Để đánh giá sự cố gắng của mỗi người tại trường Đại học Lâm nghiệp, đồng thời làm quen với hoạt động nghiên cứu khoa học cũng như gắn liền công tác học tập với thực tiễn, được sự đồng ý
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Học tập là một quá trình phấn đấu không mệt mỏi của mỗi sinh viên Để đánh giá sự cố gắng của mỗi người tại trường Đại học Lâm nghiệp, đồng thời làm quen với hoạt động nghiên cứu khoa học cũng như gắn liền công tác học tập với thực tiễn, được sự đồng ý của khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường, Bộ môn Quản lý Môi trường, chúng tôi đã thực hiện đề tài
“Nghiên cứu tác động của một số hoạt động kinh tế xã hội đến chất lượng nước sông Cầu tại xã Tiên Phong và Tân Phú - Phổ Yên - Thái Nguyên”
Nhân dịp này chúng tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, khoa Quản lý Tài nguyên Rừng và Môi trường, cán bộ và nhân dân xã Tiên Phong và Tân Phú thuộc huyện Phổ Yên, Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi thực hiện khoá luận này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn TS.Trần Thị Tuyết Hằng đã nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho tôi để tôi hoàn thành khoá luận này Cảm ơn thầy giáo Bùi Văn Năng đã giúp đỡ tận tình để tôi có thể phân tích một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước khu vực nghiên cứu
Mặc dù đã rất nỗ lực làm việc, song do thời gian nghiên cứu và trình độ có hạn, khoá luận này không tránh khỏi những thiếu sót Vì thế, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô cùng các bạn quan tâm tới vấn đề này để tôi có thêm kiến thức và kinh nghiệm nhằm hoàn thiện hơn trong các công trình nghiên cứu sau này của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xuân Mai, ngày 10 tháng 05 năm 2009
Sinh viên Nguyễn Thị Thì
Trang 2Biểu thống kê diện tích đất và khối lƣợng phân bón, hoá
chất sử dụng cho các loại cây trồng trong một năm 34
1.1 Bản đồ địa giới các tỉnh sông Cầu chảy qua 9
Trang 34.6 Hoạt động khai thác cát sỏi tại bến đò Thù Lâm 25
4.14 Đồ thị biến thiên hàm lƣợng chất rắn lơ lửng 30
4.20 Hiện trạng sử dụng đất khu vực nghiên cứu 44
DANH MỤC SƠ ĐỒ
4.1 Vòng tuần hoàn của các chất ô nhiễm do phân bón,
4.2 Bộ máy quản lý hành chính cấp xã tại khu vực
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU………
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC SƠ ĐỒ
MỤC LỤC………
ĐẶT VẤN ĐỀ……… 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU……… 2
1.1 Tổng quan vấn đề quản lý lưu vực sông……….2
1.1.1 Khái niệm về quản lý lưu vực sông……… 2
1.1.2 Quản lý lưu vực sông trên thế giới……… 2
1.1.3 Quản lý lưu vực sông ở Việt Nam………6
1.2 Tổng quan về chất lượng nước sông Cầu……… 7
1.2.1 Giới thiệu chung về sông Cầu……… 7
1.2.2 Công tác quản lý lưu vực sông Cầu………10
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 12
2.1 Mục tiêu nghiên cứu……….12
2.2 Đối tượng nghiên cứu……… 12
2.3 Phạm vi nghiên cứu……… 12
2.4 Nội dung nghiên cứu………12
2.5 Phương pháp nghiên cứu……… 12
2.5.1 Thu thập và kế thừa tài liệu có liên quan………12
2.5.2 Điều tra thực địa……….13
2.5.3 Xử lý nội nghiệp 15
Chương 3 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 17
3.1 Điều kiện tự nhiên 17
Trang 53.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 20
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
4.1 Thực trạng chất lượng nước sông Cầu tại Tiên Phong và Tân Phú 21
4.1.1 Đặc điểm thuỷ văn sông Cầu tại khu vực nghiên cứu 21
4.1.2 Thực trạng chất lượng nước sông Cầu……… 26
4.2 Các hoạt động kinh tế xã hội của khu vực có tác động tới chất lượng nước sông……….33
4.2.1 Ngành sản xuất nông nghiệp……… 33
4.2.2 Ngành tiểu thủ công nghiệp 40
4.2.3 Thương mại và dịch vụ 42
4.2.4 Sinh hoạt hàng ngày và vấn đề rác thải 42
4.2.5 Sự gia tăng dân số và chuyển dịch cơ cấu đất đai 45
4.3 Thực trạng hoạt động quản lý nước sông Cầu……….47
4.3.1 Thực trạng hoạt động quản lý chất lượng nước sông……….47
4.3.2 Kiến thức, nhận thức của người dân về chất lượng nước sông Cầu và sự cần thiết phải bảo vệ sông……… 49
4.4 Giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả công tác quản lý chất lượng nước sông Cầu……… 50
4.4.1 Giải pháp cho nhóm hoạt động kinh tế xã hội tác động tới chất lượng nước sông Cầu……….50
4.4.2 Giải pháp cho hoạt động quản lý của bộ máy hành chính………… 54
4.4.3 Giải pháp đối với nguời dân địa phương……… 54
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ……… 56
1 Kết luận……… 56
2 Tồn tại……….56
3 Khuyến nghị………57
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 58
PHỤ BIỂU………
Trang 6“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”
Rõ ràng nước có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động sản xuất nối chung và sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng Ở Tiên Phong và Tân Phú, nguồn nước chủ yếu cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt là nước sông Cầu Tuy nhiên hiện nay sông Cầu đang là một trong ba lưu vực bị ô nhiễm nặng nhất, do đó nó không thể đảm bảo vai trò của mình đối với cuộc sống người dân đồng thời ảnh hưởng tới vẻ đẹp mỹ quan của khu vực
Vậy làm sao để khắc phục vấn đề, trả lại vẻ đẹp tự nhiên cho dòng sông
và giúp người dân thuận lợi hơn trong hoạt động sản xuất là một bài toán khó đặt ra cho các nhà chức trách có liên quan Đã có nhiều dự án, chính sách được đưa ra nhằm giải quyết vấn đề mà chưa đem lại hiệu quả rõ rệt Chất lượng nước sông Cầu vẫn luôn trong tình trạng báo động
Là sinh viên theo chuyên ngành Quản lý môi trường, để có thể đóng góp phần nào công sức vào công cuộc khắc phục ô nhiễm cho dòng sông
Chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu với tiêu đề: “Nghiên cứu tác động của một số hoạt động kinh tế-xã hội đến chất lượng nước sông Cầu tại xã Tiên Phong và Tân Phú thuộc huyện Phổ Yên - Thái Nguyên” Đề tài
nghiên cứu nhằm xác định được thực trạng nước sông Cầu tại một số xã ở huyện Phổ Yên-Thái Nguyên, làm căn cứ đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng nước tại khu vực nghiên cứu
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan vấn đề quản lý lưu vực sông
Tìm hiểu những ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế xã hội đến chất lượng nước sông là một trong những hoạt động nhằm quản lý lưu vực sông Vậy quản lý lưu vực sông là gì? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu
1.1.1 Khái niệm về quản lý lưu vực sông
Để hiểu được thế nào là quản lý lưu vực sông chúng ta cần biết lưu vực sông là gì?
Lưu vực sông là một đơn vị diện tích bề mặt trên đó bao gồm tất cả yếu
tố tự nhiên và nhân tạo có liên quan đến quá trình nuôi dưỡng, vận động nước của một con sông
Quản lý lưu vực sông là công tác quản lý việc khai thác sử dụng và phát triển các nguồn tài nguyên nước, đất, rừng trong lưu vực, trong đó trọng tâm là công tác quản lý và phát triển tài nguyên nước Tôn trọng vai trò và quyền lợi của các bên có liên quan trong việc khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên trong lưu vực, đảm bảo hài hoà giữa khai thác và bảo vệ.[05]
Quản lý lưu vực sông còn được hiểu như một hoạt động “bao gồm những phần cơ bản của quy hoạch sử dụng đất, chính sách nông nghiệp và quản lý xói mòn, quản lý môi trường và các chính sách khác Nó bao gồm tất
cả các hoạt động của con người sử dụng nước hoặc gây ảnh hưởng đến các hệ thống nước ngọt Quản lý lưu vực sông là quản lý các hệ thống nước trong đó coi tài nguyên nước là một phần của môi trường tự nhiên trong mối liên hệ khăng khít với môi trường kinh tế - xã hội”.[07]
1.1.2 Quản lý lưu vực sông trên thế giới
1 Tình hình quản lý lưu vực sông
Trên thế giới có nhiều tổ chức lưu vực sông đang hoạt động Các tổ chức này được thành lập theo các mô hình với chức năng và cơ cấu tổ chức phù hợp với các đặc điểm riêng về địa lý, khí tượng thuỷ văn, phong tục tập quán dùng nước, hoàn cảnh phát triển kinh tế Hiện nay đang tồn tại 3 loại mô hình tổ chức quản lý lưu vực sông:
Trang 8+ Mô hình thuỷ văn
+ Mô hình hành chính: Quản lý nước được thực hiện theo địa giới hành chính, không có liên hệ với địa giới thuỷ văn
+ Mô hình kết hợp: Phối hợp theo địa giới thuỷ văn và các tổ chức hành chính để đạt được các mục tiêu quản lý lưu vực [07]
Mỗi mô hình đều có những ưu nhược điểm khác nhau Mô hình thuỷ văn giải quyết tốt các vấn đề thượng lưu - hạ lưu trong khi mô hình hành chính không giải quyết được, tuy nhiên, mô hình thuỷ văn có xu hướng chỉ tập trung vào nước mà bỏ sót các vấn đề quản lý đất hoặc các nguồn tài nguyên khác Uỷ hội lưu vực sông (mô hình kết hợp) là mô hình kết hợp giữa hai loại mô hình trên Mô hình này có thể kết hợp ưu điểm của cả hai, tuy nhiên, trong bối cảnh của các nước đang phát triển, tổ chức này thường ít có quyền lực và hoạt động thường bị giới hạn ở các giải pháp có mẫu số chung nhỏ nhất, tức là, giải pháp nằm ở các điểm chung giữa các bên tham gia
Hiện trên thế giới có vài trăm tổ chức lưu vực sông đang hoạt động Các tổ chức này được thành lập dựa theo các mô hình với chức năng và cơ cấu tổ chức rất khác nhau Ngưòi ta ước tính có trên 20 loại mô hình đang được các nước áp dụng
2 Một số mô hình tổ chức quản lý lưu vực sông của các nước
- Mô hình quản lý sông Hoàng Hà của Trung Quốc: Hoàng Hà là con sông lớn thứ hai của Trung Quốc, diện tích lưu vực 795.000 km2, dân số trong lưu vực hàng trăm triệu người Uỷ ban lưu vực sông Hoàng Hà là một cơ quan của Bộ Thuỷ lợi Trung Quốc được thành lập nhằm quản lý thung lũng sông Hoàng Hà và các sông nội địa thuộc một số tỉnh và khu vực phía Tây Bắc Trung Quốc (Tân Cương, Nội Mông, Cam Túc, Thanh Hải), có trụ sở đặt tại thành phố Trịnh Châu tỉnh Hà Nam Cơ cấu tổ chức của Uỷ ban bảo tồn sông Hoàng Hà bao gồm 8 Cục khu vực đặt tại 8 tiểu lưu vực, một số Cục chuyên môn và Viện nghiên cứu Một số cục còn có phòng đặt tại các
Trang 9có 9.000 cán bộ kỹ thuật với trên 1.000 chuyên gia cao cấp thuộc 60 lĩnh vực chuyên ngành khác nhau Năng lực của Uỷ ban này rất mạnh, phạm vi hoạt động và quyền lực rất rộng Uỷ ban vừa là cơ quan xây dựng và triển khai chiến lược, chính sách, vừa là cơ quan trực tiếp thực hiện các dự án đầu tư.[05]
- Mô hình quản lý của Pháp: Nước Pháp từ năm 1966 đã quản lý tất cả
6 lưu vực sông trên cả nước dựa trên Luật về nước ban hành năm 1964 Mỗi lưu vực có một Cục lưu vực với chức năng chính là định hướng và khuyến khích các hộ dùng nước sử dụng hợp lý tài nguyên nước thông qua các công
cụ kinh tế và khởi xướng, cung cấp thông tin cho các dự án, điều hoà các lợi ích địa phương, lợi ích cá biệt và lợi ích chung trong khai thác tài nguyên nước Cục lưu vực có một Hội đồng quản trị gồm một nửa là đại diện cơ quan quản lý nhà nước, 1/4 là đại diện các chính quyền địa phương và 1/4 còn lại
là đại diện các hộ dùng nước (công nghiệp, nông nghiệp, cấp nước, thuỷ sản,
…) Các quyết định của Hội đồng quản trị phải được Cục lưu vực phê duyệt Cục lưu vực có từ 60 đến 110 uỷ viên, trong đó số đại diện của nhà nước, chính quyền địa phương và các hộ dùng nước là tương đương Cục lưu vực có quyền tự chủ về tài chính, nguồn tài chính chủ yếu được thu từ phí tài nguyên nước và phí ô nhiễm nước Đây là mô hình phù hợp với điều kiện hầu hết các công trình khai thác, sử dụng nước theo quy hoạch đã xây dựng có khả năng kiểm soát tất cả các nguồn nước.[07]
- Mô hình quản lý lưu vực sông Lerma-Chapala của Mêxicô: Sông Lerma-Chapala có chiều dài 750 km nằm ở miền trung Mêxicô, có tổng diện tích 54.000km2, bao gồm 5 tiểu bang với dân số là 15 triệu người, tổng GDP chiếm 9% tổng GDP của Mêxicô Lưu vực này có hồ Chapala là một hồ tự nhiên có tổng diện tích 111.000 ha, dung tích 8 tỷ m3 Một trong những thách thức lớn nhất của khu vực này là nạn khai thác nước quá mức dẫn đến cạn kiệt Do đó, để giải quyết khó khăn trên, tổ chức quản lý lưu vực được thành lập và phát triển Năm 1992, Luật về nước của Mêxicô được ban hành trong
Trang 10đó quy định quy hoạch, phát triển và quản lý tài nguyên nước phải được tiến hành theo lưu vực sông Hội đồng lưu vực được thành lập ở tất cả 26 lưu vực sông của nước này Hội đồng lưu vực sông Lerma-Chapala được thành lập năm 1993, là một diễn đàn mà tại đó chính quyền liên bang, các tiểu bang và các đô thị cũng như các đại diện các hộ sử dụng nước chia sẻ trách nhiệm phân phối tài nguyên nước tại cấp lưu vực Hội đồng họat động dựa trên nguyên tắc phối hợp và đồng thuận Lãnh đạo hội đồng và lãnh đạo các địa phương ở cấp cao nhất Hội đồng có thể đưa ra các chính sách và quyết định ở tầm vĩ mô và được các địa phương thực hành nghiêm túc Tuy nhiên, công tác quản lý việc khai thác nước ngầm, quản lý việc chuyển đổi mục đích sử dụng nước và bảo vệ quyền lợi về nước của người nghèo chưa thực sự mang lại kết quả.[07]
- Mô hình quản lý lưu vực sông Murray-Darling của Australia: Sông Murray-Darling là sông dài thứ tư thế giới (3.780km) với diện tích lưu vực khoảng 1 triệu km2 Lưu vực sông bao gồm 75% bang New South Wale, 56% bang Victoria, 15% bang Queensland, 8% bang Nam Australia và toàn bộ thủ
đô Autralia Có thể coi tài nguyên nước khu vực Murray- Darling là một bài học về giải quyết mâu thuẫn giữa các quyền lợi khác nhau Cơ cấu tổ chức quản lý gồm một Hội đồng, một Uỷ hội và nhiều nhóm đại diện cho các cộng đồng Cơ cấu này tạo diễn đàn để hoạch định các chính sách và chiến lược trong việc chia sẻ nguồn nước và những vấn đề khác trong lưu vực
Hội đồng cấp bộ trưởng lưu vực Murray-Darling bao gồm: Các bộ trưởng phụ trách tài nguyên đất đai, nước và môi trường của liên bang liên quan tới giới hạn mỗi bang không quá ba thành viên Chức năng của Hội đồng là: “ xem xét các vấn đề chính sách có liên quan đến lợi ích chung của chính quyền các bang trong quy hoạch và và quản lý nhằm sử dụng hiệu quả
và bền vững các tài nguyên đất, nước, và môi trường của lưu vực; đề xuất và xem xét các biện pháp nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả các tài nguyên
Trang 11quan đến toàn bộ lưu vực thông qua nguyên tắc đồng thuận Hội đồng dựa vào chính quyền các bang để thi hành các quyết định đó
Uỷ ban lưu vực sông Murray-Darling là cơ quan thực thi các quyết định của Hội đồng, uỷ ban cũng hợp tác làm việc với các bang liên quan Uỷ ban
có trách nhiệm quản lý hệ thống sông, hồ thuộc lưu vực, tư vấn cho Hội đồng
về các vấn đề liên quan đến việc sử dụng các tài nguyên đất, nước, và các tài nguyên khác trong phạm vi lưu vực Uỷ ban bao gồm một Chủ tịch độc lập, mỗi bang có 2 uỷ viên và 2 phó uỷ viên Các uỷ viên thường là trưởng các cơ quan có chức năng quản lý tài nguyên Mô hình quản lý lưu vực sông murray-Darling hiện đang hoạt động khá hiệu quả và được nhiều nước coi như là một trong những mô hình mẫu mực cần được học tập.[07]
1.1.3 Quản lý lưu vực sông ở Việt Nam
Ở nước ta, từ những năm 1960, Đảng và chính phủ đã quyết định việc nghiên cứu Quy hoạch trị thuỷ và khai thác tổng hợp hệ thống sông Hồng, nhằm tìm cách chủ động trị thuỷ, khai thác thuỷ lợi Đồng thời thành lập Uỷ ban bảo vệ sông Hồng để thực hiện nhiệm vụ này Năm 1964, Quy hoạch sông Hồng được Uỷ ban sông Hồng thông qua gồm các vấn đề chính: Trị thuỷ, tưới tiêu, phát điện, vận tải đường thuỷ, và công trình đầu mối tổng hợp Đây là tổ chức lưu vực sông lớn đầu tiên ở nước ta, đánh dấu sự quan tâm của Đảng và Chính phủ tới công tác quản lý bảo vệ sông
Năm 1978, Uỷ ban bảo vệ sông Mê công Việt Nam được thành lập, là
cơ quan đầu mối liên ngành giúp Thủ tướng Chính phủ quản lý chỉ đạo mọi hoạt động của Uỷ hội sông Mê Công quốc tế Văn phòng Uỷ Ban Sông Mê Công Việt Nam trước đây được đặt tại Bộ Thuỷ lợi và hiện nay tại Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hoạt động của Uỷ ban mang đặc thù riêng và gắn liền với phát triển thuỷ lợi, đặc biệt là lũ lụt, hạn hán trên hai vùng chiến lược rất quan trọng của nước ta là đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên
Suốt từ đó đến nay dã có rất nhiều Ban Quản lý quy hoạch các lưu vực sông lớn trên địa bàn nhiều tỉnh đã được thành lập như Ban Quản lý quy
Trang 12hoạch lưu vực sông Hồng- Thái Bình, Đồng Nai, Cửu Long, Vu Gia-Thu Bồn, sông Cả, Sông Srêpôk, sông Đáy, …[06]
1.2 Tổng quan về chất lượng nước sông Cầu
1.2.1 Giới thiệu chung về sông Cầu
Sông Cầu bắt nguồn từ vùng núi Phia- Đeng cao 1.527m ở sườn Đông Nam dãy Pia-bi-ốc của tỉnh Bắc Kạn Dòng chính sông Cầu có hướng chảy Bắc Nam từ Bắc Kạn về Thái Nguyên sau đó đổi hướng Tây Bắc-Đông Nam, dòng sông chảy qua chợ Đồn, chợ Mới, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh,
và đổ vào sông Thái Bình tại Phả Lại-Hải Dương theo bản đồ sau [04] (Hình 1.1 Bản đồ các địa giới các tỉnh sông Cầu chảy qua.)
Trang 13(Nguồn: Trang web: www.vncold.vn )
Hình 1.1: Bản đồ địa giới các tỉnh sông Cầu chảy qua
Trang 14Lưu vực sông có diện tích 6.030 km2 là một phần của lưu vực sông Hồng-Thái Bình (chiếm khoảng 8% diện tích lưu vực sông Hồng-Thái Bình trong lãnh thổ Việt Nam) Lưu vực có tổng chiều dài các nhánh sông khoảng 1.600km, riêng dòng chính dài 290km chạy dài qua các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hải Dương, và Hà Nội, nằm ở toạ
độ từ 21007’ đến 22018’ vĩ độ Bắc, 105028’ đến 106008’ kinh độ Đông, giới hạn bởi cánh cung sông Gâm ở phía Tây, cánh cung Ngân Sơn ở phía Đông, phía Bắc và Tây Bắc giới hạn bởi những dãy núi cao hơn 1.000m, phía Nam giáp Hải Dương và Hà Nội Gồm những chi lưu chính là sông Công, sông Đu
và sông Cà Lồ, có 26 phụ lưu, nằm trong vùng mưa lớn (1.500-2.700m/năm) của Bắc Kạn và Thái Nguyên Tổng lưu lượng nước hàng năm đạt 4,2 tỉ mét khối
Cách đây hơn 10 năm, nước sông Cầu được người dân sử dụng trong sinh hoạt Nhưng hiện nay nó bị ô nhiễm do tiếp nhận trực tiếp nước thải từ các hoạt động kinh tế xã hội (ngành công nghiệp luyện gang thép, nước thải làng nghề, nước thải nhiễm độc từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, nước thải sinh hoạt,…) của người dân ở các khu vực hai bên bờ sông Và nước sông Cầu đang phải đối đầu với các nguy cơ ô nhiễm:
- Lượng nước có chiều hướng suy giảm do rừng đầu nguồn bị tàn phá
- Lũ lụt với cường độ lớn và tần suất cao
- Bồi lấp lòng sông và biến đổi dòng chảy
- Chất lượng nguồn nước suy giảm do phù sa và quá trình xả thải nhiều loại chất thải công nghiệp và sinh hoạt làm cho thành phần lý hoá học của nguồn nước bị thay đổi Nhiều đoạn sông bị ô nhiễm nặng với các chất độc hại gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép như COD, BOD, chất hữu cơ, kim loại nặng độc hại…
Môi trường nước sông Cầu đang bị ô nhiễm nặng nề, được coi là một trong 3 lưu vực sông bị ô nhiễm nặng nhất trong cả nước Trước thực trạng
Trang 1538 dự án của 6 tỉnh thuộc lưu vực sông Cầu và các Bộ, ngành liên quan đăng
ký với số tiền lên tới gần 1.100 tỷ đồng nhằm hạn chế, giảm thiểu suy thoái môi trường lưu vực sông Cầu Các dự án này thuộc khuôn khổ đề án tổng thể sông Cầu giai đoạn 2008-2012, định hướng đến năm 2020 sẽ đưa sông Cầu trở lại trong sạch, bảo đảm cân bằng nước phục vụ hiệu quả nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở lưu vực
1.2.2 Công tác quản lý lưu vực sông Cầu
Được sự quan tâm của Chính phủ, cách đây 10 năm Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu được thành lập, nhưng trong suốt thời gian đó, sức sống của sông Cầu vẫn luôn trong tình trạng ngàn cân treo sợi tóc…Ngày 28/3/2009, Bộ Tài nguyên-Môi trường và UBND tỉnh Thái Nguyên đã chính thức ra mắt Uỷ ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu tại Thành phố Thái Nguyên Uỷ Ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu ra đời theo quyết định
số 174/2006-QĐ/TT do Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt Đề án tổng thể bảo
vệ và phát triển bền vững môi trường sinh thái, cảnh quan lưu vực sông Cầu Với:
- Mục tiêu: giải quyết tổng thể ô nhiễm môi trường nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của các địa phương trên lưu vực sông và toàn quốc
- Nhiệm vụ: Bảo vệ và phục hồi môi trường lưu vực sông Cầu Ủy ban gồm 14 thành viên Ông Phạm Xuân Đương - Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên làm Chủ tịch nhiệm kỳ đầu tiên
Hiện có 800 cơ sở có nguồn thải ra lưu vực sông Cầu mà không qua xử
lý, chủ yếu từ khai khoáng và tuyển quặng Cùng với đó là khoảng 200 làng nghề các loại chủ yếu tập trung ở Thái Nguyên, Bắc Ninh và Bắc Giang (số liệu của cục quản lý môi trường) Vì vậy, nước mặt tại vùng trung lưu và hạ lưu của sông Cầu hiện đang bị ô nhiễm cục bộ bởi một số chất gây ô nhiễm hữu cơ, chất rắn lơ lửng và dầu mỡ, có nơi đang bị ô nhiễm nghiêm trọng.[06]
Trang 16Quá trình phát triển kinh tế xã hội trong mấy năm vừa qua đã và đang làm cho môi trường lưu vực sông Cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng, tình trạng suy thoái và ô nhiễm ở nhiều nơi trên lưu vực sông Cầu đã đến mức báo động Trong khi đó, tác động của phát triển kinh tế xã hội còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới theo xu thế phát triển chung của xã hội Việc sử dụng không hợp
lý tài nguyên nước cho mục tiêu phát triển kinh tế đã và đang khiến ô nhiễm sông Cầu ngày càng trầm trọng
Song tất cả mới dừng lại ở cái nhìn vĩ mô, nên dù cho đã được đầu tư hàng tỷ đồng thì các giải pháp đưa ra vẫn chưa đem lại hiệu quả cho hoạt động quản lý chất lượng nước lưu vực sông Cầu Vì vậy, với mong muốn ở tầm vi mô các giải pháp sẽ phát huy hết được công năng của mình, tôi đã quyết định chọn một số khu vực cụ thể (Tiên Phong và Tân Phú), nhằm đề xuất ra các biện pháp mang tính khả thi nhất
Trang 17Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm xác định được thực trạng chất lượng nước sông
Cầu tại một số xã ở huyện Phổ Yên-Thái Nguyên, làm căn cứ đề xuất biện
pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng nước sông tại khu vực nghiên cứu
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là đoạn sông Cầu và các hoạt
động kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến chất lượng nước sông trên địa bàn 2 xã
Tiên Phong và Tân Phú
2.3 Phạm vi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề tài tiến hành tại 2 xã Tiên Phong
và Tân Phú
2.4 Nội dung nghiên cứu
1 Nghiên cứu thực trạng chất lượng nước tại xã Tiên Phong và Tân Phú
của huyện Phổ Yên-Thái Nguyên
2 Nghiên cứu các hoạt động kinh tế xã hội tác động đến chất lượng nước
tại xã Tiên Phong và Tân Phú của huyện Phổ Yên-Thái Nguyên
3 Nghiên cứu thực trạng các hoạt động quản lý chất lượng nước sông Cầu
tại xã Tiên Phong và Tân Phú của huyện Phổ Yên-Thái Nguyên
4 Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng nước
sông Cầu tại xã Tiên Phong và Tân Phú của huyện Phổ Yên-Thái Nguyên
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Thu thập và kế thừa tài liệu có liên quan
Các thông tin thu thập:
+ Bản đồ địa hình và bản đồ hiện trạng sử dụng đất của khu vực nghiên cứu + Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu
Trang 182.5.2 Điều tra thực địa
Chọn địa điểm nghiên cứu:
Sau khi đã khảo sát thực địa, chúng tôi quyết định chọn Tiên Phong và Tân Phú làm đối tượng điều ra, nghiên cứu Hai xã có xấp xỉ 12 km chiều dài sông Cầu chạy qua
2.5.2.1 Điều tra chất lượng nước
2.5.2.1.1 Điều tra về đặc điểm thuỷ văn sông
Dọc trên suốt chiều dài đoạn sông chọn 6 vị trí điển hình tiến hành mô
tả đặc điểm tại từng vị trí: Địa điểm, chiều dài, chiều rộng, mực nước cao thấp
và thời gian thay đổi, lưu lượng dòng chảy, tình hình xói mòn, mức độ sạt lở,
…
Vẽ sơ đồ mặt cắt ngang và mặt cắt dọc mô tả trên từng vị trí đã chọn Các thông tin thu thập theo mẫu phiếu 01, chi tiết ở phần phụ lục
2.5.2.1.2 Điều tra thực trạng chất lượng nước
Tại các điểm điều tra tiến hành:
- Xác định chất lượng nước bằng phương pháp định tính (mùi vị, màu sắc, …
- Quan sát các hoạt động kinh tế xã hội tác động đến chất lượng nước sông, trên cơ sở đó ước lượng tác động, tính toán lượng thải sông phải nhận
- Lấy 6 mẫu về phân tích một số chỉ tiêu thông dụng:
Trang 19chắc, dễ đậy kín, dễ mở, chịu nhiệt, khối lượng, dạng và kích cỡ hợp lý, dễ làm sạch và có thể dùng lại, dễ kiếm và giá rẻ
Để đảm bảo các yêu cầu trên, bình đựng mẫu phải là chai polime trong Trước khi lấy mẫu chai cần rửa sạch và tráng kỹ bằng nước tại điểm lấy mẫu +Phương pháp lấy mẫu
Dựa vào đặc điểm nước sông và các nguồn thải vào sông, phù hợp với nội dung nghiên cứu, ta sử dụng phương pháp lấy mẫu đơn (mỗi mẫu riêng lẻ được lấy ngẫu nhiên, chú ý về mặt thời gian và địa điểm) của vùng nước khi lấy mẫu
+Cách lấy mẫu:
Tại các điểm lấy mẫu, nước được lấy ở giữa dòng bằng các chai đã chuẩn bị, lấy đầy, nắp nút chai dưới mặt nước để không tạo lỗ hổng chứa không khí ảnh hưởng đến các tính chất của nước nhất là chỉ tiêu DO
Toàn bộ thể tích mẫu nước được lấy trong cùng một khoảng thời điểm Mẫu đơn được dùng để xác định thành phần nước ở 1 thời điểm nhất định +Bảo quản và vận chuyển mẫu:
Tất cả các mẫu nước sau khi lấy cho vào chai, làm lạnh đến khoảng 4o
C bằng cách ướp đá (do không có điều kiện bảo quản bằng tủ lạnh) vận chuyển ngay về phòng thí nghiệm Khi làm lạnh và để ở chỗ tối, hầu hết các mẫu bền đến 24h
2.5.2.1.3 Điều tra những tác động của sông đến các hoạt động kinh tế xã hội và cộng đồng
Để điều tra ảnh hưởng của chất lượng nước sông tới hoạt động kinh tế
xã hội và sức khoẻ cộng đồng chúng tôi tiến hành phỏng vấn 60 hộ dân theo phiếu 02 và 50 hộ dân theo mẫu phiếu 03.Chi tiết tại phụ biểu 02 và 03) Kết quả thu được tổng hợp theo bảng 01 và 02
2.5.2.2 Điều tra các hoạt động kinh tế xã hội tác động đến chất lượng nước sông
Trang 20Để tìm hiểu ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế xã hội đến chất lượng nước chúng tôi tiến hành phỏng vấn 100 hộ dân theo thông tin trong mẫu phiếu điều tra 04 Chi tiết tại phụ biểu 04 Kết quả thu được tổng hợp trong bảng 03
2.5.2.3 Điều tra về thực trạng hoạt động quản lý chất lượng nước sông Cầu tại địa điểm nghiên cứu
Tiến hành điều tra:
- Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, công cụ, biện pháp, hiệu quả …
- Kiến thức, nhận thức của người dân về chất lượng nước sông Cầu và
sự cần thiết phải bảo vệ sông
Tiến hành phỏng vấn 60 người dân về kiến thức, nhận thức của họ về chất lượng nước sông Cầu và sự cần thiết phải bảo vệ sông theo mẫu phiếu
05 Chi tiết tại phụ biểu 05 Kết quả thu được tổng hợp theo bảng 04
II.5.3 Xử lý nội nghiệp
- Toàn bộ mẫu nước được đưa về phòng phân tích xác định một số tiêu chí bằng các phương pháp cụ thể:
+ Phương pháp phân tích chất rắn lơ lửng
Hàm lượng chất rắn lơ lửng được tính theo công thức sau:
SS = (m2 - m1) * 1000/ V (mg/l) Trong đó:
m1: khối lượng giấy lọc sấy ở 1050C đến khi khối lượng không đổi trước khi lọc (mg)
Trang 21m2: khối lƣợng giấy lọc sấy ở 1050C đến khối lƣợng không đổi sau khi lọc (mg)
Sau khi pha loãng mẫu phân tích, tiến hành đo giá trị DOo ở 20oC sau
đó đem ủ trong tủ BOD chuyên dụng ở 20oC trong 5 ngày Tiến hành đo lại giá trị DO5 sau khi ủ, ta tính đƣợc giá trị BOD5 (mg/l) Giá trị BOD5 thu đƣợc
là giá trị sau khi đã trừ đi giá trị BOD5 trong mẫu trắng
- Tất cả phiếu phỏng vấn đƣợc tính toán, tổng hợp theo các bảng biểu,
và phân tích Từ kết quả phân tích rút ra những kết luận cần thiết
Trang 22Chương 3 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI
CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
(Nguồn: Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Phổ Yên, Ủy ban
nhân dân xã Tiên Phong và Tân Phú)
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Phổ Yên là một huyện trung du miên núi nằm ở phía Nam của tỉnh Thái Nguyên
Phía Bắc giáp với thị xã Sông Công
Phía Nam giáp huyện Sóc Sơn – Hà Nội
Phía Đông giáp huyện Phú Bình và một phần giáp với huyện Hiệp Hoà
3.1.1.2 Địa hình
Chủ yếu là địa hình đồi bát úp xen các dãy núi cao thoải, lượn sóng nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam Đồi núi chủ yếu nằm ở phía Tây của huyện dọc theo sườn dãy núi Tam Đảo, có độ cao tuyệt đối so với mặt nước biển bình quân là 145m Đỉnh cao nhất cao hơn 200m, độ cao tương đối từ 10-15m, độ dốc bình quân từ 200 – 430
Riêng Tiên Phong có địa hình thấp hơn, Tân Phú lại thuộc vùng đồng bằng của huyện Phổ Yên mang đặc điểm của địa hình vùng đồng bằng Bắc
Bộ Địa hình thấp dần từ phía Đông Bắc xuống phía Tây Nam ven sông Cầu
3.1.1.3 Khí hậu, thuỷ văn
+ Chế độ nhiệt
Trang 23Nhiệt độ bình quân năm 23,70C, cao nhất vào tháng 7(38,30C), thấp nhất vào tháng 1(120C) Nhiệt độ trung bình nhỏ nhất là 15,70
C vào tháng 12
+ Chế độ mưa
Do nằm trong vùng Đông Bắc-Bắc Bộ nên chế độ mưa mang những đặc điểm đặc trưng là lượng mưa lớn (tổng lượng mưa hàng năm khoảng 1.700mm), lượng mưa trung bình tháng là 141,08mm Song phân bố không đều giữa các tháng trong năm Mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 6 (312mm), ít nhất là 8mm vào tháng 2
Riêng Tân Phú có lượng mưa trung bình năm cao hơn (2020mm/ năm) Vào mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 15% tổng lượng mưa hàng năm Mùa mưa có lượng mưa lớn chiếm 85% tổng lượng mưa cả năm Trong đó mưa lớn nhất vào tháng 7–8 (Chiếm gần 40% cả năm) Thời điểm này trùng với mùa bão nên thường thừa nước gây úng ngập, lũ lụt, …
Trang 24- Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét, tỷ lệ sét cao, thành phần cơ giới nặng, độ dày tầng đất bình quân 20-70cm nằm ở phía Tây của huyện
- Đất feralit vàng nhạt phát triển trên đất sa thạch, quăczit có thành phần cơ giới nhẹ, pha cát
Tiên Phong chủ yếu là đất phù sa cổ và đất pha cát, Tân Phú có tài nguyên đất phong phú hơn, với 4 loại đất chính là:
+ Đất phù sa đƣợc bồi hàng năm: Có diện tích 180,28ha chiếm 37,73% diện tích tự nhiên, phân bố ở phía Nam xã
+ Đất phù sa không đƣợc bồi: Có diện tích 100 ha chiếm 35,32% tổng diện tích tự nhiên, phân bố rải rác trong xã
+ Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng: Có diện tích 12,5ha chiếm 2,62% tổng diện tích tự nhiên, phân bố rải rác trong xã
+ Đất bạc màu: Có diện tích 43,75ha bằng 9,16% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở phía Bắc xã
3.1.1.5 Thảm thực vật
Chủ yếu gồm các kiểu chính sau:
- Kiểu rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác tầng cây chiếm ƣu thế nhƣ Thành ngạnh, Vạng trứng, Thẩu tấu, …
- Kiểu rừng tre nứa đƣợc hình thành trên đất rừng tự nhiên sau khi khai thác nhƣng vẫn còn giữ đƣợc tính chất đất rừng Các diện tích có sự ƣu hợp giang, quần hợp nứa nhỏ
Trang 25Riêng Tiên Phong và Tân Phú tài nguyên động vật đơn điệu hơn, chỉ có một số loài nuôi trong gia đình như trâu bò, chó, mèo, lợn, gà, cu sen, …
3.1.1.7 Các nguồn tài nguyên
Tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên đất phong phú có thể phục vụ cho công nghiệp vật tư xây dựng
Tài nguyên rừng: Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 7045,4 ha, trong đó đất rừng sản xuất là 4462,1 ha, rừng phòng hộ là 2583,3 ha
Riêng Tiên Phong và Tân Phú chỉ còn rừng sản xuất, chủ yếu là tre, keo, và xoan
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.2.1 Dân số và lao động
Toàn huyện có 32.013 hộ tương đương với 137.056 nhân khẩu, với 77.403 lao động thuộc 8 dân tộc anh em sinh sống trong đó Tiên Phong chiếm 14.015 nhân khẩu, Tân Phú có 49.500 nhân khẩu, tất cả đều là dân tộc kinh
3.1.2.2 Cơ cấu ngành kinh tế
Nghề sản xuất chính của người dân là sản xuất nông lâm nghiệp, ngoài
ra còn có một bộ phận nhỏ tập trung vào sản xuất dịch vụ và thương mại
3.1.2.3 Văn hoá, xã hội
3.1.2.3.1 Giáo dục
Toàn huyện có 48 trường tiểu học, trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT), với 435 lớp Trong đó tiểu học 27 trường và 18 trường THCS, 3 trường THPT
3.1.2.3.2 Y tế
Toàn huyện có 20 cơ sở y tế, trong đó có 2 cơ sở khám đa khoa, 18 trạm y tế xã với tổng số giường bệnh 170 cái, 167 cán bộ y tế Đây là điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc sức khỏe của nhân dân
3.1.2.2.3.3 Giao thông
Chất lượng đường tương đối tốt tạo điều kiện cho trao đổi, giao lưu buôn bán với các nơi khác
Trang 26Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Thực trạng chất lượng nước sông Cầu tại Tiên Phong và Tân Phú 4.1.1 Đặc điểm thuỷ văn sông Cầu tại khu vực nghiên cứu
Sông Cầu chảy qua địa bàn khu vực nghiên cứu có tổng chiều dài xấp
xỉ 12 km, chiều rộng trung bình 70m và có ngòi Tiểu Lễ đổ nước vào sông Cầu tại địa bàn xã Tiên Phong, thường xuyên cung cấp điều tiết nước cho sông Ngoài ra còn có nước núi Cốc (hồ Núi Cốc) dẫn về bằng hệ thống thuỷ lợi mương nước Cốc, được người dân sử dụng chủ yếu để tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, khi thừa nó sẽ được xả vào sông Cầu nhờ trạm bơm cống Táo ở cuối xã Tân Phú
Là khu vực trung lưu, sông Cầu chảy qua địa bàn vốn tương đối êm đềm Đoạn chảy qua 2 xã nghiên cứu tuy chỉ gần 12 km song cũng đã thể hiện
sự quanh co, uốn khúc Hướng chảy chính của sông là Tây Bắc - Đông Nam Chế độ thuỷ văn sông Cầu được chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa lũ và mùa kiệt Mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 9 chiếm 70-80% tổng lượng dòng chảy năm Mùa kiệt từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau, chỉ chiếm 20-30% tổng lượng dòng chảy năm Lưu lượng dòng chảy các trong năm chênh lệch nhau tới 10 lần, mực nước cao và thấp nhất chênh nhau khá lớn, có thể tới 5-6m Vào mùa lũ, nước sông lên cao ngập đến lưng chừng nhà của các hộ sống ven sông Nhưng do biến đổi về hình dạng và chế độ thuỷ văn, nước sông giờ đây không lên cao nữa, năm lên cao nhất cũng chỉ tới vườn Mùa kiệt nước sông cạn dần, dòng chảy bị thu hẹp song vẫn sâu và rộng hơn trước rất nhiều Cách đây hơn 10 năm, nước sông vào mùa này rất thấp, chỗ sâu nhất cũng chỉ tới 2-3m, lòng sông hẹp bằng 1 bước chân Nhưng hiện nay lòng sông bị biến đổi mạnh mẽ, mở rộng ra hai bên bờ 20 lần thậm chí có đoạn rộng hơn 25 lần và sâu hơn tới 10 lần Những biến đổi này phần lớn là do các hoạt động kinh tế
xã hội của người dân
Trang 27Không những thế, các hoạt động này còn tác động mạnh đến cấu trúc
bờ sông, làm cho nhiều đoạn bị sạt lở nghiêm trọng, điển hình là tại 6 điểm chúng tôi dã điều tra (Bảng 4.1)
Bảng 4.1: Đặc điểm sạt lở tại các điểm nghiên cứu
Thể tích lượng đất sạt
Lòng sông rộng khoảng 60m, sâu 6-8 m
-Bờ bên Bắc Giang canh tác khoai lang, giáp mép sông có nhiều cây bụi, ngoài ra còn có hoạt động khai thác cát sỏi, bờ sông khá thoải
-Bờ bên này dốc, sạt lở diễn ra mạnh (chiều dài đoạn sạt lở 30m, sâu vào bờ từ 5-7m và hẹp dần về phía cuối đoạn sạt, chiều cao đoạn sạt so với mặt nước từ 3-6m) mặc dù
đã có mô hình xoan+cây bụi ven bờ cũng không ngăn cản được sức tàn phá của hoạt động tàu cuốc Ở đoạn sạt tạo thành các hố sụt sâu xuống (hình 4.1 và 4.2)
Đoạn kè dài khoảng 500m, một đầu đoạn kè hiện tượng sạt lở vẫn đang diễn ra, và có xu hướng ăn sâu vào trong nếu không được
Trang 28quan tâm kịp thời
-Bờ thuộc địa phận Bắc Giang sườn thoải
-Bờ bên này dốc, sạt lở mạnh, đoạn sạt dài tới 60m, có chỗ ăn sâu vào khoảng 10m, hẹp dần về hai đầu, sâu xuống 5m Cây trồng phía trên có nguy cơ bị sạt xuống sông (Hình 4.8, 4.9 và 4.10)
Sông rộng 60m, sâu trên 10m
-Bờ bên Bắc Giang thoải
-Bờ bên này dốc, đang sạt lở mạnh, đoạn sạt dài 30m, ăn sâu vào 9m, chiều cao 4m 1.080
540
Tổng lượng đất sạt tại 6 điểm nghiên cứu 4.095
Trang 29Hình 4.3: Kè Thù Lâm Hình 4.4: Hoạt động canh tác
Hình 4.1: Đoạn sạt tại bến đò
Nguyên Hậu
Hình 4.2: Hố sạt tại bến đò
Nguyên Hậu
Trang 30- Kết quả tính lượng đất sạt xuống sông cho thấy lượng đất
bị sạt rất lớn, tại 6 vị trí điển hình mà có tới 4.095m3 đất bị sạt Lượng đất này
là nguyên nhân gây nên độ đục của nước sông Nếu tình trạng này cứ tiếp tục
Trang 31diễn ra mà không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì nước sông sẽ ngày càng
ô nhiễm và lòng sông sẽ ngày càng mở rộng về hai bên bờ
Nhìn chung, đặc điểm thuỷ văn sông Cầu khá phức tạp, đặc biệt là sự biến biến đổi dòng chảy và biến dạng bờ sông
4.1.2 Thực trạng chất lượng nước sông Cầu
Để có cái nhìn tổng quát về quá trình thay đổi chất lượng nước sông Cầu trong những năm gần đây, chúng tôi đã đánh giá mức độ ô nhiễm thông qua phỏng vấn cộng đồng và quan sát bằng trực giác các chỉ tiêu vật lý của nước sông Kết quả thu thập cho thấy:
Ở mẫu phiếu 03: 100% nhận thấy nước sông Cầu đã bị ô nhiễm Nhưng theo mẫu phiếu 04, phần lớn thấy nước sông đã bẩn song chưa tới mức ô nhiễm Ý kiến cụ thể của người dân tổng hợp trong bảng 4.2
Ngoài ra có thể dựa vào tác động của nước sông tới các hoạt động kinh
tế xã hội để thấy được thực trạng chất lượng nước sông Kết quả phỏng vấn
Trang 32hoạt (91,7% người dân ở Tiên Phong và 85,7% người dân ở Tân Phú) mà chỉ
có một bộ phận nhỏ còn lại dùng để tưới tiêu Từ điều này có thể khẳng định chất lượng nước sông bị xuống cấp, không còn phục vụ được cho các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng dân cư
Để đánh giá chính xác hơn chất lượng nước sông Cầu chúng tôi tiến hành lấy 6 mẫu nước (cụ thể trong phần phương pháp nghiên cứu) tại các vị trí được mô tả trong bảng 4.3
Bảng 4.3 : Vị trí lấy mẫu tại các điểm nghiên cứu
1
Thẳng nhà ông Mười, gia đình chăn nuôi nhiều lợn nhất của xã Tiên Phong (Gần 100 con) xuống Điểm lấy mẫu nằm phía sau cách vị trí khai thác cát sỏi khoảng 10m
2 Bến đò Vạn Thạch, nơi hiện tượng sạt lở diễn ra mạnh, đối diện
bên Bắc Giang đang có hoạt động khai thác cát sỏi
3 Thẳng mô hình trám-vải xuống, nay đã bị phá huỷ gần hết
4 Điểm cuối xã Tiên Phong, gần cầu treo sang xã Đông Cao Mô
hình canh tác chính là hoa màu
5
Bãi xoan của xã Tân Phú, điểm cua mạnh nhất, vào mùa lũ đây
là tụ điểm của các loại chất thải làm tắc nghẽn dòng, nước không chảy được mà vẩn ngược trở lại
6
Điểm hoà nhập nước Cốc vào sông Cầu nhờ cống Táo, đây là cống duy nhất nối liền và lưu thông nước giữa 2 bên bờ đê, chống ngập úng vào mùa lũ
Và tiến hành phân tích các chỉ tiêu: pH, DO, BOD5(phản ánh hàm lượng chất hữu cơ trong nước), độ đục và hàm lượng chất rắn lơ lửng Kết
Trang 34Bảng 4.4: Kết quả phân tích một số chỉ tiêu thể hiện chất lượng nước tại khu vực nghiên cứu
bình
TCVN 5942-1995
Trang 350 50 100 150 200 250 300 350 400 450
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9
Số liệu trong bảng 4.4 và Hình cho thấy:
Hình 4.11: Đồ thị biến thiên
nồng độ pH
Hình 4.12 : Đồ thị biến thiên hàm
lƣợng oxy hoà tan
Hình 4.13: Đồ thị biểu diễn nhu
cầu ôxy sinh hoá
Hình 4.14: Đồ thị biến thiên hàm lƣợng chất rắn lơ lửng
Trang 36- Trong các chỉ tiêu đã phân tích, có 2 chỉ tiêu là nhu cầu ôxy sinh hoá BOD5 và hàm lượng chất rắn lơ lửng vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCVN 5942-1995: Tiêu chuẩn nước mặt cho các hoạt động trừ nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản) Cụ thể:
*) Nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD5) vượt quá tiêu chuẩn cho phép Giá trị trung bình của 6 mẫu vượt quá tiêu chuẩn 2,51 lần Tất cả các mẫu đều vượt TCVN Riêng mẫu 01 vượt quá tiêu chuẩn tới 4,04 lần Điều này cho thấy nước sông Cầu đã bị ô nhiễm chất hữu cơ
*) Hàm lượng chất rắn lơ lửng rất cao, tất cả các mẫu phân tích đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép Giá trị trung bình của 6 mẫu phân tích vượt TCVN 2,29 lần Trong đó có mẫu 06 hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước thấp nhất song cũng đã bắt đầu vượt tiêu chuẩn Đặc biệt mẫu 01 hàm lượng
SS cao nhất (410mg/l) gấp 5,13 lần tiêu chuẩn đặt ra, chứng tỏ nước sông Cầu
*) Riêng độ đục của nước tuy tiêu chuẩn nước mặt không có quy định ngưỡng giới hạn cụ thể song nếu so sánh với tiêu chuẩn 09 của bộ y tế về chất lượng nước sinh hoạt thì độ đục cho phép trong nước sinh hoạt là 5NTU, như vậy với độ đục như trên có thể kết luận nước sông có độ đục quá cao, ảnh hưởng lớn tới chất lượng nước, là nguyên nhân gây ra màu sắc khác thường của nước sông
- Từ kết quả điều tra và phân tích cho thấy nước sông Cầu tại khu vực nghiên cứu đã bị ô nhiễm bởi hàm lượng chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng
Với thực trạng chất lượng nước như trên, nước sông sẽ có những tác
Trang 37*) Tác động của chất lượng nước sông tới hoạt động sản xuất sinh hoạt của cộng đồng dân cư khu vực nghiên cứu
Nước sông Cầu vốn là nguồn chính cung cấp cho mọi hoạt động kinh tế
xã hội cũng như các hoạt động khác có liên quan đến việc sử dụng nước của người dân sống ven sông Nhưng khi nước sông bị ô nhiễm, người dân không còn sử dụng nguồn nước này phục vụ cho sản xuất sinh hoạt mà phải tìm nguồn nước thay thế, do đó sẽ làm tăng thêm chi phí sử dụng nước, ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân
Ví dụ: Đối với nước sinh hoạt sẽ phát sinh chi phí đào giếng khơi, giếng khoan, hệ thống bể chứa, …Đối với nước sản xuất thì tăng thêm chi phí cho việc xây dựng hệ thống kênh mương thuỷ lợi
Không chỉ có vậy, nước sông ô nhiễm còn ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ của người dân địa phương
*) Tác động của nước sông tới sức khoẻ của cộng đồng dân cư khu vực nghiên cứu
Kết quả điều tra, phỏng vấn 60 hộ dân được tổng hợp trong bảng 4.5
Trang 38bệnh đường ruột, bệnh phụ khoa chưa được phát hiện song có thể tiềm ẩn nguy cơ, nếu như vậy thì sẽ rất nguy hiểm
4.2 Các hoạt động kinh tế xã hội của khu vực có tác động tới chất lượng nước sông
Kết quả điều tra, phỏng vấn 100 hộ dân (Bảng 03 ở phần phụ lục) cho thấy: 100% dân cư sử dụng nước giếng khơi cho hoạt động sinh hoạt và chăn nuôi Ngoài ra, họ còn sử dụng nước từ hệ thống nước núi Cốc cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Một vài người sử dụng nước ao, hồ để tưới cây Tiên Phong và Tân Phú là 2 xã thuần nông Đại bộ phận dân cư trong vùng sống bằng hoạt động canh tác nông lâm nghiệp (≈90%) Một bộ phận nhỏ (≈10%) sống bằng sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ, như mây tre đan, khai thác cát sỏi, nung gạch,
Quá trình sử dụng nước cho các hoạt động kinh tế xã hội này sẽ có những tác động tới chất lượng nước Nhìn chung, mỗi ngành nghề ảnh hưởng tới chất lượng nước sông Cầu theo cách thức và mức độ khác nhau Cụ thể:
4.2.1 Ngành sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế (≈90%) Nói đến sản xuất nông nghiệp, phải đề cập tới hai lĩnh vực chính là trồng trọt
và chăn nuôi
a) Trồng trọt
Sản xuất lương thực-thực phẩm không trực tiếp sản sinh chất thải nguy hại nhưng lại là một trong những hoạt động có tác động tới chất lượng nước sông Cầu tại khu vực nghiên cứu bởi hàm lượng phân bón, thuốc trừ sâu, và ảnh hưởng của khâu xử lý thực bì
Theo kết quả phỏng vấn 100 hộ dân về hiệu quả các mô hình sản xuất của Tiên Phong và Tân Phú, lượng phân bón và thuốc trừ sâu bệnh sử dụng cho mỗi ha cây trồng được tổng hợp trong bảng 4.6:
Trang 40Bảng 4.7: Biểu thống kê diện tích đất và khối lượng phân bón, hoá chất
sử dụng cho các loại cây trồng trong một năm
TT Loại cây
trồng
Diện tích (ha)
Tổng lượng phân bón và thuốc sâu
1
Lúa
1.543,37
16.977.070PC +257.742,79Đ +858.113,72L +257.742,79K +86.429TS
2
Ngô
232,57
1.930,331PC +64.654,46Đ +96.749,12L +25.582,7K +13.023,92TS
(Nguồn: Phòng địa chính xã Tiên Phong và Tân Phú;kết quả điều tra hộ dân)
Trong đó: PC: Phân chuồng (kg)
Đ: Đạm (kg) L: Lân (kg) K: kali (kg) TS: Thuốc sâu (gói) Bảng 4.7 cho thấy mỗi năm 2 xã sử dụng tổng lượng phân bón và thuốc sâu là: 17.238.950,33 kg phân chuồng + 322.115,83 kg đạm + 989.489,5 kg lân + 289.743,59 kg kali + 102.709 gói thuốc sâu
Lượng phân bón và thuốc trừ sâu bệnh này không được cây trồng sử dụng hết, phần dư thừa còn lại (khoảng 33% lượng sử dụng, theo bài khẩn cấp sông Cầu, báo lao động cuối tuần số 48 ngày 09/12/2007), một phần sẽ hoà tan vào nước chảy ra hệ thống kênh mương thuỷ lợi đổ vào dòng chảy sông