1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tập tính chọn ăn của chà vá chân nâu pygathrix nemaeus linnaeus 1771 tại trung tâm cứu hộ thú linh trưởng cúc phương

42 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Tập Tính Chọn Ăn Của Chà Vá Chân Nâu (Pygathrix Nemaeus Linnaeus, 1771) Tại Trung Tâm Cứu Hộ Thú Linh Trưởng Cúc Phương
Tác giả Ly Thị Coi
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Đắc Mạnh
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản Lý Tài Nguyên Rừng
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (9)
    • 1. Tổng quan các nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của loài Chà vá chân nâu (9)
  • CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU (12)
    • 2.1. Khái quát về Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương (12)
    • 2.2. Vị trí địa lý và điều kiện khí hậu của Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương (13)
      • 2.2.1. Vị trí địa lý (13)
      • 2.2.2. Điều kiện khí hậu của khu vực (13)
  • CHƯƠNG 3. MỤC TIÊU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (15)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (15)
    • 3.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (15)
      • 3.2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
      • 3.2.2. Phạm vi nghiên cứu (15)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (15)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (16)
      • 3.4.1. Đối với nội dung thứ 1 (16)
      • 3.4.2. Đối với nội dung thứ 2 (17)
  • CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ (20)
    • 4.1. Hiện trạng nuôi nhốt Chà vá chân nâu và kỹ thuật cho chúng ăn tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương (20)
      • 4.1.1. Hiện trạng nuôi nhốt Chà vá chân nâu tại trung tâm (20)
      • 4.1.2. Kỹ thuật chăm sóc, cho Chà vá chân nâu ăn tại trung tâm (20)
      • 4.2.1. Thành phần loài thức ăn và các loại thức ăn ƣa thích của Chà vá chân nâu (0)
      • 4.2.2. Khẩu phần ăn của Chà vá chân nâu tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương (24)
    • 4.3. Mô thức chọn ăn của Chà vá chân nâu trong các điều kiện nuôi nhốt tại trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương (26)
      • 4.3.1. Mô thức chọn ăn của cá thể đực trưởng thành là con đầu đàn (27)
      • 4.3.2. Mô thức chọn ăn của cá thể đực trưởng thành khác (28)
      • 4.3.3. Mô thức chọn ăn của cá thể cái trưởng thành (30)
      • 4.3.4. Mô thức chọn ăn của cá thể bán trưởng thành (33)
      • 4.3.5. Mô thức chọn ăn của các cá thể còn nhỏ (35)
      • 4.3.6. Mô thức chọn ăn của cá thể bị thương tật (36)
    • 4.4. Định hướng giải pháp cải tiến kỹ thuật cho ăn và chăm sóc loài Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại trung tâm (38)
    • 1. Kết luận (40)
    • 2. Tồn tại – Khuyến nghị (41)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (42)

Nội dung

ĐẶC ĐIỂM CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Khái quát về Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương

Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương, thuộc Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật VQG Cúc Phương, được thành lập theo quyết định số 2585/QĐ-BNN-TCCB ngày 27 tháng 9 năm 2005 Hiện tại, trung tâm đang chăm sóc hơn 160 cá thể thuộc 15 loài và phân loài thú Linh trưởng quý hiếm của Việt Nam, bao gồm Vọoc đầu trắng Cát Bà, Vọoc mông trắng, Vọoc chà vá và Vượn Trong số đó, Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) là loài có số lượng cá thể nhiều nhất, với nhiều lứa tuổi khác nhau đang được nuôi dưỡng tại trung tâm.

TTCHTLT Cúc Phương có khu nuôi thả bán hoang dã rộng 7 ha, giúp linh trưởng thích nghi với môi trường tự nhiên trước khi thả về nơi phân bố Trước đây, khu vực này từng bị kẻ xấu đột nhập nhằm bắt trộm động vật nhưng không thành công Để bảo vệ khu nuôi thả, nhân viên trung tâm đã lắp đặt hàng rào điện cảm ứng.

TTCHTLT Cúc Phương chuyên chăm sóc và cứu hộ các loài linh trưởng quý hiếm của Việt Nam bị buôn bán trái phép hoặc bị thương Trung tâm còn tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh thái học và thực hiện việc thả chúng về môi trường sống tự nhiên Ngoài ra, TTCHTLT cũng chú trọng đến việc gây giống và nghiên cứu các loài vượn, cu li và voọc của Việt Nam.

Trung tâm Chăm sóc và Bảo tồn động vật hoang dã Cúc Phương, lớn nhất Đông Nam Á, nhận được sự quan tâm mạnh mẽ từ nhiều tổ chức quốc tế, bao gồm Đại sứ quán Anh, Hà Lan, New Zealand cùng các quỹ hỗ trợ từ Mỹ và Đức.

Năm 2019, trung tâm tiếp tục chăm sóc 181 cá thể của 15 loài linh trưởng quý hiếm, đặc hữu của Việt Nam và khu vực Đông Dương

Trong năm, Vườn đã thực hiện công tác cứu hộ thành công 17 cá thể động vật, trong đó có 11 cá thể sinh sản và tái thả 8 cá thể, nhưng cũng ghi nhận 15 cá thể đã chết Cuối tháng 11 năm 2019, Vườn tiếp nhận và cứu hộ 2 cá thể hổ (Panthera tigris) hơn một tuần tuổi bị bỏ rơi bởi những kẻ buôn bán động vật hoang dã.

Nguồn động vật cứu hộ chủ yếu đến từ các cơ quan thi hành pháp luật như VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và Hạt kiểm lâm huyện Phú Lộc (Thừa Thiên Huế), cùng với một số tỉnh thành khác như Quảng Ngãi và Kon Tum Bên cạnh đó, một số cá thể động vật cũng được người dân địa phương tại huyện Tơ tiếp nhận.

Mơ Rông ( Kon Tum),… tự nguyện giao nộp.

Vị trí địa lý và điều kiện khí hậu của Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương

Vườn Quốc Gia Cúc Phương nằm ở tọa độ 12º14' đến 20º24' vĩ bắc và 105º29' đến 105º44' kinh đông, cách Hà Nội khoảng 120km về phía Tây Nam và 60km so với biển Đông Với diện tích 22.200 ha, vườn có chiều dài khoảng 30km và chiều rộng nhất lên tới 10km Cúc Phương trải dài qua ba tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa, trong đó Ninh Bình chiếm 11.350 ha (51,1%), Hòa Bình 5.850 ha (26,4%), và Thanh Hóa 5.000 ha (22,5%).

2.2.2 Điều kiện khí hậu của khu vực

Kết quả quan trắc 15 năm tại trạm khí tượng Bống cho thấy nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 20,6ºC, với mức cao nhất ghi nhận vào năm 1966 là 21,2ºC.

1971, nhiệt độ bình quân năm thấp nhất là 19,9ºC

Chế độ nhiệt ở Cúc Phương bị ảnh hưởng bởi độ cao và thảm thực vật rừng, thể hiện qua số liệu từ ba trạm khí tượng Tại trạm Bống, nằm ở độ cao 350m so với mực nước biển và có thảm thực vật rừng nguyên sinh phong phú, nhiệt độ trung bình năm đạt khoảng 20,6ºC Trạm Đăng, ở độ cao khoảng 200m trong khu vực rừng thứ sinh kém chất lượng hơn, ghi nhận nhiệt độ bình quân năm là 21,8ºC, cao hơn 1,2ºC so với Bống Trong khi đó, trạm Nho Quan, cách trung tâm Vườn 20km và không có rừng, ở độ cao 20m, có nhiệt độ bình quân thấp hơn.

22,7ºC, cao hơn nhiệt độ bình quân ở Bống là 2,1ºC và cao hơn nhiệt độ bình quân của Đăng là 0,9ºC

Lượng mưa bình quân hàng năm tại Cúc Phương dao động từ 1800mm đến 2400mm, với mức trung bình là 2138mm Con số này cho thấy lượng mưa tại đây tương đối lớn so với các khu vực lân cận.

Tháng 9 là tháng có lượng mưa lớn nhất ở Cúc Phương, với mức trung bình đạt 410,9mm, trong khi các tháng 1, 2, 3 và 7 chỉ có lượng mưa dưới 50mm Độ ẩm không khí trung bình hàng năm tại đây đạt 90%, với tháng thấp nhất không dưới 88% Độ ẩm tuyệt đối có sự biến đổi tương tự như nhiệt độ không khí.

VQG Cúc Phương nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng từ gió mùa Đông Bắc vào mùa đông và gió mùa Đông Nam vào mùa hè Vào mùa hè, gió Lào thường thổi mạnh, nhưng do đặc điểm địa hình, gió sẽ thay đổi hướng và giảm tốc độ khi đi sâu vào rừng, thường chỉ đạt khoảng 1-2m/s.

Theo Nguyễn Xuân Quát (1971), đất Cúc Phương gồm 7 loại đấtt chính phân thành 2 nhóm :

Nhóm A: Đất phát triển trên đá vôi hoặc trên sản phẩm chịu ảnh hưởng của nhiều Cacbonat

Nhóm B: Đất phát triển trên đá, không phải là đá vôi hoặc trên sản phẩm ít chịu ảnh hưởng của Cacbonat.

MỤC TIÊU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định sinh khối và chủng loại thức ăn, cũng như lượng tiêu thụ thức ăn hàng ngày của loài Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương là nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo sức khỏe và sự phát triển bền vững của chúng.

(2) Xác định mô thức chọn ăn của từng đối tƣợng Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương

(3) Định hướng giải pháp cải tiến kỹ thuật cho ăn và chăm sóc loài Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là tập tính chọn ăn của các đối tƣợng Chà vá chân nâu trong các điều kiện nuôi nhốt

Các điều kiện nuôi nhốt Chà vá chân nâu bao gồm việc kết hợp nhiều loại cá thể thành đàn trong các chuồng nuôi với các công thức chăm sóc khác nhau Phổ thức ăn của chúng được xác định bởi chủng loại và sinh khối thức ăn tiêu thụ hàng ngày Các đối tượng Chà vá chân nâu được phân loại thành: con đực trưởng thành khỏe mạnh, con cái trưởng thành khỏe mạnh, con bán trưởng thành khỏe mạnh, con nhỏ khỏe mạnh và con bị thương tật Tập tính chọn ăn của chúng được mô tả qua phương thức lấy ăn, vận động khi chọn ăn và cự ly đến cá thể khác.

Nghiên cứu tập tính chọn ăn của Chà vá chân nâu trong các chuồng nuôi nhốt dưới điều kiện thời tiết mùa Xuân (từ 18/02/2020 đến 08/03/2020).

Nội dung nghiên cứu

Để đáp ứng các mục tiêu của đề tài, tôi sẽ tiến hành nghiên cứu các nội dung

Nội dung thứ 1: Điều tra hiện trạng nuôi nhốt Chà vá chân nâu và kỹ thuật cho chúng ăn tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương;

Chà vá chân nâu tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương được đánh giá về mức độ sử dụng thức ăn hằng ngày trong điều kiện nuôi nhốt Việc theo dõi chế độ ăn uống của chúng không chỉ giúp đảm bảo sức khỏe mà còn góp phần vào công tác bảo tồn loài Những dữ liệu thu thập được sẽ hỗ trợ trong việc cải thiện chế độ dinh dưỡng, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho Chà vá chân nâu.

Nội dung thứ 3: Nghiên cứu mô thức chọn ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương.

Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Đối với nội dung thứ 1

Để thu thập thông tin về tình trạng nuôi nhốt Chà vá chân nâu, bước đầu tiên là phỏng vấn cán bộ quản lý trung tâm Các câu hỏi quan trọng cần được đặt ra bao gồm số lượng cá thể Chà vá chân nâu đang được chăm sóc, số lượng chuồng nuôi nhốt, và cấu trúc tình trạng của các cá thể trong từng chuồng, bao gồm giới tính (đực, cái), độ tuổi (trưởng thành, bán trưởng thành, nhỏ), và tình trạng sức khỏe (khỏe mạnh, bị thương).

Để chăm sóc Chà vá chân nâu hiệu quả, cần phỏng vấn nhân viên chăm sóc thú để thu thập thông tin về chế độ ăn của chúng Các câu hỏi quan trọng bao gồm: số lượng loại lá cây được sử dụng làm thức ăn cho Chà vá chân nâu, ba loại lá cây ưa thích nhất của chúng, cách kết hợp và buộc các loại lá cây thành bó nhỏ phù hợp với loài này, và phương pháp đưa bó lá vào chuồng nuôi Ngoài ra, cần tìm hiểu quy trình chăm sóc và vệ sinh chuồng nuôi trước và sau khi cho Chà vá ăn để đảm bảo sức khỏe cho chúng.

(Bước 3) Khảo sát thực tế tại các chuồng nuôi Chà vá chân nâu để kiểm chứng thông tin phỏng vấn và ghi chép theo thực tế

Bước 4 bao gồm việc xác định các đối tượng Chà vá chân nâu, điều kiện nuôi nhốt phù hợp và quy ước mã hiệu cho chuồng nuôi cũng như từng cá thể Chà vá Ngoài ra, cần theo dõi tập tính của chúng để đảm bảo sự phát triển và sức khỏe tốt nhất.

3.4.2 Đối với nội dung thứ 2

Trong quá trình thí nghiệm, chúng tôi trực tiếp tham gia vào việc tuyển chọn thức ăn và cho Chà vá chân nâu ăn Mỗi ngày, loại thức ăn và sinh khối được cung cấp cho chuồng nuôi Chà vá chân nâu được ghi chép cẩn thận theo mẫu biểu đã định sẵn.

Mẫu biểu 01 Chủng loại và sinh khối thức ăn nuôi Chà vá hằng ngày

Ngày/tháng/năm: Điều kiện thời tiết:

Người ghi chép: Nhân viên chăm sóc:

Cấu trúc đàn Chà vá

Sinh khối thức ăn (kg) Đưa vào- C Còn lại-T Sử dụng-L

Thức ăn cho Chà vá chân nâu cần được xác định về chủng loại và sinh khối trước khi đưa vào chuồng nuôi Cuối mỗi ngày, cần thu gom toàn bộ thức ăn dư thừa, bao gồm bó lá và cành lá rơi vãi, và tiến hành cân trọng lượng Lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày của mỗi chuồng nuôi sẽ được tính toán theo công thức cụ thể.

Trong đó: L là lƣợng thức ăn tiêu thụ hằng ngày

C là lƣợng thức ăn đƣa vào

T là lƣợng thức ăn dƣ thừa cuối ngày

Trong 30 phút đầu theo dõi Voọc vá ăn; có thể đánh giá tính ƣu thích của từng loại thức ăn theo thang bậc và tiêu chí nhƣ sau:

Mức độ tiêu thụ sau 30 phút cho ăn (P) Mức ưa thích Ký hiệu

Thang bậc và tiêu chí đánh giá tính chủ lực của từng loại thức ăn nhƣ sau:

Mức độ tiêu thụ trong ngày (P) Mức chủ lực Ký hiệu

3.4.3 Đối với nội dung thứ 3

Trong 60 phút đầu tiên, chúng tôi trực tiếp quan sát hành vi ăn uống của Chà vá chân nâu khi thức ăn được đưa vào chuồng Sử dụng máy ghi hình, chúng tôi lưu lại hình ảnh để phân tích tập tính của từng cá thể Chà vá chân nâu Mô thức chọn ăn của mỗi đối tượng được ghi chép theo mẫu biểu đã định sẵn.

Mẫu biểu 02 Mô thức chọn ăn của Chà vá chân nâu

Mã hiệu chuồng: Người ghi chép: Đối tƣợng Chà vá theo dõi (đực/cái; trưởng thành/bán trưởng thành/con nhỏ; khỏe mạnh/bị thương tật):

Vào ngày/tháng/năm, trong điều kiện thời tiết: , quan sát đối tượng Chà vá bắt đầu từ thời gian: và kết thúc vào thời gian: Thực hiện việc ghi chép thông tin vào mẫu biểu mỗi 5 phút một lần.

Phương thức vận động khi chọn ăn

Cự ly đến cá thể khác (m) Ghi chú

Để lấy thức ăn, phương thức đầu tiên là sử dụng chi trước để kéo các cành mang thức ăn như lá, chồi, và quả về phía mình, sau đó cho trực tiếp vào miệng để ăn.

Cách 2: Dùng miệng để cắn trực tiếp vào bộ phận dùng làm thức ăn; Cách 3:

Khi ăn, Chà vá thường dùng chi để bẻ cành và mang thức ăn về chỗ ngồi trước khi dùng tay cho thức ăn vào miệng Có ba phương thức vận động khi chọn thức ăn: thứ nhất, ngồi im và chọn thức ăn từ bó lá gần nhất; thứ hai, di chuyển liên tục giữa các bó lá để tìm kiếm thức ăn; thứ ba, kết hợp giữa di chuyển và ngồi im Khoảng cách giữa cá thể Chà vá đang theo dõi và cá thể khác gần nhất thường được duy trì.

KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Hiện trạng nuôi nhốt Chà vá chân nâu và kỹ thuật cho chúng ăn tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương

4.1.1 Hiện trạng nuôi nhốt Chà vá chân nâu tại trung tâm

Hiện nay, trung tâm đang chăm sóc 14 cá thể Chà vá chân nâu, chủ yếu được nuôi trong hai chuồng lớn 12A và 11A Bên cạnh đó, còn có hai cá thể khác được nuôi trong chuồng riêng, bao gồm một cá thể đang cách ly và một cá thể non đang được chăm sóc đặc biệt.

Hình 4.1 Kiểu chuồng nuôi và các cá thể Chà vá chân nâu tại Trung tâm

Tình trạng sức khỏe của các cá thể Chà vá chân nâu tại trung tâm cho thấy một cá thể bị thương ở cánh tay trái, trong khi 13 cá thể còn lại đều khỏe mạnh Để nghiên cứu tập tính chọn ăn của loài này một cách hiệu quả, tôi đã quyết định thực hiện thí nghiệm tại chuồng 12A, nơi có đông cá thể Chà vá chân nâu nhất.

4.1.2 Kỹ thuật chăm sóc, cho Chà vá chân nâu ăn tại trung tâm

Thức ăn đóng vai trò quan trọng đối với các loài sống trong môi trường nuôi nhốt, đặc biệt là Chà vá chân nâu tại trung tâm, nơi chúng chủ yếu được cho ăn các loại lá cây đa dạng từ tự nhiên Mặc dù thuộc nhóm Khỉ ăn lá, nhưng thỉnh thoảng, nhân viên chăm sóc cũng bổ sung thêm trái cây hoặc hạt để đảm bảo dinh dưỡng cho chúng.

Để đảm bảo dinh dưỡng và tránh nhàm chán cho Chà vá chân nâu, người nuôi thường kết hợp từ 2-3 loại lá khác nhau thành một bó khi chuẩn bị thức ăn Sau khi bó, một phần lá được cho vào chuồng để cho ăn, trong khi phần còn lại được cắm vào sô nước để giữ tươi, phục vụ cho các bữa ăn tiếp theo trong ngày hoặc cho ngày hôm sau.

Hình 4.3 Công tác chuẩn bị, bó lá và bảo quản lá trước khi cho Chà vá chân nâu ăn

Sau khi chọn lá, quấn dây quanh đầu bó lá hai vòng và thắt nút, để lại đoạn dây dài khoảng 30-35 cm Điều này giúp việc buộc các bó lá lên thành chuồng nuôi và đưa thức ăn vào chuồng trở nên dễ dàng hơn.

Hình 4.4 Bố trí khoảng cách giữa bó lá trong chuồng và buộc các bó lá lên thành chuồng

Chà vá chân nâu là loài chim năng động, di chuyển nhiều trong không gian sống của chúng Để tạo môi trường phù hợp, cần sắp xếp các bó lá lộn xộn trong chuồng, các thanh đu và hai bên thành chuồng Khoảng cách giữa các bó lá nên được bố trí từ 0,5 đến 1 mét.

Hình 4.5 Công tác vệ sinh chuồng nuôi trước và sau khi cho ăn

Trước khi cho ăn, hãy nhốt chúng vào chuồng riêng và loại bỏ các bó lá thừa từ bữa trước Sau đó, buộc các bó lá mới lên thành chuồng Khi đã hoàn tất việc buộc, thả chúng ra và tiến hành dọn dẹp chuồng bằng cách hót phân, quét dọn các lá rơi vãi và rửa sạch chuồng.

4.2 Đánh giá mức độ sử dụng thức ăn hằng ngày của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương

4 2.1 Thành phần loài thức ăn và các loại thức ăn ưa thích của Chà vá chân nâu

Trong quá trình chăm sóc Chà vá chân nâu, tôi đã theo dõi và điều tra thành phần thức ăn ưa thích của chúng Kết quả cho thấy Chà vá chân nâu lựa chọn 13 loài cây thuộc 11 họ làm thức ăn, với 6 loại lá được ưa chuộng nhất Đáng chú ý, trong quá trình theo dõi, chưa ghi nhận chúng ăn bất kỳ loài động vật nào.

Bảng 4.1 Thành phần loại thức ăn của Chà vá chân nâu tại Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương

TT Họ - Loài Bộ phận sử dụng

Mức độ ưa thích Tên Việt Nam Tên khoa học

1 Màng tang Litsea cubera Lá non, cành non

2 Re hương Cinamonum parthenovylon Lá non *

II HỌ TRÚC ĐÀO APOCYNACEAE

3 Ba gạc Rauvolfia Lá non **

4 Dâm bụt Hibiscusrora sinensis Lá non, cành non

5 Thàn mát Millelia ichthyochtono Lá non ***

6 Dâu tằm Morus alba Lá non, cành non

7 Lim xẹt Peltophorum pterocarpum Lá non, cành non

TT Họ - Loài Bộ phận sử dụng

Tên Việt Nam Tên khoa học cành non VII HỌ HOA HỒNG ROSACEAE

9 Đào Prunus persica Lá non, cành non

10 Côm tầng Eleocarpus dubius Lá non, cành non

11 Sếu Veuis sinensis Lá non ***

12 Vạng trứng Endospermum chinense Lá non **

XI HỌ HOA MÔI LAMIACEAE

13 Bấn trắng Clerodendrum chinense Lá non ***

Chú giải mức độ ưa thích: *** : Rất ƣa thích ** : Ƣa thích * : Ít ƣa thích

Sau 30 phút quan sát 14 cá thể Chà vá chân nâu ăn, chúng thể hiện sự ưa thích rõ rệt đối với các loại thức ăn như lá non và cành non Các loài thực vật được ưa chuộng bao gồm Màng tang (Litsea cubera), Thàn mát (Millelia ichthyochtono), Dâu tằm (Morus alba), Sếu (Veuis sinensis) và Bấn trắng (Clerodendrum chinense).

Lim xẹt (Peltophorum pterocarpum) là một loại cây tự nhiên dễ trồng, nhưng Chà vá chân nâu lại không ưa chuộng các loại cây như Re hương (Cinnamomum parthenoxylon) và Râm bụt (Hibiscus sinensis).

4.2.2 Khẩu phần ăn của Chà vá chân nâu tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương

Qua thời gian quan sát và chăm sóc Chà vá chân nâu, tôi đã xác định được chủng loại và sinh khối thức ăn hàng ngày cho chúng.

Bảng 4.2 Chủng loại và sinh khối thức ăn hằng ngày của Chà vá chân nâu

Ngày Sinh khối thức ăn (kg) Đưa vào-C Còn lại- T Sử dụng-L cm, cb, tt1, tt2, btt1, btt, bt, cn

Màng tang, re hương, ba gạc, dâm bụt, thàn mát,dâu tằm, găng, đào, côm tầng, sếu, vạng trứng

Chú giải các ký hiệu trong bài viết: "cm" đại diện cho con mẹ, "cb" cho con bố, "tt1" là con trưởng thành thứ nhất, "tt2" là con trưởng thành thứ hai, "btt1" và "btt2" lần lượt chỉ con bán trưởng thành thứ nhất và thứ hai, "bt" là con bị thương, và "cn" là con non.

Qua bảng số liệu trên cho thấy đƣợc lƣợng thức ăn đƣa vào dao động từ 13,5-

Mỗi cá thể Chà vá tiêu thụ trung bình từ 1,2-1,5kg lá cây/ngày, với cá thể trưởng thành tiêu thụ 1,79kg lá cây/ngày Lượng thức ăn sử dụng dao động từ 9-11,75kg lá cây/ngày, trong khi lượng thức ăn dư thừa từ 3,5-10kg lá cây/ngày Sự chênh lệch trong lượng thức ăn được cung cấp hàng ngày không lớn, cho thấy rằng trong điều kiện nuôi nhốt, lượng thức ăn được duy trì ổn định nhờ vào sự chăm sóc của người nuôi.

Việc cân nhắc khối lượng thức ăn hàng ngày cho Chà vá chân nâu là rất quan trọng để tránh lãng phí và tiết kiệm thời gian dọn dẹp Lượng thức ăn đưa vào cần phải được điều chỉnh hợp lý, bởi nếu cho ăn quá nhiều mà tiêu thụ ít, sẽ dẫn đến dư thừa Thời tiết cũng ảnh hưởng lớn đến lượng thức ăn tiêu thụ; những ngày mưa hay nắng nóng, Chà vá thường ăn ít hơn so với những ngày mát mẻ Do đó, việc theo dõi thời tiết hàng ngày là cần thiết để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

Mô thức chọn ăn của Chà vá chân nâu trong các điều kiện nuôi nhốt tại trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương

Chà vá chân nâu chủ yếu ăn lá cây trong môi trường nuôi nhốt và tự nhiên, thường chọn những loại lá ưa thích để ăn trước Chúng có thói quen ăn ngấu nghiến và phát ra tiếng động khi thưởng thức thức ăn ưa thích Khi gần đến giờ ăn, chúng thường có hành động chờ đợi, thỉnh thoảng ngó ra để xem người đem thức ăn đến.

Khi ăn, chúng thường dùng một tay bám vào cành cây hoặc hàng rào sắt, trong khi tay còn lại với lấy cành lá ưa thích để đưa vào miệng Ngoài ra, chúng có thể bẻ cành mang đi chỗ khác để tránh bị cá thể khác tranh giành Thói quen di chuyển của chúng khiến chúng không bao giờ ngồi yên, mà thường xuyên di chuyển từ bó lá này sang bó lá khác trong khi ăn.

Trong đàn gia đình, các cá thể không tranh giành thức ăn mạnh mẽ như trong đàn hỗn hợp; mỗi con có không gian riêng và thường xuyên thay đổi vị trí Mặc dù đàn hỗn hợp sống hòa thuận và bảo vệ nhau, nhưng khi đến giờ ăn, chúng sẵn sàng xung đột để giành lấy thức ăn cho bản thân.

4.3.1 Mô thức chọn ăn của cá thể đực trưởng thành là con đầu đàn

Chà vá chân nâu là loài cá sống bầy đàn, thường từ 4-15 cá thể trong một nhóm Trong đàn, thường có một hoặc vài con đực, với tỷ lệ trung bình là 1 đực trên 2 cái Cả con đực và con cái đều nắm rõ vai trò và vị trí của mình, trong đó con đực thường giữ vị trí cao hơn con cái.

Khi bắt đầu di chuyển để kiếm ăn, nhóm sẽ được dẫn dắt bởi con đực đầu đàn Hằng ngày, con đầu đàn tìm kiếm lá non bằng cách chuyển cành, và trước khi dẫn cả đàn đến nơi, nó sẽ ngồi trên ngọn cây cao nhất để cảnh giác theo dõi các thành viên trong đàn Đồng thời, nó cũng quan sát xung quanh để phát hiện sự xuất hiện của loài khác hoặc đàn khác xâm phạm lãnh thổ.

Vai trò này có được tiếp tục phát huy trong điều kiện môi trường nuôi nhốt tại Trung tâm Đƣợc thể hiện rõ qua bảng 4.3

Bảng 4.3 Mô thức chọn ăn của cá thể đực trưởng thành là con đầu đàn

Cách lấy ăn Cách vận động khi chọn ăn Cự ly đến cá thể khác (m)

Phương thức Số lần % Phương thức Số lần %

Dùng tay kéo cành mang thức ăn và cho trực tiếp vào miệng

Ngồi im một chỗ chọn lấy thức ăn ở bó lá gần nhất

Dùng miệng cắn trực tiếp vào bộ phận dùng làm thức ăn 75 0,46

Di chuyển liên tục giữa các bó lá để chọn lấy thức ăn

Dùng tay bẻ cành mang thức ăn về chỗ ngồi rồi mới dùng tay bứt cho vào miệng

Lúc di chuyển, lúc ngồi im

Theo bảng số liệu, cá thể đực trưởng thành đóng vai trò là con đầu đàn, với tỷ lệ cắn trực tiếp vào bộ phận thức ăn chiếm 0,46% Phương thức ít được lựa chọn nhất là dùng tay bẻ cành mang thức ăn về chỗ ngồi rồi mới bứt cho vào miệng, chỉ chiếm 0,12% Phương thức vận động phổ biến nhất là ngồi im một chỗ để chọn thức ăn ở bó lá gần nhất, chiếm 0,55%, trong khi phương thức di chuyển kết hợp ngồi im ít được sử dụng, chỉ chiếm 0,23% Khoảng cách gần nhất giữa các cá thể trong đàn là 5m.

Trong vai trò cá thể đầu đàn, cá thể này luôn ngồi im một chỗ để chọn thức ăn từ bó lá gần nhất Đồng thời, nó vừa ăn vừa quan sát xung quanh và theo dõi các cá thể khác trong đàn.

Hình 4.7 Con đầu đàn ngồi im một chỗ, chọn lấy thức ăn ở bó lá gần nhất

4.3.2 Mô thức chọn ăn của cá thể đực trưởng thành khác

Trong đàn Chà vá, cá thể đực đóng vai trò như người cha, bảo vệ gia đình Chúng di chuyển trong rừng bằng tay và chân, luôn đi sau con đầu đàn để đảm bảo an toàn cho con cái và con non ở giữa.

Nhƣ vậy vai trò này có đƣợc tiếp tục phát huy trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm, đƣợc thể hiện rõ nhất qua bảng 4.4

Bảng 4.4 Mô thức chọn ăn của các cá thể đực trưởng thành (không phải con đầu đàn)

Cá thể đực trưởng thành 1

Cách lấy ăn Cách vận động khi chọn ăn Cự ly đến cá thể khác (m)

Phương thức Số lần % Phương thức Số lần %

Dùng tay kéo cành mang thức ăn và cho trực tiếp vào miệng

71 0,43 Ngồi im một chỗ chọn lấy thức ăn ở bó lá gần nhất

Dùng miệng cắn trực tiếp vào bộ phận dùng làm thức ăn

73 0,45 Di chuyển liên tục giữa các bó lá để chọn lấy thức ăn

Dùng tay bẻ cành mang thức ăn về chỗ ngồi rồi mới dùng tay bứt cho vào miệng

20 0,12 Lúc di chuyển, lúc ngồi im

Cá thể đực trưởng thành 2

Cách lấy ăn Cách vận động khi chọn ăn Cự ly đến cá thể khác (m)

Dùng tay kéo cành mang thức ăn và cho trực tiếp vào miệng

71 0,38 Ngồi im một chỗ chọn lấy thức ăn ở bó lá gần nhất

Dùng miệng cắn trực tiếp vào bộ phận dùng làm thức ăn

68 0,36 Di chuyển liên tục giữa các bó lá để chọn lấy thức

Dùng tay bẻ cành mang thức ăn về chỗ ngồi rồi mới dùng tay bứt cho vào miệng

24 0,23 Lúc di chuyển, lúc ngồi im

Bảng 4.4 cho thấy hai cá thể đực trưởng thành trong đàn không có sự chênh lệch lớn về phương thức lấy ăn và vận động Dù cùng tuổi, hoạt động hàng ngày của chúng khá tương đồng Phương thức lấy ăn phổ biến nhất là dùng tay kéo cành thức ăn, chiếm tỷ lệ 0,38% - 0,43%, trong khi phương thức bẻ thức ăn mang về chỗ ngồi ít được lựa chọn nhất, chỉ chiếm 0,12% - 0,23% Về vận động, phương thức ngồi im chọn thức ăn gần nhất chiếm 0,53% - 0,57%, còn phương thức di chuyển khi ngồi im chiếm 0,18% - 0,21% Khoảng cách giữa hai cá thể dao động từ 8-10m, cho thấy sự khác biệt trong lựa chọn thức ăn và cách di chuyển dù ở cùng thời gian và không gian.

Hình 4.8 Các cá thể đực trưởng thành cùng lấy ăn một cách hòa hợp

4.3.3 Mô thức chọn ăn của cá thể cái trưởng thành

Voọc mẹ thể hiện tình cảm sâu sắc với con, luôn ẵm bồng và cho bú trong sáu tháng đầu đời Ngay cả khi vọoc con đang ăn, chỉ cần rời xa một chút, vọoc mẹ lập tức kéo con vào lòng.

Vai trò này có đƣợc tiếp tục phát huy trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm, số liệu ở bảng 4.5 sẽ giúp ta làm rõ vấn đề này

Bảng 4.5 Mô thức chọn ăn của cá thể cái trưởng thành

Cách lấy ăn Cách vận động khi chọn ăn

Cự ly đến cá thể khác Phương thức Số (m) lần

Dùng tay kéo cành mang thức ăn và cho trực tiếp vào miệng

84 0,51 Ngồi im một chỗ chọn lấy thức ăn ở bó lá gần nhất

Dùng miệng cắn trực tiếp vào bộ phận dùng làm thức ăn

71 0,43 Di chuyển liên tục giữa các bó lá để chọn lấy thức ăn

Dùng tay bẻ cành mang thức ăn về chỗ ngồi rồi mới dùng tay bứt cho vào miệng

9 0,05 Lúc di chuyển, lúc ngồi im

Quan sát cá thể mẹ trong môi trường nuôi nhốt cho thấy rằng khi con non chưa cứng cáp, mẹ sẽ chăm sóc con liên tục Mẹ thường ngồi im và chọn thức ăn gần nhất chiếm 0,67%, sử dụng tay kéo cành mang thức ăn trực tiếp cho con ăn chiếm 0,51% Con non luôn ở gần mẹ, nhưng việc di chuyển giữa các bó lá bị hạn chế, chỉ chiếm 0,14%, và việc dùng tay bẻ cành mang về chỗ ngồi ít được lựa chọn, chỉ chiếm 0,05% Khoảng cách gần nhất giữa cá thể mẹ và cá thể khác là 5m.

Hình 4.9 Con cái vừa lấy ăn và vừa chăm sóc con non

4.3.4 Mô thức chọn ăn của cá thể bán trưởng thành

Trong quá trình quan sát thực địa, chúng tôi nhận thấy rằng các cá thể bán trưởng thành luôn bám sát cá thể trưởng thành và cá thể mẹ trong đàn Điều này cho thấy sự gắn bó chặt chẽ của chúng trong các hoạt động hàng ngày, bao gồm cả lúc ăn.

Bảng 4.6 Mô thức chọn ăn của các cá thể bán trưởng thành

Cá thể bán trưởng thành 1

Cách lấy ăn Cách vận động khi chọn ăn Cự ly đến cá thể khác (m)

Dùng tay kéo cành mang thức ăn và cho trực tiếp vào miệng

60 0,37 Ngồi im một chỗ chọn lấy thức ăn ở bó lá gần nhất

Dùng miệng cắn trực tiếp vào bộ phận dùng làm thức ăn

22 0,14 Di chuyển liên tục giữa các bó lá để chọn lấy thức ăn

Dùng tay bẻ cành mang thức ăn về chỗ ngồi rồi mới dùng tay bứt cho vào miệng

79 0,49 Lúc di chuyển, lúc ngồi im

Cá thể bán trưởng thành 2

Cách lấy ăn Cách vận động khi chọn ăn Cự ly đến cá thể khác (m)

Dùng tay kéo cành mang thức ăn và cho trực tiếp vào miệng

61 0,38 Ngồi im một chỗ chọn lấy thức ăn ở bó lá gần nhất

Dùng miệng cắn trực tiếp vào bộ phận dùng làm thức ăn

27 0,17 Di chuyển liên tục giữa các bó lá để chọn lấy thức ăn

Dùng tay bẻ cành mang thức ăn về chỗ ngồi rồi mới dùng tay bứt cho vào miệng

74 0,45 Lúc di chuyển, lúc ngồi im

Hai cá thể khác nhau nhưng có tần suất biểu hiện mô thức lấy ăn và vận động khi chọn ăn tương tự nhau Phương thức lấy ăn phổ biến nhất (chiếm 0,45 - 0,49%) là dùng tay bẻ cành mang thức ăn về chỗ ngồi trước khi ăn Số lần lựa chọn phương thức này của hai cá thể gần như tương đương, cho thấy bản năng tự vệ của chúng khi mang cành thức ăn ưa thích sang một góc để tránh bị tranh cướp bởi các cá thể khác trong đàn.

Phương thức vận động phổ biến nhất khi chọn thức ăn là di chuyển liên tục giữa các bó lá, chiếm 0,62%, trong đó di chuyển để chọn thức ăn chiếm 0,27% Khoảng cách gần nhất giữa các cá thể là từ 9-10m.

Hình 4.10 Con bán trưởng thành bẻ cành mang về chỗ ngồi và dùng miệng cắn trực tiếp vào bộ phận làm thức ăn

4.3.5 Mô thức chọn ăn của các cá thể còn nhỏ Đối với cá thể con non mọi hoạt động hằng ngày hầu nhƣ quấn quanh cá thể mẹ kể cả trong lúc ăn, dời xa cá thể mẹ có nửa bước thôi cũng sẽ bị mẹ kéo ôm vào lòng ngay Có lúc dời xa cá thể mẹ thì nó sẽ ngồi cạnh hoặc đƣợc các cá thể trưởng thành và bán trưởng thành khác trong đàn ẵm bồng cũng như kéo ôm vào lòng nhƣ hành động cá thể mẹ vậy

Vai trò này vẫn đƣợc tiếp tục phát huy trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm

Bảng 4.7 Mô thức chọn ăn của cá thể con non

Cách lấy ăn Cách vận động khi chọn ăn Cự ly đến cá thể khác (m)

Dùng tay kéo cành mang thức ăn và cho trực tiếp vào miệng

82 0,5 Ngồi im một chỗ chọn lấy thức ăn ở bó lá gần nhất

78 0,51 3,1 tiếp vào bộ phận dùng làm thức ăn tục giữa các bó lá để chọn lấy thức ăn

Dùng tay bẻ cành mang thức ăn về chỗ ngồi rồi mới dùng tay bứt cho vào miệng

10 0,06 Lúc di chuyển, lúc ngồi im

Định hướng giải pháp cải tiến kỹ thuật cho ăn và chăm sóc loài Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại trung tâm

Dựa trên kết quả nghiên cứu, tôi đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện kỹ thuật cho ăn và chăm sóc loài Chà vá chân nâu tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương.

Mở rộng diện tích chuồng nuôi và bố trí thêm giá thể cho động vật leo trèo sẽ giúp cải thiện môi trường sống Đồng thời, dàn các bó lá thưa hơn để giảm tính cạnh tranh về thức ăn khi chúng tiếp xúc với nguồn thức ăn mới.

Để đảm bảo dinh dưỡng cho động vật, nên cho chúng ăn những loại thức ăn phổ biến và ưa thích Thay đổi khẩu phần ăn hàng ngày và theo mùa giúp tăng cường sự đa dạng Bổ sung củ quả vào chế độ ăn không chỉ cung cấp nhiều chất dinh dưỡng có lợi mà còn giúp tránh sự nhàm chán khi chỉ ăn lá cây.

(3) Trong điều kiện thời tiết mƣa, nắng oi ả ta giảm bớt lƣợng thức ăn đƣa vào để tránh dƣ thừa láng phí thức ăn

Để nuôi Chà vá chân nâu hiệu quả, cần cho chúng ăn đúng giờ và đảm bảo khẩu phần ăn phù hợp với số lượng Chà vá trong chuồng Ngoài ra, việc theo dõi thường xuyên các biểu hiện bất thường liên quan đến thói quen ăn uống và di chuyển của Chà vá là rất quan trọng, nhằm kịp thời có biện pháp xử lý.

Trước khi cho Chà vá chân nâu ăn, cần nhốt chúng vào một ngăn chuồng riêng và dọn sạch thức ăn thừa từ bữa trước Sau đó, buộc các bó lá lên thành chuồng và thả chúng ra ăn Cuối cùng, quét dọn và rửa chuồng nuôi, đồng thời thay nước uống hằng ngày, rửa sạch máng và bơm nước mới vào.

Trong quá trình cho ăn, chỉ nên có tối đa hai người vào chuồng nuôi Chà vá, vì chúng là loài hiếu động và tò mò Khi có nhiều người, chúng có thể cảm thấy cần bảo vệ đàn và sẽ tấn công để tự vệ Để đảm bảo an toàn trong quá trình ghi chép thông tin, người ghi chép nên đứng ngoài hàng rào, tránh tiếp xúc và ảnh hưởng đến chúng trong suốt thời gian theo dõi.

KẾT LUẬN VÀ TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ

Kết luận

Từ toàn bộ những kết quả và phân tích kết quả trên, cho phép tôi đi đến một số kết luận sau:

1) Hiện tại TTCHTLT Cúc Phương đang chăm sóc 14 cá thể Chà vá chân nâu Thức ăn của Chà vá chân nâu tại trung tâm chủ yếu là các loại lá cây đƣợc lấy từ tự nhiên; chúng lựa chọn 13 loài cây thuộc 11 họ làm thức ăn, trong đó có

The six preferred types of leaves include: Litsea cubeba (Màng tang), Millettia ichthyochtona (Thàn mát), Morus alba (Dâu tằm), Veuis sinensis (Sếu), Clerodendrum chinense (Bấn trắng), and Peltophorum pterocarpum (Lim xẹt).

2) Tại TTCHTLT Cúc Phương; lượng thức ăn tiêu thụ trung bình tổng thể cả chuồng của mỗi cá thể Chà vá chân nâu là 1,2-1,5kg lá cây/cá thể/ngày Đối với cá thể Chà vá chân nâu trưởng thành, lượng tiêu thụ là: 1,79kg lá cây/ngày

3) Chà vá chân nâu biểu hiện ba phương thức lấy ăn, gồm: (1) Dùng tay kéo cành mang thức ăn và cho trực tiếp vào miệng; (2) Dùng miệng cắn trực tiếp vào bộ phận dùng làm thức ăn; (3) Bẻ cành mang thức ăn về chỗ ngồi rồi mới dùng tay bứt cho vào miệng Song song với đó, Chà vá chân nâu cũng biểu hiện ba phương thức vận động khi chọn ăn gồm: (1) Ngồi im một chỗ chọn lấy thức ăn ở bó lá gần nhất; (2) Di chuyển liên tục giữa các bó lá để chọn lấy thức ăn;

(3) Lúc di chuyển, lúc ngồi im

4) Mô thức chọn ăn chủ đạo của Chà vá chân nâu trưởng thành (gồm con đực đầu đàn, con đực khác, con cái trưởng thành) đều là: “ngồi im một chỗ, chọn lấy thức ăn ở bó lá gần nhất, dùng tay kéo cành mang thức ăn cho vào miệng”

Chà vá chân nâu trưởng thành có mô thức chọn ăn chủ đạo là di chuyển liên tục giữa các bó lá để thu thập thức ăn và mang về chỗ ngồi để dùng tay bứt cho vào miệng Trong khi đó, Chà vá chân nâu nhỏ và bị thương tật thường ngồi im một chỗ để chọn thức ăn ở bó lá gần nhất Tuy nhiên, cách lấy thức ăn của chúng khác nhau; con nhỏ sử dụng tay để kéo cành mang thức ăn vào miệng, trong khi con bị thương tật lại sử dụng miệng để cắn trực tiếp vào bộ phận thức ăn.

5) Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất 06 giải pháp chính để cải tiến kỹ thuật cho ăn và chăm sóc Chà vá chân nâu tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương.

Tồn tại – Khuyến nghị

Do thời gian nghiên cứu hạn chế, các tập tính của loài Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt chưa được xác định đầy đủ Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu chế độ ăn và chủng loại thức ăn để xây dựng khẩu phần ăn phù hợp với các giai đoạn lứa tuổi và mùa khác nhau của loài này.

Nghiên cứu về tập tính và khẩu phần ăn của Chà vá chân nâu chỉ mới được thực hiện trong một mùa và việc thử nghiệm các loại thức ăn còn hạn chế Do đó, cần bổ sung nhiều loại lá khác nhau để đánh giá mức ưa thích của chúng đối với từng loại lá, từ đó làm phong phú thêm thành phần thức ăn cho Chà vá chân nâu.

Nghiên cứu về loài Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt còn hạn chế, dẫn đến việc thiếu tài liệu tham khảo Do đó, cần tiếp tục tiến hành các nghiên cứu và phân tích sâu hơn về loài này, cả trong môi trường tự nhiên lẫn trong điều kiện nuôi nhốt.

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương (2002). Bảo tồn thiên nhiên Vườn quốc gia Cúc Phương. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn thiên nhiên Vườn quốc gia Cúc Phương
Tác giả: Ban quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2002
3. Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy (1998). Động vật rừng- Giáo trình Đại học Lâm nghiệp. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật rừng
Tác giả: Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
4. Phạm Nhật (1993), Góp phần tìm hiểu về linh trưởng và đặc điểm sinh học và sinh thái của khỉ Vàng (Macaca mulatta), khỉ Cộc (Macaca artoides), Chà vá chân nâu ( Pygathrix nemaeus) và Vọoc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) tại Việt Nam, Viện sinh thái - Tài nguyên sinh vật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu về linh trưởng và đặc điểm sinh học và sinh thái của khỉ Vàng (Macaca mulatta), khỉ Cộc (Macaca artoides), Chà vá chân nâu ( Pygathrix nemaeus) và Vọoc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) tại Việt Nam
Tác giả: Phạm Nhật
Năm: 1993
5. Lê Tuyết Chinh (2019). Nghiên cứu thành phần thức ăn, kỹ thuật xây dựng chuồng trại và khả năng sinh sản của loài Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus Linnaeus, 1771) trong điều kiện nuôi nhốt tại trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Vườn Quốc gia Cúc Phương. Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Lâm Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Nghiên cứu thành phần thức ăn, kỹ thuật xây dựng chuồng trại và khả năng sinh sản của loài Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus Linnaeus, 1771) trong điều kiện nuôi nhốt tại trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Vườn Quốc gia Cúc Phương
Tác giả: Lê Tuyết Chinh
Năm: 2019
6. Phạm Văn Hùng (2019). Nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật bảo tồn ngoại vi loài Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus Linnaeus, 1771) tại trung tâm cứu hộ thú linh trưởng nguy cấp, Vườn Quốc gia Cúc Phương. Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Lâm Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật bảo tồn ngoại vi loài Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus Linnaeus, 1771) tại trung tâm cứu hộ thú linh trưởng nguy cấp, Vườn Quốc gia Cúc Phương
Tác giả: Phạm Văn Hùng
Năm: 2019
7. Trần Đình Nghĩa, Vũ Ngọc Thành, Lois K. Lippold, Huỳnh Ngọc Đại, Lê Thanh Hoàng, Nguyễn Xuân Thuận (2017), Thức ăn, simh cảnh của Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), tiềm năng thiên nhiên của Bán đảo Sơn Trà cho bảo tồn và phát triển bền vững, Hội bảo vệ TNMTVM (VACNE), trường Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thức ăn, simh cảnh của Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), tiềm năng thiên nhiên của Bán đảo Sơn Trà cho bảo tồn và phát triển bền vững
Tác giả: Trần Đình Nghĩa, Vũ Ngọc Thành, Lois K. Lippold, Huỳnh Ngọc Đại, Lê Thanh Hoàng, Nguyễn Xuân Thuận
Năm: 2017

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm