Mặc dù có giá trị kinh tế và bảo tồn cao, nhưng những nghiên cứu về loài cây này trên thế giới – trong nước còn thiếu, phần lớn các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức mô tả đặc điểm hình
Trang 1ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG & MÔI TRƯỜNG
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU BẢO TỒN CÂY XÁ XỊ
(Cinnamomum Parthenoxylon( Jack) Meisn)
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN LIÊN – THANH HÓA
NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ NGÀNH:302
Giảng viên hướng dẫn : ThS Tạ Thị Nữ Hoàng
Hà Nội – 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của cá nhân và có sử dụng số liệu của đề tài do PGS.TS Hoàng Văn Sâm, trường đại học Lâm Nghiệp chủ trì
Số liệu và kết quả là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 1 tháng 5 năm 2020
Người cam đoan
Nguyễn Văn Oai
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt 4 năm được học tập tại trường Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam, bản thân tôi cũng như bao bạn sinh viên khác được sự quan tâm dạy bảo của thầy cô giáo
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, trường Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam,
tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu bảo tồn cây Xá Xị (Cinamomum parthenoxylon ( Jack) Meisn) tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên – Thanh Hóa” Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy
cô giáo trong khoa quản lý tài nguyên rừng và môi trường nhất là giáo viên hướng dẫn Ths.Tạ Thị Nữ Hoàng, PGS.TS Hoàng Văn Sâm, cán bộ hạt kiểm lâm Rừng đặc dụng Xuân Liên, trạm kiểm lâm Hón Cao và cán bộ, nhân viên tuần rừng, người dân xã Hón Cao, đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Nhân dịp này tôi chân thành cảm ơn tới: Lãnh đạo trường đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, các thầy cô giảng viên trường đại học Lâm Nghiệp, đặc biệt
là Ths.Tạ Thị Nữ Hoàng và PGS.TS Hoàng Văn Sâm, giảng viên trường đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, thầy cô đã rất tận tâm hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Xin cảm ơn PGS Hoàng Văn Sâm đã tạo điều kiện cho tham gia đề tài và sử dụng một phần số liệu của đề tài nghiên cứu
Em xin được chân thành cảm ơn: Ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ viên chức trong ban quản lý khu bảo tồn thiền nhiên Xuân Liên đã tạo điều kiện, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong việc đi thực địa thu thập số liệu để hoàn thành khóa luân tốt nghiệp
Xin chân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày 1 tháng 5 năm 2020
Sinh viên
Nguyễn Văn Oai
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học 3
1.1.2 Các nghiên cứu về nhân giống cây trồng 4
1.1.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng 6
1.2 Ở Việt Nam 8
1.2.1 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học 8
1.2.2 Các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng 10
1.2.3 Một số nghiên cứu về các loài thuộc chi Cinnamomun 11
Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 14
2.1.Các hoạt động kinh tế 15
2.1.1.Cơ cấu sử dụng đất các xã vùng đệm 15
2.1.2.Sản xuất lâm nghiệp 16
2.1.3.Các nghành kinh tế khác 19
2.2.Hiện trạng xã hội 19
2.2.1.Đánh giá về điều kiện kinh tế, xã hội 20
2.3.Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên KTXH tới khu bảo tồn 21
2.3.1.Ảnh hưởng tích cực 21
2.3.2.Ảnh hưởng tiêu cực 22
Chương3: MỤC TIÊU ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
Trang 53.1.Mục tiêu nghiên cứu 24
3.2.Đối tượng nghiên cứu 24
3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 24
3.3.1 Nội dung nghiên cứu 24
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 24
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
4.1 Đặc điểm hình thái và giá trị nguồn gen Xá Xị: 30
4.1.1.Đặc điểm hình thái 30
4.1.2.Giá trị nguồn gen và tình trạng bảo tồn 31
4.2.Đặc điểm sinh thái 32
4.2.1 Đặc điểm cấu trúc lâm phần nơi có Xá xị phân bố tập trung 34
4.2.2 Đặc điểm tái sinh của lâm phần có Xá xị phân bố tập trung: 39
4.3 Nhân tố ảnh hướng và giải pháp bảo tồn loài Xá xị 40
4.3.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến loài Xá xị 40
4.3.2 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn loài Xá xị 48 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1 Thống kê lao động phân theo thành phần kinh tế 14 Bảng 2 2 : Biểu diện tích các loại các xã vùng đệm khu BTTN Xuân liên 15 Bảng 2 3: Hiện trạng rừng và đất chưa có rừng phân theo 3 loại rừng (Đơn vị: ha) 16 Bảng 4 1: Kết quả điều tra xá xị trưởng thành 33
Bảng 4 2: Công thức tổ thành cây tầng cao lâm phần có Xá xị phân bố 35
Bảng 4 3: Các loài cây gỗ thường xuất hiện nhất trong CTTT các lâm phần có
Xá xị 37 Bảng 4 4: Tần suất và kích thước các loài cây bạn"rất hay gặp" và "hay gặp" của Xá xị 38 Bảng 4 5: Công thức tổ thành cây tái sinh tại lâm phần có Xá xị 39
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4 1: Vỏ thân 30 Hình 4 2:Thân 30
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên được thành lập năm 1999 theo Quyết định số: 3029/1999/QĐ-UB ngày 17/12/1999 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa Rừng ở khu BTTN Xuân Liên được ghi nhận đa dạng
về thành phần loài, về hệ sinh thái và trạng thái rừng với khu hệ động, thực vât quý hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen Ngoài ra khu BTTN Xuân Liên còn có giá trị to lớn là khu rừng phòng hộ đầu nguồn của sông Chu, sông Khao, sông Đặt, cung cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu cho hơn 86.000 ha lúa, phục vụ công nghiệp cho vùng hạ lưu tỉnh Thanh Hóa.Qua điều tra đã ghi nhận được sự tồn tại của 1.179 loài thực vật bậc cao thuộc 517 chi, 162 họ (trong đó có 45 loài thực vật thuộc sách đỏ Việt Nam và thế giới); về động vật đã ghi nhận được 1.757 loài động vật trong đó có 27 loài thú quý hiếm, 10 loài chim quý hiếm, 15 loài
bò sát quý hiếm, 6 loài lưỡng cư quý hiếm, 6 loài côn trùng quý hiếm và 4 loài
cá quý hiếm KBTTN Xuân Liên còn khoảng 68% diện tích là rừng ẩm nhiệt đới vẫn còn ở tình trạng nguyên sinh hoặc chỉ thay đổi chút ít bởi sự tác động của con người Trong đó có khoảng 70% là rừng trên núi đá vôi, tuy nhiên còn có những vùng rừng thường xanh còn lại trên các đai thấp (Cox 1994) Cho đến nay
đã xác định được trên 2.000 loài thực vật (McNab et al 2000), trong đó có nhiều loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (Anon 1996) như: re hương, bách xanh, sến mật
Xá xị là một loài cây quý, đa tác dụng, hiện được xếp vào loại Rất nguy cấp (CR A1a,c,d) trong Sách đỏ Việt Nam (2007) Mặc dù có giá trị kinh tế và bảo tồn cao, nhưng những nghiên cứu về loài cây này trên thế giới – trong nước còn thiếu, phần lớn các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức mô tả đặc điểm hình thái, định danh loài mà chưa đi sâu nghiên cứu nhiều về đặc tính sinh học, sinh thái học, gây trồng và bảo tồn loài Xá xị do có giá trị kinh tế cao nên hiện nay hoạt động khai thác trái phép loài cây này ở Việt Nam đang trở thành điểm nóng Đặc biệt, vấn đề tái sinh tự nhiên của Xá xị rất kém, số lượng cây ngoài tự nhiên ngày càng giảm nên vấn đề bảo tồn loài này là rất cần thiết Xá xị ở KBT Xuân Liên là loài đặc trưng của hệ sinh thái rừng kín thường xanh chủ yếu là
Trang 9cây lá rộng nhiệt đới, kiểu rừng này phân bố từ độ cao 800m đến 1600m, nhiều nhất ở Bù Ban phía nam Bản Vịn và một diện tích nhỏ phía tây nam bản Vịn, sau đó là khối núi Bù Gió, Bù Tà Leo, có diện tích 1.753,89 ha, chiếm 7,49% tổng diện tích KBT Xá xị cùng một số loài khác như Bách xanh, Sến mật là các loài chiếm ưu thế trong các hệ sinh thái rừng nguyên sinh và kiểu rừng rất ít bị tác động ở KBT đã khẳng định giá trị đa dạng sinh học cao của KBT Xuân liên
và đây cũng chính là những nguồn gen quý giá cần điều tra, nghiên cứu, bảo vệ
và phát triển bền vững Nhằm đánh giá thực trạng bảo tồn và làm cơ sở để đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển thực vật nguy cấp, quý hiếm Cho nên
tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu bảo tồn loài Xá Xị (Cinnamomum parthenoxylon
(Jack) Meisn) tại khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài nghiên cứu
Trang 10Chương 1:
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Xá xị có tên khoa học (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn) thuộc
họ Long não (Lauraceae) Ở Việt Nam, Xá xị là một loài cây gỗ lớn, thường xanh, có phân bố rộng ở nhiều tỉnh trong cả nước và đa tác dụng Trong thân và
lá có tinh dầu, gỗ cây tốt có mùi long não nên được ưu chuộng để đóng các đồ đạc trong nhà có giá trị kinh tế cao như tủ, bàn ghế Sau đây là một số thông tin, kết quả nghiên cứu có liên quan về loài này
1.1 Trên thế giới
1.1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học
Odum E.P (1975) đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó, chu kỳ sống và tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý Ngoài ra, mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, sinh trưởng
có thể định lượng bằng các phương pháp toán học thường được gọi là mô phỏng, phản ảnh các đặc điểm, quy luật tương quan phức tạp trong tự nhiên (trích dẫn theo Nguyễn Hải Tuất, 1982)
Odum E.P (1971), đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái của Tansley A.P, năm 1935 Các sinh vật và hoàn cảnh bên ngoài của chúng luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và ở trạng thái thường xuyên có tác động Từ đó, khái niệm về hệ sinh thái được làm sáng tỏ là
cơ sở nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học
Baur G.N (1964), đã nghiên cứu về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa, tác giả đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Các phương thức xử lý mà tác giả đưa ra đều có 2 mục tiêu rõ rệt:
(i) nhằm cải thiện rừng nguyên sinh vốn thường hỗn loài và không đồng tuổi bằng cách đào thải những cây quá thành thục và cây phi mục đích để tạo không gian dinh dưỡng và ánh sáng hợp lý cho các cây có giá trị sinh trưởng, phát triển
Trang 11(ii) Tạo lập tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái sinh nhân tạo sau khi khai thác, chăm sóc nuôi dưỡng rừng Từ đó, tác giả đã đưa ra nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa
Tái sinh rừng là một giải pháp quan trọng và hiệu quan để phục hồi tài nguyên rừng Trong lâm nghiệp, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu về sinh thái rừng làm cơ sở đề xuất biện pháp tác động hợp lý và xây dựng thành các hệ thống kỹ thuật lâm sinh Một số công trình tiêu biểu như: Rừng mưa nhiệt đới Baur (1974) Trên cơ sở nghiên cứu sinh thái rừng mưa, Geoge N Baur đã tổng kết các biện pháp lâm sinh tác động vào rừng và phân loại các biện pháp theo mục đích nhằm đem lại rừng căn bản đều tuổi, không đều tuổi, các phương pháp
xử lý cải thiện Van Steenis (1956) khi nghiên cứu về rừng mưa đã nhận xét: đặc điểm hỗn loài của rừng mưa nhiệt đới là nguyên nhân dẫn đến đặc điểm tái sinh phân tán liên tục Ông đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đó là tái sinh liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống) Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy cả ở rừng thứ sinh - một đối tượng rừng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới Phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới cũng được quan tâm như: Xác định cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt, cần phải bổ sung bằng cách trồng rừng ở Châu Phi (Taylor, 1965; Bennard, 1955), các biện pháp lâm sinh đề ra là cần thiết để bảo
vệ cây tái sinh sẵn có dưới tán rừng nhiệt đới Châu Á (Budowski, 1956; Bara 1954; Catinot, 1965; Lamprecht, 1989),…
1.1.2 Các nghiên cứu về nhân giống cây trồng
Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng thâm canh Mục đích của cải thiện giống cây rừng là nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác từ rừng Trên thế giới đã có rất nhiều nước đi sâu nghiên cứu về vấn đề này điển hình là các nước: Công Gô, Brazin, Swaziland, Malayxia, Zimbabwe… Ở Công Gô, bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai (Eucalyptus hybrids) có năng suất đạt tới 35 m3/ha/năm ở giai đoạn 7 năm tuổi Tại Brazin, bằng con đường chọn
Trang 12lọc nhân tạo đã chọn được giống Bạch đàn Eucalyptus grandis có năng suất đạt tới 55 m3/ha/năm sau 7 năm trồng (Welker, 1986) Tại Swaziland cũng đã chọn được giống Thông Pinus patula sau 15 năm tuổi đạt năng suất 19 m3/ha/năm (Pandey, 1983) Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống Bạch đàn Eucalyptus grandis đạt từ 35 m3 - 40 m3/ha/năm, giống Bạch đàn E.urophylla đạt trung bình tới 55 m3/ha/năm, có nơi lên tới 70 m3/ha/năm (Campinhos và Ikemori, 1988) Alan Longman đã bỏ ra 20 năm để nghiên cứu về công việc trồng rừng trong đó có việc chọn và cải thiện giống cây rừng nhiệt đới ở châu Phi Ông đã nghiên cứu về các rủi ro ngẫu nhiên, những khó khăn về tổ chức xã hội và những vấn đề về sinh vật cản trở đến công việc trồng rừng Theo ông các rủi ro bất ngờ gồm: cháy rừng, gió bão, lũ lụt, hạn hán… Những khó khăn về tổ chức
xã hội gồm: sự yếu kém về trình độ chuyên môn và sự thiếu kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên Sự đầu tư tài chính của nhà đầu tư (Nhà nước hoặc tư nhân) Điều kiện công nghệ và sự thiếu thông tin Các vấn đề về sinh vật theo ông gồm:
sự thiếu hạt giống tốt và sự nảy mầm của hạt, sự khó khăn trong ra rễ của hom,
sự sinh trưởng không vừa ý và sự không phù hợp với điều kiện lập địa của cây rừng Về chọn và cải thiện giống ông tập trung chủ yếu vào các nghiên cứu về sản xuất giống và gây trồng bằng phương pháp hom và nuôi cấy mô Theo ông, 80% cây rừng nhiệt đới có thể tạo giống từ hom và sử dụng phương pháp này là thích hợp nhất đối với các nước nghèo có điều kiện khoa học công nghệ chưa phát triển ứng dụng, các kết quả nghiên cứu của ông tại Wanariset Station tỉnh Kalimatan Indonesia người ta đã thiết lập một hệ thống các biện pháp kỹ thuật từ khâu chọn giống, sản xuất cây con bằng phương pháp giâm hom, tạo nấm cộng sinh cho cây con trong vườm ươm và các biện pháp kỹ thuật gây trồng (trồng rừng, cải tạo rừng, làm giàu rừng) cho hàng chục loài cây họ Dầu và một số loài cây quý khác tại địa phương Theo Eldridge K (1993) các chương trình chọn giống đã bắt đầu ở nhiều nước từ nửa đầu của thế kỷ trước Ở Brazil năm 1952;
ở Mỹ năm 1966; ở Úc năm 1970 và 1973 đã công bố một số công trình nghiên cứu về chọn cây trội và xây dựng vườn giống cho các loài E.maculata; E.robusta; E.regnans; E.grandis Tương tự 150 cây trội đã được chọn ở rừng tự
Trang 13nhiên cho loài E.diversicolor ở Úc và loài E.deglupta ở Papua New Guinea Những công trình nghiên cứu chọn lọc và tạo giống gây trồng mới đã mang lại hiệu quả mang tính đột phá tới việc tăng năng xuất rừng trồng, cao gấp 2 - 3 lần trước đây Ở Brazil có những khu rừng có năng xuất từ 70 - 80 m3/ha/năm Tại Công Gô, Pháp, Ý cũng có các lâm phần đạt 40 - 50 m3/ha/năm Kết quả nhiều nông dân đã chuyển đổi hàng ngàn ha đất canh tác nông nghiệp để trồng rừng Tại Thái Lan nhờ công tác chọn giống mà rừng Tếch cũng đạt sản lượng khá cao
15 - 20 m3/ha/năm
1.1.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng
Ở vùng nhiệt đới, kỹ thuật lâm sinh được nghiên cứu một cách có hệ thống ra đời muộn hơn nhiều so với các nước ôn đối Vào nửa đầu thế kỷ XX, một loạt các công trình nghiên cứu về rừng nhiệt đới được công bố Những công trình có tính kinh điển cho nghiên cứu rừng nhiệt đới phải kể đến A.Chevalier (1918, 1919, 1924, 1931, 1953), J.Van Steenis (1935, 1950, 1956, 1958), H.G Champion (1936,1939), A.Aubreville (1949, 1951, 1957, 1959), P.W.Richards (1952), G.Baur (1964) Trong số các công trình đó, liên quan tới kỹ thuật lâm sinh đáng chú ý hơn cả là tác phẩm “Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa” của G.Baur (1964) Tại công trình này G.Baur đã hệ thống lại toàn bộ lịch sử các tác động xử lý lâm sinh đã và đang áp dụng trong các nược nhiệt đới trên thế giới, từ những xử lý lâm sinh buổi ban đầu mới hình thành cho tới những xử lý có tính toán và được quản lý một cách bài bản hơn Ở khu vực Đông Nam Á, đến năm 1990 trên 14 quốc gia đã trồng 25 triệu ha rừng với 63 loài cây bản địa được lựa chọn Tại Malaysia, năm 1999 đã giới thiệu cách xây dựng mô hình rừng trồng bền vững trên ba đối tượng rừng: rừng tự nhiên, rừng Acacia mangium 2 - 3 tuổi, và 10 - 15 tuổi, đã sử dụng tới 23 loài cây có giá trị kinh tế Tại Wanariset Station tỉnh Kalimantan Indonesia đã tiến hành làm giàu rừng trên nền rừng thứ sinh nghèo và cải tạo rừng không còn khả năng phục hồi bằng cách trồng Albegia faltacaria làm cây che phủ và cải tạo đất sau đó trồng một số loài cây họ Dầu Các mô hình nghiên cứu này đã khẳng định việc sử dụng cây bản địa trong phục hồi rừng là một hướng đi đúng và chắc chắn thành
Trang 14công Trong khuôn khổ dự án AKECOP thực hiện ở các nước Đông Nam Á: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippine, Lào, Việt Nam… đã tập trung nghiên cứu phục hồi các hệ sinh thái rừng thoái hoá bằng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh và hệ thống nông lâm kết hợp Tại Philippine, người ta đã trồng rừng thành công bằng cây Dái ngựa trên nền đất rừng Dừa, đất trồng Dứa và đất trồng Hồ tiêu Các thí nghiệm đều cho kết quả tốt Cây Dái ngựa sinh trưởng tốt còn các cây trồng như Dứa, Dừa, Hồ tiêu đều cho năng suất cao hơn Theo Julian Evans (1992) phần lớn rừng nhiệt đới được trồng độc canh, thuần loài với diện tích rất lớn, lý do chủ yếu là kỹ thuật đơn giản Có ba chi chủ yếu (Eucalytpus, Pinus, Tectona) chiếm 85% tổng số rừng trồng nhiệt đới vào năm 1980 Khi nghiên cứu về năng suất tác giả kết luận: có 4 nhân tố dẫn đến thay đổi về năng suất giữa các luân kỳ (thay đổi khí hậu; khác nhau về gen; thay đổi lập địa do thực hiện rừng trồng; khác nhau về kỹ thuật lâm sinh và sinh học)
Trang 151.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học
Phùng Văn Phê (2012) có đề cập đến đặc điểm sinh học của cây Xá xị
(Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn) cho thấy: Xá xị là một trong số 44 loài thuộc chi Re (Cinnamomum), họ Long não - Lauraceae ở Việt Nam Xá xị
là cây gỗ lớn, thường xanh, cao đến 30 m, đường kính thân 70 - 100 cm, cành nhẵn, màu hơi đen khi khô Lá đơn mọc cách, hình trứng trái xoan hoặc trái xoan, dài 5 - 15 cm, rộng 2,5 - 8 cm, gân bên 4 - 7 đôi, nách gân chính và gân bên thường có tuyến mờ, cuống lá dài 1 - 3,5 cm, nhẵn Cụm hoa chuỳ ở nách lá gần đầu cành, dài 6 - 12 cm, phủ lông màu nâu; cuống hoa dài 1 - 3 mm, phủ lông; bao hoa 6 thùy, dài 1,5 - 2 mm, thuôn Quả hình cầu, đường kính 8 - 11
mm, đính trên ống bao hoa hình chén Mùa hoa tháng 3 - 7, quả chín tháng 10 -
11 Xá xị là cây đa tác dụng và có phân bố rộng ở một số tỉnh phía Bắc và Trung
bộ Việt Nam như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế,
Đà Nẵng, Lâm Đồng Ngoài giá trị cho gỗ dùng trong xây dựng, làm tà vẹt và đóng đồ, các bộ phận của cây còn được chưng cất tinh dầu dùng làm thuốc xoa bóp, chữa thấp khớp, đau nhức và được sử dụng rộng rãi trong công nghệ hoá
mỹ phẩm, thực phẩm, dược phẩm Tinh dầu chứa trong hầu hết các bộ phận của cây Song người ta thường khai thác gỗ thân và rễ làm nguyên liệu chưng cất tinh dầu Tình trạng khai thác bừa bãi gỗ và rễ Xá xị để cất tinh dầu ở khắp các địa phương trong cả nước làm loài cây này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Đoàn Đình Tam (2008) khi nghiên cứu đặc điểm lâm học của cây Chò chỉ tại vườn quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ cho thấy: tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, Chò chỉ phân bố trên đất Feralit đỏ và đỏ nâu phát triển trên đá vôi, tầng đất dày, hơi chua, độ bão hòa bazơ thấp Phân bố theo cụm hoặc đám, chủ yếu ở các vùng ẩm ướt trên các sườn đồi và đỉnh đồi đất hoặc các thung đá lẫn đất, chúng thường mọc cùng các loài gỗ khác như Trâm, Dẻ, Sấu, Kháo, tạo nên kiểu rừng có nhiều tầng thứ Chò chỉ có mức độ tái sinh tự nhiên thấp, tái sinh
có dạng phân bố cụm, đám, số cây tái sinh thấp và chất lượng cây tái sinh trung
Trang 16bình Nguyễn Bá Văn (2007) khi nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Sâng tại Vườn quốc gia Cúc Phương - Ninh Bình cho thấy: Sâng là loài cây gỗ lớn sống lâu năm trong rừng tự nhiên, cao từ 10 - 35 m, đường kính có thể đạt từ
10 100 cm, gỗ có màu hồng nhạt, vỏ màu nâu, cành non phủ lông màu nâu vàng;
lá kép lông chim 1 lần, mọc cách, lá chét mọc gần đối từ 5 - 10 đôi, chiều dài phiến lá từ 20 - 40 cm, chiều rộng từ 4,5 - 5,5 cm; hoa tự hình viên chùy, quả hình khối bầu dục hơi dẹt, chiều rộng quả từ 2,2 - 2,4 cm, chiều dài từ 3,2 - 3,6
cm khi quả non màu xanh nhạt còn khi chín màu nâu thẫm Một số loài thường mọc cùng Sâng như: Nhò vàng, Vàng anh, Cà lồ, Quếch, Sấu Tái sinh tự nhiên dưới tán cây mẹ, ngoài tán số lượng cây tái sinh giảm dần Lê Quốc Huy, Hà Thị Mừng (2009) khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý, sinh thái cây Dẻ đỏ, Kháo vàng, Giáng hương đã cho thấy: Kháo vàng, Dẻ đỏ phân bố nhiều ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và phía Nam, mọc ở những nơi có độ cao tuyệt đối 200 - 500
m, độ dốc 10 - 25o, lượng mưa 1292 - 2749 mm/năm, nhiệt độ trung bình năm 21,2 - 23,4oC Giáng hương phân bố chủ yếu ở các tỉnh Tây Nguyên và Nam
Bộ, nơi có nhiệt độ bình quân năm 21,9 - 26,9oC Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu từ những năm 1960 Các kết quả nghiên cứu về tái sinh mới chỉ đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học hoặc công bố trên các tạp chí Lâm nghiệp Nổi bật có công trình của Thái Văn Trừng (1963, 1978) về “Thảm thực vật rừng Việt Nam” Ông đã nhấn mạnh: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh và thứ sinh Vũ Đình Huề (1975) kết luận: tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam có đặc điểm của rừng nhiệt đới Trong rừng nguyên sinh tổ thành cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ, ở rừng thứ sinh tồn tại nhiều cây gỗ mềm, kém giá trị Hiện tượng tái sinh theo đám tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng Từ kết quả
đó, tác giả xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tái sinh tự nhiên áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng ở miền Bắc nước ta Trần Xuân Thiệp (1995) khi nghiên cứu vai trò của tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng thuộc miền Bắc cho thấy: Ở vùng Tây Bắc, dù vùng thấp hay vùng cao thì tái sinh tự nhiên vẫn khá
Trang 17tốt về số lượng cây từ 500 - 8.000 cây/ha Rừng Tây Bắc thể hiện rõ các mặt ảnh hưởng đến chất lượng tái sinh nghèo về trữ lượng, diễn thế ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ là chủ yếu, nhóm loài cây rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ Vùng Trung tâm, tác giả cho biết sự nghèo kiệt nhanh chóng của rừng đưa đến số lượng và chất lượng tái sinh tự nhiên thấp Vùng Đông Bắc, số lượng cây tái sinh trong rừng tự nhiên biến động bình quân từ 8.000 - 12.000 cây/ha và so với các vùng khác thì vùng này có khả năng tái sinh tự nhiên tốt nhất Hoàng Văn Tuấn (2007) khi nghiên cứu về đặc điểm tái sinh và động thái tái sinh của hệ sinh thái rừng rộng
lá thường xanh vùng Tây Bắc đã chỉ ra rằng: Có một sự tích lũy số loài ở các lớp cây có kích thước lớn hơn so với các lớp cây dưới đó Thực tế này phản ánh kết quả của sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng của các loài cây tái sinh và tùy vào kích thước của lỗ trống được tạo ra trong tán rừng làm tiền đề cho quá trình tái sinh
1.2.2 Các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng
Kỹ thuật lâm sinh là kỹ thuật tạo rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng và khai thác rừng: là việc ứng dụng sinh thái rừng trong tái sinh phục hồi rừng, đề xuất các biện pháp tác động vào rừng nhằm duy trì và phát triển một cách bền vững những lợi ích của rừng, đáp ứng được các mục tiêu kinh tế - xã hội và môi trường Kỹ thuật lâm sinh có liên quan tới quá trình hình thành rừng và chất lượng của thảm thực vật rừng Điều này chỉ có thể đạt được ở nơi còn có rừng che phủ hoặc ít nhất còn có những điều kiện để tạo được rừng mới Kết quả đánh giá sinh trưởng của Giổi xanh và Re gừng trên các mô hình rừng trồng (Nguyễn Đức Kiên, Ngô Văn Chính, 2008) cho thấy Giổi xanh và Re gừng là loài cây sinh trưởng tương đối nhanh và chưa có sự sai khác về sinh trưởng giữa các phương thức trồng thuần loài và hỗn loài Khi so sánh sinh trưởng của Giổi xanh
và Re gừng ở băng chặt/băng chừa theo tỷ lệ 20m/20m tốt hơn ở băng 10m/10m Phạm Đình Tam (1996 - 2000) nghiên cứu kỹ thuật gây trồng Trám trắng làm nguyên liệu gỗ dán Đề tài đã thiết lập các mô hình trồng thuần loài, trồng hỗn giao với cây Lim xẹt, trồng dưới tán rừng thứ sinh phục hồi Sau 10 năm theo
Trang 18dõi cây sinh trưởng kém, cây trồng dưới tán rừng hầu như không tồn tại Trong chương trình 327, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai đã sử dụng Trám trắng, Re gừng, Dẻ đỏ, Sồi phảng, Lim xanh, Lát hoa, Đinh vàng để xây dựng các mô hình thực nghiệm và thu được các kết quả khả quan Ngoại trừ các loài Lát hoa, Đinh vàng sinh trưởng kém do không thích hợp với thổ nhưỡng còn lại các loài khác đều sinh trưởng tốt, có thể bổ sung vào cơ cấu cây trồng rừng ở các vùng các địa phương có điều kiện lập địa tương tự Phan Minh Sáng (2015) nghiên cứu kỹ thuật trồng cây gỗ lớn nhập nội Giổi bắc và Lát Mexico cho thấy: Giổi Bắc và Lát Mexico là hai loài cây gỗ lớn sinh trưởng tốt ở nước
ta, có thể trồng thuần loài hoặc hỗn giao với các loài cây có tốc độ sinh trưởng ngang bằng với hai loài cây này Mặc dù vậy cả hai loài đều đòi hỏi lập địa còn tốt, đất còn tính chất đất rừng Ngoài ra Lát Mexico sinh trưởng không tốt trên đất chua Đến hết năm 2010, các biện pháp kỹ thuật trồng rừng Lát Mexico và Giổi bắc đã thử nghiệm như mật độ, bón phân, công thức hỗn giao vẫn chưa có ảnh hưởng rõ ràng đến cây trồng thí nghiệm giữa các công thức khác nhau Các xuất xứ Giổi Bắc và Lát Mexico đã thử nghiệm bởi đề tài đều sinh trưởng và phát triển tốt ở các khu vực thử nghiệm Lát Mexico ở rừng trồng thường bị sâu hại mạnh, vì vậy để đảm bảo thành công cho rừng trồng loài cây này, cần thiết phải nghiên cứu sâu hại bài bản hơn và xây dựng qui trình quản lý sâu hại chuẩn cho loài
1.2.3 Một số nghiên cứu về các loài thuộc chi Cinnamomun
* Về đặc điểm sinh học: Nguyễn Hoàng Nghĩa (1999) khi nghiên cứu một
số loài bị đe dọa ở Việt Nam, trong đó có loài Vù hương và đã mô tả đặc điểm sinh học cây Vù hương: Vù hương là loài cây gỗ lớn thường xanh, cao tới 30 m, đường kính thân có khi vượt quá 100 cm, ra hoa vào tháng 1 - 5 và quả chín vào tháng 7 - 8 và tái sinh bằng hạt Vù hương có phân bố hẹp ở một vài vùng ở phía Bắc và hiện chỉ còn gặp ở Ba Vì (Hà Tây) và Cúc Phương (Ninh Bình), cây mọc trong rừng nhiệt đới thường xanh, trên núi đất hoặc trên núi đá vôi, ở độ cao giữa 100 - 600 m, thường mọc trên đất thoát nước, nhiều mùn cùng với một số
loài cây khác như Re hương (Cinnamomum parthenoxylon), Bứa (Garcinia sp.),
Trang 19Sấu (Dracontomelum duperreanum) Lê Thị Thanh Hương (2013) khi nghiên
cứu giá trị làm thuốc của loài Vù hương tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên cho thấy: thành phần chính trong tinh dầu Vù hương gồm safrol hàm lượng rất cao (75 - 80%), ngoài ra còn có B-pinen, eugenol, aldehyt cinamic Vù hương có trong bài thuốc chữa ho gà, kiết lỵ, cầm máu, giảm đau, chữa phong thấp, đau dạ dày, mẩn ngứa ngoài da
* Về nhân giống: Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Văn Thọ (2005) khi nghiên cứu nhân giống giâm hom Vù hương phục vụ bảo tồn nguồn gen cây rừng đã cho thấy: Cây Vù hương nhân giống bằng hom khá tốt (ngay cả với cây lớn tuổi - 15 tuổi) và có khả năng ra rễ ngay cả khi không có thuốc kích thích, mặc dù tỷ lệ ra rễ chỉ đạt 40% Thuốc kích thích ra rễ sau khi xử lý đã làm tăng đáng kể tỷ lệ ra rễ của hom Vù hương lên đến 1,5 - 2,0 lần; trong đó thuốc IAA nồng độ 0,5 - 1,5% cho tỷ lệ ra rễ đạt từ 70 - 80%, ABT1 có nồng độ 1 - 2% đạt
60 - 80% (gấp 2 lần so với đối chứng) Chất kích thích đều cho ra bộ rễ tốt hơn
so với đối chứng về số lượng rễ trên hom giâm Hà Văn Tiệp (2015) khi nghiên cứu nhân giống hom cây Vù hương cho thấy: Giâm hom Vù hương vào mùa khô
từ tháng 9 - 12 cho tỷ lệ ra rễ cao hơn giâm hom mùa mưa từ tháng 5 - 8 hàng năm Tỷ lệ ra rễ cao nhất vào mùa khô, đối với thuốc IAA nồng độ 1,5% là 63,3%, thuốc ABT1 nồng độ 1,5% là 78,9% Đối với mùa mưa tỷ lệ ra rễ cao nhất là 54% đối với thuốc IAA nồng độ 1% và 69% đối với thuốc ABT1 nồng
độ 1,5% Hiện tại, tình hình nghiên cứu nhân giống giâm hom cây Vù hương trong nước còn rất ít, thời gian nghiên cứu thí nghiệm đã lâu Kết quả nghiên cứu cho thấy: khi giâm hom cây Vù hương không sử dụng thuốc kích thích thì hom vẫn có khả năng ra rễ nhưng tỷ lệ thấp, còn khi sử dụng thuốc kích thích tỷ
lệ ra rễ cao hơn và chất lượng bộ rễ tốt hơn so với không sử dụng thuốc kích thích
* Về kỹ thuật gây trồng: Hà Văn Tiệp (2009) khi nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật gây trồng loài Vù hương nhằm phục hồi các trạng thái rừng nghèo kiệt tại Tây Bắc đã chỉ ra: Trạng thái rừng trồng đã ảnh hưởng đến sinh trưởng đường kính và chiều cao của cây Vù hương Trạng thái rừng phục hồi sau khai
Trang 20thác có ảnh hưởng trội hơn đến sinh trưởng của cây so với trạng thái rừng phục hồi sau canh tác nương rẫy cây đạt chiều cao trung bình Hvn = 64,27 cm, Do = 0,83 cm Vù hương có tác dụng phục hồi rừng nghèo kiệt, đặc biệt là các trạng thái rừng Ib, Ic và IIa Đề tài cũng xây dựng được 10 ha mô hình phục hồi rừng nghèo kiệt bằng Vù hương tại Sơn La và Hòa Bình
* Về bảo tồn: Phùng Văn Phê (Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thực vật bị đe dọa tuyệt chủng tại khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò, Hòa Bình, 2013) đã đề cập đến hiện trạng và đề xuất biện pháp bảo tồn có tính cấp thiết đối với loài Vù hương tại Hòa Bình Lê Phương Triều (2012) khi nghiên cứu bảo tồn một số loài cây quý hiếm tại Vườn quốc gia Cúc Phương đã xây dựng mô hình bảo tồn 10 loài cây gỗ quý hiếm trong đó có mô hình bảo tồn thuần loài cây Vù hương với diện tích 1 ha Đỗ Đình Tiến (2012) khi nghiên cứu về bảo tồn nguồn gen loài Vù hương tại Vườn quốc gia Tam đảo
đã điều tra được 17 cây Vù hương và đã xây dựng mô hình bảo tồn nguyên vị 15 cây Vù hương Nhận xét chung: Trên thế giới tác giả chưa tìm thấy các nghiên cứu về đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng loài Vù hương Thông qua phần tổng quan trên cho thấy: về đặc điểm sinh học của cây Vù hương có 1 công trình điển hình của Nguyễn Hoàng Nghĩa (1999) khi nghiên cứu một số loài cây bị đe dọa ở Việt Nam, thời gian nghiên cứu đã lâu Về nhân giống bằng giâm hom có nhiều công tình nghiên cứu, đa số công trình khi sử dụng thuốc kích thích thì tỷ
lệ ra rễ cao hơn đối chứng Về kỹ thuật gây trồng cây Vù hương còn rất hạn chế Nói tóm lại, Vù hương là một loài cây gỗ quý hiếm có giá trị kinh tế cao, là loài đặc hữu của nước ta đang có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam Các nghiên cứu
về đặc điểm sinh học, kỹ thuật gây trồng cây Vù hương ở trong nước không nhiều, do đó nội dung nghiên cứu của đề tài là rất cần thiết nhằm bổ sung thêm các đặc điểm sinh học, biện pháp kỹ thuật nhân giống và gây trồng để tạo sơ sở khoa học góp phần vào việc đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài cây quí hiếm này
Trang 21Chương 2:
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên được thành lập theo Quyết định số 3029/1999/QĐ-UB ngày 17 tháng 12 năm 1999 của Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh Hoá và vùng đệm được quy hoạch thuộc 5 xã là: Bát Mọt, Yên Nhân, Lương Sơn, Xuân Cẩm và Vạn Xuân
Diện tích vùng đệm khu bảo tồn là: 39.678,6 ha, có 39 thôn bản chủ yếu là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 82,5% dân số trong vùng, đời sống kinh tế nhiều khó khăn và nằm trong diện thuộc 62 huyện nghèo nhất nước, đời sống kinh tế khó khăn, cuộc sống phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng Để giải quyết được sung đột giữa người dân vùng đệm với công tác bảo tồn và phát huy các giá trị đa dạng sinh học, góp phần thực hiện có hiệu quả chính sách bảo vệ rừng bền vững Một trong những giải pháp hữu hiệu và cấp bách nhất hiện nay đó là phát triển đời sống dân sinh kinh tế vùng đệm, ổn định sản xuất cho người dân sống gần rừng và có cuộc sống đang phụ thuộc vào rừng để giảm áp lực do đói nghèo đến tài nguyên rừng của khu bảo tồn
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên xây
dựng Báo cáo chuyên đề “Dân sinh kinh tế- xã hội ” là một nội dung rất
quan trọng, cần thiết phục vụ dự án “Quy hoạch bảo tồn vả phát triển bền vững rừng đặc dụng Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên đến năm 2020”
STT Hạng Mục Lao động Nông lâm
nghiệp
Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp
Bảng 2 1 Thống kê lao động phân theo thành phần kinh tế
(Nguồn số liệu: Chi cục thống kê huyện năm 2011)
Trang 22Diện tích phân theo đơn vị hành chính xã
Bát Mọt
Yên Nhân
Lương Sơn
Xuân Cẩm
Vạn Xuân Tổng diện tích tự
nhiên 66.499,91 20.576,18 19.094,63 8.161,46 4.543,74 14.123,90
1 Đất nông nghiệp 59.244,30 19552,71 17852,56 6959,72 3163,99 11.715,32 1.1 Đất sản xuất NN 2.952,32 562,58 239,37 1.072,78 421,62 655,97 1.2 Đất lâm nghiệp 56.226,21 18981,41 17607,93 5866,99 2734,01 11035,87
Đất rừng sản xuất 19.693,86 6609,74 5359,83 3461,41 1358,51 2904,37 Đất rừng phòng hộ 13.128,75 5496,97 3992,9 1195,58 574 1869,3 Đất rừng đặc dụng 23.406,60 6874,70 8255,2 1210,00 801,5 6265,2
1.4
Đất nuôi trồng thuỷ
2 Đất phi nông nghiệp 3.280,50 360,21 350,17 512,15 1.372,09 685,88
Bảng 2 2 : Biểu diện tích các loại các xã vùng đệm khu BTTN Xuân liên (Nguồn: Chi cục thống kê huyện Thường Xuân năm 2011 và kết quả phúc tra
tháng 11 năm 2012)
Qua số liệu ở bảng trên cho thấy, tổng diện tích tự nhiên 5 xã KBTTN Xuân Liên là 66.499,91 ha được phân thành 3 loại đất chính gồm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng Trong đó, quỹ đất đã đưa vào sử dụng cho mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp rất lớn chiếm 94,0%,quỹ đất chưa sử dụng còn lại chiếm 6,0% tổng diện tích tự nhiên Diện tích quy hoạch vùng đệm là 39.678,6 ha chiếm 55% tổng diện tích tự nhiên, trong giai đoạn tới sẽ bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực
Trang 23Diện tích đất nông nghiệp trong khu vực thấp (2.952,32 ha) chiếm 3,8% tổng diện tích tự nhiên vùng đệm Do đó, cuộc sống của người dân chủ yếu phụ thuộc vảo rừng Để đảm bảo sự phát triển bền vững tài nguyên rừng, các xã và KBTTN Xuân Liên cần có sự kết hợp trong việc phát triển kinh tế xã hội vùng đệm
2.1.2.Sản xuất lâm nghiệp
2.1.2.1.Bộ máy tổ chức quản lý khu bảo tồn
Số lượng cán bộ công nhân viên chức hiện có là 43 người, trong đó công chức 18 người, viên chức 2 người, hợp đồng dài hạn 4 người, lao động hợp đồng ngắn hạn 19 người
- Lực lượng cán bộ công nhân viên có trình độ phân ra như sau:
- Trên đại học 1 người, chiếm 2,3 %
- Đại học 36 người, chiếm 83,7 %
- Cao đẳng và trung cấp 4 người, chiếm 9,3 %
- Sơ cấp 2 người, chiếm 4,7%
2.1.2.2.Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp vùng đệm
Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp được phân theo 3 loại rừng vùng đệm KBTTN Xuân Liên tính đến 01/01/2012 được thể hiện tại bảng sau:
Rừng thuộc vùng đệm KBTTN Xuân Liên gồm rừng phòng hộ, rừng sản xuất và đất khác nằm trong đất lâm nghiệp Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp vùng đệm được thể hiện tại bảng sau:
có rừng
Tổng Đất có
rừng
Đất chưa
có rừng
Xã 36.398,10 13.713,45 13.125,75 587,7 22.684,65 19.693,86 2.990,8 Bát Mọt 12.106,80 5.848,07 5.496,97 351,1 7.030,04 6.609,74 420,3 Lương
Sơn 4.656,90 1.195,58 1.195,58 3.921,31 3.461,41 459,9 Vạn Xuân 4.767,40 2.041,60 1.866,30 175,3 3.976,26 2.904,37 1.071,9 Xuân Cẩm 1.883,00 621,00 574,00 47 1.751,01 1.358,51 392,5 Yên Nhân 9.337,00 4.007,30 3.992,90 14,4 6.006,03 5.359,83 646,2
Bảng 2 3: Hiện trạng rừng và đất chưa có rừng phân theo 3 loại rừng
(Đơn vị: ha)
Trang 24- Rừng phòng hộ: Diện tích 13.912,2 ha, chiếm 38,1% diện tích đất lâm nghiệp, phân bố hầu khắp các xã Trong đó:
+ Đất có rừng: Diện tích 13.125,75 ha, chiếm 95,7% tổng diện tích rừng phòng hộ, giá trị và chất lượng của rừng tự nhiên thấp Tại các xã, các Ban quản
lý rừng phòng hộ cần có các giải pháp nâng cao chất lượng rừng để đáp ứng được chức năng phòng hộ nhất là với diện tích rừng tre nứa thuần loài
+ Đất chưa có rừng: Diện tích 587,7 ha, chiếm 4,3% tổng diện tích rừng phòng hộ Đây là đối tượng sẽ đưa vào trồng rừng và khoanh nuôi phục hồi rừng trong thời gian tới
- Rừng sản xuất: Diện tích 22.684.65 ha, chiếm 62,3 % diện tích đất lâm nghiệp Phân bố đều trên địa bàn các xã Trong đó:
+ Đất có rừng: Diện tích 19.693,86 ha (Rừng tự nhiên 18.392,7 ha, rừng trồng các loại 1.301,16 ha) Trữ lượng và giá trị kinh tế của rừng chưa cao, khả năng cung cấp lâm sản hạn chế
+ Đất chưa có rừng: diện tích 2.990,8 ha, tập trung nhiều nhất tại Yên Nhân (646,2 ha), Vạn Xuân (1.071,9 ha, Lương Sơn (459,9 ha) ) Đây là đối tượng cần có các giải pháp thích hợp như: Trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp… để loại đất này được sử dụng
Trang 25khó khăn Lực lượng bảo vệ rừng còn mỏng, trang bị phương tiện thiếu thốn Tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn còn xảy ra, một số gia đình tự ý khai thác lâm sản, phát rừng để trồng cây lương thực, cây công nghiệp không theo quy hoạch đất đai chung của địa phương
Trồng rừng
Công tác trồng rừng trên địa bàn được thực hiện nhiều năm nay.Những năm gần đây được sự đầu tư của các dự án 327, dự án 661, dự án trồng rừng sản xuất , diện tích rừng trồng được nâng lên rõ rệt Đến nay, toàn vùng đã có 1.042,34 ha rừng trồng, gồm các loài cây Keo, Mỡ, Luồng
Nhìn chung chất lượng rừng trồng còn thấp, trữ lượng không cao, một số diện tích chưa đảm bảo mật độ, cơ cấu loài cây chưa đáp ứng mục tiêu phục hồi sinh thái ở vùng đệm Đối với rừng sản xuất, hiệu quả kinh tế từ rừng chưa cao chính sách đầu tư vốn, giải quyết đầu ra chưa hấp dẫn người trồng rừng
- Giao đất giao rừng
Công tác giao đất giao rừng theo nghị định 02/CP được tiến hành nhiều năm nay, theo số liệu thống kê hiện tại trên địa bàn đã giao được 18.093 ha cho các hộ gia đình còn lại là các tổ chức khác như BQL rừng phòng hộ, Lực lượng
vũ trang, UBND các xã trong vùng đệm Phần lớn diện tích đất đã có chủ do vậy rừng được bảo vệ, khoanh nuôi, trồng rừng ,xây dựng trang trại ngày một nhiều hơn Tuy nhiên, công tác giao đất giao rừng tồn tại một số bất cập, ranh giới giao đất không rõ ràng, vẫn còn tranh chấp đất đai, sử dụng không đúng quy hoạch, đúng mục đích trên đất được giao
Khai thác và chế biến lâm sản
+ Hiện nay diện tích rừng khai thác chủ yếu là rừng trồng, hàng năm khai thác trong khu vực khoảng 1.000m3, 30.000 ster củi, 32.000 cây Luồng, 100.000 cây tre nứa khác
+ Chế biến: Trên địa bàn hiện có 4 cơ sở chế biến lâm sản tại các xã Lương Sơn, Bát Mọt, Vạn Xuân ngoài ra còn một số tổ mộc tại gia Nguyên liệu gỗ tròn Sản phẩm gồm gỗ xẻ, ván sàn, cốt pha, đồ mộc gia dung
Trang 262.1.3.Các nghành kinh tế khác
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gần như chưa phát triển, hiện tại mới chỉ có một số cơ sở hoạt động xay sát nhỏ phục vụ tại chỗ cho nhân dân địa phương
Về hoạt động thương mại dịch chưa phát triển, do giao thông đi lại khó khăn, các thôn vùng vùng đệm đều cách xa trung tâm chợ Khu vực công trình Cửa Đạt bắt đầu có chiều hướng phát triển Tương lai khu vực tuyến Yên Nhân, Bát Mọt với tỉnh lộ 507 và mở cửa khẩu Khẹo (Bát Mọt)- Tha Lấu (Hủa Phăn- Lào) sẽ là cơ hội để phát triển loại hình dịch vụ Loại hình dịch vụ là một vấn đề cần được phát huy trong chiến lược phát triển sắp tới
2.2.Hiện trạng xã hội
Theo nguồn Niên giám thống kê năm 2011 trong khu vực điều tra , số trạm y tế là 05 trạm tại Yên Nhân, Lương Sơn, Xuân Cẩm, Vạn Xuân; trạm y tế Cửa đạt và 01 Phân viện tại xã vùng cao Bát Mọt; số y, bác sĩ là 29 người; số giường bệnh là 30 giường Công tác truyền thông dân số, giáo dục sức khỏe, tiêm chủng được đều đặn Do đó , các chỉ số về tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 8.71
% ,tỷ lệ người mắc các bệnh khu vực như sốt rét, bướu cổ còn rất thấp Tuy vậy, y tế cơ sở vẫn còn những khó khăn nhất định Đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu, nhiều trạm xá bị xuống cấp, trang bị y tế, thuốc men, giường bệnh chưa đáp ứng khám và điều trị
Theo nguồn Niên giám thống kê năm 2011 huyện Thường Xuân, có 87 phòng học bậc mầm non, số học sinh là 1.666 em, số giáo viên là 127, khối tiểu học là 155 phòng, 2.209 HS, 207 giáo viên, bậc trung học cơ sở có 78 phòng học, 1.626 HS, 163 giáo viên, Trong đó có 189 phòng học kiên cố và 131 phòng học bán kiên cố Số học sinh chưa được đến trường, còn mù chữ là 174 người, chủ yếu tập trung ở các thôn vùng sâu vùng xa, đường xá đi lại khó khăn, nghèo đói như thôn Đục, Vịn trong những năm qua được các cấp chính quyền quan tâm nên cơ sở vật chất của nghành giáo dục đã được quan tâm, xong trong những năm tới cần được đầu tư nâng cấp và làm mới thêm số phòng học kiên cố đảm bảo cho chất lượng dạy và học cho giáo viên và con em trong khu vực
Trang 27Đội ngũ giáo viên bậc tiểu học hầu hết được đào tạo chính quy, có trình
độ chuyên môn, tuy nhiên vẫn còn thiếu so với yêu cầu thực tế Số giáo viên bậc mầm mon chủ yếu được lấy ở các thôn lên, chưa qua đào tạo chính quy, mới chỉ qua các lớp đào tạo ngắn hạn hoặc chưa qua đào tạo
2.2.1.Đánh giá về điều kiện kinh tế, xã hội
* Thuận lợi:
Vùng đệm của khu bảo tồn Xuân Liên có lực lượng lao động dồi dào, có thể thu hút họ tham gia thực hiện các chương trình quản lý, bảo vệ, phát triển rừng của Nhà nước, các dự án bảo tồn và phát triển của khu bảo tồn
Kinh tế xã hội thuộc vùng đệm khu bảo tồn Xuân Liên thuộc địa bàn 5 xã của huyện Thường Xuân đang có bước phát triển mới, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch, định hướng các ngành kinh tế nhất là Lâm, Nông nghiệp, dịch vụ đang phát triển mạnh; đời sống vật chất, tinh thần từng bước được nâng lên; bộ mặt Nông thôn miền núi ngày một đổi thay, cơ sở hạ tầng được đầu tư đưa vào
sử dụng Về cơ bản đồng bào các dân tộc đã định canh định cư, phát huy tiềm năng của từng vùng để phát triển kinh tế
Công tác giao đất lâm nghiệp trên địa bàn vùng đệm kịp thời và đồng bộ, rừng đã có chủ thực sự Công tác bảo vệ rừng theo hướng xã hội hóa đi vào nề nếp và phát huy hiệu quả, phong trào trồng rừng và bảo vệ rừng phát triển mạnh trong nhân dân
Trong những năm qua thông qua các chương trình dự án, xác định được tập đoàn cây lâm nghiệp phù hợp cho địa bàn đem lại hiệu quả cao đã thực sự khẳng định kỹ thuật kinh nghiệm trồng và chăm sóc trên những điều kiện lập địa khác nhau Các loài cây nông nghiệp hàng năm như:Mía, Ngô, Sắn có giá cả và thị trường tiêu thụ tương đối thuận lợi đem lại hiệu quả kinh tế cao góp phần xoá đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Thường xuân nói chung và 5 xã vùng đệm nói riêng
* Khó khăn:
- Tình hình sản xuất và đời sống:
Trang 28+ Về thực trạng sản xuất tại khu vực này vẫn theo lối truyền thống là chính Khoa học kỹ thuật, công tác khuyến nông, khuyến lâm còn hạn chế, chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên nên năng xuất cây trồng thấp Hàng hoá sản xuất ra chất chưa cao Hoạt động tín dụng ngân hàng chưa đến với các thôn nằm trong vùng lõi của vườn do không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhu cầu vay vốn của nhân dân còn hạn chế, hiệu quả sử dụng đồng vốn thấp
+ Chăn nuôi nhỏ lẻ và chủ yếu là thả rông vào rừng đặc dụng nên tình hình dịch bệnh chưa được kiểm soát
+ Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển, các cơ sở sản xuất nhỏ, lẻ, phân tán Chưa phát triển chỉ tập trung ở các khu thị trấn, thị tứ
- Thực trạng Văn hoá - Xã hội:
+ Trình độ dân trí thấp, không đồng đều + Sinh hoạt văn hoá tinh thần đơn điệu, các hủ tục mê tín dị đoan còn nặng nề, bản sắc văn hoá dân tộc không được phát huy, nạn tảo hôn xảy ra phổ biến
+ Nước sinh hoạt và nước phục vụ cho sản xuất đã được đầu tư nhưng đã
và đang xuống cấp cần được đầu tư
Mạng lưới dịch vụ thương mại, cửa hàng mua bán của Nhà nước chỉ có ở trung tâm cụm, xã
+ Điều kiện chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cộng đồng tại thôn bản còn rất hạn chế, thiếu thuốc chữa bệnh, cán bộ y tế bản chưa qua đào tạo cơ bản
+ Sinh hoạt văn hoá tinh thần đơn điệu, các hủ tục mê tín dị đoan vẫn còn, bản sắc văn hoá dân tộc không được phát huy, nạn tảo hôn xảy ra phổ biến
2.3.Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên KTXH tới khu bảo tồn
2.3.1.Ảnh hưởng tích cực
Trong những năm gần đâycác xã trong vùng đã và đang được Trung ương
và tỉnh đặc biệt ưu tiên với nhiều chương trình đầu tư như trường trình 135 Đây
là cơ hội và cũng là động lực lớn tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn
Trang 29Tiềm năng đất đai trong vùng còn rất lớn, điều kiện tự nhiên thích hợp cho đa dạng cây trồng, phát triển nền nông nghiệp hàng hóa với các loài cây lương thực, thực phẩm, cây dược liệu, cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày như (Đậu tương, Lạc, Mía…vv) và cây ăn quả các loại (Nhãn, Đu Đủ…vv) Đặc biệt thích hợp cho việc xây dựng mô hình nông – lâm kết hợp và phát triển chăn nuôi đàn gia súc theo mô hình trang trại
- Nguồn nhân lực, chủ yếu là lao động nông nghiệp của vùng khá dồi dào, cùng với tinh thần đoàn kết phấn đấu vượt qua đói nghèo, là yếu tố lợi thế quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của vùng
- Cơ sở hạ tầng được tăng cường, đời sống kinh tế đại bộ phận dân cư được nâng nên rõ rệt, mức hưởng thụ văn hóa tăng nhanh đã góp phần giảm dần
sự cách biệt giữa các xã trong huyện, tạo cho nhân dân trong vùng tin tưởng vào đường lối đổi mới của đảng và nhà nước, an tâm đầu tư sản xuất
2.3.2.Ảnh hưởng tiêu cực
Săn, bẫy động vật hoang dã đang là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến
sự suy giảm quần thể của nhiều loài đồng vật hoang dã KBT đặc biệt là nhóm thú lớn và linh trưởng Săn bắn động vật hoang dã như sử dụng súng, sử dụng chó và bẫy vẫn đang diễn ra, tuy nhiên với quy mô nhỏ và lén lút Mục tiêu chủ yếu của hoạt động săn bẫy buôn bán cho thị trường địa phương đối với các loài động vật thông thường Hơn thế, sức ép săn bắn từ vùng đệm của KBT vẫn rất lớn, trong số các thợ săn đã được phỏng vấn ở tại KBT vẫn có hiện tượng đã và đang dùng súng săn vào KBT săn bắn Thông tin này cho thấy hoạt động săn bắn cũng như nhận thức của người dân vẫn còn chưa cao về việc tuân thủ các quy định của nhà nước về việc bảo vệ thiên nhiên và quy chế quản lý của KBT
Hoạt động khai thác gỗ trái phép đươc đánh giá là một trong những mối
đe dọa lớn nhất đến tài nguyên đa dạng sinh học và các hệ sinh thái rừng của KBT Hiện tại ở các xã thuộc vùng đệm , nhà sàn là kiểu nhà được sử dụng phổ biến nhất với > 60% so với các loại nhà xây kiên cố khác Như vậy, lượng gỗ được sử dụng để làm mới, sửa chữa và duy tu các ngôi nhà hiện tại là một áp lực lớn đến tài nguyên của KBT Hơn thế, hiện tại chưa có bất cứ một ngôi nhà nào
Trang 30KBT có ranh giới tiếp giáp với 5 xã vùng đệm đều có nền kinh tế chủ yếu
từ nông nghiệp và chăn nuôi do đó áp lực chăn thả gia súc gia cầm của các hộ gia đình trong vùng lên KBT là rất lớn
Chăn thả gia súc tự do có thể được xem như là một trong các tác động đang gây ảnh hưởng nhiều đến thực trạng của KBT Hiện tại, việc chăn thả gia súc được ghi nhận chủ yếu ở các khu vực giáp ranh tuy nhiên nếu không có quản
lý tốt chắc chắn việc chăn thả sẽ phát triển và xâm lấn sâu hơn vào các vùng khác của KBT Ở các vùng bị trâu bò chăn thả, sự dẫm đạp của gia súc làm hủy hoại tầng thảm xanh, trong đó có nhiều loài có giá trị bảo tồn, nhiều cây gỗ tái sinh, đồng thời làm tăng khả năng rửa trôi và xói mòn đất
Trang 31Chương3:
MỤC TIÊU ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát:
Cung cấp cơ sở khoa học nhằm bảo tồn và phát triển Loài Xá Xị và bảo
tồn nguồn gen loài thực vật quý hiếm còn tồn tại trong khu BTTN Xuân Liên,
tỉnh Thanh Hóa
- Mục tiêu cụ thể:
+ Xác định được tình hình phân bố tự nhiên của loài Xá Xị tại khu BTTN
Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa
+ Xác định được một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học loài Xá Xị
tại khu vực nghiên cứu
+ Đề xuất được biện pháp bảo tồn cho loài Xá Xị
3.2.Đối tượng nghiên cứu
Loài Xá Xị (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn) tại khu Bảo tồn
thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa
3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng loài Xá xị tại khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh
Hóa
Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái, tái sinh loài Xá Xị tại khu
BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa
Đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển cây Xá Xị tại đây
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp kế thừa số liệu
- Thu thập các tài liệu liên quan đến các loài thực vật nguy cấp quý hiếm
như danh mục các loài trong sách đỏ Việt Nam, Nghị định 06/2019 NĐ C
P CITES, danh mục IUCN 2014…
Trang 32- Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn, đất đai, địa hình, tài nguyên rừng
- Thông tin, tư liệu về điều kiện kinh tế - xã hội: dân số, lao động, thành phần dân tộc, tập quán canh tác
- Những kết quả nghiên cứu, những văn bản liên quan có liên quan đến các loài thực vật quý hiếm và các giải pháp bảo tồn thực vật quý hiếm ở Việt Nam và trên thế giới
Điều tra, khảo sát ngoài thực địa kết hợp thu mẫu vật, mô tả đặc điểm hình thái và tình hình sinh trưởng của loài cây TTH
Phương pháp điều tra thu thập số liệu theo tuyến
- Điều tra theo tuyến vạch sẵn trên bản đồ địa hình, tuyến cần được lựa chọn dựa trên các đường mòn có sẵn để dễ tiếp cận khu vực hơn
- Các tuyến điều tra có chiều dài không giống nhau được xác định đảm bảo đi qua tất cả các trạng thái rừng Tuyến điều tra được đánh dấu trên bản đồ
và đánh dấu trên thực địa bằng sơn hoặc dây nilon có màu dễ nhận biết
- Dùng máy định vị GPS để xác định phân bố của loài trên các tuyến điều tra vào bản đồ thảm thực vật rừng của Khu BTTN Xuân Liên
- Dùng máy ảnh để lưu lại hình ảnh của loài trên tuyến điều tra
Thiết lập các tuyến điều tra:
Căn cứ vào điều kiện thời gian cùng như về nhân lực, vật lực cần thiết phục vụ công tác điều tra, nhằm thực hiện hiệu quả các nội dung của đề tài đề ra nhưng vẫn đảm bảo về mặt thời gian và các điều kiện cần thiết khác Công tác chuẩn bị nội nghiệp đóng góp một phần rất quan trọng, sau khi xem xét tất cả các yếu tố có liên quan như: hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp khu BTTN Xuân Liên, điều kiện địa hình và ý kiến góp ý của lãnh đạo, cán bộ khoa học - kỹ thuật
đã nhiều năm làm công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại khu BTTN Xuân Liên, chúng tôi xác lập các tuyến điều tra sau:
Gồm hai tuyến: Tuyến Hón Can, xã Vạn Xuân, Thường Xuân, Thanh Hóa
và tuyến bản Vịn, xã Bát Mọt, Thường Xuân, Thanh Hóa
Trang 33Tổng số cây Xá xị ở hai tuyến là 17 cây, phân bố rải rác, trong đố điều tra được 14 cây Xá xị ở tuyến Hón Can, Vạn Xuân, Thường Xuân, Thanh Hóa, 3 cây còn lại thuộc tuyến bản Vịn, Bát Mọt, Thường Xuân, Thanh Hóa
Yêu cầu các tuyến điều tra chính phải đại diện đi qua các sinh cảnh để điều tra xác định được loài nghiên cứu theo các nội dung đề ra
Phương pháp điều tra thu thập số liệu trong điều tra lâm học
a/ Điều tra cá thể tầng cây cao
- Lập OTC 500 m2, đánh số thứ các cây trong OTC có cây xá xị
- Điều tra, thu thập tiêu bản đo tính tất cả các cá thể loài thực vật quý hiếmđượctìm thấy có đường kính ngang ngực (D1.3) lớn hơn hoặc bằng 6cm
- Đo D1.3 bằng thước kẹp kính
- Đo chiều cao vút ngọc (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) bằng thước
đo cao Blummleiss
- Đo đường kính tán (Dt) bằng thước dây theo hai chiều Đông Tây - Nam Bắc
Đối với những cây khó tới gần (do địa hình hiểm trở) sử dụng phương pháp mục trắc theo kinh nghiệm từ những cây đã đo.Kết quả điều tra theo tuyến được ghi vào mẫu biểu sau:
Mẫu biểu 01: Biểu điều tra các cây theo tuyến
Ht (m) Độ cao Sinh trưởng Ghi chú
1
2
3
Trang 34
b/ Điều tra, đo đếm cây tái sinh
- Điều tra các loài quý hiếm tái sinh tự nhiên theo tuyến
- Điều tra các loài quý hiếm tái sinh tự nhiên quanh gốc cây mẹ
Thiết lập các ô dạng bản kích thước 9m2 (3m x 3m) quanh gốc cây mẹ theo bốn hướng, 04 ô trong tán, 04 ô ngoài tán
- Xác định 20 ô nhỏ 2x2m dọc theo đường chéo của ô tiêu chuẩn Trong các ô nhỏ cần ghi các thông tin:
+ Số lượng cây mầm và cây con của các loài cây gỗ ở các tầng trên
+ Độ che phủ đất của tầng thực bì
Mẫu biểu 02: Biểu điều tra cây tái sinh tự nhiên theo tuyến
Tuyến số:
Trạng thái rừng:
Người đo đếm: Ngày đo đếm:………
Xác định mật độ cây tái sinh: Mật độ cây (N) được tính theo công thức:
<50 50-100 >100 Hạt Chồi Tốt TB Xấu
1
2
Trang 35- Xác định phân bố N/D1.3, N/Hvn, N/Dt cho tầng cây gỗ
- Độ tàn che của OTC được tính bằng tổng giá trị tàn che đo được chia cho tổng
số điểm đếm được, thông thường là 80 đến 100 điểm cách đều trên OTC
- Xác định công thức tổ thành theo số cây (theo OTC) Trước tiên cần xác định được thành phần các loài cây tham gia vào công thức tổ thành
Các loài chính tham gia có số cây N i ≥ N tb sẽ được viết vào CTTT
+ Tính số lượng cá thể bình quân cho mỗi loài: N tb
N tb = N/m Trong đó N: Tổng số cá thể của tất cả các loài trong OTC
m: Tổng số loài
Chọn những loài có số cây ≥ N tb
+ Xác định hệ số tổ thành: K i
K i = (N i /N).10 Trong đó: N i: Số lượng cá thể của loài thứ i
N: Tổng số cá thể của tất cả các loài trong OTC
Trang 36+ Viết công thức tổ thành:
Tính hệ số tổ thành theo đơn vị 1/10 Trong công thức, thứ tự loài có hệ số Ki
lớn hơn viết trước, tên của các loài được viết tắt và có chú thích
Nếu hệ số tổ thành Ki ≥ 0.5 thì viết dấu (+) Nếu Ki < 0.5 thì viết dấu (-)
Nếu các loài tham gia CTTT có hệ số Ki < 1 thì có thể không viết hệ số tổ thành nhưng có viết dấu (+)
Những loài có số lượng Ni < Ntb sẽ được gộp lại và tính hệ số Ki đặt ở cuối công thức tổ thành và kí hiệu là “Loài khác”
Khi đó, CTTT được viết theo công thức: ∑𝐦 𝐊𝐢𝐗𝐢
Với X i là tên viết tắt của loài i
- Xác định cấu trúc tầng thứ: Được thực hiện dựa vào cách phân chia cấu trúc tầng thứ lâm phần của Thái Văn Trừng (1978) Xác định kết cấu tầng thứ theo Hvn theo 3 mức cao: A1 > 20m, A2 từ 10 - 20m và A3 dưới 10m
- Xác định tần suất cây tái sinh:
L x = S ov / T Sod Trong đó: L x là tần suất xuất hiện của loài kim giao
S ov là số ô dạng bản có loài kim giao xuất hiện