Phân loài Gà lôi trắng hiện đang được nuôi trong Vườn thú Hà Nội, Thảo cầm viên Thành phố Hồ Chí Minh phục vụ cho nhu cầu giải trí và làm cảnh; Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển si
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NUÔI GÀ LÔI TRẮNG
(Lophura nycthemera Linnaeus 1758) TẠI VƯỜN QUỐC GIA
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật nuôi Gà lôi trắng (Lophura nycthemera
Linnaeus 1758) tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình” được thực hiện
từ tháng 01 năm 2019 đến nay đã hoàn thành
Nhân dịp này, tôi bày tỏ lời biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường, đặc biệt là Ths Giang Trọng Toàn đã tận tình hướng dẫn tôi trong việc định hướng nghiên cứu, xây dựng đề cương, hướng dẫn thu thập thập số liệu và hoàn thiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban quản lý Vườn Quốc gia Cúc Phương; Lãnh đạo và nhân viên Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu ngoại nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn bên tôi, ủng
hộ và giúp đỡ tôi cả về vật chất và tinh thần trong suốt thời gian học ở trường Đại học Lâm nghiệp và thực tập tốt nghiệp
Mặc dù bản thân tôi đã rất cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu ngắn, kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên bản khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô giáo và bạn đọc để khoá luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Xuân Mai, ngày 20 tháng 05 năm 2019
Trang 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
nguyên Thiên nhiên - International Union for Conservation of Nature
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tình hình ngiên cứu trên thế giới 3
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 4
1.3 Một số đặc điểm về loài Gà lôi trắng (Lophura nycthemera) 7
1.3.1 Đặc điểm hình thái 7
1.3.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái 8
1.3.3 Phân bố 9
1.3.4 Tình trạng 9
PHẦN II: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 10
2.1 Điều kiện tự nhiên 10
2.1.1 Vị trí địa lý 10
2.1.2 Địa hình 11
2.1.3 Khí hậu thủy văn 11
2.1.4 Tài nguyên động thực vật rừng 12
2.2 Điều kiện kinh tế xã hội 13
2.2.1 Dân số và lao động 14
2.2.2 Kinh tế, xã hội 14
2.3 Sơ lược về Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật 15
PHẦN III: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 16
3.1.1 Mục tiêu chung 16
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 16
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
Trang 53.2.2 Phạm vi nghiên cứu 17
3.3 Nội dung nghiên cứu 17
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Kế thừa tài liệu 18
3.4.2 Phương pháp phỏng vấn 18
3.4.3 Phương pháp theo dõi và thử nghiệm 19
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Đặc điểm mô hình nuôi Gà lôi trắng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương 23
4.2 Kỹ thuật xây dựng chuồng trại nuôi Gà lôi trắng 27
4.3 Chế độ dinh dưỡng cho Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi dưỡng 28
4.3.1 Thành phần thức ăn của Gà lôi trắng 28
4.3.2 Kỹ thuật chế biến và cách cho ăn 32
4.3.3 Khẩu phần ăn của Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi dưỡng 33
4.4 Khả năng sinh sản và kỹ thuật chọn giống Gà lôi trắng 37
4.4.1 Khả năng sinh sản của Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi dưỡng 37
4.4.2 Kỹ thuật ấp trứng 40
4.4.3 Chăm sóc gà con 41
4.4.4 Chọn giống gà sinh sản 41
4.5 Một số loại bệnh thường gặp và biện pháp phòng bệnh ở Gà lôi trắng 41
4.5.1 Bệnh Newcastle 42
4.5.2 Bệnh Viêm phế quản truyền nhiễm 42
4.5.3 Bệnh Tụ huyết trùng 43
4.5.4 Bệnh E.co li (bệnh đường ruột) 44
4.6 Đề xuất một số giải pháp phát triển Gà lôi trắng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương 44
4.6.1 Các hạn chế của Trung tâm tâm trong việc nuôi dưỡng Gà lôi trắng 44
4.6.2 Các đề xuất nhằm phát triển Gà lôi trắng ở Trung tâm 45
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Mô hình nuôi Gà lôi trắng tại VQG Cúc Phương 19
Bảng 3.2: Thành phần các loại thức ăn của Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi dưỡng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương 20
Bảng 3.3: Khẩu phần ăn hàng ngày của Gà lôi trắng 21
Bảng 3.4: Một số loại bệnh thường gặp ở Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi 21
Bảng 4.1: Thông tin về các cá thể Gà lôi trắng tại VQG Cúc Phương 23
Bảng 4.2: Thành phần thức ăn của Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi dưỡng 29
Bảng 4.3: Danh sách các loại thức ăn ưa thích của Gà lôi trắng 30
trong điều kiện nuôi dưỡng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương 30
Bảng 4.4: Kỹ thuật chế biến thức ăn cho Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi 32
Bảng 4.5: Kết quả theo dõi khẩu phần ăn của Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi dưỡng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương 34
Bảng 4.6: Tỉ lệ thành phần thức ăn cho Gà lôi trắng sinh sản 36
Bảng 4.7: Khẩu phần ăn của Gà lôi trắng ở giai đoạn ấp trứng 36
Bảng 4.8: Số lượng trứng Gà lôi trắng thu được từ tháng 01/2015 – 05/2015 37
Bảng 4.9: Kết quả ấp trứng Gà lôi trắng 40
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Gà lôi trắng (Lophura nycthemera) được nuôi tại Trung tâm Cứu hộ,
bảo tồn và phát triển sinh vật – VQG Cúc Phương 8
Hình 2.1: Bản đồ hành chính Vườn Quốc gia Cúc Phương 10
Hình 4.1: Biểu đồ biểu diễn số lượng Gà lôi trắng theo các độ tuổi tại Vườn Quốc gia Cúc Phương 25
Hình 4.2: Chuồng nuôi Gà lôi trắng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương 27
Hình 4.3: Mô hình nuôi Giun quế cung cấp thức ăn cho Gà lôi trắng 31
Hình 4.4: Biểu đồ biểu diễn số lượng trứng thu được tại các chuồng nuôi 39
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi động vật hoang dã không những có vai trò quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế mà còn có ý nghĩa góp phần bảo tồn đa dạng sinh học Ở Việt Nam, chăn nuôi động vật hoang dã có từ lâu đời nhưng chỉ thực sự phát triển trong khoảng 30 năm trở lại đây Nhiều loài động vật hoang dã được nhân nuôi thành công đã cung cấp một lượng lớn hàng hóa cho nhu cầu thực phẩm,
dược liệu của xã hội như Ếch đồng (Hoplobatrachus rugulosus), Ba ba trơn (Pelodiscus sinensis), Rắn hổ mang (Naja atra), Hươu sao (Cervus nippon), Cá sấu nước ngọt (Crocodylus siamensis ) v.v Hiện nay, trong cả nước có khoảng
gần 200 loài động vật hoang dã được gây nuôi, trong đó có trên 100 loài quý hiếm được nuôi với mục đích bảo tồn Đối với những loài có khả năng sinh sản tốt trong điều kiện nuôi nhốt được nhân giống và xin giấy phép thực hiện các hoạt động thương mại, điển hình như các loài cầy (Viverridae), các loài giống
Macaca và gần đây có nhiều cơ sở đang nhân nuôi thành công các loài trong họ
Trĩ (Phasianidae)
Gà lôi trắng (Lophura nycthemera) là một trong 24 loài thuộc họ Trĩ, có
tiềm năng cho phát triển chăn nuôi do loài có màu sắc đẹp, nguồn thức ăn dễ kiếm và có giá trị thực phẩm cao Ở nước ta, loài Gà lôi trắng gồm có 5 phân
loài: phân loài Gà lôi trắng (L.n.nycthemera) phân bố ở các tỉnh Đông Bắc Việt Nam; phân loài Gà lôi boli (L n beaulieui) phân bố ở Lai Châu đến Hà Tĩnh; phân loài Gà lôi berli (L n berliozi) có phân bố ở sườn Đông dãy Trường Sơn; phân loài Gà lôi beli (L n beli) phân bố từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi; phân loài Gà lôi vằn (L n annamensis) phân bố ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lăk, Lâm
Đồng, Đồng Nai, Sông Bé (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998) Số lượng Gà lôi trắng ngoài tự nhiên đang bị suy giảm mạnh bởi các hoạt động bẫy bắn của con người nên loài được đưa vào danh mục Cấm khai thác sử dụng vì mục đích thương mại ở Việt Nam - nhóm IB trong Nghị định 06/2019/NĐ-CP (Nghị định Chính phủ, 2019)
Mặc dù Gà lôi trắng không được phép khai thác ngoài tự nhiên phục vụ cho hoạt động thương mại nhưng với số lượng mẫu rất ít được tịch thu từ các vụ
Trang 9buôn bán vận chuyển trái phép không thể thả lại tự nhiên, Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm và bước đầu thành công trong việc cứu hộ và phát triển loài Nếu số lượng Gà lôi trắng tiếp tục được nhân lên sẽ giảm áp lực cho quần thể ngoài tự nhiên và góp phần to lớn cho công tác bảo tồn Chính phủ Việt Nam cũng cho phép việc chăn nuôi các loài thuộc nhóm IB theo Nghị định 82/2006/NĐ-CP (Nghị định Chính phủ, 2006) và sử dụng các sản phẩm theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, kỹ thuật chăn nuôi loài hiện vẫn chưa hoàn thiện nên cần tiếp tục nghiên cứu để sớm có quy trình nuôi đầy đủ
Trước thực tiễn đó, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật nuôi Gà
lôi trắng (Lophura nycthemera Linnaeus 1758) tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình” Kết quả của đề tài sẽ góp phần bổ sung dữ liệu phục
vụ bảo tồn ngoại vi và phát triển loài Gà lôi trắng ở Việt Nam
Trang 10PHẦN I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình ngiên cứu trên thế giới
Từ xa xưa, con người đã nghĩ đến việc chăn nuôi thuần dưỡng các loài động vật hoang dã để làm thức ăn dự trữ vào những thời kỳ khan hiếm Các bức tranh được đục từ thời kỳ đồ đá thường thấy biểu hiện sinh sản của vật nuôi Có
ý kiến cho rằng: chó là động vật được thuần hóa đầu tiên bởi vì chúng giúp mọi người săn bắn đầu tiên Herman P., (1940) và Kuhn A., (1950) cho rằng dê và cừu là những động vật đầu tiên được thuần hóa vì nhu cầu về lông và len Nhiều người cho rằng việc thuần hóa động vật có liên quan đến trồng trọt và cũng có thể liên quan đến việc thờ cúng và tôn giáo (Halm E., 1986) Những con vật đầu tiên được thuần hóa và sau đó lan sang các khu vực khác hoặc được thuần hóa ở nhiều nơi cùng một lúc do cư dân khác nhau Trước đây, có một tài liệu cho thấy
gà được thuần hóa đầu tiên ở Ấn Độ, ngỗng ở châu Phi, Gà nhật bản ở Mehico, Ngỗng xám ở châu Âu,
Theo V Vavilop và Ia Boruxenco, Nam Á, Ấn Độ, Đông Dương là một trong những trung tâm nhân giống động vật hoang dã đầu tiên Ngày nay, chúng
ta có nhiều nhóm các loài động vật nuôi đa dạng
Theo Conway (1998), các vườn động vật trên thế giới hiện đang nuôi khoảng 500.000 động vật có xương sống trên cạn đại diện cho 3000 loài chim, thú, bò sát và ếch nhái Để nâng cao quần thể động vật quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng để cung cấp thăm quan, giải trí và bảo tồn đa dạng sinh học Các nhà khoa học đang cố gắng tìm ra các biện pháp nhân giống và phát triển số lượng một cách tối ưu Tuy nhiên, kỹ thuật nhân nuôi, đặc điểm sinh học và sinh thái của chúng còn là vấn đề đặt ra cho công tác nhân nuôi cần phải được nghiên cứu nhiều hơn nữa
Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc và một số nước châu Âu như Bỉ và Hà Lan
là những quốc gia có ngành chăn nuôi động vật hoang dã phát triển mạnh và đạt kết quả tốt Song những tài liệu nước ngoài về kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh
Trang 11thái học, kỹ thuật nhân nuôi còn rất ít Một số các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh thái và kỹ thuật nhân nuôi động vật chủ yếu là từ các nhà khoa học Trung Quốc
Từ Phổ Hữu (2001), trong cuốn “Kỹ thuật nuôi rắn độc”: Tác giả đã mô tả một số đặc điểm hình thái, sinh học và kỹ thuật chăn nuôi (cách xây dựng và bố trí chuồng trại, thức ăn, chăm sóc, bệnh dịch và biện pháp phòng chống,…) của
10 loài rắn có giá trị kinh tế cao
Cao Dực (2002), trong cuốn “Kỹ thuật thực hành nuôi dưỡng động vật kinh tế”: Tác giả đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản về kỹ thuật chăn nuôi một
số loài chim, thú, bò sát, ếch nhái,…
Vương Kiến Bình (2002), trong cuốn “Sổ tay nuôi hiệu quả các loài rắn”: cuốn sách giới thiệu về kỹ thuật nuôi một số loài rắn có giá trị kinh tế cao
Vườn chim Childbiill (Hà Lan) đã nhân nuôi một số loài chim có giá trị kinh tế thuộc họ Trĩ, nguồn thức ăn chính của các loài này là thức ăn tổng hợp nhân tạo
Ở một số nước Đông Nam Á, người ta nuôi chim Yến trong nhà, có những gia đình nuôi chim Yến đem lại doanh thu hơn 70.000 USD/năm Nuôi chim Yến đang phát triển mạnh mẽ ở Malasyia, Myanma Ở Indonesia hiện có hơn 40.000 gia đình nuôi chim Yến, mỗi năm thu được hàng trăm tấn Yến sào Tại Malaysia và Thái Lan, mỗi nước hiện có hàng ngàn gia đình nuôi chim Yến Ngoài chim Yến, Vẹt và nhiều loài chim đẹp, có tiếng hót hay cũng được nhiều người yêu thích và nuôi trong nhà làm cảnh
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Theo Võ Quý và Nguyễn Cử (1995), ở Việt Nam đã tìm thấy 831 loài chim thuộc 81 họ, 19 bộ, chiếm khoảng 9% tổng số loài chim trên toàn thế giới, trong đó có nhiều loài phổ biến, những cũng có những loài quý hiếm, đặc hữu đối với Việt Nam, khu vực và thế giới Những năm sau đó, nhiều loài chim mới
được phát hiện như: Khướu vằn đầu đen (Actinodura sodangorum), Khướu ngọc linh (Garrulax ngoclinhensis) và Mi núi bà đen (Crocias lanbienanis) v.v
Trang 12Đến năm 2011, Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học ở các vùng miền trong cả nước xây dựng Danh lục Chim Việt Nam với 887 loài thuộc 88 họ và 20 bộ Từ năm
2011 đến nay, nhiều loài chim mới được bổ sung Các kết quả này minh chứng
về sự đa dạng tài nguyên chim rất lớn ở nước ta
Cùng với quá trình phát triển của đất nước, sự lệ thuộc vào nguồn tài nguyên của quốc gia đang phát triển là không thể tránh khỏi Bên cạnh đó, trình độ và ý thức sử dụng nguồn tài nguyên chưa hợp lý là nguyên nhân làm suy giảm nghiêm trọng tài nguyên rừng, trong đó có cả tài nguyên chim Việt Nam Trong 418 loài động vật có tên trong Sách đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007) có 76 loài chim với nhiều loài ở mức đe dọa cao đang bên
…và cả hoạt động chăn nuôi động vật hoang dã)
Trong nhiều năm qua, số lượng các loài động vật hoang dã được nhân nuôi nghiên cứu, thử nghiệm ở nước ta không ngừng tăng lên nhằm đa dạng hóa vật nuôi cho phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và bảo tồn loài Nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Đặng Huy Huỳnh (1980) nghiên cứu “Sinh học và sinh thái học các loài thú móng guốc ở Việt Nam” Tác giả đã công bố kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh thái của một số loài thú móng guốc, kết quả nghiên cứu là
cơ sở để xây dựng quy trình nhân nuôi một số loài thú móng guốc có giá trị kinh
Trang 13Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học và phương pháp nhân giống của một
số loài chim của các tác giả như:
Trương Văn Lã và cộng sự (1993) trong công trình “Nuôi thuần dưỡng Gà rừng tai trắng ở Vườn thú Hà Nội” Nhóm tác giả đã đưa ra kết quả nghiên cứu
về đặc điểm sinh thái học, và kỹ thuật nuôi, thuần dưỡng phân loài Gà rừng tai
trắng (Gallus g gallus) trong điều kiện nuôi nhốt ở Vườn thú Hà Nội
Trương Văn Lã và cộng sự (1994) nghiên cứu về “Khẩu phần thức ăn cho một số loài thuộc nhóm chim Trĩ của họ Trĩ (Phasianidae) trong điều kiện nuôi nhốt” Nhóm tác giả đã xây dựng được khẩu phần thức ăn và các loại thức ăn ưa
thích cho một số loài chim thuộc giống Gà lôi (Lophura), Gà rừng tai trắng,
Công và Gà tiền mặt vàng
Đặng Gia Tùng, Lê Sĩ Thục, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Giao (1995) đã
có những nghiên cứu thành công đầu tiên trong nhân nuôi nhân tạo loài Gà lam
đuôi trắng (Lophura hatinhensis) tại Vườn thú Hà Nội Các tác giả đã đưa ra kết
quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, khẩu phần thức ăn và kỹ thuật nhân nuôi loài Gà lam đuôi trắng
Việt Chương (1998) trong cuốn “Kỹ thuật nuôi và huấn luyện chim biết nói” Cuốn sách hướng dẫn cách huấn luyện và kỹ thuật nuôi một số loài chim thuộc nhóm chim cảnh trong họ Sáo, họ Vẹt
Các cơ sở chăn nuôi động vật hoang dã quy mô tập trung với nhiều loài có thể kể đến là: Vườn thú Hà Nội, Thảo Cầm Viên Sài Gòn, Vườn Quốc gia Cúc Phương, Đảo Rều (Quảng Ninh), Hòn Tre (Nha Trang), Trung tâm giống Thuỵ Phương (Hà Nội), Trung tâm cứu hộ Sóc Sơn (Hà Nội)
Ở nhiều địa phương đã phát triển nghề chăn nuôi động vật hoang dã như: nuôi Hươu sao ở Quỳnh Lưu – Nghệ An, Hương Sơn – Hà Tĩnh, Hiếu Liêm – Đồng Nai; nuôi rắn Hổ Mang ở Gia Lâm – Hà Nội, Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc; nuôi Gấu ở nhiều địa phương (Hà Nội, Hoà Bình,…); nuôi Nhím, Don ở Ba Vì, Sơn La, Cát Bà – Hải Phòng; nuôi Ba ba ở nhiều địa phương (Thanh Hoá, Hải Dương, Hà Tĩnh,…)
Phân loài Gà lôi trắng hiện đang được nuôi trong Vườn thú Hà Nội, Thảo cầm viên Thành phố Hồ Chí Minh phục vụ cho nhu cầu giải trí và làm cảnh; Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật (Vườn Quốc gia Cúc Phương)
Trang 14với mục đích nghiên cứu, bảo tồn và phát triển loài Một số các công trình nghiên cứu về đặc tính sinh học và kỹ thuật nhân nuôi hiện đang ở giai đoạn thử nghiệm, chưa được nhân rộng Những nghiên cứu ban đầu đã đem lại những kết quả khả quan và có nhiều triển vọng cho việc phát triển nghề chăn nuôi một số
loài chim thuộc họ Trĩ – bộ Gà ở nước ta Vì vậy việc nghiên cứu hoàn thiện kỹ
thuật chăn nuôi Gà lôi trắng là rất cần thiết và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn
1.3 Một số đặc điểm về loài Gà lôi trắng (Lophura nycthemera)
Theo tài liệu của Phậm Nhật và Đỗ Quang Huy (1998), Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và Karen Phillipps (2005), Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011), các đặc điểm về loài Gà lôi trắng được mô tả như sau:
Tên phổ thông: Gà lôi trắng
Tên khoa học: Lophura nycthemera
Họ: Trĩ (Phasianidea)
Bộ: Gà (Gallifomes)
Lớp: Chim (Aves)
1.3.1 Đặc điểm hình thái
Ở nước ta, loài Gà lôi trắng gồm có 5 phân loài: phân loài Gà lôi trắng
(L.n.nycthemera); phân loài Gà lôi boli (L n beaulieui); phân loài Gà lôi berli (L n berliozi); phân loài Gà lôi beli (L n beli) và phân loài Gà lôi vằn (L n
annamensis) (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998)
Nhìn chung, các phân loài gà lôi có đặc điểm khá giống nhau và khác nhau một vài đặc điểm về màu sắc và hoa văn trên các sợi lông
Gà lôi trắng là loài chim lớn, dài cánh 250 – 297mm Chim trống có đầu, mào lông, cổ, ngực và bụng đen Lưng đuôi trắng, vân đen Vân đen tăng và
màu trắng giảm dần từ phân loài L.n nycthemera đến phân loài L.n
annamensis Mắt đỏ nâu, da trần quanh mắt đỏ tươi, chân đỏ tươi
Chim mái nhỏ Mào ngắn và màu đen Lưng, cằm, họng, ngực, bụng nâu xám Mắt nâu hạt dẻ, mỏ nâu xám xanh Da trần quanh mắt và chân đỏ (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998)
Gà lôi trắng trống và mái ở giai đoạn con non có màu sắc lông giống nhau
và khác nhau ở giai đoạn trưởng thành
Trang 15(Nguồn: Mai Luân Lưu, 2019)
Hình 1.1: Gà lôi trắng (Lophura nycthemera) được nuôi
tại Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật – VQG Cúc Phương
1.3.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái
Gà lôi trắng sống định cư ở rừng, đặc biệt thích sống ở rừng gỗ thưa pha tre nứa, giang dọc theo khe suối Chúng thường sống theo đàn 5 – 7 con và hoạt động trong một vùng nhất định Gà lôi trắng kiếm ăn ngày vào hai buổi sáng và chiều Đêm ngủ trên các bụi giang, nứa có nhiều cây đổ ngang Gà lôi trắng thường ra các bãi đất trống hoặc các đường mòn vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối Khi bị săn bắn, Gà lôi trắng thường lên cây nhưng không bay đi xa
Gà lôi trắng kiếm ăn trên mặt đất, thức ăn là quả thực vật, côn trùng và động vật nhỏ Trong điều kiện nuôi, Gà lôi trắng ăn thóc, ngô, cơm
Gà lôi trắng sinh sản từ tháng 4 đến tháng 7 Tổ làm sơ sai trên mặt đất Mỗi lứa đẻ 4 – 5 trứng Vỏ trứng màu hung nhạt có chấm trắng Ấp 25 – 26 ngày, con non nở ra khỏe (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998)
Trang 161.3.3 Phân bố
Trên thế giới: Nam Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia
Tuỳ từng phân loài, riêng các phân loài Lophura nycthemera beri và Lophura
nycthemera annamensis là hai phân loài đặc hữu của Việt Nam
Ở Việt Nam: Gà lôi trắng phân bố từ Bắc Bộ đến Nam Bộ Ở nước ta, Gà lôi trắng có 5 phân loài và phân bố theo các khu vực khau nhau:
Phân loài Gà lôi trắng (L.n.nycthemera) có ở các tỉnh Đông Bắc Việt
Nam;
Phân loài Gà lôi boli (L n beaulieui) có ở Lai Châu đến Hà Tĩnh;
Phân loài Gà lôi berli (L n berliozi) có phân bố ở sườn Đông dãy Trường
Sơn;
Phân loài Gà lôi beli (L n beli) phân bố từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi; Phân loài Gà lôi vằn (L n annamensis) phân bố ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lăk, Lâm Đồng, Đồng Nai, Sông Bé
(Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998)
1.3.4 Tình trạng
Hiện nay, số lượng cá thể của Gà lôi trắng bị suy giảm nghiêm trọng ngoài tự nhiên bởi tình trạng săn bắn quá mức, vùng phân bố của loài bị hủy hoại và thu hẹp, số lượng cá thể trong thiên nhiên giảm sút nhanh chóng và ngày càng trở nên hiếm
Loài hiện thuộc cấp Ít bị đe dọa (LR) trong Sách đỏ Việt Nam (2007), nhóm IB trong Nghị định 06/2019/NĐ-CP (Nghị định Chính phủ, 2019)
Gà lôi trắng đang được nuôi cứu hộ, bảo tồn tại một số vườn thú, trung tâm cứu hộ động vật hoang dã trong cả nước Tại Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật ở Cúc Phương – VQG Cúc Phương đang nuôi 205 cá thể
thuộc phân loài Gà lôi trắng (Lophura nycthemera nycthemera) với mục đích
bảo tồn và phát triển loài
Trang 17PHẦN II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm ở phía Tây tỉnh Ninh Bình, cách quốc lộ 1A 40km và cách thủ đô Hà Nội 120km về phía Nam Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm ở tận cùng phía Đông Nam, cả dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc -Đông Nam, có tọa độ địa lý:
Trang 18Tổng diện tích tự nhiên của VQG Cúc Phương là 22.200ha thuộc địa phận
14 xã Trong đó, có 7 xã thuộc 2 huyện Lạc Sơn và Yên Thủy (Hòa Bình) có diện tích là 5.805ha; 4 xã thuộc huyện Nho Quan (Ninh Bình) có diện tích lớn nhất là 11.300ha và 03 xã thuộc huyện Thạch Thành (Thanh Hóa) có diện tích là 5000ha
2.1.2 Địa hình
Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm ở phần cuối của dãy núi đá vôi chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ Trung Quốc qua vùng Tây Bắc của Việt Nam về tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình và Ninh Bình Dải núi đá vôi đó đến Cúc Phương lại nhô cao hơn hẳn so với các vùng xung quanh Phía Đông Bắc Vườn Quốc gia Cúc Phương địa hình thấp xuống và nối liền với cánh đồng hẹp khá bằng phẳng chạy dọc hai bên đường quốc lộ 12, từ Thị trấn Nho Quan tỉnh Ninh Bình đến Thị trấn Vụ Bản huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Về phía Tây và Tây Nam nền địa hình thấp dần xuống và nối với những cánh đồng ven hai bờ sông Bưởi Phía Đông Nam tiếp giáp với cánh đồng chiêm trũng huyện Nho Quan
Địa hình Cúc Phương được tạo bởi hai dãy núi đá vôi chạy song song theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Giữa hai dãy núi đá vôi là những thung lũng hẹp xen kẽ một số đồi gò đất thấp chạy dọc trung tâm Vườn Dải thung lũng này đôi chỗ bị ngăn cách bằng những quèn thấp như: quèn Đang, quèn Voi, quèn Xeo…Khoảng 3/4 diện tích Cúc Phương là núi đá vôi, có độ cao tuyệt đối trung bình 300 – 400m Cao nhất là đỉnh Mây Bạc (656m) nằm ở phía Tây Bắc Vườn Cúc Phương có dạng địa hình Các-xtơ nửa che phủ, khác với địa hình Các-xtơ che phủ Đồng Giao và Các-xtơ trọc Gia Khánh Cúc Phương nằm trọn vẹn trong cảnh địa lý đối Các-xtơ xâm thực
2.1.3 Khí hậu thủy văn
2.1.3.1 Chế độ mưa
Lượng mưa bình quân năm của Cúc Phương biến động từ 1800 mm đến
2400 mm, bình quân năm là 2138 mm Đó là lượng mưa tương đối lớn so với vùng xung quanh
Trang 19Nếu tính tháng có lượng mưa từ 100 mm trở lên là tháng mưa thì ở đây có tới 8 tháng mưa và mùa mưa kéo dài từ tháng IV đến tháng XI Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng IX với lượng mưa bình quân 410,9 mm, trong khi đó các tháng XII, I, II và III lượng mưa mỗi tháng chưa được 50 mm Mặc dù mùa khô
có 4 tháng nhưng phân biệt rất rõ với mùa mưa Mưa ít cộng với nhiệt độ thấp làm cho khí hậu ở Cúc Phương tương đối khắc nghiệt về mùa Đông
2.1.3.2 Chế độ gió
Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng bởi gió mùa Đông Bắc về mùa đông và gió mùa Đông Nam về mùa hè Ngoài ra, về mùa hè nhiều ngày có gió Lào thổi mạnh Tuy vậy, do điều kiện địa hình, gió sau khi vượt qua các yên ngựa và hẻm núi đi sâu vào rừng bị thay đổi hướng rất nhiều và tốc độ gió thường là 1 – 2m/s
2.1.3.3 Thủy văn
Do ở Cúc Phương là địa hình Các-xtơ nên ở đây có ít dòng chảy mặt, ngoại trừ sông Bưởi và sông Ngang ở phía Bắc có nước quanh năm, còn lại là các khe suối có nước theo mùa Sau cơn mưa, nước từ các suối chảy vào lỗ hút, chảy ngầm trong lòng núi rồi phun ra ở một số vó nước Chỗ nào nước dồn về nhiều sau cơn mưa lớn, các lỗ hút không hút kịp thì nước ứ đọng lại, gây nên ngập úng tạm thời
Trang 20Khu hệ động vật không xương sống ở Cúc Phương lại càng phong phú và
đa dạng Trong giai đoạn từ 2000 2006 đã thu thập được khoảng 7.400 mẫu động vật không xương sống bao gồm 1.670 loài và dạng loài côn trùng, 14 loài giáp xác, 18 loài và dạng loài đa túc, 16 loài hình nhện, 52 loài và dạng loài giun đốt, 129 loài và dạng loài nhuyễn thể và rất nhiều loài động vật bậc thấp khác
2.1.4.2 Hệ thực vật
Vườn Quốc gia Cúc Phương có 20.473 ha rừng trong tổng diện tích 22.200 ha (chiếm 92,2%) Thảm thực vật ở đây là rừng mưa nhiệt đới thường xanh Cúc Phương là nơi rất đa dạng về cấu trúc tổ thành loài trong hệ thực vật Với diện tích chỉ có 0,07% so với cả nước, nhưng lại có số họ thực vật chiếm tới 57,93%, số chi 36,09% và số loài chiếm 17,27% trong tổng số họ, chi và loài của cả nước
Cúc Phương là nơi hội tụ của nhiều luồng thực vật di cư cùng sống với nhiều loài bản địa Đại diện cho thành phần bản địa là các loài trong họ Long não (Lauraceae), Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Xoan (Meliaceae) Đại diện cho luồng di cư từ phương Nam ấm áp là các loài trong họ Dầu(Dipterocarpaceae) Đại diện cho luồng thực vật có nguồn gốc từ phương Bắc là các loài trong họ Giẻ (Fagaceae)
Cúc Phương còn diện tích rừng nguyên sinh đáng kể, chủ yếu tập trung trên vùng núi đá vôi và ở các thung lũng trung tâm Vườn Chính do vị trí đặc biệt nên đã dẫn đến kết cấu tổ thành loài của rừng Cúc Phương rất phong phú Kết quả kiểm kê tài nguyên rừng của các nhà khoa học trong và ngoài nước những năm gần đây (2001 – 2004) đã thống kê được 2.103 loài thuộc 917 chi,
231 họ của 7 ngành thực vật bậc cao trong đó có rất nhiều loài có giá trị: 430 loài cây thuốc, 229 loài cây ăn được, 240 loài cây có thể sử dụng làm thuốc chữa bệnh nhuộm, 137 loài cho tanin , 118 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam và IUCN
2.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Vườn Quốc gia Cúc Phương được thành lập ngày 7 tháng 7 năm 1962 theo quyết định 72 TTg của Thủ tướng Chính phủ, với 3 nhiệm vụ chính:
Trang 21- Bảo vệ nguyên vẹn tài nguyên thiên nhiên
- Nghiên cứu khoa học
- Phục vụ du lịch
Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm giữa khu dân cư khá đông đúc nên được
ví như "một ốc đảo xanh" nằm giữa "biển người" Địa phận của Vườn trải dài trên 15 xã thuộc 4 huyện của 3 tỉnh, với số dân gần 80.000 người chủ yếu là dân tộc Mường; mật độ bình quân là 138 người/km2 Có 4 xã hiện có dân cư sống trong ranh giới của Vườn là: Xã Cúc Phương thuộc huyện Nho Quan – Ninh Bình, Xã Thạch Lâm thuộc huyện Thạch Thành – Thanh Hóa, Xã Ân Nghĩa và Yên Nghiệp thuộc huyện Lạc Sơn – Hòa Bình
Hệ thống giao thông vận tải tương đối hoàn chỉnh Các đoạn đường trong Vườn Cúc Phương đã được cải tạo và nâng cấp tốt hơn
Đường điện đã có đường dây tải điện các trạm biến thế đã đến được với các xã vùng đệm của Vườn
Các xã trong khu vực đều có trạm y tế nhưng chất lượng tay nghề của các nhân viên bác sĩ y tá chưa cao
Giáo dục đã phát triển khá đồng đều ở các xã, tuy nhiên ở các vùng sâu xa thì vẫn còn hiện tượng mù chữ
Trang 222.3 Sơ lƣợc về Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật
Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật được thành lập theo quyết định số 2585/QĐ-BNN-TCCB, ngày 27 tháng 9 năm 2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Trung tâm được thành lập trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm cứu hộ các loài linh trưởng quý hiếm và một số chương trình bảo tồn động, thực vật hoang dã tại Vườn
Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm: Cứu hộ, bảo tồn và phát triển các loài động thực vật hoang dã quý hiếm đang bị đe dọa nguy cấp ở Việt Nam; nghiên cứu tập tính, sinh lý, sinh sản trong nuôi nhốt các loài động vật hoang dã quý hiếm phục vụ công tác bảo tồn và phát triển; sưu tập, gây trồng bảo tồn nguồn gen và tạo giống các loài thực vật quý hiếm của Việt Nam
Trang 23PHẦN III MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1 Mục tiêu chung
Đề tài được thực hiện nhằm bổ sung các thông tin xây dựng tài liệu kỹ thuật nuôi Gà lôi trắng hướng đến góp phần phát triển nghề chăn nuôi động vật hoang dã ở Việt Nam nhằm nâng cao thu nhập của người dân và bảo tồn đa dạng sinh học
- Xác định chế độ dinh dưỡng cho Gà lôi trắng ở các độ tuổi khác nhau: loại thức ăn, khẩu phần ăn, tiêu chuẩn ăn, biện pháp chế biến và bảo quản thức
ăn, cách cho ăn;
- Đánh giá được khả năng sinh sản và kỹ thuật chọn giống của loài Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi;
- Đánh giá được các biện pháp phòng bệnh cho Gà lôi trắng và khả năng mắc bệnh của loài trong điều kiện nuôi;
- Đưa ra các giải pháp cải thiện các biện pháp chăm sóc và khắc phục các hạn chế nuôi Gà lôi trắng đang được thực hiện tại Vườn Quốc gia Cúc Phương
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các cá thể loài Gà lôi trắng (Lophura nycthemera Linnaeus 1758) – Phân loài Gà lôi trắng (Lophura nycthemera nycthemera) đang được nuôi tại Vườn
Quốc gia Cúc Phương
Trang 243.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật -
Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình
Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu này tập trung vào các biện
pháp kỹ thuật nuôi loài Gà lôi trắng đang được thực hiện tại Vườn Quốc gia Cúc Phương
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian 5
tháng (từ tháng 01/2019 đến tháng 05/2019), cụ thể như sau:
Thời gian Nội dung công việc Địa điểm thực hiện
07/01/2019 - 27/01/2019 Đọc và tìm hiểu tài liệu;
Xây dựng đề cương khái quát;
Trường Đại học Lâm Nghiệp
28/01/2019 - 19/03/2019 Xây dựng và hoàn thiện
đề cương chi tiết
Trường Đại học Lâm Nghiệp
20/03/2019 - 20/04/2019 Điều tra thực địa;
Thu thập số liệu ngoại nghiệp
Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn
và phát triển sinh vật, Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình
21/04/2019 - 05/05/2019 Xử lý số liệu;
Xây dựng báo cáo
Trường Đại học Lâm Nghiệp
06/05/2019 - 20/05/2019 Hoàn thiện Khóa luận Trường Đại học Lâm Nghiệp
3.3 Nội dung nghiên cứu
(1) Điều tra đặc điểm mô hình nuôi Gà lôi trắng đang được thực hiện tại Vườn Quốc gia Cúc Phương
(2) Thu thập thông tin về kỹ thuật xây dựng chuồng trại nuôi Gà lôi trắng tại địa điểm nghiên cứu
(3) Thu thập thông tin về chế độ dinh dưỡng cho Gà lôi trắng
(4) Điều tra về khả năng sinh sản và tìm hiểu về kỹ thuật chọn giống Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi
(5) Xác định các biện pháp phòng và chữa bệnh cho Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi;
(6) Đề xuất các giải pháp phát triển đàn Gà lôi trắng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương
Trang 253.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Kế thừa tài liệu
Phương pháp này được thực hiện nhằm thu thập các thông tin về khu vực nghiên cứu như: điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội và các nghiên cứu
đã thực hiện về nuôi Gà lôi trắng
Từ các tài liệu được thu thập tiến hành đọc, chọn lọc, phân tích và kế thừa các thông tin liên quan phục vụ các nội dung nghiên cứu của đề tài
Do nghiên cứu này diễn ra trong thời gian ngắn nên việc kế thừa các thông tin ghi chép về loài Gà lôi trắng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương là cần thiết và được kiểm chứng thông qua quan sát và theo dõi
3.4.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn được thực hiện nhằm thu thập thông tin về mô hình nuôi, kỹ thuật xây dựng chuồng trại, chế độ dinh dưỡng, khả năng sinh sản và tạo giống, các loại bệnh thường gặp ở Gà lôi trắng và biện pháp phòng trị bệnh
Phỏng vấn được thực hiện trực tiếp trên hai đối tượng là cán bộ quản lý và nhân viên chăm sóc Gà lôi trắng
Nội dung câu hỏi phỏng vấn liên quan đến các nội dung nghiên cứu của
đề tài Các câu hỏi phỏng vấn được sắp xếp theo nhóm thông tin chính cần thu thập như sau:
Thông tin về mô hình nuôi Gà lôi trắng:
- Số lượng chuồng nuôi Gà lôi trắng tại Trung tâm?
- Số lượng các cá thể Gà lôi trắng?
- Số lượng trống, mái, con non trong mỗi chuồng nuôi?
- Nguồn gốc các cá thể Gà lôi trắng tại Trung tâm?
Thông tin về chuồng trại:
- Diện tích khu nuôi và diện tích của các chuồng nuôi Gà lôi trắng?
- Kiểu chuồng nuôi? Hướng chuồng thiết kế?
- Vật liệu làm chuồng (chi tiết cho từng bộ phận)?
- Bố trí các nội thất trong chuồng?
Trang 26Thông tin về chế độ dinh dưỡng cho Gà lôi trắng:
- Thành phần thức ăn?
- Khẩu phần ăn của Gà lôi trắng?
- Các loại thức ăn ưa thích?
- Phương pháp chế biến và bảo quản thức ăn?
- Nước uống cho Gà lôi trắng?
Thông tin về sinh sản và kỹ thuật chọn giống:
- Khả năng sinh sản của Gà lôi trắng tại Trung tâm?
- Tỉ lệ trứng nở? Tỉ lệ sống sót của con non?
- Kỹ thuật ấp trứng? Thời gian nở của trứng?
- Kỹ thuật chọn giống Gà lôi trắng?
Thông tin về biện pháp phòng trị bệnh:
- Các loại bệnh thường gặp ở Gà lôi trắng và cách điều trị?
- Các biện pháp phòng bệnh ở Gà lôi trắng?
- Công tác vệ sinh phòng trị bệnh?
Phỏng vấn được thực hiện trước và trong quá trình thu thập số liệu Các thông tin phỏng vấn ban đầu là những định hướng để thiết kế thí nghiệm phù hợp với đặc điểm loài Trong quá trình theo dõi tại hiện trường, các đặc điểm nghi ngờ, bất thường được phỏng vấn bổ sung nhằm thu thập được số liệu chính xác nhất Các thông tin phỏng vấn được ghi chép vào sổ tay ngoại nghiệp
3.4.3 Phương pháp theo dõi và thử nghiệm
3.4.3.1 Phương pháp xác định mô hình nuôi Gà lôi trắng
Mô hình nuôi Gà lôi trắng được quan sát và ghi chép các thông tin về số chuồng nuôi, số cá thể nuôi trong mỗi chuồng nuôi, tỉ lệ trống/mái ở mỗi chuồng, nguồn gốc các cá thể, tình trạng sức khỏe Kết quả điều tra về mô hình nuôi Gà lôi trắng tại VQG Cúc Phương được ghi chép vào bảng 3.1
Bảng 3.1: Mô hình nuôi Gà lôi trắng tại VQG Cúc Phương
TT Chuồng số Cá thể Trống/mái Nguồn gốc Tình trạng sức khỏe
Trang 273.4.3.2 Phương pháp thu thập thông tin về kỹ thuật xây dựng chuồng trại
Đặc điểm của chuồng nuôi được mô tả qua quan sát vật liệu làm chuồng, kiểu thiết kế chuồng nuôi, các nội thất trong chuồng, hệ thống cống thoát nước thải và đo đếm kích thước chuồng (dài, rộng, cao) để xác định diện tích chuồng nuôi Chuồng nuôi được mô tả chi tiết theo từng kiểu chuồng nuôi nhằm xác định sự phù hợp trong cách thiết kế chuồng với khả năng thích ứng của Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi nhốt
3.4.3.3 Phương pháp nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng cho Gà lôi trắng
Phương pháp này được thực hiện nhằm lập bảng danh sách các loại thức
ăn, xác định khẩu phần ăn và thức ăn ưa thích của loài Gà lôi trắng trong điều
kiện nuôi dưỡng
Ngoài những tài liệu được kế thừa và phỏng vấn, danh sách thành phần thức ăn, khẩu phần ăn và thức ăn ưa thích của Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi nhốt còn được tổng hợp từ quan sát các nhân viên chăm sóc cho chúng
ăn hàng ngày Kết quả thu thập số liệu về nguồn thức ăn cho Gà lôi trắng được tổng hợp vào bảng 3.2
Bảng 3.2: Thành phần các loại thức ăn của Gà lôi trắng trong điều kiện
nuôi dưỡng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương
TT Loại thức ăn Bộ phận sử dụng Mức độ ưa thích Cách chế biến
Trang 28Tổng hợp lượng thức ăn tiêu thụ của con vật trong ngày là khẩu phần ăn cần thiết và đối chứng với khẩu phần ăn đang được các nhân viên thực hiện Kết quả thử nghiệm khẩu phần ăn được ghi chép và tổng hợp vào bảng 3.3
Bảng 3.3: Khẩu phần ăn hàng ngày của Gà lôi trắng Ngày Chuồng số Tên thức ăn Cân vào
(g)
Còn lại (g)
Lượng ăn (g)
Ghi chú
Tổng
Trong quá trình quan sát tại hiện trường, thời gian cung cấp thức ăn, cách chế biến các loại thức ăn và phương thức cho Gà lôi trắng ăn được ghi chép vào
sổ tay ngoại nghiệp
3.4.3.4 Phương pháp nghiên cứu về sinh sản, chọn giống Gà lôi trắng
Đặc điểm của các cá thể trống, mái trưởng thành được quan sát trực tiếp tại chuồng nuôi
Ngoài ra, việc kế thừa tài liệu và phỏng vấn các nhân viên chăm sóc về khả năng sinh sản của Gà lôi trắng, kỹ thuật thu trứng, ấp trứng, tỉ lệ nở của trứng, tỉ lệ sống sót của con non, kỹ thuật chọn giống là những thông tin quan trọng trong việc đánh giá khả năng sinh sản của loài trong điều kiện nuôi nhốt
3.4.3.5 Phương pháp nghiên cứu về công tác thú y đối với Gà lôi trắng
Nghiên cứu này thực hiện trong thời gian ngắn nên các các loại bệnh thường gặp đối với Gà lôi trắng và cách điều trị được kế thừa và phỏng vấn Bên cạnh đó, đối với các cá thể đang được điều trị bệnh hoặc có biểu hiện bệnh được ghi chép các phương pháp điều trị và hướng dẫn của các nhân viên thú y Kết quả nghiên cứu về các loại bệnh thường gặp ở Gà lôi trắng được tổng hợp vào bảng 3.4
Bảng 3.4: Một số loại bệnh thường gặp ở Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi STT Tên bệnh Loài mắc bệnh Biểu hiện Nguyên nhân Điều trị
Trang 29Hiện nay, dịch vụ thú y cho ĐVHD ở Việt Nam còn nhiều hạn chế Do vậy, các biện pháp phòng bệnh cho ĐVHD được ưu tiên Công tác phòng bệnh cho
Gà lôi trắng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương được ghi chép vào sổ tay ngoại nghiệp qua quan sát về các biện pháp kiểm dịch, tiêm phòng định kỳ, vệ sinh chuồng trại, khu chăn nuôi, vệ sinh thức ăn, xử lý chất thải
Các hình ảnh ghi nhận trong quá trình điều tra được xử lý trên photoshop
và chuyển vào báo cáo
Trang 30PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm mô hình nuôi Gà lôi trắng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương
Kết quả điều tra đã xác định được 205 cá thể Gà lôi trắng thuộc phân loài
Gà lôi trắng (Lophura nycthemera nycthemera) đang được nuôi tại Trung tâm
Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật – Vườn Quốc gia Cúc Phương trong 42 ô chuồng nuôi (bảng 4.1 và hình 4.1)
Bảng 4.1: Thông tin về các cá thể Gà lôi trắng tại VQG Cúc Phương
TT Chuồng
số Số cá thể Trống/mái Tuổi Tình trạng sức khỏe
1 1 4 1 Trống/ 3 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
2 2 3 1 Trống/ 2 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
3 3 2 1 Trống/1 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
4 4 4 1 Trống/ 3 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
5 5 4 1 Trống/ 3 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
6 6 4 1 Trống/ 3 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
7 7 4 1 Trống/ 3 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
8 8 4 1 Trống/ 3 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
9 9 3 1 Trống/ 2 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
10 10 4 1 Trống/ 3 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
11 11 4 1 Trống/ 3 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
12 12 4 1 Trống/ 3 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
13 13 4 1 Trống/ 3 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
14 14 4 1 Trống/ 3 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
15 15 4 1 Trống/ 3 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
16 16 4 1 Trống/ 3 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
17 17 2 1 Trống/1 Mái Trưởng thành Khỏe mạnh
Trang 3126 26 6 2 Trống/4 Mái Bán trưởng thành Khỏe mạnh
27 27 6 3 Trống/3 Mái Bán trưởng thành Khỏe mạnh
28 28 6 1 Trống/5 Mái Bán trưởng thành Khỏe mạnh
29 29 6 4 Trống/2 Mái Bán trưởng thành Khỏe mạnh
30 30 6 4 Trống/2 Mái Bán trưởng thành Khỏe mạnh
31 31 5 3 Trống/2 Mái Bán trưởng thành Khỏe mạnh
32 32 7 4 Trống/3 Mái Bán trưởng thành Khỏe mạnh
33 33 5 3 Trống/2 Mái Bán trưởng thành Khỏe mạnh
34 34 5 1 Trống/4 Mái Bán trưởng thành Khỏe mạnh
35 35 6 3 Trống/3 Mái Bán trưởng thành Khỏe mạnh
36 36 6 4 Trống/2 Mái Bán trưởng thành Khỏe mạnh
Trang 32Hình 4.1: Biểu đồ biểu diễn số lượng Gà lôi trắng theo các độ tuổi
tại Vườn Quốc gia Cúc Phương
Từ bảng 4.1 và hình 4.1 cho thấy, Hiện nay Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật – Vườn Quốc gia Cúc Phương đang nuôi một số lượng lớn quần thể Gà lôi trắng với 205 cá thể ở các độ tuổi khác nhau Các cá thể đều khỏe mạnh trong điều kiện nuôi dưỡng Số lượng cá thể Gà lôi trắng ở độ tuổi trưởng thành nhiều nhất với 95 cá thể, tiếp đến ở độ tuổi bán trưởng thành (giai đoạn 8 – 32 tuần tuổi) với 64 cá thể và ít nhất ở giai đoạn con non (dưới 8 tuần tuổi) với 46 cá thể
Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng Gà lôi trắng trong độ tuổi sinh sản
và giai đoạn hậu bị khá lớn sẽ góp phần nhân rộng số lượng Gà lôi trắng trong thời gian tới Bên cạnh đó, sự xuất hiện mốt số lượng lớn con non đã minh chứng khả năng sinh sản thành công của Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi nhốt
Về tỉ lệ ghép đàn: trong 17 chuồng nuôi sinh sản có 13 chuồng được ghép đôi theo tỉ lệ 1 trống/3 mái, 2 chuồng ghép đôi theo tỉ lệ 1 trống/2 mái và 2 chuồng có tỉ lệ 1 trống/1 mái Theo kết quả phỏng vấn, khả năng sinh sản của
Trang 33Gà lôi trắng ở các chuồng nuôi sinh sản đều rất tốt và không có sự khác biệt Do vậy, với diện tích gần 10m2, tỉ lệ ghép đôi sinh sản 1 trống/2-3 mái là hoàn toàn phù hợp Tuy nhiên, một số chuồng ghép đôi với tỉ lệ 1 trống/1 mái sẽ gây tốn diện tích chuồng nuôi và nên ghép với tỉ lệ 1 trống/3 mái là thích hợp nhất
Cũng trong bảng 4.1 cho thấy, nhiều chuồng nuôi Gà lôi trắng trưởng thành chỉ nuôi gà trống (từ chuồng 18 đến chuồng 22) Một số gà trống được nuôi nhốt riêng trong 1 chuồng nuôi Theo các nhân viên chăm sóc, các cá thể gà trống độc thân được nhốt riêng do chúng khá hung dữ, thường mổ, đánh các cá thể khác Tập tính cạnh tranh, hung dữ cũng là một trong những đặc điểm tập tính nổi bật của loài Gà lôi trắng và một vài loài khác trong họ Trĩ như Trĩ đỏ khoang cổ, các loài gà lôi v.v
Gà lôi trắng ở giai đoạn bán trưởng thành được xác định từ tuần tuổi 8 đến tuần tuổi 32 được nuôi trong 11 chuồng nuôi khác nhau với mật độ 5 – 7 cá thể/chuồng Ở giai đoạn tuổi này, các con trống và mái được nhốt cùng nhau và được tách sinh sản từ tuần 33 đến tuần 38 Do đó, trong các chuồng nuôi bán trưởng thành có thể có nhiều trống hoặc nhiều mái
Ở giai đoạn con non (dưới 8 tuần tuổi) được úm chung khi mới nở và nuôi chung đến giai đoạn bán trưởng thành Nhằm hạn chế tình trạng cận huyết, đến giai đoạn bán trưởng thành, các cá thể được ghép trống, mái ở các đàn khác nhau và nuôi với tỉ lệ 5 – 7 cá thể/chuồng
Như vậy, Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật – Vườn Quốc gia Cúc Phương đang xây dựng mô hình nuôi Gà lôi trắng với số lượng lớn theo nhiều giai đoạn tuổi khác nhau Số lượng cá thể ở các giai đoạn tuổi phản ánh sự phù hợp trong việc phát triển nhân giống bền vững trong thời gian dài Gà lôi trắng trong điều kiện nuôi dưỡng thích ứng tốt, khỏe mạnh và sinh sản thành công Tuy nhiên, số lượng Gà lôi trống trưởng thành nhiều hơn số lượng Gà lôi mái trưởng thành nên nhiều cá thể trống không cho sinh sản mà chỉ nuôi với mục đích bảo tồn Số lượng cá thể đực loại thải sẽ còn nhiều hơn nữa vì trong giai đoạn bán trưởng thành có một nửa là gà trống Do vậy, Trung tâm cần có giải pháp kịp thời nhằm hạn chế sự tiêu tốn thức ăn và diện tích chuồng nuôi
Trang 344.2 Kỹ thuật xây dựng chuồng trại nuôi Gà lôi trắng
Tại Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật – VQG Cúc Phương hiện có 42 ô chuồng nuôi Gà lôi trắng Các chuồng nuôi đặt liền kề nhau thành dãy từ 3 – 5 chuồng/dãy Các chuồng nuôi thiết kế giống nhau theo kiểu hình chữ nhật có diện tích 9,6m2/chuồng Mỗi ô chuồng nuôi 1 trống 2 mái hoặc 3 mái tối thiểu là 1 trống 1 mái Gà lôi trắng ở giai đoạn con non và bán trưởng thành được nuôi với mật độ 5 – 7 cá thể/ô chuồng Giai đoạn mới nở nuôi úm trong các chuồng nuôi chuyên biệt Các đặc điểm về chuồng nuôi được mô tả như sau:
Mỗi ô chuồng có kích thước dài x rộng x cao: 4 m x 2,4 m x 3,5m Chuồng nuôi được thiết kế thành 02 phần: phần nhà ở tránh mưa gió (chiếm 1/3 diện tích) và phần sân chơi (chiếm 2/3 diện tích) (hình 4.2)
(Nguồn: Mai Luân Lưu, 2019)
Hình 4.2: Chuồng nuôi Gà lôi trắng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương