư ở Việt Nam, mức độ phong phú được làm rõ dựa trên quan điểm sử dụng các chỉ

số đa dạng sinh học: Simpson, Shannon Weaver và Độ đồng đều, và được đánh giá trên các sinh cảnh khác nhau

Trang 13

6

Tính đa dạng của các loài là một đặc điểm cấu trúc quan trọng của quần

xã, liên quan đến việc tăng tính ổn định của quần xã Trong thực tế, Chỉ số Simpson thường được sử dụng nhiều để xem xét tính đa dạng của quần xã khi

ưu thế tập trung vào một số ít loài Còn Chỉ số Shannon thường được sử dụng để xác định tính đa dạng từ một mẫu rút ngẫu nhiên của các loài trong quần xã

Để đánh giá tính đa dạng của khu hệ bò sát, lưỡng cư tại khu vực nghiên cứu, cần đánh giá trên hai phương diện:

Thứ nhất, về phân loại học: tính số loài trung bình cho một giống, một họ

và một bộ; tính số bộ có ít họ, số họ có ít giống và số giống có ít loài Khu có tính đa dạng phân loại cao khi họ có ít giống và giống có ít loài

Thứ hai, về quan hệ địa lý: dựa theo các tài liệu đã nghiên cứu, tính toán

tỷ lệ các nhóm, nhận xét tính trội của từng nhóm (Đồng Thanh Hải, 2013)

Đánh giá mức độ phong phú của các loài bò sát, ếch nhái trong khu vực điều tra sử dụng các chỉ số đa dạng sinh học (Simpson, Shanon – Waver, và Chỉ

số hợp lý) Công thức của các chỉ số đa dạng được tính như sau:

Trang 14

7

1.3 Một số nghiên cứu về bò sát, lưỡng cư tại Vườn Quốc gia Ba Vì

Ban quản lý VQG Ba Vì đã thực hiện dự án “Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vừng Vườn Quốc gia Ba Vì giai đoạn 2010- 2015 và định hướng đến năm 2020” theo quyết định số 1181/QĐ- BNN-TCLN ngày 06/5/2010 Trong bản báo cáo của dự án đã thống kê được 61 loài bò sát 16 họ, 2 bộ và 22 loài lưỡng cư, 4 họ, 1 bộ

Năm 2013, Phạm Tuấn Dũng “Nghiên cứu một số đặc điểm khu hệ bò sát

tại Vườn quốc gia Ba Vì – Hà Nội” Qua quá trình điều tra bò sát ở VQG Ba Vì

đã ghi nhận được 68 loài bò sát thuộc 15 họ, 2 bộ

Năm 2013, Phan Viết Đại “Nghiên cứu một số đặc điểm khu hệ ếch nhái

tại Vườn quốc gia Ba Vì – Hà Nội” Kết quả điều tra khu hệ ếch nhái tại VQG

Ba Vì đã phát hiện được 31 loài ếch nhái thuộc 5 họ và 1 bộ

Năm 2017, Nguyễn Đình Gươm đã ghi nhận được 102 loài bò sát, lưỡng

cư thuộc 22 họ và 3 bộ Trong đó, lớp bò sát có 71 loài, 16 họ, và 2 bộ; lớp lưỡng cư có 31 loài thuộc 6 họ và 1 bộ Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Đình Gươm (2017) đã bổ sung 3 loài bò sát và 1 loài lương cư vào danh sách các loài

bò sát, lương cư của VQG gia Ba Vì

Xã Tản Lĩnh là xã vùng đệm của VQG Ba Vì và có diện tích rừng tự nhiên nằm trong vùng lõi của VQG Ba Vì Do vậy, thành phần các loài bò sát, lưỡng cư được ghi nhận ở VQG Ba Vì đều có thể có tại khu vực xã Tản Lĩnh Mặc dù đến nay chưa có nghiên cứu bò sát, lưỡng cư chi tiết tại xã Tản Lĩnh nhưng thành phần các loài được ghi nhận tại VQG Ba Vì sẽ là tài liệu tham khảo hữu dụng trong việc xây dựng danh sách các loài bò sát, lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh Trong các nghiên cứu được đề cập trên, nghiên cứu của Nguyễn Đình Gươm (2017) là tài liệu cập nhật và chi tiết hơn cả nên được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu này Mặc dù trong nghiên cứu của Nguyễn Đình Gươm (2017), danh sách các loài bò sát, lưỡng cư đã cập nhật theo tài liệu phân loại của Nguyen Van Sang et al., (2009), tuy nhiên tên khoa học của loài Rắn

ráo trâu cần được chỉnh sửa chính xác là Ptyas mucosa thay Pareas mucosus

Trang 15

8

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Xã Tản Lĩnh có diện tích đất tự nhiên 2.774,09 ha Toàn xã có 14 thôn gồm: An Hòa, Bát Đầm, Cẩm Phương, Cua Chu, Hoàng Long, Đức Thịnh, Ké Mới, Yên Thành, Gò Sống, An Hòa, Hiệu Lực, Hà Tân, Hát Giang, Tam Mỹ và Việt Long Xã Tản Lĩnh là một trong 31 xã của huyện Ba Vì có vị trí địa lý tiếp giáp với các khu vực sau:

Phía Bắc giáp với xã Cẩm Lĩnh và xã Thụy An;

Phía Nam giáp xã Vân Hòa;

Phía Đông giáp Thị xã Sơn Tây;

Phia Tây giáp xã Ba Vì và xã Ba Trại

Hình 2.1: Bản đồ vị trí xã Tản Lĩnh nằm trong hệ thống VQG Ba Vì

Trang 16

9

2.1.2 Địa hình

Xã Tản Lĩnh có xu hướng thấp dần từ Tây sang Đông Xã Tản Lĩnh nằm trong dải trung du đặc biệt giữa một khối núi được hình thành do nâng tân kiến tạo dạng vòm – khối tảng với đỉnh Tản Viên có độ cao 1200m Về mặt nguồn gốc hình thái địa hình bao gồm: các kiểu địa hình do bóc mòn tổng hợp; địa hình sườn và địa hình dòng chảy

2.1.3 Khí hậu

Mùa đông lạnh, ít mưa, kéo dài từ tháng 11 cho đến tháng 3 năm sau Mùa

hè mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10 Nhiệt độ trung bình cả năm là 240

C Lượng mưa khá lớn, nếu ở lân cận đồng bằng lượng mưa vào khoảng 1.800mm thì đến sát chân núi Ba Vì, lượng mưa tăng lên đến 1.900 – 2.000mm

2.1.4 Thủy văn

Hệ thống sông suối trong khu vực chủ yếu bắt nguồn từ thượng nguồn núi

Ba Vì và núi Viên Nam Các suối lớn và dòng nhánh chảy theo hướng Bắc, Đông Bắc và đều phụ lưu của sông Hồng Ở phía Tây của khu vực, các suối ngắn và dốc hơn so với các suối ở phía Bắc và phía Đông, đều là phụ lưu của sông Đà Các suối này thường gây lũ vào mùa mưa Về mùa khô các suối nhỏ thường cạn kiệt Các suối chính trong khu vực gồm có: Suối Cái, suối Mít, suối Ninh, suối Bơn, suối Yên cư…

Sông Đà chảy ở phía Nam núi Ba Vì, sông rộng cùng với hệ suối khá dày như suối Ổi, suối Ca, suối Mít, suối Xoan… thường xuyên cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân vùng đệm Các hồ chứa nước nhân tạo như

hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô, hồ Hóc Cua và các hồ chứa nước khác vừa có nhiệm

vụ dự trữ nước cung cấp cho hàng chục ngàn ha đất sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân vừa tạo nên không gian thắng cảnh tuyệt đẹp, phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi vãn cảnh cho du khách Nguồn nước ngầm trong khu vực tương đối dồi dào, ở sườn Đông cũng dồi dào hơn bên sườn Tây do lượng mưa lớn hơn và địa hình đỡ dốc hơn

2.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội

2.2.1 Dân số và dân tộc

Theo số liệu điều tra năm 2009, xã Tản Lĩnh có tổng dân số 10853 người, trong đó hơn 90% là dân tộc Kinh, còn lại thuộc dân tộc Mường với 8682 người

Trang 17

10

Lao động chủ yếu trong vùng là nông nghiệp Số lao động phi nông nghiệp là

2170 người, làm các ngành nghề khác nhau như công nhân viên chức, tiểu thủ công nghiệp, du lịch – dịch vụ Do đặc thù của địa bàn nên mức tăng dân số của

xã chủ yếu là gia tăng dân số tự nhiên với tốc độ tăng dân số năm 2009 đạt 1,2%

2.2.2 Cơ cấu kinh tế

Các chỉ tiêu kinh tế tăng ổn định, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp với thu nhập bình quân trên đầu người là 6,425 triệu/năm; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới là 9,72% trong năm 2009 Nông nghiệp chiếm 45% năm 2008 và giảm xuống 35,5% năm 2009 Trong cơ cấu kinh tế của xã Tản Lĩnh: thế mạnh trồng trọt (bình quân lương thực toàn xã: 3785,4 tấn năm 2009) và chăn nuôi gia súc gia cầm Chế biến các sản phẩm từ sữa bò của địa phương đang được đầu tư và phát triển tốt Phi nông nghiệp cũng

có những thành tựu đáng kể (chiếm 55% năm 2008 và tăng lên 64,5% năm 2009), đặc biệt là hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và ngành dịch vụ và

du lịch phát triển khá nhanh

2.2.3 Cơ sở hạ tầng

Hệ thống cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã đã từng bước được đầu tư xây mới

và nâng cấp Hệ thống giao thông của xã đã được đầu tư xây dựng mở rộng và làm mới như đường 87A, đường vào Ao Vua; đường vào Vườn quốc gia được

đổ bê tông với chiều dài 2km Hệ thống giao thông chính trong khu dân cư của

xã như thôn Hát Giang, Đức Thịnh,… , hệ thống đường giao thông nội đồng Bên cạnh đó, hệ thống thủy lợi của xã đã được đầu tư tu sửa thường xuyên và kiên cố hóa nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nước tưới của các khu vực cao dẫn tới vẫn còn tình trạng thiếu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp

2.3 Nhận xét

2.3.1 Khó khăn

Tại đây có nhiều cơ sở hạ tầng đang tu sửa và đang trong quá trình xây dựng và với địa hình dốc, khó di chuyển cùng với đó là khi hậu thất thường khiến cho việc quản lý bảo tồn các loài bò sát, lưỡng cư trở nên khó khăn Quanh khu vực vẫn có người săn bắt và đem bán các loài bò sát, lương cư do chúng có giá trị kinh tế cao, hoạt động tinh vi nên khó thể kiểm soát được

Trang 18

11

2.3.2 Thuận lợi

Hiện nay nhờ công tác tuyên truyền giáo dục của đội ngũ cán bộ cở sở tốt nên người dân trong khu vực đã có ý thức hơn trong việc bảo vệ các thành phần loài bò sát, lưỡng cư nói riêng hay bảo vệ các nguồn tài nguyên trong khu vực nói chung, hầu như không còn hiện tượng đốt nương làm rẫy, giảm thiểu việc chia cắt sinh cảnh của các loài bò sát, lưỡng cư Kinh tế đang được phát triển và đẩy mạnh tạo nhiều công việc và thu nhập cho người dân, hầu như không còn có hiện tượng vào rừng khai thác tài nguyên thiên nhiên Lực lượng lao động trên địa bàn khá dồi dào, có thể tham gia bảo vệ, trồng rừng, đầu tư phát triển, khoanh nuôi các loài bò sát, lương cư quý hiếm để bảo tồn nguồn gen cũng như bảo tồn sự đa dạng sinh học khu vực

Trang 19

12

Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

3.1.1 Mục tiêu chung

Đề tài được thực hiện nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu về đa dạng thành

phần các loài bò sát, lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh nói riêng và VQG Ba vì nói chung

3.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Lập được danh sách các loài bò sát lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh;

- Xây dựng các thông tin cơ bản về đặc điểm loài, địa điểm, sinh cảnh ghi nhận các loài bò sát, lưỡng cư trong đợt điều tra;

- Xác định mức độ đa dạng các loài bò sát, lưỡng cư theo các sinh cảnh tại khu vực nghiên cứu;

- Xác định được các tác động tiêu cực của cộng đồng địa phương tới các loài bò sát, lưỡng cư tại khu vực nghiên cứu;

- Đưa ra được các giải pháp nhằm quản lý, bảo tồn các loài bò sát, lưỡng

cư tại xã Tản Lĩnh nói riêng và VQG Ba Vì nói chung

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài động vật thuộc lớp bò sát (Reptilia) và lớp lưỡng cư (Amphibia)

tại xã Tản Lĩnh, VQG Ba Vì

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu

 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại xã Tản Lĩnh thuộc địa phận của Vườn quốc gia Ba vì

 Phạm vi về nội dung nghiên cứu

Các loài bò sát, lưỡng cư ghi nhận trong đợt điều tra được mô tả chi tiết theo các đặc điểm hình thái Mức độ đa dạng về thành phần loài theo sinh cảnh

Trang 20

13

được đánh giá theo các chỉ số Simpson, Shannon-Waver và Chỉ số hợp lý Trên

cơ sở kết quả điều tra về hiện trạng loài và các mối đe dọa tiến hành đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn các loài bò sát, lưỡng cư tại khu vực nghiên cứu

 Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ

12/1/2019 đến 20/5/2019, cụ thể như bảng 3.1

Bảng 3.1: Các công việc đã được thực hiện của đề tài

1 Từ 12/01/2019

đến 01/3/2019

Thu thập, phân tích tài liệu

và hoàn thành đề cương nghiên cứu

Trường Đại học Lâm nghiệp

3.3 Nội dung nghiên cứu

Để giải quyết các mục tiêu trên, 5 nội dung tương ứng của đề tài được thực hiện bao gồm:

(1) Điều tra thành phần các loài bò sát, lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh (2) Mô tả một số loài bò sát và lưỡng cư được ghi nhận trong đợt điều tra (3) Xác định các dạng sinh cảnh và mức độ đa dạng của các loài bò sát, lưỡng cư theo các sinh cảnh tại xã Tản Lĩnh

(4) Xác định các mối đe dọa tới các loài bò sát, lưỡng cư tại khu vực nghiên cứu

(5) Đề xuất các giải phát quản lý và bảo tồn các loài bò sát, lưỡng cư tại khu vực nghiên cứu

3.4 Phương Pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

Tại VQG Ba Vì hiện nay có một số nghiên cứu về thành phần các loài bò sát, lưỡng cư, chẳng hạn: Nguyen Van Sang et al., (1995); Phạm Tuấn Dũng

Trang 21

14

(2013), Phan Viết Đại (2013), Nguyễn Đình Gươm (2017) Các tài liệu này được thực hiện nghiêm túc và đã được kiểm duyệt nên được sử dụng để xây dựng tổng quan của đề tài Đối với tài liệu của Nguyễn Đình Gươm (2017) được cập nhật gần nhất nên được sử dụng để kế thừa danh sách các loài bò sát, lưỡng

cư Tuy nhiên danh sách các loài được kiểm chứng thông qua các nguồn thông tin điều tra ngoại nghiệp

Bên cạnh đó, các tài liệu về bản đồ hiện trạng rừng VQG Ba Vì; báo cáo

về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu được kế thừa có chọn lọc phục vụ cho nghiên cứu này

Ngoài ra, các nghiên cứu tương tự về đa dạng thành phần loài bò sát, lưỡng cư tại các vùng miền, các nghiên cứu đánh giá về mối đe dọa, tài liệu phân loại, đánh giá mức độ đa dạng loài phục vụ cho định hướng nghiên cứu và xây dựng tổng quan

3.4.2 Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp phỏng vấn được thực hiện nhằm thu thập sơ bộ các thông tin

về thành phần loài, số lượng các loài, các khu vực bắt gặp; công tác quản lý tài nguyên rừng và mức độ khai thác, buôn bán, sử dụng tài nguyên bò sát, lưỡng

cư tại khu vực nghiên cứu

Phỏng vấn được thực hiện trên 2 đối tượng là cán bộ Phòng Khoa học của VQG Ba Vì (phỏng vấn 15 người) và người dân địa phương (phỏng vấn 15 người) Người dân địa phương được lựa chọn phỏng vấn có độ tuổi từ 18 – 60, sống ở gần rừng và có sự hiểu biết về tài nguyên rừng của khu vực

Các câu hỏi phỏng vấn đơn giản, ngắn ngọn và được sắp xếp theo bộ câu hỏi phỏng vấn theo từng nội dung nghiên cứu Thông tin về bộ câu hỏi phỏng

vấn được trình bày chi tiết trong phụ lục 01 và thành phần những người tham gia phỏng vấn ở phụ lục 2

Các câu hỏi phỏng vấn được tiếp cận từ khái quát đến chi tiết với câu hỏi đầu tiên về các nhóm loài Các câu hỏi tiếp theo liên quan đến các đặc điểm của từng loài Trong quá trình phỏng vấn luôn khuyến khích người dân địa phương

tự kể về những loài mà họ biết và cho xem các mẫu vật nuôi làm cảnh hoặc nhồi

Trang 22

15

bông Đối với những loài mà người dân biết cần được mô tả chỉ tiết về đặc điểm màu sắc, hình dạng cơ thể và đặc điểm nổi bật về loài Để kiểm chứng lại các thông tin phỏng vấn, bộ ảnh màu về các loài bò sát, lưỡng cư của tác giả Nguyen Van Sang et al., (2009) được sử dụng để đối tượng phỏng vấn nhận diện các thông tin phỏng vấn được phân tích, chọn lọc và tổng hợp kết quả vào bảng 3.2

Bảng 3.2: Phiếu Phỏng vấn bò sát, lƣỡng cƣ Tên:………Tuổi: ……….…Nghề nghiệp….……… …………

Dân tộc: ………Ngày phỏng vấn: ……… Địa chỉ: ……….…Người phỏng vấn: ……… …….…… STT Tên phổ

thông

Tên địa phương Thời gian gặp

Thời điểm gặp Mẫu vật Ghi chú

3.4.3 Phương pháp điều tra theo tuyến

Điều tra theo tuyến nhằm xác định thành phần loài và các mối đe dọa đến các loài bò sát, lương cư tại khu vực nghiên cứu

Tuyến điều tra được lập dựa vào bản đồ địa hình, thảm thực vật, kết quả phỏng vấn và kết quả khảo sát Tuyến thiết kế ưu tiên nơi dễ dàng tiếp cận như

từ hệ thống đường lớn, đường mòn sẵn có hoặc gần các con suối khu vực có độ

ẩm cao Mỗi tuyến điều tra có chiều dài 2-10 km, tùy thuộc vào từng dạng địa hình và khả năng thực hiện Các tuyến điều tra được thiết lập đại diện trên toàn

bộ sinh cảnh của khu vực

Kết quả điều tra sơ tham đã ghi nhận 4 sinh cảnh khác nhau trong khu vực nghiên cứu: Sinh cảnh rừng tự nhiên (SC1); Sinh cảnh rừng trồng (SC2); Sinh cảnh rừng hỗn giao gỗ + tre nứa + suối (SC3) và Khu dân cư (SC4)

Trên cơ sở các dạng sinh cảnh chính trong khu vực, trong nghiên cứu này lập 10 tuyến điều tra bò sát, lưỡng cư ở 4 dạng sinh cảnh khác nhau tại xã Tản Lĩnh (bảng 3.3 và hình 3.1)

Trang 23

16

Bảng 3.3: Thông tin về các tuyến điều tra bò sát, lƣỡng cƣ tại xã Tản Lĩnh

STT Tuyến số Tọa độ điểm

đầu

Tọa độ điểm cuối

Chiều dài tuyến

Trang 24

17

Hình 3.1: Sơ đồ các tuyến điều tra bò sát và lƣỡng cƣ tại xã Tản Lĩnh

Mỗi tuyến được tiến hành điều tra 2 lần và tuân thủ nguyên tắc lặp lại Điều tra trên tuyến được tiến hành vào 2 thời điểm khác nhau trong ngày là ban ngày (từ 8h – 16h) và ban đêm (từ 18h – 21h) nhằm xác định sự xuất hiện bò sát, lưỡng cư ở các thời điểm khác nhau và thời điểm hoạt động chủ yếu của các nhóm loài

Xuất phát từ điểm đầu tuyến đã được đánh dấu (tọa độ GPS) di chuyển với tốc độ 1km/h Trong quá trình di chuyển quan sát về hai bên tuyến, mỗi bên quan sát vào 5m Khi di chuyển chú ý quan sát cẩn thận, lắng nghe tiếng kêu,

Trang 25

18

tiếng di chuyển của con vật Khi phát hiện con vật tiến hành chụp hình ảnh từ xa đến sát gần Nếu con vật di chuyển nhanh cần dung vợt hoặc dùng tay (tùy theo loại) bắt lại ngay, sau đó dùng chỉ buộc chân có gắn một miếng kim loại đã đục

lỗ đánh đấu bằng vỏ lon bia rồi cho vào túi đựng Những mẫu định loại được ngay thì chỉ lấy một mẫu, còn mẫu chưa định loại được thu về sau đó định loại thông qua các chỉ tiêu đo đếm theo Khóa định loại Đào Văn Tiến (1981), hình ảnh tra loài theo Nguyen Van Sang et al., (2009) Các thông tin về tọa độ bắt gặp, thời gian bắt gặp, số lượng, sinh cảnh của loài được ghi chép vào bảng 3.4

Bảng 3.4: Phiếu điều tra bò sát, lƣỡng cƣ theo tuyến

Người điều tra : ……… Ngày điều tra: ………… ….……… Tuyến điều tra số : ……… Lần điều tra: ……….……… Điểm xuất phát : ……… Điểm kết thúc : ………….………

Độ dài tuyến điều tra :… ……… Thời gian : ………Thời tiết : ……… Thời gian Tên loài Số lượng Tọa độ Sinh cảnh Ghi chú

Trong quá trình điều tra trên tuyến, các mối đe dọa cũng được ghi chép lại các thông tin về tọa độ ghi nhận, thời gian xuất hiện, cường độ tác động và nguyên nhân của các tác động Các thông tin về mối đe dọa được tổng hợp vào bảng 3.5 và số tay ngoại nghiệp

Bảng 3.5: Các mối đe dọa đến các loài bò sát, lƣỡng cƣ

STT Địa điểm Mối đe dọa Thời gian Cường độ tác động Ghi chú

Trang 26

19

3.4.4 Phương pháp xử lý mẫu và mô tả loài

Mẫu bò sát và lưỡng cư sau khi thu được cho vào các túi, hộp buộc chặt,

có lỗ thông khí và an toàn cho con người Trước khi xử lý mẫu cần chụp ảnh và ghi chú các đặc điểm hình thái vì màu sắc mẫu vật có thể thay đổi trong quá trình ngâm mẫu Quá trình xử lý mẫu vật được thực hiện như trong bảng 3.6

Bảng 3.6: Xử lý mẫu bò sát, lƣỡng cƣ để bảo quản

- Mẫu vật: các loài bò sát, lưỡng cư còn sống (tốt nhất có cả đực và cái) được rửa sạch trước khi thực hiện xử lý mẫu

- Dụng cụ: dao mổ, kéo, kim chỉ, thẩu thủy tinh, panh, xi lanh, đĩa đựng mẫu, miếng xốp, ghim mẫu, etiket trong mẫu ngâm và bên ngoài, băng dính lớn

- Các trang bị cá nhân: găng tay, khẩu trang

tư thế tự nhiên và chụp ảnh

Bước 3:

Làm chết

mẫu

- Bắt mẫu và thả vào lọ nhựa có chứa foocmon đậm đặc (hoặc cồn 900)

và chờ con vật chết sau 2-3 phút đối với lưỡng cư, thằn lằn nhỏ và sau 1-2 giờ đối với các loài rắn, rùa

- Quan sát thấy con vật vừa chết thì dùng panh gặp mẫu vật ra miếng xốp để cố định mẫu

Bước 4:

Cố định

mẫu

- Đối với các loài lưỡng cư, thằn lằn, rùa:

+ Dùng ghim cố định 4 chi; đuôi của mẫu vật được để ruỗi tự nhiên Các ngón chân, màng ra căng rộng Sử dụng 1 đến 2 ghim cắm vào miếng xốp ở dưới cằm và nâng dần ghim lên để cho đầu nhô cao bằng thân mẫu vật

+ Nếu mẫu vật bị co cứng cơ có thể sử dụng nhiều ghim để cố định mẫu, tạo tư thế nằm giống ngoài tự nhiên

- Đối với các loài rắn: dùng tay cuộn thân rắn theo vòng tròn nhỏ ước chừng vừa đủ lọ Trong quá trình thao tác để đầu rắn hướng ra ngoài và

Trang 27

Đối với các con vật có kích thước lớn:

+ Dùng dao mổ một vệt nhỏ dọc bụng đến lỗ huyệt để lấy nội tạng bỏ

ra ngoài vì nội tạng dễ bị phân hủy gây hỏng mẫu

+ Dùng kim chỉ may lại vết mổ rồi rửa sạch bằng cồn 900 hoặc foocmon đậm đặc

- Tiêm nhẹ nhàng, từ từ foocmon đậm đặc vào 4 chi và bụng mẫu vật Tiêm vào đùi cần tiêm chéo theo bó cơ, tiêm vào bụng tại hai vị trí là lỗ huyệt và viền sườn Lưu ý khi tiêm tránh làm rách ruột mẫu vật và tránh chạm tay vào trực tiếp mẫu vật vì có thể gây lệch tư thế đã cố định

ký hiệu ví dụ như: BV01 – Ba Vì (01) Khi buộc mẫu có thể sử dụng panh để luồn dây qua chân mẫu vật để thuận tiện cho việc buộc mẫu

- Dùng panh nhẹ nhàng đưa mẫu vật vào lọ nhựa đã để sẵn foocmon (hoặc cồn 700) bảo quản

- Đậy kín nắp lọ nhựa sau khi đã để mẫu vật vào

- Dùng băng dính dán etiket đã viết đầy đủ thông thin vào mặt ngoài thẩu thủy tinh đã có mẫu được xử lý

Lưu ý: trong quá trình đi thực địa, nếu các mẫu để chung chỉ cần ghi nhãn Etiket: thời gian điều tra, địa điểm điều tra, người giám định Bước 8:

Thu dọn

Thu dọn và vệ sinh sạch sẽ dụng cụ Cất phần hóa chất còn thừa vào đúng nơi quy định

Trang 28

21

3.4.5 Phương Pháp xử lý số liệu

3.4.5.1 Xác định thành phần các loài bò sát, lưỡng cư tại khu vực nghiên cứu

Dang sách các loài bò sát, lưỡng cư trong khu vực nghiên cứu được xây dựng dựa vào các nguồn thông tin kế thừa, kết quả phỏng vấn, kết quả điều tra trên tuyến Tên phổ thông và tên khoa học được cập nhật theo tài liệu của Nguyen Van Sang et al., (2009)

Tình trạng của các loài bò sát, lưỡng cư được đánh giá dựa vào Sách đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007), Sách đỏ Thế giới (IUCN, 2019)

Cả hai tài liệu này sử dụng các cấp đánh giá là CR, EN và VU Tình trạng bảo

vệ của các loài được Chính phủ Việt Nam bảo vệ căn cứ vào Nghị định 06 (NĐCP, 2019), Nghị định 160 (NĐCP, 2013) Tình trạng buôn bán quốc tế của các loài sử dụng theo Thông tư 04 (TT-BNNPTNT, 2017) Bảng danh sách các loài bò sát, lưỡng cư được sắp xếp theo các lớp, bộ, họ, loài (bảng 3.7)

Bảng 3.7: Bảng danh sách thành phần loài bò sát, lƣỡng cƣ tại KVNC

IUCN (2019)

NĐ06 (2019)

NĐ160 (2013)

TT04 (2017)

Ghi chú: QS – Quan sát; MV – Mẫu vật; PV – Phỏng vấn; TL – Tài liệu; SĐVN (2007), IUCN (2009): CR = Rất nguy cấp, EN = Nguy cấp, VU = Sẽ nguy cấp, NT = Sắp bị đe dọa, LR = Ít nguy cấp (cd/phụ thuộc bảo tồn; nt/sắp bị đe doạ; lc/ít lo ngại), DD (Thiếu dẫn liệu để đánh giá) Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, Nghị định số 160/2013/ND-CP: IB (Nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại), IIB (Hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại) Thông Tư số 04/2017/TT-BKHĐT

3.4.5.2 Phương pháp đánh giá mức độ đa dạng về thành phần các loài bò sát, lưỡng cư theo sinh cảnh

Ở cấp độ đa dạng loài, trong nghiên cứu ĐDSH, việc mô tả đa dạng loài là rất quan trọng Robert Whittaker (1972) đã sử dụng một hệ thống 3 bậc đơn giản

mô tả quy mô của đa dạng loài, cụ thể:

Trang 29

3.4.5.4 Cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn loài

Việc đề xuất các giải pháp bảo vệ và phát triển loài bò sát, lưỡng cư tại VQG Ba Vì được căn cứ trên sự phân cấp mức độ của các mối đe dọa và tình trạng bảo tồn của các loài quý hiếm trong khu vực Đối với các mối đe dọa chủ yếu, cần xác định được đối tượng gây ra tác động và đối tượng bị tác động để tìm cách thay đổi tác động đó theo chiều hướng tích cực cho công tác bảo tồn các loài bò sát, lưỡng cữ Đối với các loài bò sát, lưỡng cư quý hiếm cần xác định được vùng phân bố cũng như tình trạng của chúng và tiến hành các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt các loài này

Trang 30

23

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thành phần các loài Bò sát và Lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh

4.1.1 Thành phần loài

Kết quả điều tra từ nhiều nguồn thông tin khác nhau đã nghi nhận được

109 loài bò sát, lưỡng cư thuộc 23 họ và 3 bộ tại xã Tản Lĩnh Trong đó, lớp bò sát có 77 loài, 16 họ, và 2 bộ; lớp lưỡng cư có 32 loài thuộc 6 họ và 1 bộ Tổng hợp về thành phần loài bò sát, lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh được trình bày trong bảng 4.1 Thông tin chi tiết về các loài bò sát, lương cư tại xã Tản Lĩnh được trình bày trong bảng 4.2 và bảng 4.3

Trang 31

24

Bảng 4.2: Danh sách các loài bò sát đƣợc ghi nhận tại xã Tản Lĩnh

(2007)

IUCN (2019)

NĐ06 (2019)

NĐ160 (2013)

TT04 (2017)

3 Thạch sùng bau-eing Hemidactylus bowringii X

4 Thạch sùng đuôi sần Hemidactylus frenatus X

5 Thạch sùng nửa lá sapa Hemiphyllodactylus

yunnanensis

X VU

8 Nhông phructôphe Acanthosaura lepidogaster X

Trang 32

25

(2007)

IUCN (2019)

NĐ06 (2019)

NĐ160 (2013)

TT04 (2017)

13 Thằn lằn chân ngắn Lygosoma quadrupes X X

14 Thằn lằn bóng đuôi dài Eutropis longicaudata X X

16 Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciata X X

17 Thằn lằn phênô sao Sphenomorphus stellatus X

18 Thằn lằn phênô ấn độ Sphenomorphus indicus X

19 Thằn lằn phênô đốm* Sphenomorphus maculatus X

20 Thằn lằn tai hải nam Tropidophorus hainanus X

21 Thằn lằn tai ba vì Tropidophorus baviensis X X X

22 Thằn lằn êmô đuôi xanh* Plestiodon quadrilineatus X

Trang 33

26

(2007)

IUCN (2019)

NĐ06 (2019)

NĐ160 (2013)

TT04 (2017)

28 Rắn cạp nia bắc Bungarus multicinctus X X

30 Rắn lá khô thường Sinomicrurus macclellandi X EN

33 Rắn lục mép trắng Trimeresurus albolabris X

36 Rắn lục cườm Protobothrops mucrosquamatus X X

37 Rắn lục xanh Trimeresurus stejnegeri X X X

Trang 34

27

(2007)

IUCN (2019)

NĐ06 (2019)

NĐ160 (2013)

TT04 (2017)

43 Rắn sãi trơn* Hebius modestum X

48 Rắn mai gầm bắc Calamaria septentrionalis X

54 Rắn khiếm trung quốc* Oligodon chinensis X

55 Rắn khiếm đuôi vòng Oligodon fasciolatus X

Trang 35

28

(2007)

IUCN (2019)

NĐ06 (2019)

NĐ160 (2013)

TT04 (2017)

62 Rắn hổ xiên tre Pseudoxenodon

bambusicola

X

67 Rắn hoa cân vân đen Sinonatrix percarinata X

69 Rắn rồng trung quốc* Sibynophis chinensis X

70 Rắn leo cây thường* Dendrelaphis pictus X

Trang 36

29

(2007)

IUCN (2019)

NĐ06 (2019)

NĐ160 (2013)

TT04 (2017)

VU; 8 loài EN; 2 loài

CR

4 loài VU; 2 loài

EN

8 loài IIB; 1 loài

IB

1 loài phụ lục I

2 loài phụ lục I; 5 loài phụ lục II; 1 loài phụ lục III

Ghi chú:

QS – Quan sát; MV – Mẫu vật; PV – Phỏng vấn; TL – Tài liệu;

SĐVN (2007), IUCN (2009): CR = Rất nguy cấp, EN = Nguy cấp, VU = Sẽ nguy cấp, NT = Sắp bị đe dọa, LR = Ít nguy cấp (cd/phụ thuộc bảo tồn; nt/sắp bị đe doạ; lc/ít lo ngại), DD (Thiếu dẫn liệu để đánh giá)

Trang 37

30

Bảng 4.3: Danh sách các loài lƣỡng cƣ đƣợc ghi nhận tại xã Tản Lĩnh

(2007)

IUCN (2019)

NĐ 06 (2019)

NĐ160 (2013)

TT04 (2017)

I BỘ KHÔNG ĐUÔI ANURA

Trang 38

31

(2007)

IUCN (2019)

NĐ 06 (2019)

NĐ160 (2013)

TT04 (2017)

20 Ếch cây mép trắng Polypedates leucomystax X X X

21 Ếch cây trung bộ Rhacophorus annamensis X

22 Ếch cây nếp da mỏng Rhacophrus exechopygus X

23 Ếch cây sần bắc bộ Theloderma corticale X

27 Nhái bầu bút lơ* Microhyla butleri X

Trang 39

32

(2007)

IUCN (2019)

NĐ 06 (2019)

NĐ160 (2013)

TT04 (2017)

31 Nhái bầu hây môn Microchyla heymonsi X X

EN; 1 loài

VU

Ghi chú:

QS – Quan sát; MV – Mẫu vật; PV – Phỏng vấn; TL – Tài liệu;

SĐVN (2007), IUCN (2009): CR = Rất nguy cấp, EN = Nguy cấp, VU = Sẽ nguy cấp, NT = Sắp bị đe dọa, LR = Ít nguy cấp (cd/phụ thuộc bảo tồn; nt/sắp bị đe doạ; lc/ít lo ngại), DD (Thiếu dẫn liệu để đánh giá)

Trang 40

33

 Đánh giá về nguồn thông tin ghi nhận:

Trong tổng số 109 loài bò sát, lưỡng cư ghi nhận tại xã Tản Lĩnh có 30 loài được quan sát trực tiếp ngoài thực địa, trong đó 19 loài thuộc lớp bò sát và

11 loài thuộc lớp lưỡng cư Các loài bắt gặp nhiều lần trong đợt điều tra như:

Thằn lằn Phenol đốm (Sphenomorphus maculatus), Thằn lằn bóng hoa (Eutropis

multifasciata), Thằn lằn tai ba vì (Tropidophorus baviensis), Ngóe (Fejervarya limnocharis), v.v …

Số loài được ghi nhận từ nguồn thông tin mẫu vật: 01 loài (Cóc nhà -

Duttaphrynus melanostictus) Loài này cũng được ghi nhận trong quá trình điều

tra trên tuyến Đợt điều tra phỏng vấn trong các hộ gia đình không ghi nhận mẫu vật lưu giữ về các loài bò sát, lưỡng cư

Số loài ghi nhận từ nguồn thông tin phỏng vấn: 19 loài (13 loài bò sát và 6 loài lưỡng cư) Các loài bò sát, lưỡng cư được người dân địa phương biết đến chủ yếu là các loài phổ biến, các loài có giá trị thường bị săn bắt làm thực phẩm hoặc

thương mại như: Ba ba gai (Palea steindachneri), Ba ba trơn (Pelodiscus

sinensis), Rắn hổ chúa (Ophiophagus hannah), Rắn hổ mang (Naja atra), Rắn

bồng chì (Enhydris plumbea), Ếch đồng (Hoplobatrachus rugulosus) v.v…

Phần lớn các loài bò sát, lưỡng cư được ghi nhận trong nghiên cứu này được kế thừa nghiên cứu của Nguyễn Đình Gươm (2017) với 102 loài (71 loài

bò sát và 31 loài lưỡng cư)

Nhìn chung, số lượng các loài bò sát và lưỡng cư được quan sát trực tiếp trong đợt điều tra này ít hơn nhiều so với tổng số loài có trong khu vực nghiên cứu Nguyên nhân của hạn chế này được xác định do ảnh hưởng của thời tiết sương mù, mưa liên tục trong nhiều ngày điều tra đã ảnh hưởng đến khả năng bắt gặp loài Ngoài ra, đợt điều tra này diễn ra trong thời gian ngắn, nhân lực ít nên không thể tiến hành điều tra trên phạm vi rộng nên khả năng bắt gặp các loài còn hạn chế

 Loài bò sát, lưỡng cư bổ sung cho Vườn quốc gia Ba Vì:

Một trong những kết quả rất có ý nghĩa trong đợt điều tra này là đã bổ sung được thêm 7 loài (6 loài bò sát và 1 loài lưỡng cư) vào danh sách các loài

bò sát, lưỡng cư của VQG Ba Vì (bảng 4.4)

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w