1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Điểm gãy cấu trúc trong mối quan hệ giữa tỉ giá hối đoái thực và lãi suất thực

79 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của bài nghiên cứu này muốn xem xét điểm gãy cấu trúc tiềm năng trong chuỗi dữ liệu ảnh hưởng như thế nào đến mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO

TP Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 3

của bài nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Học viên

Nguyễn Đắc Toản

Trang 4

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1 – GIỚI THIỆU 2

1.1 Lý do chọn đề tài 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Phương pháp nghiên cứu 5

1.4 Ý nghĩa của bài nghiên cứu 6

1.5 Cấu trúc của luận văn 6

CHƯƠNG 2 – KHUNG LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 8

2.1 Lý thuyết ngang giá sức mua (PPP) 8

2.2 Lý thuyết ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP) 9

2.3 Lý thuyết ngang bằng lãi suất có phòng ngừa (IRP) 10

2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây 10

2.4.1 Các nghiên cứu thực nghiệm không xem xét đến điểm gãy cấu trúc 10

2.4.2 Các nghiên cứu thực nghiệm xem xét đến điểm gãy cấu trúc 13

CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 Mô hình lý thuyết 18

Trang 5

3.3.1 Phương pháp chung 22

3.3.1.1 Các luận điểm về phương pháp thực nghiệm của Byrne và Nagayasu (2010) 22

3.3.1.2 Phương pháp thực nghiệm của bài nghiên cứu này 23

3.3.2 Quy trình kiểm định cụ thể 25

3.3.2.1 Kiểm định tính dừng các chuỗi dữ liệu 25

3.3.2.2 Kiểm định ADF – the Augmented Dickey-Fuller test (Dickey và Fuller, 1979) 26

3.3.2.3 Kiểm định DF-GLS (Elliott, Rothemborg và Stock, 1996) 27

3.3.2.4 Kiểm định S&L (Saikkonen và Lütkepohl, 2002) 28

3.3.2.5 Kiểm định đồng liên kết 29

3.3.2.6 Kiểm định Trace Johansen (the Johansen Trace test năm 1988, 1995) 30

3.3.2.7 Mô hình VECM 32

CHƯƠNG 4 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

4.1 Kết quả nghiên cứu giữa Việt Nam và Mỹ 35

4.1.1 Kết quả kiểm định tính dừng 35

4.1.2 Kết quả kiểm định đồng liên kết 39

4.1.3 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực, và kiểm định sự ổn định của mô hình 45

4.2 Mở rộng nghiên cứu giữa Mỹ với các nước Châu Á khác 50

4.2.1 Kết quả kiểm định tính dừng 50

4.2.2 Kết quả kiểm định đồng liên kết 55

Trang 6

5.2 Khuyến nghị 60 5.3 Hạn chế của bài nghiên cứu 61 Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

Từ viết tắt Diễn giải

GF-GLS Kiểm định Dickey Fuller- General Least Square

UIP Lý thuyết ngang giá lãi suất không phòng ngừa

VECM Mô hình vector điều chỉnh sai số

Trang 8

3.1 Tóm tắt các công thức và dữ liệu trong bài nghiên cứu 20 4.1 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị ADF và DF-GLS trong trường

4.10 Kết quả kiểm định đồng liên kết S&L trong trường hợp giữa các

Trang 9

4.1 Kiểm định mức độ ổn định của lãi suất dự đoán (ex ante) 48 4.2 Kiểm định mức độ ổn định của lãi suất thực (post) 49

Trang 10

TÓM TẮT

Trong bài nghiên cứu này xem xét điểm gãy cấu trúc trong mối quan hệ giữa

tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực Tổng thể bài nghiên cứu đã cho thấy những bằng chứng về mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực, khi điểm gãy cấu trúc được đưa vào xem xét Đầu tiên bài nghiên cứu xem xét điểm gãy cấu trúc trong mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực giữa 02 quốc gia Việt Nam và Mỹ Sau đó mở rộng ra những quốc gia Châu Á khác và Mỹ Trong dữ liệu về các nước Châu Á cho thấy rằng điểm gãy cấu trúc là không phổ biến giữa các quốc gia với nhau mà là đặc trưng riêng của từng quốc gia

Trang 11

CHƯƠNG 1 – GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài

Như bài nghiên cứu đã cho thấy, đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, lãi suất đóng vai trò là một công cụ quan trọng trong việc điều hành và quản lí nền kinh

tế vĩ mô Lãi suất có mối liên quan mật thiết đối với tỷ giá trên thị trường hối đoái Mối quan hệ này được thể hiện rõ thông qua lí thuyết nền tảng là thuyết ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP) và hiệu ứng Fisher quốc tế (International Fisher Effect) Để có được cân bằng lãi suất đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài thì sự thay đổi của ngoại tệ sẽ tương ứng với chênh lệch trong lãi suất, tức là tỷ giá hối đoái sẽ thay đổi theo chênh lệch lãi suất của 2 quốc gia

Lý thuyết này đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích kinh tế, đặc biệt là trong mối quan hệ cung cầu tiền tệ giữa các nền kinh tế, hay nhu cầu chu chuyển, phân bổ các nguồn tài chính trên thị trường quốc tế Chính vì vậy, việc hiểu được mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và chênh lệch lãi suất là một công cụ quan trọng để đưa ra các chính sách phù hợp, hiệu quả trong việc quản lí, điều tiết nền kinh tế vĩ

mô Tuy nhiên, trong các nền kinh tế, rất khó để tồn tại các điều kiện để đảm bảo mối quan hệ cân bằng này được duy trì trong ngắn hạn Các nghiên cứu gần đây cho thấy mối quan hệ này có xu hướng tồn tại đối với các công cụ tài chính dài hạn hơn (nghiên cứu của Chinn và Mededith, 2004, 2005; Chinn và Zhang, 2006;…)

Bài nghiên cứu gốc “Structural breaks in the real exchange rate and real

interest rate relationship” của tác giả Joseph P Byrne và Jun Nagayasu tiến

hành kiểm tra thực nghiệm về mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá hối đoái thực và chênh lệch lãi suất thực bằng cách sử dụng nhiều phương pháp kinh tế lượng mới đây có xét đến sự điểm gãy cấu trúc tiềm ẩn.Nhìn chung, nghiên cứu của hai tác giả cung cấp những bằng chứng về mối quan hệ này trong dài hạn Cụ thể hơn, trước hết tác giả tập trung vào mối quan hệ Anh – Mỹ Khi sử dụng các phương pháp truyền thống, họ tìm thấy những bằng chứng bị hạn chế về mối quan hệ dài hạn Nhưng khi thực hiện một phương pháp có xét đến điểm gãy cấu trúc thì lại tìm được

Trang 12

những bằng chứng có ý nghĩa cho rằng chênh lệch lãi suất thực là một yếu tố quyết định quan trọng của tỷ giá hối đoái thực

Bài nghiên cứu này trình bày về điểm gãy cấu trúc tiềm năng trong mối quan

hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực giữa quốc gia Việt Nam và Mỹ Sau đó

mở rộng ra giữa các quốc gia Châu Á khác với Mỹ

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của bài nghiên cứu này muốn xem xét điểm gãy cấu trúc tiềm năng trong chuỗi dữ liệu ảnh hưởng như thế nào đến mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực

Bằng cách sử dụng điều kiện cân bằng thông thường được nhắc đến trong các tài liệu tài chính quốc tế, bài nghiên cứu nhận thấy rằng có sự tồn tại của một mối quan hệ dài hạn giữa tỉ giá hối đoái thực và chênh lệch lãi suất thực Cụ thể hơn là

sử dụng điều kiện ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP) và giả thuyết cân bằng Fisher làm lý thuyết nền tảng để tìm ra mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất Một số lượng lớn bài nghiên cứu đã nỗ lực tìm ra những bằng chứng cho mối tương quan cân bằng này dựa trên nhiều cách tiếp cận và đưa ra một hỗn hợp các kết quả khác nhau (Campbell &Clarida (1987), Meese & Rogoff (1988), Edison & Pauls (1993), và hầu hết là họ không tìm thấy sự tồn tại của mối quan hệ dài hạn trên

Các nghiên cứu trước đây thì sử dụng các mô hình tuyến tính cho các biến kinh tế, nên cũng ảnh hưởng ít nhiều đến tính chuẩn xác của các kết quả thống kê nhận được Một mối quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu đó là độ mạnh thấp của các kiểm định thống kê trong việc xác định mối quan hệ cân bằng trên đối với thị trường tài chính quốc tế Ví dụ phương Perron (1989) nhận ra sự thiếu chính xác của việc mô hình hóa các biến số kinh tế là tuyến tính của một số các nhà nghiên cứu trước đó, và Perron cho rằng những nhà nghiên cứu này đã không tính đến việc các cú sốc quan trọng bất thường, hiếm xảy ra có thể tác động tới tính hữu ích của các kết quả thống kê Cụ thể hơn là kiểm định nghiêm đơn vị và đồng liên kết thông

Trang 13

thường có khuynh hướng bị bác bỏ khi có một sự sụp đổ cấu trúc xảy ra trong dãy

số thời gian Do đó mà các nghiên cứu gần đây đã chú trọng hơn đến các kiểm định cho các cú sốc và tính phi tuyến khi xác định mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực

và lãi suất thực, ví dụ phương: Nakagawa (2002) nhấn mạnh đến tính phi tuyến trong mối quan hệ giữa tỉ giá hối đoái thực và lãi suất thực Thêm vào đó việc để giải thích cho sự thay đổi của các chế độ thuộc lĩnh vực kinh tế và sử dụng dữ liệu trong khoảng thời gian dài (1921-2002), Kanas (2005) đã tìm thấy có một mối liên

hệ tồn tại giữa tỷ giá hối đoái thực của Anh/Mỹ và chênh lệch lãi suất thực

Hai tác giả của bài nghiên cứu gốc là Joseph P Byrne và Jun Nagayasu tiến

hành nghiên cứu thực nghiệm phải chăng mối quan hệ cân bằng dài hạn tồn tại giữa

tỷ giá hối đoái thực và chênh lệch lãi suất thực? Trái với Nakagawa (2002) và Kanas (2005), bài nghiên cứu muốn nhấn mạnh đến tính không dừng tiềm ẩn của dữ liệu, vì có những bằng chứng trải rộng về tính không dừng của tỉ giá hối đoái, làm cho ngang giá sức mua PPP không tồn tại, và sự khác biệt trong tính không dừng của lãi suất thực giữa các quốc gia (Meese & Rogoff, 1998, và Edison & Paul, 1993)

Kanas (2005), Edison và Melick (1999) cũng xem xét mối quan hệ cân bằng giữa tỷ giá hối đoái thực và chênh lệch lãi suất thực Họ đưa ra bằng chứng phù hợp

về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và chênh lệch lãi suất, kết quả của họ có lẽ là không đáng tin cậy bởi kiểm định Johansen(1998) đòi hỏi cần điều chỉnh giá trị tới hạn trong sự tồn tại của những thay đổi cấu trúc Phương pháp tiếp cận đựợc xây dựng bởi Saikkonen và Lütkepohl (2000, 2002); Lanne, Lütkepohl, và Saikkonen (2002, 2003), tận dụng nhiều hơn các kiểm định đồng liên kết mạnh hơn mà một lần nữa nhấn mạnh đến khả năng tồn tại của điểm gãy cấu trúc

Nhóm tác giả Joseph P Byrne và Jun Nagayasu nghiên cứu trước hết là

trường hợp Anh – Mỹ, sau đó mở rộng ra cho nhiều quốc gia châu Âu Do các biến kinh tế là không dừng, việc mô hình hóa chúng không thể được thực hiện bằng các ước lượng OLS thông thường Bài nghiên cứu xem xét dữ liệu đã có đầy đủ điều

Trang 14

kiện để áp dụng mô hình VECM Tuy nhiên, đến đây ta lại gặp phải một vấn đề điểm gãy cấu trúc trong các chuỗi dữ liệu thời gian dài hạn Điểm gãy cấu trúc làm cho các kiểm định đồng liên kết thông thường mắc phải sai lầm là chấp nhận giả thuyết Ho không có đồng liên kết trong khi thực tế mối liên hệ đồng liên kết là tồn tại Vấn đề chỉ được giải quyết khi tác giả áp dụng các phương pháp kiểm định mạnh hơn: kiểm định S&L Trace với biến giả

Kết quả là, với việc xét đến điểm gãy cấu trúc trong mối quan hệ giữa chênh lệch lãi suất thực và tỷ giá hối đoái thực; nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng về sự tồn tại mối quan hệ dài hạn ở hầu hết các quốc gia được xem xét, nhưng sự hiện diện của điểm gãy cấu trúc thì không phải là phổ biến giữa các nước, mà là đặc trưng riêng của từng quốc gia

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp của bài nghiên cứu sẽ được thực hiện thông qua hai hướng tiếp cận: hướng tiếp cận truyền thống không có xem xét đến hiện tượng điểm gãy cấu trúc và hướng tiếp cận thứ hai có xem xét đến hiện tượng này trong quá trình nghiên cứu về mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá thực và lãi suất thực Ở cả hai hướng tiếp cận đều có chung một quy trình phương pháp phương sau:

Thứ nhất, tính dừng của chuỗi dữ liệu sẽ được kiểm tra thông qua các kiểm

định nghiệm đơn vị ADF, DF-GLS và kiểm định nghiệm đơn vị được xây dựng theo phương pháp của Saikkonen và Lutkepohl

Thứ hai, bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ dài hạn giữa các biến đang

nghiên cứu sẽ được xác nhận thông qua các kiểm định đồng liên kết Johansen và kiểm định đồng liên kết của Saikkonen và Lutkepohl

Thứ ba, mô hình VECM được sử dụng để ước lượng mối quan hệ dài hạn giữa

các biến và sau đó các kiểm định khác nhằm kiểm tra độ ổn định của mô hình sẽ đượcthực hiện

Dữ liệu tỷ giá thực, lãi suất thực của Việt Nam, Mỹ cũng phương một số nước Châu Á khác nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu sẽ được tính toán từ các dữ liệu tỷ

Trang 15

giá danh nghĩa, lãi suất danh nghĩa, tỷ lệ lạm phát, chỉ số CPI Những dữ liệu trên

sẽ được thu thập từ nguồn dữ liệu tài chính quốc tế của IMF với khoảng thời gian của dữ liệu kéo dài từ tháng 1/1996 đến 5/2014 đối với trường hợp nghiên cứu giữa Việt Nam – Mỹ, và trường hợp nghiên cứu giữa Mỹ với các nước Châu Á khác sẽ

sử dụng bộ dữ liệu từ tháng 1/1994 đến 5/2014

1.4 Ý nghĩa của bài nghiên cứu

Thứ nhất, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xem xét và xác nhận mối quan

hệ cân bằng dài hạn giữa tỷ giá thực và lãi suất thực trong mối quan hệ giữa Mỹ với các nước Châu Á trong đó có Việt Nam Mối quan hệ tỷ giá thực – lãi suất thực khi được xác nhận ở các quốc gia kể trên sẽ đóng góp thêm nhiều bằng chứng thực nghiệm trên thế giới bên cạnh các nghiên cứu khác đã được thực hiện về đề tài này Qua đó, sự đóng góp của đề tài trên phương diện thực nghiệm sẽ giúp củng cố thêm cho các cơ sở trên lý thuyết

Thứ hai, một vấn đề đáng lưu ý của nghiên cứu đó là việc cân nhắc đến hiện tượng điểm gãy cấu trúc trong quá trình xác nhận mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá thực và lãi suất thực Perron (1989) đã đưa ra nhận định rằng sự xuất hiện của điểm gãy cấu trúc trong chuỗi dữ liệu có thể dẫn đến một số lệch lạc của kết quả kiểm định Ủng hộ cho nhận định của Perron, kết quả từ nghiên cứu này cho thấy việc xem xét đến nhân tố điểm gãy cấu trúc sẽ giúp đưa ra bằng chứng thực nghiệm khá bền vững và có độ tin cậy cao hơn Qua đó, nghiên cứu cũng đặt lưu ý cho các nghiên cứu sau này khi làm việc với dữ liệu chuỗi thời gian, cần phải cẩn thận xem xét những đặc tính của chuỗi dữ liệu trong quá trình nghiên cứu, trong đó có hiện tượng điểm gãy cấu trúc

1.5 Cấu trúc của luận văn

Bài nghiên cứu được trình bày trong năm chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu – sẽ trình bày tổng quát về đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cũng phương ý nghĩa của bài nghiên cứu

Trang 16

Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ trong dài hạn giữa tỷ giá thực và lãi suất thực Chương hai sẽ trình bày và tổng hợp các kết quả nghiên cứu của các học giả trên thế giới về mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa tỷ giá thực và lãi suất thực xét trên phương diện cơ sở lý thuyết cũng như thực nghiệm Đặc biệt, chương hai cũng chú trọng đến các nghiên cứu gần đây có xem xét đến hiện tượng điểm gãy cấu trúc trong mối quan hệ tỷ giá thực – lãi suất thực Đây là

cơ sở lý luận quan trọng để thực hiện đề tài tại Việt Nam

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – trình bày nguồn dữ liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu, đồng thời xây dựng mô hình lý thuyết cũng như phương pháp thực nghiệm phù hợp với đặc điểm của chuỗi dữ liệu ở Việt Nam và sau cùng là trình bày quy trình các bước phân tích chuỗi dữ liệu nhằm giải quyết các vấn đề nghiên cứu đã được đưa ra ở Chương 1

Chương 4: Kết quả nghiên cứu – trình bày các kết qủa mà nghiên cứu đã tìm được Cụ thể, các kết quả này bao gồm các kết quả kiểm định nghiệm đơn vị, đồng liên kết trong hai trường hợp không xét và có xét đến điểm gãy cấu trúc; kết quả hồi quy mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá thực và lãi suất thực giữa Việt Nam và Mỹ; các bằng chứng khác về mối quan hệ này giữa Mỹ với một số quốc gia khác trong khu vực Châu Á

Chương 5: Kết luận, hạn chế của đề tài và hướng phát triển của đề tài Chương này sẽ tổng kết lại các kết quả nghiên cứu, trình bày các điểm còn hạn chế trong bài nghiên cứu này, từ đó đề xuất những hướng nghiên cứu trong thời gian sắp tới

Trang 17

CHƯƠNG 2 – KHUNG LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC

NGHIỆM

Sử dụng điều kiện ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP) và giả thuyết cân bằng Fisher làm lý thuyết nền tảng để tìm ra mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất Nói đến các lý thuyết tài chính quốc tế kinh điển giải thích về thay đổi của tỷ giá hối đoái thì có những lý thuyết sau đây : Ngang giá sức mua (PPP), ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP) và ngang giá lãi suất có phòng ngừa (IRP)

2.1 Lý thuyết ngang giá sức mua (PPP)

Lý thuyết ngang giá sức mua (PPP) đã trở thành lời giả thích quan trọng cho tỷ giá hối đoái danh nghĩa và thực tế của thế giới trong suốt những năm 1970 và 1980 Trong hình thái tuyệt đối của nó, nó cho thấy rằng giá trị của tỷ giá hối đoái danh nghĩa bằng với tỷ lệ mức giá của hai quốc gia Nó được định nghĩa như sau:

S=

(1)

Trong đó, S là tỷ giá giao ngay danh nghĩa, P và P* theo thứ tự là mức giá nội địa

và nước ngoài Với giá trị tuyệt đối của nó, PPP cho thấy rằng sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái được xác định bởi sự thay đổi giá tương ứng ở hai quốc gia Giá trị tỷ giá danh nghĩa không thực sự cho thấy điều gì về “giá trị thực” của đồng tiền, hoặc bất kì điều gì liên quan đến PPP Một tỷ giá hối đoái phải được định nghĩa như sau:

Trang 18

cụ kinh tế lượng mới và các phương pháp kiểm định mới, các nhà nghiên cứu trong vài năm gần đây đã tìm được những bằng chứng thực nghiệm rõ ràng hơn về PPP

 Trong thời kì biến động có một điều chắc chắc chắn rằng tỷ giá hối đoái đã biến động khác nhiều so với giá cả

Các nhà kinh tế học đã tranh luận xem liệu PPP tồn tại trong ngắn hạn, dài hạn, hay không tồn tại cả trong ngắn và dài hạn Cuối những năm 1970, PPP ít nhất trong ngắn hạn đã bị bác bỏ một cách thuyết phục bởi dữ liệu Liệu PPP trong dài hạn có

bị bác bỏ hay không, điều này vẫn còn đang được xem xét

2.2 Lý thuyết ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP)

Ta có:

r t = (1+i f ) (1+e f )-1

trong đó:

rt: tỷ suất sinh lợi có hiệu lực khi đầu tư ra nước ngoài

ih: lãi suất trong nước

if: lãi suất nước ngoài

ef: giá trị tăng lên hay giảm xuống của đồng ngoại tệ

Nếu giả định việc đầu tư ra nước ngoài cũng có tỷ suất sinh lợi bằng với đầu tư trong nước, nghĩa là:

Trang 19

 Nếu lãi suất trong nước ih> lãi suất nước ngoài if : đồng ngoại tệ sẽ tăng giá

để bù đắp cho lãi suất thấp hơn

 Nếu lãi suất trong nước ih< lãi suất nước ngoài if : đồng ngoại tệ sẽ giảm giá một mức tương đương với chênh lệch lãi suất

2.3 Lý thuyết ngang bằng lãi suất có phòng ngừa (IRP)

Ta có:

r t = (1+i f ) (1+p)-1

trong đó:

rt: tỷ suất sinh lợi có hiệu lực khi đầu tư ra nước ngoài

ih: lãi suất trong nước

if: lãi suất nước ngoài

p: giá trị tăng lên hay giảm xuống của tỷ giá kỳ hạn đồng ngoại tệ

Nếu giả định việc đầu tư ra nước ngoài cũng có tỷ suất sinh lợi bằng với đầu tư trong nước, nghĩa là:

2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây

2.4.1 Các nghiên cứu thực nghiệm không xem xét đến điểm gãy cấu trúc

Nghiên cứu của Campell và Clarida Năm 1987, Campell và Clarida công

bố bài nghiên cứu “The dollar and real interest rates” Trong bài này Campell và

Clarida tìm hiểu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoán thực của đồng USD và lãi suất thực kể từ năm 1979 Hai ông muốn tìm hiểu bao nhiêu phần trăm sự thay đổi trong

Trang 20

tỷ giá là do sự chệnh lệch lãi suất giữa hai quốc gia, bao nhiêu phần trăm thay đổi

trong tỷ giá thực là do sự dịch chuyển của tỷ giá thực cân bằng dài hạn

Để làm được điều đó cần phải sử dụng các biến chênh lệch lãi suất thực tiên nghiệm, kì vọng tỷ giá thực trong dài hạn và kể cả sai số trong việc dự báo lạm phát

kì vọng Tuy nhiên đây là những biến không quan sát được Với giả định tỷ giá hối đoái thực trong dài hạn có bước đi ngẫu nhiên, hai ông đã ước lượng mô hình gồm các biến tỷ giá thực hậu nghiệm và chênh lệch lãi suất thực hậu nghiệm ngắn hạn Hai biến này là tổ hợp tuyến tính của những biến không quan sát được đã nêu trước

đó

Tiến hành ước lượng mô hình, các ông tìm được những kết quả đó là: Kể từ năm

1980 sự thay đổi của tỷ giá thực của đồng USD bị chi phối bởi sự thay đổi ngoài kì vọng của tỷ giá thực dài hạn kì vọng Chênh lệch lãi suất thực tiên nghiệm chỉ giải thích được một phần nhỏ và không đủ mạnh để khẳng định sự tác động của nó lên

tỷ giá thực của đồng USD Rõ ràng kết quả tìm được của Campell và Clarida còn khá mơ hồ trong việc tìm ra mối quan hệ giữa tỷ thực và chênh lệch lãi suất thực

Nghiên cứu của Messe và Rogoff Trong bài nghiên cứu “Was it real? The exchange rate-interest differential relation over the modern floating rate- period” đăng trên tạp chí Journal of Finance năm 1988, Messe và Rogoff cũng đi

tìm mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực kể từ sau khi Mỹ chấp nhận chế độ tỷ giá thả nổi (tháng 3/1973) Trong mô hình của mình Messe và Rogoff chỉ tập trung vào hai biến là tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực mà không quan tâm đến các biến kinh tế khác Chuỗi dữ liệu hai ông nghiên cứu cho ba cặp tiền tệ: Dollar Mỹ - Mark Đức, Dollar Mỹ - Yên Nhật, Dollar Mỹ - Bảng Anh

Dữ liệu quan sát được lấy theo tháng từ tháng 4/1976 cho đến tháng 3/1986 Messe

và Rogoff tiến hành các kiểm định nghiệm đơn vị, hồi quy phương trình GMM và

kiểm định tính đồng liên kết Kết quả của bài nghiên cứu phương sau:

Trang 21

 Thứ nhất: Tìm được mối quan hệ giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực, tuy nhiên kết quả này lại không có ý nghĩa về mặt thống kê Ông đề xuất đưa vào các biến khác có thể sẽ làm cho mối quan hệ này rõ ràng hơn

 Thứ hai: Kiểm định nghiệm đơn vị cho thấy cả hai chuỗi dữ liệu tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực có nghiệm đơn vị, tuy nhiên lại không tìm thấy bằng chứng về tính đồng liên kết của hai chuỗi dữ liệu này

Phương vậy, nghiên cứu của Messe và Rogoff cũng chưa nêu ra được bằng chứng

rõ ràng về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và chênh lệch lãi suất thực

Nghiên cứu của Edison và Pauls năm 1993 Năm 1993, bài nghiên cứu“A re-assessment of the relationship between real exchange rates and real interest rates: 1974-1990”, được đăng trên tạp chí Journal of Monetary Economics Dựa

trên ý tưởng tương tự và đề xuất của Messe và Rogoff, Edison và Pauls đưa thêm biến lạm phát kì vọng vào trong mô hình bên cạnh tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực Tác giả bài nghiên cứu đã sử dụng phép kiểm định đồng kiên kết và mô hình sai số sửa lỗi (ECM) để kiểm định lại mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và chênh lệch lãi suất thực Dữ liệu được thu thập theo quý cho giai đoạn từ năm 1974 cho đến 1990 Edison và Pauls tiến hành kiểm định đối với các cặp tỷ giá giữa Dollar Mỹ - Mark Đức, Dollar Mỹ - Yên Nhật, Dollar Mỹ - Bảng Anh, Dollar Mỹ - Dollar Canada và cuối cùng là Dollar Mỹ - đồng tiền đại diện các nước G10 Thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị, hai ông nhận thấy các chuỗi tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực đều là chuỗi không dừng Tuy nhiên hai ông lại không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ đồng liên kết giữa hai biến này Sử dụng một mô hình khác trong đó có thêm các biến khác ví dụ phương biến cán cân tài khoản vãng lai

là một biến có thể tác động đến tỷ giá thực dài hạn kì vọng, Edison và Pauls cũng vẫn không tìm thấy được bằng chứng về sự đồng liên kết giữa tỷ giá hối đoái và chênh lệch lãi suất thực… Tuy nhiên hai ông khẳng định rằng có tồn tại một mối quan hệ trong dài hạn giữa hai biến này mặc dù nó không được làm rõ ra trong bài nghiên cứu

Trang 22

Nhận xét : Khi điểm gãy cấu trúc không được xem xét trong các bài thực

nghiệm trên, thì các nghiên cứu đã không tìm ra được mối quan hệ đồng liên kết giữa tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực

2.4.2 Các nghiên cứu thực nghiệm xem xét đến điểm gãy cấu trúc

Nghiên cứu của Perron năm 1989 Bài nghiên cứu “The Great crash, the oil price shock, and the unit root hypothesis” của Perron được công bố năm 1989

Đối tượng nghiên cứu của bài nghiên cứu này của Perron không phải là tỷ giá hối đoái hay lãi suất thực hay là mối quan hệ giữa hai biến này, hay giữa một trong hai biến này với một đại lượng kinh tế nào đó, tuy nhiên kết luận của Perron có liên quan đến kinh tế lượng ứng dụng lại có tác động rất lớn đến vấn đề nghiên cứu của

đề tài Cụ thể Perron nói rằng một số vấn đề của chuỗi dữ liệu theo thời gian hoặc

độ mạnh của kiểm định lại có thể dẫn đến các sai lệch của kết quả tìm được Ông cho rằng độ mạnh của kiểm định sẽ được gia tăng nếu chuỗi dữ liệu được kéo dài theo thời gian Nhưng cách làm này có thể dẫn đến việc chuỗi dữ liệu sẽ bao gồm luôn cả những điểm gãy cấu trúc – tức là những sự kiện nào đó tác động mạnh làm thay đổi tính chất của dữ liệu được thu thập Việc xuất hiện của điểm gãy cấu trúc

có thể sẽ làm cho kết quả kiểm định đồng liên kết bị mắc phải sai lầm trong kiểm định, tức là chấp nhận giả thuyết Ho không có đồng liên kết trong khi nó sai Hoặc

sẽ làm cho kết quả tìm được không có ý nghĩa thống kê Vì thế Perron kiến nghị khi tiến hành các phép kiểm định cần phải xem xét đến điểm gãy cấu trúc hoặc xây dựng hướng tiếp cận khác phương sử dụng mô hình phi tuyến Đối chiếu lại kết quả của những nghiên cứu trước đây phương của Campell và Clarida 1987, Messe và Rogoff 1988 đồng thời dựa trên đề xuất của Perron, nhiều nghiên cứu về sau rất quan tâm đến điểm gãy cấu trúc hoặc tiếp cận theo một hướng khác mà sẽ được đề

cập sau đây

Nghiên cứu của Edison, H J và W.R Melick Bài nghiên cứu mang tên:

“Alternative approaches to real exchange rates and real interest rates: Three

up and three down”Được đăng trên tạp chí International Journal of Finance and

Trang 23

Economics năm 1999 Trong bài nghiên cứu này tác giả tìm kiếm mối quan hệ giữa

tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực thông qua ba hướng tiếp cận

 Thứ nhất: Tác giả dựa trên nghiên cứu của Messe và Rogoff 1988 với giả định

tỷ giá hối đoái thực kỳ vọng là một hằng số Tác giả tìm thấy mối quan hệ đồng liên kết trong dài hạn giữa tỷ giá thực và lãi suất thực tuy nhiên không có bằng chứng về mối quan hệ giữa tỷ giá thực và lãi suất thực trong ngắn hạn

 Hướng tiếp cận thứ hai: Các tác giả cũng dựa trên nghiên cứu của Messe và Rogoff 1988 trong mô hình, biến tỷ giá hối đoái thực kỳ vọng không còn là một hằng số nữa mà là 1 đại lượng thay đổi theo một biến khác Kết quả của hướng tiếp cận này, tác giả tìm thấy một bằng chứng mạnh hơn về mối quan

hệ dài hạn giữa tỷ giá thực và lãi suất thực, tuy nhiên tác giả cũng đề cập kết quả này còn phụ thuộc vào việc lựa chọn các biến tác động lên biến tỷ giá hối đoái thực kỳ vọng

 Hướng tiếp cận thứ ba: tác giả sử dụng giá trị tỷ giá thực hậu nghiệm và sai số

dự báo để thay thế biến tỷ giá hối đoái thực kỳ vọng trong mô hình Bằng cách này tác giả tìm thấy được sự chênh lệch lãi suất thực có ý nghĩa thống kê trong việc giải thích cho sự thay đổi của tỷ giá thực trong dài hạn

Với dữ liệu theo quý từ 1974 đến 1994, các cặp tiền tệ được nghiên cứu gồm Dollar

Mỹ - Mark Đức, Dollar Mỹ - Yên Nhật, Dollar Mỹ - Dollar Canada và Dollar Mỹ - đồng tiền đại diện các nước G10 cùng với 3 cách tiếp cận nêu trên, các tác giả đã tìm được một số bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực.Điểm đáng chú ý của bài nghiên cứu này đó là tác giả - Edison, H J và W.R Melick đã có xem xét đến yếu tố điểm gãy cấu trúc Tuy nhiên một số nhà nghiên cứu cho rằng kết quả này tính tin cậy không cao bởi vì giá trị tới hạn trong kiểm định Johansen Trace Test cần phải được điều chỉnh nếu trong mô hình có xuất hiện điểm gãy cấu trúc

Nghiên cứu của Nakagawa, H., 2002 Cũng nhằm mục đích tìm kiếm mối

quan hệ giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực, khác với các nghiên cứu trước

Trang 24

đây, Nakagawa tiếp cận theo hướng xem xét đến tính chất phi tuyến của sự hội tụ

của tỷ giá thực về tỷ giá cân bằng trong dài hạn trong bài nghiên cứu“Real

exchange rates and real interest rate differentials: implications of non-linear adjustment in real exchange rates” Bài nghiên cứu được đăng trên tạp chí

Journal of Monetary Economics năm 2002

Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa tỷ giá thực và lãi suất thực đều dựa trên việc cho rằng tốc độ điều chỉnh của tỷ giá là không đổi Tuy nhiên Nakagawa cho rằng tỷ giá thực biến đổi liên tục, không ổn định… cùng với sự xuất hiện của chi phí giao dịch thì việc điều chỉnh của tỷ giá thực về tỷ giá cân bằng trong dài hạn phải có tính chất phi tuyến

Sử dụng dữ liệu theo quý từ 1974 cho đến 1997, các cặp đồng tiền được lựa chọn gồm Dollar Mỹ - Mark Đức, Dollar Mỹ - Yên Nhật, Dollar Mỹ - Dollar Canada và Dollar Mỹ - Bảng Anh Áp dụng mô hình Mundell–Fleming–Dornbusch mở rộng,

để xem xét tính chất phi tuyến trong mô hình, Nakagawa đã tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ trong dài hạn giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực

Nghiên cứu của Kanas, A., 2005 Năm 2005, Kanas, A., công bố bài nghiên

cứu “Regime linkages in the US/UK real exchange rate-real interest rate

differential relation”trên tạp chí Journal of International Money and Finance Bài

nghiên cứu được tiến hành cũng nhằm xem xét mối quan hệ giữa tỷ giá thực USD/GBP và chênh lệch lãi suất thực giữa Anh và Mỹ Dữ liệu nghiên cứu lấy theo tháng trong khoảng thời gian từ năm 1921 đến 2002 gồm tổng cộng 984 quan sát Với khoảng thời gian dài như thế, Kanas đặc biệt quan tâm đến việc chuyển đổi tỷ giá giữa chế độ tỷ giá cố định qua chế độ tỷ giá thả nổi và ngược lại cũng như các

sự kiện kinh tế lớn có tác động mạnh đến chuỗi dữ liệu

Dựa trên nền tảng cơ sở là bài nghiên cứu của Messe và Rogoff 1988, Kanas áp

dụng mô hình vec tor tự hồi quy Markov Swiching ( MS VAR) để tìm mối quan hệ của 2 chuỗi tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực có tính đến yếu tố bất ổn

Trang 25

(volatility) và việc chuyển đổi chế độ tỷ giá Kết quả Kanas tìm thấy được bằng chứng về mối quan hệ giữa hai biến tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực

Nghiên cứu của Joseph P Byrne and Jun Nagayasu., 2010 Dựa trên nhiều

nghiên cứu trước đó, năm 2010 các tác giả Joseph P Byrne and Jun Nagayasu cho

công bố bài nghiên cứu“Structural breaks in the real exchange rate and real

interest rate relationship” trên tạp chí Global Finace Journal Bài nghiên cứu tiến

hành nhằm xem xét mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và chênh lệch lãi suất thực giữa Mỹ và Anh trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 1973 đến tháng 5 năm

2005

Tương tự phương Kanas, hai tác giả cũng dựa trên mô hình lý thuyết của Messe và

Rogoff 1988 và giả định lạm phát kì vọng là hằng số Trong bài nghiên cứu này,

Joseph P Byrne and Jun Nagayasu đặc biệt quan tâm đến tính dừng của chuỗi dữ liệu, mối quan hệ đồng liên kết và vai trò của điểm gãy cấu trúc tác động phương thế nào đến mối quan hệ đó

Các tác giả tiến hành tiếp cận theo cả hai hướng, một mặt sử dụng các phương pháp kiểm định truyền thống phương kiểm định nghiệm đơn vị ADF, DF - GLS, kiểm định đồng liên kết Johansen Trace test Mặt khác sử dụng phương pháp kiểm định mới, có xử lý điểm gãy cấu trúc đề xuất bởi Saikkonen và Lutkepohl Sau đó áp dụng mô hình VECM để ước lượng mối quan hệ giữa các biến

Với dữ liệu hai quốc gia Anh và Mỹ, các ông kết luận rằng giữa hai biến tỷ giá thực

và lãi suất thực khi chưa xét đến điểm gãy cấu trúc thì không có mối quan hệ đồng liên kết Phương trình khi thực hiện kiểm định S và L có tính đến điểm gãy cấu trúc thì mối quan hệ này được làm rõ và có ý nghĩa thống kê Mở rộng nghiên cứu thực nghiệm cho nhiều quốc gia khác, các ông thu được kết quả là phần nhiều quốc gia cho thấy có mối quan hệ đồng liên kết ngay cả khi chưa xem xét đến điểm gãy cấu trúc Đối với những quốc gia còn lại, khi xem xét đến điểm gãy cấu trúc thì mối quan hệ giữa tỷ giá thực và lãi suất thực đã xuất hiện Từ đó Joseph P Byrne and

Trang 26

Jun Nagayasu đi đến kết luận rằng tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa tỷ giá hối đoái thực và chênh lệch lãi suất thực giữa hai quốc gia

Nhận xét : Khi điểm gãy cấu trúc được xem xét trong các bài thực nghiệm

trên, thì các nghiên cứu đã tìm ra được mối quan hệ đồng liên kết giữa tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực

Trang 27

CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mô hình lý thuyết

Mô hình lý thuyết bắt nguồn từ phương trình phản ánh mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực - lãi suất thực và cơ bản dựa theo nghiên cứu của Edison và Pauls (1993) Hai thành phần chính của mô hình này là điều kiện cân bằng UIP và Fisher Xây dựng lần lượt từng điều kiện trước khi đưa ra một phương trình ước lượng

Đầu tiên cần xác định tỷ giá hối đoái thực (qt) như sau:

q t = s t – p t + p t *(1)

Trong đó: s t logarit tự nhiên của tỷ giá hối đoái danh nghĩa (tỷ số tính theo số đơn vị đồng nội tệ trên 1 đơn vị đồng ngoại tệ)

p t là logarit tự nhiên của chỉ số giá trong nước

p t *là logarit tự nhiên của chỉ số nước ngoài

UIP (Ngang giá lãi suất không phòng ngừa) phát biểu rằng với thị trường vốn tự do,

kì vọng của mức thay đổi trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa cân bằng với chênh lệch lãi suất danh nghĩa Khi các nhà đầu tư lo ngại rủi ro, UIP được mở rộng ra bao gồm

cả phần bù rủi ro:

E t (s t+1 –s t ) = i t – i t * + u t (2) Trong đó: it là lãi suất danh nghĩa trong nước

it* là lãi suất danh nghĩa nước ngoài

Etst+1 là kì vọng hiện tại của tỷ giá hối đoái ở thời điểm t+1

Trang 28

mô hình hóa bởi một biến giả biến đổi (shift dummy) nếu sự cân bằng không thay đổi thường xuyên Vào lúc ban đầu, mô hình sau đây được trình bày một cách đơn giản với việc giả sử rằng tỷ giá hối đoái thực kì vọng là hằng số, điều này cũng đã được xem xét bởi Meese và Rogoff (1998), Edison và Pauls (1993) và Baxter (1994) Một số thất bại trong việc ủng hộ mối quan hệ dài hạn kêu gọi nhiều cuộc điều tra hơn nữa về giả định liên quan tới tỷ giá hối đoái thực kì vọng Sau đó ta thu được từ biểu thức (11):

q t = α r t + α*r t * +constant+ u t (12)

Trang 29

Phần bù rủi ro bất ổn ut, là một thành phần khó quan sát được trong phương trình này và được giả định là dừng Biểu thức (12) được sử dụng phương là nền tảng cho các phương pháp ước lượng Đề xuất chính là chênh lệch lãi suất thực thì tương quan nghịch với tỷ giá hối đoái thực của nội tệ Vd : (α < 0 và α* > 0)

3.2 Dữ liệu trong bài nghiên cứu

Như đã đề cập trong Chương 1, bài nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa

tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực trong trường hợp giữa Việt Nam với Mỹ và

mở rộng ra các trường hợp giữa một số nước khác ở Châu Á so với Mỹ Từ phương trình (1), (6), (7), dữ liệu về tỷ giá thực và lãi suất thực của các nước này sẽ được tính toán như sau:

Bảng 3.1 Tóm tắt các công thức và dữ liệu trong bài nghiên cứu

Tỷ giá thực (q)

q t = s t – p t + p t *

Trong đó :

q t : logarit tự nhiên của tỷ giá hối đoái thực

s t : logarit tự nhiên của tỷ giá hối đoái danh nghĩa

Trong đó tỷ giá hối đoái danh nghĩa ở đây là tỷ giá song phương và được niêm yếu theo phương pháp trực tiếp (tỷ số tính theo số đơn vị đồng nội tệ trên 1 đơn vị đồng ngoại tệ)

p t: là logarit tự nhiên của chỉ số giá trong nước

p t *: là logarit tự nhiên của chỉ số nước ngoài

Lãi suất thực (r/r*)

r t = i t - E t p

r t * = i t * - E t p *

Trong đó :

r t : Lãi suất thực của quốc gia nội địa

r t * : Lãi suất thực của Mỹ

i t : Lãi suất danh nghĩa của quốc gia nội địa

Trang 30

i t *: Lãi suất danh nghĩa của Mỹ Trong đó, lãi suất danh nghĩa của các nước trong bài nghiên cứu này sẽ sử dụng dữ liệu lãi suất thị trường tiền tệ

E t p: Tỷ lệ lạm phát kỳ vọng của quốc gia nội địa

E t p *: Tỷ lệ lạm phát kỳ vọng của Mỹ Trong đó, tỷ lệ lạm phát được tính theo phương pháp chỉ số CPI Ngoài ra nghiên cứu này sử dụng hai thước đo của tỷ lệ lạm phát kỳ vọng bao gồm :

p t+1: Giá trị tiên nghiệm (dự đoán) của lạm phát kỳ vọng (ex ante) được tính bằng p t+1 = E t p t+1 - p t.

p t:Giá trị hậu nghiệm (thực) của lạm phát kỳ vọng (ex post) được tính bằng p t = p t - p t-1

Như vậy, để có thể tính toán được tỷ giá thực, lãi suất thực nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu, dữ liệu theo tháng của các nước sẽ được thu thập bao gồm:

(1) Tỷ giá danh nghĩa được ghi nhận cuối mỗi tháng;

(2) Lãi suất thị trường tiền tệ

(3) Chỉ số giá hàng tiêu dùng CPI với năm gốc là năm 2010;

(4) Tỷ lệ lạm phát tính theo phương pháp chỉ số CPI với hai thước đo gồm giá trị dự đoán (ex ante) và giá trị thực (ex post)

Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu theo tháng và các dữ liệu này đều được thu thập từ

bộ dữ liệu thống kê tài chính quốc tế của Quỹ tiền tệ thế giới (IFS), trong đó Mỹ là quốc gia cơ sở Bên cạnh đó, xét về chiều dài của bộ dữ liệu, dữ liệu trong trường hợp nghiên cứu ở Việt Nam sẽ được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 1/1996 đến tháng 5/2014 gồm 220 quan sát Đối với nghiên cứu ở các quốc gia khác bao gồm Hongkong, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, bộ dữ liệu được thu thập từ tháng 1/1994 đến tháng 5/2014 gồm 244 quan sát Ngoài ra, nghiên cứu trong

Trang 31

trường hợp của các quốc gia khác ngoài Việt Nam chỉ áp dụng thước đo thực của tỷ

lệ lạm phát (ex post inflation)

đi tìm mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực Các luận điểm này bao gồm:

Thứ nhất, tính không dừng của chuỗi dữ liệu mang hàm ý về sự tồn tại của mối

quan hệ dài hạn giữa các chuỗi này Đặc điểm này là một trong những vấn đề được quan tâm đầu tiên khi làm việc với dữ liệu chuỗi thời gian Một chuỗi thời gian được gọi là dừng khi trung bình, phương sai, hiệp phương sai của nó là không đổi ở bất cứ thời điểm nào Và chuỗi không dừng là một chuỗi không thỏa mãn ít nhất một trong ba điều kiện trên Vấn đề về tính dừng của chuỗi thời gian mà nhiều học giả quan tâm đến đó là khả năng xảy ra hồi quy giả mạo khi hồi quy một chuỗi thời gian không dừng này với một chuỗi không dừng khác, khi đó các kiểm định sẽ không có giá trị Tuy nhiên, Granger sau đó lại cho rằng giữa hai chuỗi thời gian không dừng vẫn có thể có một sự đồng bộ nào đó trong dài hạn mà ông gọi là đồng liên kết Khi đó, giữa hai chuỗi có đồng liên kết, các kết qủa hồi quy không phải là không xác thực và các kiểm định thông thường vẫn có giá trị Như vậy, nghiên cứu của Byrne và Nagayasu đòi hỏi cần phải thực hiện các kiểm định nhằm kiểm tra tính không dừng của dữ liệu

Trang 32

Thứ hai, Byrne và Nagayasu đặt mối quan tâm về các vấn đề liên quan đến điểm

gãy cấu trúc và tác động của chúng đến độ mạnh và tính chính xác của kiểm định Dựa trên các nghiên cứu của Campbell và Perron (1991), Perron (1989), Byrne và Nagayasu đã đưa ra nhận định rằng sự suất hiện của điểm gãy cấu trúc có thể khiến cho các kiểm định đưa ra kết quả sai lầm khi không thể bác bỏ giả thuyết Ho cho rằng không tồn tại một mối quan hệ cân bằng dài hạn trong khi thực tế mối quan hệ này có xảy ra Do đó, Byrne và Nagayasu nhấn mạnh sự cần thiết phải xem xét đến vấn đề điểm gãy cấu trúc trong quá trình nghiên cứu về mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực (nghiên cứu của Edison và Melick, 1999 cũng đưa ra ý kiến tương tự với nhận định trên) Byrne và Nagayasu sau đó đã áp dụng phương pháp của Saikkonen và Lutkepohl (2000, 2002) để giải quyết vấn đề này

3.3.1.2 Phương pháp thực nghiệm của bài nghiên cứu này

Như vậy, dựa trên cơ sở là những luận điểm quan trọng về phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu của Byrne và Nagayasu (2010), phương pháp chung của nghiên cứu này sẽ áp dụng các kiểm định kinh tế lượng theo một trình tự tổng quát như sau để có thể tìm ra bằng chứng về mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực trong trường hợp của Việt Nam và Mỹ cũng như các quốc gia Châu Á khác và Mỹ

Thứ nhất, vấn đề về tính dừng của dữ liệu sẽ được đưa ra nghiên cứu đầu tiên Các

kiểm định nghiệm đơn vị sẽ được thực hiện trên chuỗi dữ liệu gốc và chuỗi sai phân bậc một của tỷ giá thực, lãi suất thực Bước kiểm định này sẽ cho ta biết đặc điểm của các chuỗi dữ liệu đang nghiên cứu là dừng xu hướng hay dừng sai phân Nói cách khác, bài nghiên cứu sẽ xem xét bậc liên kết của các chuỗi này là chuỗi I(0) hay I(1) Kỳ vọng từ kiểm định nghiệm đơn vị trong nghiên của bài nghiên cứu là các chuỗi dữ liệu không dừng và có liên kết bậc một Điều này hàm ý rằng giữa tỷ giá thực và lãi suất thực sẽ có khả năng tồn tại một mối liên hệ nào đó trong dài hạn Ngoài ra, một vấn đề trọng tâm khác trong nghiên cứu này đó là sự xem xét đến điểm gãy cấu trúc Dựa trên luận điểm của Perron (1989) cũng như của Byrne và

Trang 33

Nagayasu (2010), sự biến đổi về mặt cấu trúc trong chuỗi dữ liệu có thể dẫn tới kết luận sai lầm về việc liệu chuỗi đó có nghiệm đơn vị hay không Do đó, qúa trình đi tìm bằng chứng về mối quan hệ dài hạn đòi hỏi giai đoạn kiểm định nghiệm đơn vị cũng cần phải có sự xem xét đến yếu tố điểm gãy cấu trúc nhằm đưa ra kết quả xác thực nhất Dựa theo đề xuất của Byrne và Nagayasu (2010), bài nghiên cứu sẽ áp dụng kiểm định nghiệm đơn vị theo phương pháp của Saikkonen và Lutkepohl (2002) để giải quyết vấn đề này

Thứ hai, với kỳ vọng như trên từ kiểm định tính dừng chuỗi dữ liệu, bài nghiên cứu

sẽ tiến hành đi tìm bằng chứng về khả năng tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực thông qua các kiểm định đồng liên kết Mặt khác, dựa trên luận điểm thứ hai của Byrne và Nagayasu (2010), bài nghiên cứu này sẽ áp dụng các kiểm định đồng liên kết mới của Saikkonen và Lutkepohl (2000) song song với các kiểm định truyền thống trước đây với mục đích tìm ra bằng chứng xác thực về mối quan hệ tỷ giá thực – lãi suất thực khi có xem xét đến sự hiện diện của điểm gãy cấu trúc, qua đó có thể so sánh và làm nổi bật những ưu điểm trong phương pháp của Saikkonen và Lutkepohl trong việc đưa ra kết qủa thực nghiệm

Thứ ba, với bằng chứng về mối quan hệ đồng liên kết đã tìm được, phương trình dài

hạn giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực sẽ được hồi quy nhằm biểu diễn cụ thể mối quan hệ giữa các nhân tố này Cuối cùng, một số kiểm định khác sẽ được thực hiện nhằm đảm bảo tính ổn định và bền vững của phương trình vừa hồi quy được

Nhìn chung, phương pháp thực nghiệm trong bài nghiên cứu của bài nghiên cứubao gồm ba giai đoạn chính: kiểm định nghiệm đơn vị; kiểm định đồng liên kết; hồi quy phương trình dài hạn cùng với một số kiểm định phụ có liên quan Trong đó, hai Bước kiểm định đầu tiên có vai trò giải quyết các câu hỏi nghiên cứu chính đã đề cập đó là đi tìm bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực trong trường hợp ở Việt Nam và các nước Châu Á khác khi

có xét đến vấn đề về điểm gãy cấu trúc Do có sự xem xét đến điểm gãy cấu trúc và

Trang 34

đồng thời để thuận tiện cho việc so sánh, hai Bước kiểm định trên sẽ được thực hiện qua hai hướng: hướng tiếp cận truyền thống gồm các kiểm định kinh tế lượng không

có xem xét đến vấn đề điểm gãy cấu trúc và các kiểm định được xây dựng bởi Saikkonen và Lutkepohl (2000, 2002) Tiểu mục tiếp theo sẽ trình bày cụ thể quy trình và tên các phương pháp kiểm định

3.3.2 Quy trình kiểm định cụ thể

Phương pháp thực nghiệm của bài nghiên cứu bao gồm ba giai đọan Trong đó, hai Bước kiểm định đầu tiên được áp dụng chung cho nghiên cứu trong trường hợp của Việt Nam và Mỹ sau đó là các quốc gia Châu Á khác và Mỹ Riêng giai đoạn hồi quy phương trình dài hạn cùng một số kiểm định phụ chỉ được áp dụng cho trường hợp của Việt Nam nhằm làm rõ mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá thực và lãi suất thực

3.3.2.1 Kiểm định tính dừng các chuỗi dữ liệu

Đối tượng dữ liệu mà bài nghiên cứu này sử dụng là dữ liệu của chuỗi thời gian Tuy nhiên, một vấn đề nảy sinh khi thực hiện nghiên cứu thực nghiệm dựa vào dữ liệu chuỗi thời gian là các phân tích hồi quy đều dựa trên giả định rằng các chuỗi thời gian đang xem xét phải là chuỗi dừng (kiểm định t và F cũng dựa trên giả định này) Nếu như chuỗi thời gian đang xem xét là không dừng, thì khi hồi quy một biến của chuỗi thời gian này với một biến của chuỗi thời gian khác, có khả năng ta

sẽ thu về các kết quả hồi quy tốt một cách bất thường Các số liệu thống kê này khẳng định một mối quan hệ mạnh mẽ giữa hai biến số kinh tế đang xem xét mặc

dù trên thực tế có thể không hề có mối liên hệ nào tồn tại giữa chúng (hiện tượng này được gọi là hồi quy không xác thực) Do đó, vấn đề kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu thời gian trước khi thực hiện phân tích hồi quy trở nên vô cùng quan trọng, nó sẽ quyết định đến tính hữu hiệu của các kết quả nghiên cứu

Trước khi bước vào xem xét các phương pháp kiểm định tính dừng mà các tác giả

đã sử dụng trong bài nghiên cứu này, bài nghiên cứu sẽ làm rõ khái niệm một chuỗi thời gian dừng là chuỗi thời gian như thế nào

Trang 35

Theo các tài liệu về chuỗi thời gian, một chuỗi thời gian được gọi là dừng nếu kỳ vọng và phương sai không đổi theo thời gian, đồng thời hiệp phương sai giữa hai giai đoạn quan sát (trong chuỗi đang xét) chỉ phụ thuộc vào khoảng cách độ trễ của chúng chứ không phụ thuộc vào thời điểm tính toán

Theo định nghĩa trên thì một chuỗi thời gian (Yt) được xem là dừng khi thỏa 3 tính chất sau:

Trung bình không đổi theo thời gian: E(Yt) =

Phương sai không đổi theo thời gian: Var(Yt) = E(Yt – ) 2 =

Hiệp phương sai giữa hai giai đoạn quan sát (trong chuỗi đang xét) chỉ phụ thuộc vào khoảng cách độ trễ của chúng : Cov(Yt, Yt-k)= E[(Yt – )(Yt-k – )]= Như vậy, nếu một chuỗi thời gian không thỏa ba điều kiện trên thì được gọi là chuỗi thời gian không dừng

Tiếp theo, bài nghiên cứu sẽ đi đến các kiểm định mà Joseph P.Byrne và Jun Nagayasu đã sử dụng trong bài nghiên cứu của mình Như bài nghiên cứu cho thấy,

có nhiều cách để kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu như dựa vào biểu đồ tương quan hay sử dụng các kiểm định nghiệm đơn vị Nhưng trong bài nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị để xem xét tính biến động của các chuỗi thời gian Cụ thể, tác giả sử dụng ba kiểm định nghiệm đơn vị: Kiểm định ADF (của Dickey và Fuller, 1979), kiểm định DF-GLS (của Elliott, Rothemborg và Stock, 1996), và kiểm định Saikkonen và Lütkepohl (2002, ở đây, tác giả ký hiệu là S&L)

3.3.2.2 Kiểm định ADF – the Augmented Dickey-Fuller test (Dickey và Fuller, 1979)

Phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị ADF, còn được gọi là kiểm định gia tăng Dickey-Fuller, là một hình thức mở rộng của kiểm định DF khi sai số ut trong dạng hồi quy của kiểm định DF là tự tương quan

Kiểm định DF được áp dụng đối với các hồi quy được thực hiện ở dạng sau:

Trang 36

(1) ∆Yt = Yt-1 + ut

(2) ∆Yt = β1 + Yt-1 + ut

(3) ∆Yt = β1 + β2t + Yt-1 + ut

Nhưng nếu sai số ut là tự tương quan thì mô hình (3) biến đổi thành:

∆Yt = β1 + β2t + Yt-1 + αi∑ + εt

Đây chính là mô hình của kiểm định ADF

Giả thiết của kiểm định ADF:

Ho: = 0 (chuỗi thời gian đang xem xét là không dừng)

H1: 0 (chuỗi thời gian đang xem xét là dừng)

Giá trị kiểm định: Trị thống kê (tau) bằng đã được ước lượng chia cho sai số chuẩn của nó

Nếu: | |< giá trị tới hạn tuyệt đối: không bác bỏ giả thiết Ho (chuỗi thời gian là

không dừng)

| |> giá trị tới hạn tuyệt đối: bác bỏ giả thiết Ho (chuỗi thời gian là dừng) (Các giá trị tới hạn ở đây được cho bởi Dickey và Fuller trên cơ sở mô phỏng Monte Carlo)

3.3.2.3 Kiểm định DF-GLS (Elliott, Rothemborg và Stock, 1996)

Năm 1996, một phiên bản cải tiến của kiểm định ADF đã được Elliott, Rothemborg

và Stock công bố, và được biết đến như là Kiểm định nghiệm đơn vị DF-GLS Nhiều bài nghiên cứu sau này đã chứng minh được rằng các kết quả của phương pháp kiểm định DF-GLS thì đáng tin cậy hơn so với kiểm định ADF

Về cơ bản, kiểm định DF-GLS cũng giống như kiểm định ADF, nhưng chỉ khác ở điểm là các chuỗi thời gian sử dụng trong kiểm định DF-GLS phải được biến đổi qua hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS – Generalized Least Squares) trước khi tiến hành kiểm định

Trang 37

Mô hình sử dụng trong kiểm định DF-GLS tương tự như mô hình của kiểm định

ADF:

∆Yt = β1 + β2t + Yt-1 + αi∑ + εt

Các thông số khác được sử dụng trong kiểm định DF-GLS cũng tương tự như kiểm định ADF

(Giá trị tới hạn sử dụng trong kiểm định này được cho bởi Elliott et al năm 1996)

3.3.2.4 Kiểm định S&L (Saikkonen và Lütkepohl, 2002)

Năm 2002, Saikkonen và Lütkepohl đã đề xuất một kiểm định nghiệm đơn vị với một biến giả dịch chuyển giản đơn (a simple shift dummy) Ngày dịch chuyển gắn liền với dữ liệu được sử dụng, do đó, phương pháp này cho phép bài nghiên cứu kiểm tra xem liệu sự suy đoán về thời điểm xuất hiện sự phá vỡ (breaks) dựa trên những sự kiện lịch sử có phù hợp với bộ dữ liệu thu thập được hay không

Mô hình sử dụng trong kiểm định S&L (không xét đến xu hướng tuyến tính):

Trong bài nghiên cứu của Joseph P.Byrne và Jun Nagayasu chỉ tập trung vào trường hợp ngày dịch chuyển (shift date, TB) được mô tả như một biến giả dịch chuyển (shift dummy, dt) Do đó, hàm dịch chuyển sẽ có dạng sau: {

Trang 38

Phương trình (A1) có thể được viết ở dạng sai phân bậc nhất như sau:

(A2) Trong đó:

H0: chuỗi thời gian đang xem xét có nghiệm đơn vị (chuỗi không dừng)

H1: chuỗi thời gian đang xem xét không có nghiệm đơn vị (chuỗi dừng)

Nếu: Trị tuyệt đối của giá trị kiểm định < giá trị tới hạn tuyệt đối: không bác bỏ giả thiết H0

Trị tuyệt đối của giá trị kiểm định> giá trị tới hạn tuyệt đối: bác bỏ giả thiết H0

(Các giá trị tới hạn ở đây được cho bởi Lanne et al năm 2002)

3.3.2.5 Kiểm định đồng liên kết

Sự tồn tại của đồng liên kết giữa các chuỗi dữ liệu đang xét ngụ ý rằng có một mối quan hệ dài hạn (hoặc cân bằng) giữa chúng Như vậy, để tìm kiếm mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá hối đoái thực và chênh lệch lãi suất thực, Joseph P.Byrne và Jun Nagayasu đã thực hiện các kiểm định đồng liên kết với bộ dữ liệu thu thập được

Trang 39

Từ những kết quả rút ra từ các kiểm định nghiệm đơn vị, tác giả xác định rằng chuỗi thời gian được sử dụng trong bài nghiên cứu này là chuỗi thời gian không dừng Do

đó, Joseph P.Byrne và Jun Nagayasu đã sử dụng các phương pháp phân tích mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá hối đoái thực và chênh lệch lãi suất thực dựa vào các chuỗi dữ liệu không dừng Cụ thể, các tác giả đã sử dụng ba kiểm định đồng liên kết sau: kiểm định Trace Johansen (1988, 1995), kiểm định Trace S&L không xét đến

sự điểm gãy cấu trúcvà kiểm định Trace S&L có xét đến sự phá vỡ cấu trúc

3.3.2.6 Kiểm định Trace Johansen (the Johansen Trace test năm 1988, 1995)

Kiểm định Johansen là phương pháp cơ bản để kiểm định tính đồng liên kết giữa các chuỗi thời gian Các chỉ số thống kê mô tả của Johansen đều là phân phối không chuẩn, phụ thuộc vào kích thước (K – r) (với K: là số biến và r: là số vector đồng liên kết trong giả thiết Ho) và cấu trúc của kỳ quan sát Trong phương pháp kiểm định này, Johansen đã đề xuất hai loại giá trị kiểm định, đó là: Trace và maximal Eigenvalue Ở đây, Joseph P.Byrne và Jun Nagayasu tập trung vào sử dụng giá trị kiểm định Trace thông thường hơn

Giá trị kiểm định Trace Johansen:

LRTrace(r) = -T∑

Với :

: là chỉ số đặc trưng nhỏ nhất của công thức định lượng tương đương

T là khoảng thời gian

Giả thiết của Kiểm định Trace Johansen:

Ho: số vector đồng liên kết (r) = i

H1: số vector đồng liên kết (r) > i

Nếu: p-value > mức ý nghĩa (α): không bác bỏ giả thiết H0

p-value < mức ý nghĩa (α): bác bỏ giả thiết H0

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm