1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng xử lí ô nhiễm không khí trong phòng của cỏ seo gà pteris multifida và cây ráy alocasia odora trong điều kiện nhà kính

78 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 11,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thiện những kiến thức và kỹ năng đã học sau bốn năm học tập và rèn luyện, được sự nhất trí của trường Đại học Lâm Nghiệp, Khoa Quản lý Tài nguyên rừng & Môi trường, Bộ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thiện những kiến thức và kỹ năng đã học sau bốn năm học tập và rèn luyện, được sự nhất trí của trường Đại học Lâm Nghiệp, Khoa Quản lý Tài nguyên rừng & Môi trường, Bộ môn Quản lý Môi trường, em thực hiện

khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu khả năng xử lí ô nhiễm không khí trong

phòng của Cỏ Seo Gà (Pteris multifida) và cây Ráy (Alocasia odora) trong điều kiện nhà kính”

Nhân dịp này, Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo hướng dẫn

TS Phùng Văn Khoa đã định hướng, chỉ dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp

Bên cạnh đó em xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo Thạc sỹ Bùi Văn Năng đã giúp đỡ, góp ý cho em những kiến thức chuyên môn trong quá trình thí nghiệm

Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc với những tình cảm, sự động viên, cổ vũ của gia đình, những người thân và bạn bè đã dành cho em trong suốt thời gian học tập và quá trình thực hiện đề tài

Do bản thân còn những hạn chế nhất định về mặt chuyên môn và thực tế, thời gian thực hiện đề tài không nhiều nên sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót trong khoá luận Kính mong được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để khóa luận hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2011

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Liên

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

ĐẶT VẤN ĐỀ i

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu về thực vật xử lý ô nhiễm không khí không khí trong phòng 3

1.1.1 Trên thế giới 3

1.1.2 Ở Việt Nam 5

1.1.3 Cơ chế xử lí ô nhiễm không khí bằng thực vật 8

Chương 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - ĐỊA ĐIỂM - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 10

2.1.1 Mục tiêu chung 10

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 10

2.2 Đối tượng nghiên cứu 10

2.3 Nội dung nghiên cứu 11

2.4 Địa điểm nghiên cứu 11

2.5 Phương pháp nghiên cứu 11

2.5.1 Tìm hiểu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của Ráy và Cỏ seo gà 11

2.5.2 Tổng quan về ô nhiễm không khí ở Việt Nam 11

2.5.3 Nghiên cứu thực nghiệm về khả năng xử lý ô nhiễm không khí trong phòng của cây Ráy và Cỏ seo gà 12

2.5.4 Đề xuất giải pháp cho việc xử lý ô nhiễm không khí trong phòng bằng thực vật ở Việt Nam 24

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25

3.1 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài cây được nghiên cứu 25

3.1.1 Cây Ráy 25

3.1.2 Cỏ seo gà 26

Trang 3

3.2 Tổng quan về ô nhiễm không khí ở Việt Nam 27

3.2.1 Đặc điểm ô nhiễm không khí ở Việt Nam 27

3.2.2 Ô nhiễm không khí trong phòng ở Việt Nam 31

3.2.3 Tác động của ô nhiễm không khí trong phòng đến sức khỏe của con người 34

3.3 Khả năng xử lý khí CO, SO2, toluene, xylen của cây Ráy và Cỏ seo gà 35

3.3.1 Khả năng xử lý các chất khí của cây Ráy 35

3.3.2 Khả năng xử lý các chất khí của cây Cỏ seo gà 48

3.3.3 So sánh khả năng xử lý các chất khí của ráy và Cỏ seo gà 60

3.4 Đề xuất giải pháp cho việc xử lý ô nhiễm không khí trong phòng bằng thực vật ở Việt Nam 62

3.4.1 Đề xuất giải pháp sử dụng hai loài Ráy và Cỏ seo gà 62

3.4.2 Đề xuất giải pháp sử dụng loài cây có tiềm năng khác 64

3.4.3 Giải pháp, tuyên truyền , quảng bá 65

Chương 4 KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ 66

4.1 Kết luận 66

4.2 Tồn tại 66

4.3 Kiến nghị 67

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 VOCs: Volatile Organic Compounds - Các chất hữu cơ bay hơi

2 NASA: Cơ quan hàng không vũ trụ quốc gia của Mỹ

3 TCCP: Tiêu chuẩn cho phép

4 SBS: Sick Building Syndrome – Hội chứng bệnh nhà kín

5 ASHREA: American Society For Heating, Refrigerating and conditioning Engineers - Hiệp hội Kỹ sư về sưởi và điều hòa không khí

Air-Mỹ

6 NXB: Nhà xuất bản

7 ĐHQG TPHCM: Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

8 CHLB Đức: Cộng hòa Liên bang Đức

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1.1: Cơ chế hấp thụ các chất ô nhiễm trong không khí của cây 8

(B C Wolverton, 1996) 8

Hình 2.1: Tạo khí CO và SO2 16

Hình 2.2 Cho cây vào các buồng thí nghiệm 18

Hình 2.3: Lấy mẫu khí CO 18

tại buồng đối chứng 18

Hình 2.4: Lấy mẫu toluene (xylen) 19

Hình 2.5: Sơ đồ khối của máy sắc ký khí 21

Hình 2.6: Hệ thống máy sắc ký khí 23

Hình 3.1: Cây Ráy - Alocasia odora 26

Hình 3.3: Biểu đồ so sánh hiệu suất xử lý khí CO của cây Ráy sau 12 ngày và 2 ngày 37

Hình 3.4: Biểu đồ so sánh hiệu suất xử lý khí SO2 của cây Ráy 40

sau 12 ngày và 6 giờ 40

Hình 3.5: Biểu đồ so sánh hiệu suất xử lý toluene của Cây Ráy 44

sau 24 giờ và 48 giờ 44

Hình 3.7 : Cây Ráy trước khi 48

thí nghiệm 48

Hình 3.8 : Cây ráy sau thí nghiệm 48

Hình 3.9: Biểu đồ so sánh hiệu suất xử lý của Cỏ seo gà 51

sau 12 ngày và 2 ngày 51

Hình 3.10: Biểu đồ so sánh hiệu suất xử lý toluene của Cỏ seo gà 55

sau 24 giờ và 48 giờ 55

Hình 3.11: Biểu đồ so sánh Hiệu suất xử lý xylen của Cỏ seo gà 57

sau 24 giờ và 48 giờ 57

Hình 3.12: Sắc đồ chất chuẩn toluene và xylen phân tích trên GC/FID 58

Hình 3.13: Sắc đồ phân tích toluene và xylen của Cỏ seo gà trước khi Cây xử lý phân tích trên GC/FID 58

Hình 3.14: Sắc đồ phân tích toluene và xylen của Cỏ seo gà sau 48 giờ phân tích trên GC/FID 58

Hình 3.15: Sắc đồ phân tích toluene và xylen của buồng đối chứng sau 48 giờ phân tích trên GC/FID 59

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Nồng độ khí CO ban đầu của Ráy sau 12 ngày 35

Bảng 3.2: Hiệu suất xử lý khí CO của cây Ráy sau 12 ngày 36

Bảng 3.3: Nồng độ khí CO ban đầu của cây Ráy sau 2 ngày 36

Bảng 3.4: Hiệu suất xử lý khí CO của cây Ráy sau 2 ngày 37

Bảng 3.5: Nồng độ SO2 ban đầu của cây Ráy sau 12 ngày 38

Bảng 3.6: Hiệu suất xử lý khí SO2 của cây Ráy sau 12 ngày 39

Bảng 3.7: Nồng độ khí SO2 ban đầu của cây Ráy trong 6 giờ 39

Bảng 3.8: Hiệu suất xử lý khí SO2 của cây Ráy sau 6 giờ 40

Bảng 3.9: Kết quả phân tích toluene của cây Ráy sau 24 giờ 41

Bảng 3.10: Hiệu suất xử lý của cây Ráy sau 24 giờ 42

Bảng 3.11: Kết quả phân tích toluene của cây Ráy sau 48 giờ thí nghiệm 43

Bảng 3.12: Hiệu suất xử lý toluene của cây Ráy sau 48 giờ 43

Bảng 3.13: Kết quả phân tích xylen sau 24 giờ 44

Bảng 3.14: Hiệu suất xử lý khí Xylen của cây Ráy sau 24 giờ 45

Bảng 3.15: Kết quả phân tích xylen sau 48 giờ của cây Ráy 45

Bảng 3.16: Hiệu suất xử lý Xylen của cây Ráy sau 48 giờ 46

Hình 3.6: Biểu đồ so sánh hiệu suất xử lý xylen của Cây Ráy 46

sau 24 giờ và 48 giờ 46

Bảng 3.17 : Tình hình sinh trưởng của loài Ráy trước và sau thí nghiệm 47

Bảng 3.18: Kết quả đo một số chỉ tiêu sinh trưởng của loài Ráy 48

Bảng 3.19: Nồng độ khí CO ban đầu của Cỏ seo gà sau 12 ngày 49

Bảng 3.20: Hiệu suất xử lý khí CO của Cỏ seo gà sau 12 ngày 49

Bảng 3.21: Kết quả phân tích CO ban đầu của Cỏ Seo gà sau 2 ngày 50

Bảng 3.22: Hiệu suất xử lý khí CO của Cỏ Seo gà sau 2 ngày 50

Bảng 3.23: Nồng độ khí SO2 ban đầu của Cỏ seo gà sau 12 ngày 51

Bảng 3.24 : Hiệu suất xử lí khí SO2 của cỏ seo gà sau 12 ngày thí nghiệm 52

Bảng 3.25: Nồng độ SO2 ban đầu của cỏ seo gà sau 6 giờ 52

Trang 7

Bảng 3.26: Hiệu suất xử lý của Cỏ seo gà sau 6 giờ 53

Bảng 3.27: Kết quả phân tích toluene của cỏ seo gà sau 24 giờ 53

Bảng 3.28: Hiệu suất xử lý toluene của cỏ seo gà sau 24 giờ 54

Bảng 3.29 : Hiệu suất xử lý toluene của Cỏ seo gà sau 48 giờ 54

Bảng 3.30: Kết quả phân tích xylen của Cỏ seo gà sau 24 giờ 55

Bảng 3.31: Hiệu suất xử lý xylen của Cỏ seo gà sau 24 giờ 56

Bảng 3.32: Hiệu suất xử lý xylen của Cỏ seo gà sau 48 giờ 56

Bảng 3.33: Tình hình sinh trưởng của Cỏ seo gà trước và sau thí nghiệm 59

Bảng 3.34: Kết quả đo một số chỉ tiêu sinh trưởng của loài Cỏ seo gà sau thí nghiệm 60

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Không khí là một trong những nhân tố cơ bản cho tất cả sinh vật sống trên thế giới Thông thường con người cần 2 lít nước để uống, 25m2

nhà ở để sinh sống nhưng cần khoảng 15000 lít không khí trong một ngày và hơn 90 % thời gian chúng ta ở trong phòng (như ở nhà, ở cơ quan hay trong các tòa nhà công cộng ) Qua đó chúng ta có thể thấy rằng chất lượng của không khí thở có liên quan gần gũi và trực tiếp tới sức khỏe và tiêu chuẩn sống của con người Cùng với quá trình cải thiện điều kiện sống thì yêu cầu của con người đối với môi trường sống cũng không ngừng nâng cao, công tác thiết kế nội thất và mức độ tiện nghi thoải mái trong căn phòng càng được chú trọng Các nguồn sinh ra các chất hóa học độc hại ngày càng nhiều và khoảng cách đến các nguồn ngày càng gần Các vật dụng văn phòng, các hóa chất do con người tạo

ra, các thiết bị điện tử như máy in, máy tính, tivi đến các đồ gia dụng hàng ngày đều âm thầm thải ra môi trường những chất độc nhất định đến con người Đó cũng là một trong những nguyên nhân hình thành sự ô nhiễm không khí trong phòng Sự ô nhiễm không khí trong phòng thường ở mức 5 –

7 lần ô nhiễm không khí ngoài trời (Brown và cộng sự 1994; Brown,1997, theo Ralphl, Owell và cộng sự, 2004) Trong không ít trường hợp người sống

và làm việc trong đó có thể mắc những bệnh liên quan đến ngôi nhà (Building Related Illness) và Hội chứng bệnh văn phòng (Sick Building Syndrome)…Vì vậy, ô nhiễm không khí trong phòng đã trở thành vấn đề môi trường nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của công chúng và các nhà quản lý, nhất là trong những năm gần đây Để ứng phó với hiện tượng ô nhiễm không khí trong phòng, một số giải pháp được đưa ra như hạn chế nguồn gây ô nhiễm và xử lý không khí đã bị ô nhiễm, như sử dụng quạt thông gió, máy lọc không khí Tuy nhiên các biện pháp trên thường đòi hỏi chi phí lớn, mặt khác trong nhiều trường hợp nó cũng chưa giải quyết triệt để ô nhiễm môi trường sống Hiện nay, một trong những giải pháp quan trọng thường được chú ý nhiều nhất để đảm bảo cân bằng sinh thái, cải thiện môi trường sống, tạo ra sự hài hòa giữa

Trang 9

môi trường nhân tạo và môi trường thiên nhiên, đơn giản rẻ tiền nhưng hiệu quả đó là việc duy trì một số lượng nhất định các loài cây trồng phù hợp trong phòng để xử lý ô nhiễm không khí Theo các nghiên cứu mới nhất hiện nay, thực vật trong phòng không chỉ hoàn toàn là vật trang trí thưởng lãm, mà chúng còn có vai trò quan trọng trong việc làm sạch ô nhiễm không khí trong phòng Chúng có thể lọc không khí trong phòng, hút các chất độc do đồ nội thất sinh ra hoặc do môi trường bên ngoài đưa vào Nếu như không có cây xanh thì những chất độc này sẽ tồn tại trong phòng vài năm thậm chí vài chục năm Các loài cây trong phòng nếu được lựa chọn và bài trí thích hợp vừa có khả năng làm sạch không khí vừa là vật trang trí thẩm mỹ cho căn phòng, tạo cho căn phòng thêm sinh động gây ra các tác động tâm lý tích cực cho con người từ đó làm tăng tính sáng tạo và năng suất làm việc cho chúng ta Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật rất phong phú, đa dạng, số loài thực vật bậc cao ước tính có thể lên tới 12 nghìn loài, trong số đó có rất nhiều loài cây đã được sử dụng làm cảnh trong nhà, rất nhiều loài cây có tiềm năng làm sạch không khí nhưng hiện nay chưa được quan tâm khai thác sử dụng

Đứng trước vấn đề thực tế đó, em muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc cải tạo môi trường sống, tạo không gian trong lành, một phần thỏa mãn nhu cầu giải trí của người dân Mặt khác để góp phần bổ xung các thông tin về cơ sở đánh giá và lựa chọn các loài cây bản địa có triển vọng nhất trong xử lí ô nhiễm không khí trong phòng tại Việt Nam, em thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu khả năng xử lí ô nhiễm không khí trong phòng của Cỏ Seo Gà (Pteris multifida) và cây Ráy (Alocasia odora) trong điều kiện nhà kính”

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu về thực vật xử lý ô nhiễm không khí không khí trong phòng

1.1.1 Trên thế giới

Cây xanh để trong phòng không những không có hại cho sức khỏe mà

nó còn giúp cho ta thư giãn Kết quả nghiên cứu cho thấy trong lúc tinh thần đang căng thẳng hoặc phiền muộn, nếu nhìn sang một chậu cây đang xanh tươi trổ lá, trong người bạn sẽ phát sinh hiệu ứng thị giác làm tan biến đi những mệt mỏi Nếu như đặt trong phòng một vài chậu cây sẽ có tác dụng thần kì, cũng giống như những khí độc không màu không mùi không vị, âm thầm tồn tại trong phòng, quá trình lọc hóa tiêu diệt các khí độc trong phòng cũng diễn ra một cách âm thầm, liên tục ngày đêm mà con người không thể nhìn thấy được, kết quả của quá trình lọc hóa làm cho không khí trong phòng trong lành dễ chịu Như vậy, trồng cây trong nhà giúp thanh lọc không khí, tạo môi trường sạch, đẹp giúp con người thư giãn, một số cây còn có tác dụng giết chết vi khuẩn Việc sử dụng thực vật để giảm ô nhiễm không khí trong phòng tỏ ra có rất nhiều ưu điểm Mặc dù trên thế giới đã có các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học tới vấn đề xử lí ô nhiễm không khí trong phòng bằng thực vật nhưng đến nay sự hiểu biết về vấn đề này nói chung còn

ở mức khiêm tốn Ngay từ những năm cuối thập kỉ 60 của thế kỉ 20, cơ quan hàng không vũ trụ quốc gia của Mỹ (NASA) dẫn đầu bởi Dr.B.C Wolverton

đã để ý nghiên cứu và phát hiện ra khả năng làm giảm lượng chất độc màu da cam “Agent Orange” của các loài thực vật đầm lầy Từ đó NASA hỗ trợ, Wolverton đã tiến hành nhiều nghiên cứu khá công phu về khả năng xử lý ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm không khí trong phòng nói riêng của thực vật Các kết quả nghiên cứu của ông cho thấy thực vật không chỉ “hút”

CO2 mà còn có khả năng hấp thu (qua lá, qua rễ dưới tác động của vi sinh

Trang 11

vật cộng sinh) nhiều chất khí ô nhiễm khác như CO, NOx, SOx, formaldehyde, benzene và các chất hữu cơ dễ bay hơi khác (VOCs) [23] Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra rằng chính sự thoát hơi nước qua lá của thực vật đã tạo ra một luồng khí đối lưu tạo cho các chất ô nhiễm không khí được tích tụ vào phần gốc của cây sau đó bị phân hủy dưới tác động của vi sinh vật để biến thành thức ăn cho chúng Các kết quả nghiên cứu của Wolverton (1996) đã cho thấy

50 loài thực vật khác nhau có khả năng xử lý ô nhiễm không khí trong phòng

tốt, bao gồm một số loài cọ (Areca Palm, Lady Palm, Bamboo Palm, Dwarf

Date Palm), Đa (Ficus Alii), Dương xỉ (Boston Fern), lưỡi rắn (Snake Plant),

phong lan (Dendrorobium Orchid, Moth Orchid….)

Nhà máy sản xuất ôtô ở Bavaria BMW cũng thử nghiệm phương pháp tạo ra khí hậu trong phòng hợp lý ở Munchen Hãng sản xuất ôtô cho đặt một

số loại cây xanh như thổ đương qui, cọ, sung … ở gần các bàn làm việc, để thử nghiệm việc tạo hiệu ứng "Văn phòng Xanh" Nghiên cứu cho thấy, việc trang bị cây xanh đã có tác dụng tốt Cây giữ cho nhiệt độ và độ ẩm ổn định, tạo ra khí hậu dễ chịu hơn là sử dụng thiết bị điều hoà khí hậu Ngoài ra, tại các phòng xanh, cũng có ít vi sinh vật gây bệnh hơn và lá cây có tác dụng giảm âm thanh tốt gấp 2 lần so với quy định yêu cầu [5]

Theo một nghiên cứu mới công bố trên Tạp chí Hort Technology, các loài cây trồng trong nhà có thể trung hòa lượng ôzôn gây hại, khiến cho không khí trong nhà trong lành

Giáo sư Dennis Decoteau từ Khoa làm vườn, trường Đại học Khoa học Nông nghiệp bang Penn và các cộng sự đã đặt 3 loài cây hay được trồng ở trong nhà

là cây lưỡi rắn (snake plant), cây dây nhện (spider plant) và trầu bà (golden

pothos) vào các buồng có khí nhà kính Sau đó bơm ôzôn vào các buồng này

với nồng độ gấp 10 lần mức bình thường trong không khí và tiến hành đo cứ sau 5 phút cho đến khi nồng độ giảm còn 3% so với lượng ban đầu Tại các buồng không trồng cây, phải mất tới 75 phút để nồng độ ôzôn giảm xuống [7] Các kết quả này đã đóng góp to lớn cho việc sử dụng thực vật để xử lý ô

Trang 12

nhiễm không khí trong phòng Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu của Virginia I.Lohr và cộng sự (1995), Yan-Ju Liu và cộng sự (2006), Ralph L Orwell và cộng sự (2004), Manning W.J và cộng sự (2004), Takashi Oyabu

và cộng sự (2003)

Nhìn chung, trên thế giới nghiên cứu khả năng xử lý ô nhiễm không khí, đặc biệt xử lý ô nhiễm không khí trong phòng của thực vật đang được các nhà khoa học nghiên cứu đánh giá, bởi thực tế có rất nhiều loài cây có khả năng xử lý các chất khí khác nhau nhưng chưa được nghiên cứu sử dụng

1.1.2 Ở Việt Nam

Sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đô thị đòi hỏi lượng năng lượng, nguyên liệu ngày lớn Vì vậy, kèm theo đó lượng chất thải ngày càng gia tăng làm cho chất lượng môi trường ngày càng xấu hơn Trong các đô thị lớn ở nước ta lượng khí CO, CmHn do giao thông vận tải thải ra chiếm tỷ lệ từ

70 – 90 % tổng lượng thải ở đô thị, hoạt động công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng và sinh hoạt đô thị chiếm tỷ lệ 10 – 30 % Trên khía cạnh sức khỏe môi trường, ô nhiễm không khí trong nhà lại là nguyên nhân gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân của nước ta do các hộ gia đình ở thành phố thường đun nấu bằng điện, than củi, dầu và ga Nghiên cứu của WHO năm

2001 cho thấy, ô nhiễm không khí trong nhà là nguyên nhân của 35.7 % trường hợp viêm đường hô hấp dưới, 22% các bệnh phổi mãn tính [17] Ở nước ta các nghiên cứu đã xác định có mối liên quan rõ rệt giữa ô nhiễm không khí và các bệnh đường hô hấp Tình hình ô nhiễm không khí đặc biệt là

ô nhiễm không khí trong phòng đang ở mức báo động khẩn cấp nhất là tại thủ

đô Hà Nội và TP HCM [9] Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2007 của

Bộ Tài Nguyên và Môi trường, thì Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có nồng

độ về NO2 trung bình giờ trên trục giao thông có thời điểm vượt TCVN Bên cạnh đó, benzen, toluen và xylen có xu hướng tăng cao ở ven các trục giao thông Khi tiếp xúc với toluen và xylen có thể gây viêm niêm mạc, khó thở, thậm chí có thể gây liệt [22] Theo Lê Huy Bá (2007), thông thường các chất

Trang 13

ô nhiễm không khí trong phòng tại các khu đô thị phổ biến nhất bao gồm Formaldehyd, CO, NOx, SOx, O3, CO2

Trước thực trạng ô nhiễm không khí trong phòng ở Việt Nam như vậy nên rất cần các nghiên cứu đề cập tới vấn đề này Mặc dù các nghiên cứu của Việt Nam trong lĩnh vực xử lý ô nhiễm không khí bằng thực vật đã được quan tâm nhưng các nghiên cứu trong vấn đề này còn hạn chế Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào lĩnh vực cây cảnh, nghiên cứu trồng, chăm sóc cây cảnh bao gồm cả cây trong nhà Tiến sĩ Đặng Văn Đông, bộ môn Hoa và Cây cảnh, Viện Nghiên cứu Rau quả cho rằng, hầu hết cây xanh có khả năng lọc không khí, một số cây còn tạo ra mùi hương để đuổi ruồi muỗi như cây Ngũ gia bì Cây Đa búp đỏ hút độc tố formaldehyde, cây Cau bụng hút được khí xylen, loại được formaldehyde, thích hợp đặc biệt với phòng có đồ gỗ mới đánh vecni

Việc nghiên cứu về cây cảnh trong nhà ở Việt Nam đã được nhiều tác giả tiến hành như: Huỳnh Văn Thới (2005) tác giả đã đưa ra được nhiều nội dung xung quanh việc chăm sóc và bảo vệ cây cảnh nội thất Đặc biệt tác giả

đã đưa ra được cách tạo dáng, ghép cây, kỹ thuật trồng và chăm sóc rất cụ thể cho từng loài cây khác nhau

Tại trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam một số nghiên cứu được tiến hành như: Trần Văn Mão, Nguyễn Thế Nhã (2008): “Phòng trừ sâu bệnh hại cây cảnh”

Theo nghiên cứu sơ bộ hiện khu vực Hà Nội có khoảng 200000 cây xanh thuộc 700 loài khác nhau Trương Huy Lỗ (2004) đã đưa ra kĩ thuật trồng một số loài hoa và cây lá trong nước để trang trí trong nhà rất có ý nghĩa, tuy nhiên đây chưa phải là kỹ thuật xử lí ô nhiễm không khí trong

phòng bằng thực vật vì thiếu các dẫn liệu khoa học về vấn đề này Bên cạnh

đó là đề tài “Nghiên cứu khả năng làm sạch toluen từ không khí trong phòng bằng tổ hợp thực vật và vi khuẩn PSEUDOMONAS PUTIDA TVA8’’ được thực hiện bởi Phạm Tuấn Anh (Trung tâm sinh học thực nghiệm, Viện ứng

Trang 14

dụng công nghệ), Willy Verstraet (Labmet, Faculty ofBioscience Engineering, Ghent University, Belgium) (2007) Sự kết hợp giữa thực vật và chủng Pseudomonas putida TVA8 mang lại hiệu quả loại bỏ toluene tăng cao nhất tới 5 lần được ghi nhận ở công thức sử dụng Schefflera arboricola Các kết quả nghiên cứu bước đầu này cho thấy khả năng có thể sử dụng đối tượng

là thực vật và vi sinh vật kết hợp như một liệu pháp sinh học để giải quyết các vấn đề về ô nhiễm không khí

Ngoài ra, chúng ta cũng có các nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học, sinh vật học của một số loài cây bản địa tự nhiên Các công trình nghiên cứu

đó bao gồm Sách đỏ Việt Nam phần II – Thực vật, NXB Khoa học Tự nhiên

và công nghệ Hà Nội (Bộ khoa học và công nghệ, 2007), Phạm Hoàng Hộ (1999) - Cây cỏ Việt Nam, Đỗ Tất Lợi (2006) - Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam … Đây là những tài liệu tham khảo có giá trị cho việc tuyển chọn các loài cây trồng trong nhà vừa có giá trị làm cảnh vừa xử lý ô nhiễm không khí Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu khả năng xử lý ô nhiễm không khí của các loài cây ở nước ta chủ yếu là các loài cây trồng ngoài trời để giảm bớt ô nhiễm không khí như công trình của Huỳnh Thị Minh Hằng và Đào Phú Quốc – Viện Môi trường và tài nguyên – ĐHQG TPHCM (2007) cho thấy loài Sanh

và Cây Keo lá tràm đều có khả năng cao trong việc lọc khí NOx và SO2 Đối với khu vực Hà Nội, đã có rất nhiều dự án lập qui hoạch hệ thống cây xanh đô thị và chọn lựa các loài cây trồng phù hợp, tuy nhiên phần lớn các tiêu chí chọn cây xanh đều dựa vào tính mỹ quan, tính chống chịu với môi trường mà chưa hoặc ít đề cập tới khả năng xử lý ô nhiễm không khí của chúng do có quá ít nghiên cứu cơ bản về vấn đề này

Rõ ràng ta thấy việc nghiên cứu xử lý ô nhiễm không khí trong phòng ở Việt Nam còn ít, chúng ta có thể tham khảo một số tài liệu nước ngoài Tuy nhiên các nghiên cứu đó có thể không hợp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam nên việc nghiên cứu khả năng xử lý ô nhiễm không khí trong phòng của các loài cây bản địa cho nước ta là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực

Trang 15

1.1.3 Cơ chế xử lí ô nhiễm không khí bằng thực vật

Cây không chỉ đơn thuần là hấp thụ khí CO2 như chúng ta vẫn nghĩ mà

nó còn có khả năng hấp thụ các khí độc Lá cây có khả năng hấp thu một số chất ô nhiễm qua lớp cutin và khí khổng trên bề mặt lá khi tiếp xúc với môi trường không khí [26]

Không phải cây hút chất độc để nuôi dưỡng bản thân, mà các chất độc

đó có thể được tích lũy ở trong cây và được hóa hơi vào không khí khi cây đã biến đổi thành dạng ít độc hơn

Sơ đồ cơ chế xử lý ô nhiễm không khí bằng thực vật có thể được minh họa bằng hình 1.1:

Hình 1.1: Cơ chế hấp thụ các chất ô nhiễm trong không khí của cây

Vi khuẩn rễ phân hủy các

Trang 16

Nhìn chung, xử lý ô nhiễm không khí bằng thực vật có ưu nhược điểm

như sau:

- Ưu điểm:

 Sử dụng các loài cây bản địa thường là có sẵn nên chi phí thường rẻ, ít tốn

kém, các loài cây có khả năng thích nghi cao với điều kiện sống

 Tạo cảnh quan xanh - sạch - đẹp cho môi trường

 Sử dụng thực vật xử lí ô nhiễm không khí trong phòng không những tạo

cho môi trường không khí trong lành mà nó còn có ý nghĩa rất lớn tới môi

trường đất, nước xung quanh chúng ta

 Sử dụng thực vật trong phòng tạo cho con người tâm lý thoải mái, tăng

hiệu quả công việc

- Nhược điểm:

 Chúng ta phải lựa chọn những loài cây có khả năng thích nghi cao với

điều kiện thực địa

 Công tác điều tra lựa chọn các loài cây phù hợp với điều kiện trong phòng

đòi hỏi phải mất thời gian, công sức

 Khi kết thúc một chu kỳ xử lý chất ô nhiễm cần phải có các biện pháp phù

hợp để xử lý nó

Trang 17

Chương 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - ĐỊA ĐIỂM - PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu khả năng xử lý ô nhiễm không khí trong phòng của một số loài cây bản địa từ đó đề xuất giải pháp cho việc xử lý ô nhiễm không khí trong phòng bằng thực vật ở Việt Nam

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

Nghiên cứu khả năng hấp thụ một số khí ô nhiễm của hai loài cây Cỏ seo

gà (Pteris multifida) và cây Ráy (Alocasia odora) trong điều kiện nhà kính

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là:

1 Những cây bản địa trong rừng tự nhiên có tiềm năng xử lý ô nhiễm không khí trong phòng ở Việt Nam Các loài cây được chọn nghiên cứu là

cây Cỏ seo gà (Pteris multifida) và cây Ráy (Alocasia odora) Vì đây là cây

bản địa có sẵn trong rừng tự nhiên của Việt Nam Các loài cây có khả năng tốt trong xử lý ô nhiễm không khí trong phòng, sinh trưởng tốt với điều kiện trong phòng Mặt khác các loài được lựa chọn còn phải đảm bảo tính thẩm

mỹ, chịu bóng, dễ gây trồng và chăm sóc, không độc hại, có giá trị làm cảnh

và thích hợp với yêu cầu bài trí trong phòng, không là vật chủ cho các vi sinh vật gây hại [2] [12] [18]

2 Các chất khí lựa chọn nghiên cứu là: CO, SO2, xylen, toluene vì dựa trên kết quả nghiên cứu tổng quan của các tài liệu và tham khảo ý kiến của các chuyên gia về ô nhiễm không khí cho thấy các chất khí trên là những khí

ô nhiễm phổ biến trong phòng, có tác hại đến sức khỏe con người

Trang 18

2.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, em đã tiến hành nghiên cứu một số nội dung sau:

1 Nội dung 1: Tìm hiểu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của cây

Cỏ seo gà (Pteris multifida) và cây Ráy (Alocasia odora)

2 Nội dung 2: Tổng quan về ô nhiễm không khí ở Việt Nam

3 Nội dung 3: Nghiên cứu thực nghiệm về khả năng xử lý ô nhiễm không khí trong phòng của cây Cỏ seo gà (Pteris multifida) và cây Ráy (Aloscasia odora)

4 Nộidung 4: Đề xuất giải pháp cho việc xử lý ô nhiễm không khí trong phòng bằng thực vật ở Việt Nam

2.4 Địa điểm nghiên cứu

Khu nhà kính thuộc vườn ươm trường Đại học Lâm Nghiệp – Xuân Mai – Chương Mỹ - Hà Nội

2.5 Phương pháp nghiên cứu

Để thu được những kết quả đầy đủ, chính xác theo mục tiêu và nội dung đã đề ra trong đề tài em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu gắn liền với nội dung của đề tài như sau:

2.5.1 Tìm hiểu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của Ráy và Cỏ seo gà

Nội dung này được thực hiện thông qua việc kế thừa tài liệu của các

công trình nghiên cứu đã được công bố Kế thừa tài liệu là sử dụng những tư

liệu đã được công bố của các công trình nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp, các văn bản mang tính pháp lý Các tài liệu có liên quan đến đặc điểm sinh thái học, sinh vật học của loài cây nghiên cứu sẽ được tổng hợp về đặc điểm sinh thái học sinh vật học của chúng từ đó sẽ cung cấp cơ sở cho việc thiết kế thí nghiệm cũng góp phần định hướng vào chế độ chăm sóc, cách bài trí trong phòng

2.5.2 Tổng quan về ô nhiễm không khí ở Việt Nam

Trang 19

Kế thừa tài liệu cũng là phương pháp chủ yếu để tìm hiểu về ô nhiễm

không khí và ô nhiễm không khí trong phòng ở Việt Nam Đây là nội dung

quan trọng để cung cấp các số liệu, thông tin, các thông số về ô nhiễm không khí trong phòng trong điều kiện ở Việt Nam Tuy nhiên do điều kiện về thời gian và kinh phí nên khóa luận chỉ thực hiện thông qua việc kế thừa có chọn lọc các tài liệu, kết quả nghiên cứu quan trắc về ô nhiễm không khí ở Việt Nam Trong quá trình thu thập thông tin, các chất khí ô nhiễm được quan tâm như benzene, toluene, Xylen, SO2, CO, NO2, Formaldehyd Qua việc tham khảo ý kiến của các chuyên gia và do thời gian có hạn nên khóa luận đã lựa chọn bốn chất khí ô nhiễm SO2, CO, toluene, Xylen cùng nồng độ để làm căn

cứ bố trí thí nghiệm

2.5.3 Nghiên cứu thực nghiệm về khả năng xử lý ô nhiễm không khí trong phòng của cây Ráy và Cỏ seo gà

Đây là nội dung chính của đề tài Nội dung sẽ được thực hiện thông qua

bố trí thí nghiệm một cách hệ thống Hai loài cây sẽ được thử nghiệm xử lý bốn chất khí ô nhiễm không khí trong phòng phổ biến Thí nghiệm sẽ được thiết kế theo nguyên lý của khối ngẫu nhiên với 3 lần lặp cho một công thức/

1 loài cây Nội dung sẽ được thực hiện với các phương pháp như sau:

Trang 20

thoáng mát, nên cho cây quen dần với điều kiện khí hậu trong nhà kính trước khi làm thí nghiệm Khi cây đã phát triển ổn định ta tiến hành thí nghiệm

2.5.3.1.2 Hóa chất và các trang thiết bị thí nghiệm

- Các máy bơm hút không khí gồm:

 Máy SKC với lưu lượng 50 – 200 ml/phút của Mỹ;

 Máy Vontex với lưu lượng 100 – 1000 ml/phút của Mỹ;

 Máy bơm chân không của Đức;

Trang 21

- Các dây nối tefron, nút cao su;

- Máy sắc ký khí Master GC sử dụng detectơ FID, Italya;

- Máy trắc quang hay UV – VIS spectrophotomrter;

- Bếp ổn nhiệt, nhiệt độ max 3000 C;

- Các dụng cụ thiết bị thông thường khác trong phòng thí nghiệm;

- Buồng thí nghiệm được làm bằng kính thủy tinh có kích thước 0.6m x 0.6m x 1m (tổng thể tích bên trong là 0.36 m3) Các buồng thí nghiệm được đặt trong nhà kính có mái che để tạo môi trường gần với điều kiện không khí trong phòng Mỗi buồng thí nghiệm đều có khóa để bơm hoặc hút khí phân tích ra Mặt khác buồng thí nghiệm có vòi tưới nước cho cây, một đầu được cắm vào lớp đất mặt của chậu cây, một đầu thông ra ngoài có khóa kín Trong mỗi buồng thí nghiệm cũng được bố trí một quạt lưu thông gió tương thích kết hợp với hệ thống đèn điện chiếu sáng trong nhà kính nhằm tạo môi trường

“tự nhiên” theo kiểu điều kiện trong phòng cho cây Đèn quạt lưu thông gió chỉ được bật theo đúng chế độ trong nhà Ngoài ra, đặt các máy đo độ ẩm vào một buồng thí nghiệm có cây và một buồng đối chứng để theo dõi nhiệt độ và

độ ẩm của các buồng thí nghiệm trong quá trình làm thí nghiệm Như vậy với

3 lần lặp sẽ có 3 buồng thí nghiệm cho 1 chất và 1 loài cây Do đó với 4 chất nghiên cứu sẽ cần 12 buồng thí nghiệm và 12 cây của một loài nghiên cứu Bên cạnh đó cần một số buồng đối chứng, là buồng có bơm chất ô nhiễm vào

mà không có cây Các buồng đối chứng cũng được duy trì với chế độ thông gió và tưới nước giống như buồng có cây Cuối mỗi chu kỳ thí nghiệm, tiến hành đo nồng độ các chất khí ô nhiễm để có cơ sở đánh giá khách quan sự rò

rỉ của chất ô nhiễm mà không phải do cây xanh hấp thụ Mỗi nồng độ của một chất trong một lần thí nghiệm cần 3 buồng đối chứng

3 Phương pháp tạo khí chuẩn: CO, SO2, toluene, xylen

Các hóa chất chuẩn để thí nghiệm khả năng xử lý khí của cây gồm CO,

SO2, toluene, xylen Đối với 2 chất khí CO, SO2 được tạo ra bằng các phản

Trang 22

ứng hóa học tiến hành trong phòng thí nghiệm của trường Đại học Lâm Nghiệp Toluen và Xylen được mua từ hãng Merck của CHLB Đức

Tiến hành thực nghiệm như sau: Cho 5 ml axit HCOOH vào bình cầu 2

cổ, cổ bình cầu nối với phễu chiết chứa dung dịch axit H2SO4 có khóa, cổ bình cầu còn lại được nối với máy hút khí, đầu ra của máy hút khí được nối với một túi khí có khóa tefron Trước khi cho axit vào bình cầu tiến hành hút hết không khí trong hệ thống ra ngoài đảm bảo khí CO tạo ra không bị lẫn không khí, sau khi hút hết không khí, cho nhanh axit H2SO4 vào bình cầu rồi khóa lại, gia nhiệt bằng ngọn lửa trên đèn cồn để phản ứng xẩy ra nhanh Thu toàn bộ khí thoát ra vào túi khí ta có khí CO chuẩn Sau đó pha loãng khí CO

3 lần, lưu trữ khí đã pha loãng phục vụ quá trình làm thí nghiệm

 Đối với khí SO2: Tạo ra bằng phản ứng giữa axit sunfuric và muối đinatrisunfit

Na2SO3 + H2SO4 → Na2SO4 + SO2 + H2O

Tiến hành thực nghiệm như sau: Cho 22.5 g Na2SO3 vào bình cầu 2 cổ, cổ bình cầu nối với phễu chiết chứa 10 ml dung dịch axit H2SO4 có khóa, cổ bình cầu còn lại được nối với máy hút khí đầu ra của máy hút khí được nối với một túi khí có khóa tefron Các bước tiếp theo tiến hành như qui trình tạo khí CO Khí SO2 thoát ra lưu trữ vào túi khí ta có khí SO2 Tiến hành pha loãng 47 lần khí SO2

Trang 23

Hình 2.1: Tạo khí CO và SO 2

- Phương pháp tạo khí (hơi) toluene, xylen

Toluene và xylen là các dung môi hữu cơ dễ bay hơi Do đó để thu được toluene và xylen ở dạng khí để thí nghiệm ta tiến hành như sau:

 Cho một thể tích cần thiết toluene (xylen) vào ống thủy tinh hấp thụ khí của Đức Một đầu được bịt chặt, đầu còn lại được nối với máy bơm chân không, đầu ra của máy bơm chân không nối trực tiếp vào buồng thí nghiệm

 Hút hết không khí trong bình đựng dung môi toluene (xylen) sau đó gia nhiệt cho ống đựng dung môi bằng đèn cồn Dung môi sẽ chuyển thành dạng khí và được hút trực tiếp vào buồng chứa cây

4 Thiết kế thí nghiệm xử lí các chất nghiên cứu

- Đối với khí CO:

 Tiến hành đặt các chậu có cây Ráy và Cỏ seo gà vào trong buồng thí nghiệm, các cây đã được tưới nước trước khi cho vào buồng thí nghiệm Mỗi một loài làm lặp 3 lần (3 buồng thí nghiệm có cây của một loài) và 3 buồng đối chứng (không có cây) Duy trì chế độ quạt gió, che bóng, thắp điện giống với điều kiện trong phòng

 Dùng vazolin để vít kín bốn mặt dưới của buồng thí nghiệm để không khí trong buồng thí nghiệm không thoát ra ngoài

Trang 24

 Khí chuẩn CO tạo ra từ phản ứng hóa học (đã được pha loãng ba lần) được bơm vào buồng thí nghiệm bằng máy bơm hút SKC với vận tốc 50 ml/phút, bơm khí CO vào buồng kính trong 20 giây sau đó khóa van buồng thí nghiệm lại

 Sau khi bơm khí CO vào buồng thí nghiệm, đợi sau 5 phút để khí CO khuếch tán đều trong không gian buồng thí nghiệm Sau đó hút một thể tích là 7,2 lít không khí trong một buồng thí nghiệm vào một túi khí để xác định nồng độ khí CO ban đầu trước khi cây xử lý

 Sau các khoảng thời gian 12 ngày và 2 ngày kể từ lúc sau khi hút khí

ra để xác định nồng độ trước khi xử lý ta lại tiếp tục hút khí từ trong buồng thí nghiệm ra để xác định nồng độ mà cây xử lí được Sau mỗi lần hút khí ra, lập tức bơm trả lại một thể tích khí sạch bằng thể tích khí đã hút ra (7,2 lít) khỏi buồng thí nghiệm

 Sau khi bơm khí SO2 vào buồng thí nghiệm, đợi sau 5 phút để khí SO2

khuếch tán đều trong không gian buồng thí nghiệm Sau đó hút một thể tích là 7,2 lít không khí trong một buồng thí nghiệm vào một túi khí để xác định nồng độ khí SO2 ban đầu trước khi cây xử lí

 Sau các khoảng thời gian 12 ngày và 6 giờ kể từ lúc sau khi hút khí ra

để xác định nồng độ ban đầu, lại tiếp tục hút khí từ trong buồng thí nghiệm ra

để xác định nồng độ mà cây xử lí được Sau mỗi lần hút khí ra, lập tức bơm trả lại một thể tích khí sạch bằng thể tích khí đã hút ra (7,2 lít) khỏi buồng thí

Trang 25

nghiệm Khi bơm không khí từ ngoài vào buồng thí nghiệm phải dùng dung dịch TCM để hấp thụ SO2 từ không khí trước khi vào buồng thí nghiệm

Hình 2.2 Cho cây vào các buồng thí

nghiệm

Hình 2.3: Lấy mẫu khí CO tại buồng đối chứng

- Đối với toluene và xylen

 Chuẩn bị số cây cho thí nghiệm và hệ thống buồng thí nghiệm như đã trình bày ở đối với CO và SO2

 Bơm 5 ml toluene và xylen (tỉ lệ 1:1) vào một ống nghiệm để tạo khí (hơi) toluene và xylen cho thí nghiệm Dung dịch CS2 đựng trong 16 ống nghiệm để làm dung dịch hấp thụ toluene và xylen khi lấy mẫu

 Dùng pipet sạch hút 1 ml hỗn hợp toluene và xylen và ống hấp thụ khí của Đức, một đầu ống hấp thụ được bịt chặt, đầu còn lại được nối với một đầu của máy bơm chân không, đầu ra của máy bơm chân không nối trực tiếp vào buồng thí nghiệm

 Tiến hành hút không khí từ buồng thí nghiệm ra ngoài trong 7 phút Sau đó hút hết không khí trong bình đựng dung môi toluene (xylen), gia nhiệt cho dung môi trên ngọn lửa đèn cồn Dung môi sẽ chuyển thành dạng khí và được hút trực tiếp vào buồng thí nghiệm chứa cây

 Sau 5 phút tiến hành hút khí từ buồng thí nghiệm đã bơm các chất nghiên cứu vào ống nghiệm chứa dung dịch CS2 để xác định nồng độ toluene

và xylen trước khí cây xử lí Mẫu khí sau khi lấy sẽ được bảo quản lạnh

Trang 26

mang về phòng thí nghiệm trường Đại học Lâm Nghiệp để phân tích bằng phương pháp Sắc ký khí

 Sau các khoảng thời gian 24 giờ và 48 giờ kể từ lúc sau khi hút khí ra

để xác định nồng độ ban đầu lại tiếp tục hút khí từ trong buồng thí nghiệm vào ống nghiệm đựng dung dịch CS2 để xác định nồng độ mà cây xử lý được

Hình 2.4: Lấy mẫu toluene (xylen)

2.5.3.2 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

2.5.3.2.1 Phương pháp phân tích khí CO

Khí CO sẽ được phân tích bằng máy đo Kymoto với đầu đo là sensor của Nhật Bản tại Viện Nghiên cứu Kỹ thuật Bảo hộ Lao động Việt Nam Khí được chứa trong túi khí được dẫn trựa tiếp vào máy đo khí, sau đó bộ phận cảm biến sẽ xác định nồng độ của các chất khí Kết quả phân tích sẽ hiện ra nồng độ trên màn hình

Khí SO2 sẽ được phân tích bằng hai phương pháp:

1 Phương pháp đo nhanh sử dụng máy Kymoto của Nhật Bản, phân tích tại Viện Nghiên cứu Kĩ thuật Bảo hộ Lao động Việt Nam

2 Phương pháp so màu quang điện – xác định SO2 bằng phương pháp TCM – Pararosanilin (TCVN 5971 – 1995; ISO 6767 : 1990)

Phương pháp so màu quang điện là phương pháp phân tích dựa trên sự

so sánh cường độ màu của dung dịch nghiên cứu với cường độ màu của dung dịch tiêu chuẩn có nồng độ xác định dựa vào tế bào quang điện

Trang 27

Nguyên lý: Khí SO2 khi hấp thụ vào dung dịch tetracloromercurat (TCM) sẽ tạo thành phức chất diclorosulfitomercurat Cho thêm dung dịch axit sulfamic vào dung dịch mẫu sẽ phá hủy hết các ion nitrit từ không khí bị hấp thụ theo Khi thêm dung dịch Pararosanilin hydroclorua đã axit hóa vào mẫu cùng với dung dịch formaldehyde sẽ biến phức trên thành axit Pararosanilin – metyl – sunfonic có màu tím thẫm Phức này có cực đại hấp thụ ánh sáng ở bước sóng 551nm Dùng máy trắc quang hay UV – VIS spectrophotomrter để đo mật độ quang sẽ xác định được hàm lượng SO2 có trong mẫu thông qua đường chuẩn Phương pháp này được áp dụng đối với việc kiểm soát hàm lượng SO2 trong không khí xung quanh

Quá trình phân tích khí SO2 bằng phương pháp TCM – Pararosanilin được thực hiện tại phòng phân tích môi trường của trường Đại Học Lâm Nghiệp

2.5.3.2.3 Phân tích toluene và xylen bằng phương pháp Sắc ký khí với

detectơ ion hoá ngọn lửa FID

Dung dịch CS2 được hấp thụ Toluene và Xylen, mẫu sẽ được bảo quản lạnh mang về phòng thí nghiệm trường Đại học Lâm Nghiệp phân tích bằng

phương pháp sắc ký khí với detectơ ion hoá ngọn lửa FID

Sắc ký là một nhóm các phương pháp hoá lý dùng để tách các thành phần của một hỗn hợp Sự tách sắc ký dựa vào sự phân chia khác nhau của các chất vào hai pha luôn tiếp xúc với nhau và hai pha đó không hoà lẫn với nhau Một pha là pha tĩnh, một pha là pha động

Bản chất của phương pháp sắc ký chính là sự tách chất Các chất được tách ra khỏi nhau dựa vào sự tương tác của chất giữa pha động và pha tĩnh Pha động mang các chất đi dọc hệ thống sắc ký (là cột hoặc bản phẳng) có được phủ pha tĩnh đều khắp Các chất trong mẫu khi đó sẽ chịu sự tương tác (phân bố) lặp lại giữa pha động và pha tĩnh dẫn đến kết quả chúng bị tách dần thành những dải trong pha động và vào lúc cuối của quá trình sắc ký các cấu

tử sẽ bị tách biệt hẳn ra theo trật tự tăng dần tương tác với pha tĩnh Cấu tử nào tương tác yếu với pha tĩnh sẽ theo pha động ra khỏi pha tĩnh trước, cấu tử

Trang 28

nào tương tác mạnh với pha tĩnh sẽ ra sau Các cấu tử khi ra khỏi pha tĩnh sẽ được ghi lại dưới dạng các đỉnh (pic) tách riêng rẽ và được in trên giấy gọi là sắc ký đồ

Đối với phương pháp sắc ký khí pha động ở đây là chất khí (còn gọi là khí mang), pha tĩnh là chất rắn được nhồi vào phần trong của cột tách (đối với cột nhồi) hoặc là chất rắn hay chất lỏng được tẩm lên thành trong của cột tách (đối với cột mao quản hở) Ngày nay sắc ký khí đã trở thành một phương pháp phân tích công cụ quan trọng nhất để tách và phát hiện các chất trong thành phần của hỗn hợp phức tạp Năm 1952 máy sắc ký khí đầu tiên được ra đời dưới sự chủ trì của giáo sư Keulemann và các cộng tác viên Từ đó kỹ thuật sắc ký khí được hoàn chỉnh và phát triển rất mạnh, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học: hóa học, sinh học, y học, dược học, khoa học hình sự và đặc biệt trong nghiên cứu môi trường, thực phẩm,

- Sơ đồ khối của máy Sắc ký khí

Hình 2.5: Sơ đồ khối của máy sắc ký khí

- Cơ chế phát hiện các chất của detectơ FID

Dựa trên sự ion hóa các hợp chất hữu cơ (toluene và xylen) bởi năng lượng nhiệt của ngọn lửa Ngọn lửa trong detectơ được tạo ra bởi hỗn hợp của khí hyđrô và oxy Khi chưa có chất phân tích đi vào detectơ thì thành phần trong ngọn lửa của detectơ chỉ có hyđrô, oxy và khí mang Khi đó ngọn lửa

Trang 29

tạo ra rất ít các electron Dưới tác dụng của một điện trường các electron này được chuyển động về các điện cực trái dấu và sinh ra một dòng điện có cường độ rất nhỏ khoảng 10-12

A gọi là dòng điện nền

Khi có chất phân tích đi vào detectơ (các hydrocacbon) chúng sẽ bị năng lượng nhiệt của ngọn lửa bẻ gẫy mạch tạo thành các nhóm CH*

, các nhóm CH* này sẽ bị oxy hóa bởi oxy có trong ngọn lửa tạo thành các gốc CHO+ và e- Khi đó cường độ dòng điện sẽ tăng đột biến và chúng được khuếch đại, ghi lại dưới dạng các đỉnh pic Mỗi pic đó là một chất

Ví dụ cơ chế phát hiện benzen khi phân tích của detector FID như sau:

C6H6 → 6CH*

6CH* + 3O2 → 6CHO+ + 6eKhi đó số lượng các điện tử tăng lên đột biến làm cường độ dòng điện nền tăng lên đột biến và được ghi lại dưới dạng đỉnh pic ứng với một thời gian lưu nhất định

-Đặc điểm của phương pháp phân tích Sắc ký khí với detectơ ion hoá ngọn lửa: Đây là detecto rất nhạy với hợp chất hữu cơ Tín hiệu thu được rõ ràng và giới hạn phát hiện có thể đạt đến 10-12 – 10-5

khoảng tuyến tính rộng Đường nền nhỏ, ít bị ảnh hưởng bởi tốc độ dòng pha động và nhiệt độ

Ưu nhược điểm của phương pháp Sắc ký khí:

+ Uu điểm: Có khả năng phát hiện lượng vết của chất (ppm – ppb) Phát hiện được nhiều chất trong một lần phân tích Không làm phân hủy mẫu và có khả năng ghép nối với khối phổ, độ chính xác cao Độ lệch chuẩn tương đối đạt từ 1 – 5 %, lượng mẫu phân tích nhỏ

+ Nhược điểm: chỉ phát hiện được các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi và bền nhiệt Do lượng mẫu bơm vào nhỏ nên cần thiết có một quá trình làm sạch và làm giàu mẫu

Trang 30

Hình 2.6: Hệ thống máy sắc ký khí

2.5.3.3 Phương pháp xác định sinh khối của cây

Việc xác định sinh khối có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết cho việc xử lý các chất khí của cây Các chỉ tiêu đo đạc như sau:

 Xác định chiều cao vút ngọn (Hvn): thước dài có chia vạch tới milimet

Đo từ gốc tới điểm ngọn, cao nhất của cây

 Xác định đường kính tán (Dt) : dùng thước dài có chia vạch Tiến hành

đo 2 chiều Đông Tây và Nam Bắc Sau đó lấy 2 kết quả trung bình của 2 số

đo trên ta được đường kính tán của cây

 Xác định diện tích lá: kẻ 1 bảng chia ô diện tích (1x1) cm2

, với mỗi ô tương ứng với diện tích là 1cm2

Lấy một số chiếc lá đặc trưng về diện tích trung bình của tất cả những chiếc lá có trên cây Sau đó ta đặt chiếc lá lên bảng ô chuẩn và đếm số ô chiếc lá đó chồng lên Số lượng ô đếm được chính

là diện tích tính theo cm2 rồi tính ra m2

Để xác định tổng diện tích lá, ta đếm toàn bộ số lá trên 1 cây sau đó nhân với diện tích trung bình của những chiếc lá vừa tính được

Trang 31

 Tình trạng sinh trưởng của cây: xác định khả năng phát triển của cây như: màu sắc lá, khả năng bị sâu hại…

2.5.3.4 Phương pháp nội nghiệp

Sau khi có kết quả thí nghiệm,thu thập thông tin khóa luận tiến hành

xử lý nội nghiệp bao gồm các công việc sau:

Phân tích, lựa chọn và kế thừa có chọn lọc các số liệu đã thu thập được đem so sánh đối chiếu với kết quả điều tra thu được Các số liệu thu được trong quá trình thực hiện đề tài sẽ được đưa vào xử lý trên phần mềm excel

Từ kết quả thực nghiệm tính toán hiệu suất xử lí của cây :

Nội dung này được thực hiện chủ yếu thông qua việc tổng hợp kết quả

từ các nội dung trước đồng thời tham khảo ý kiến của các chuyên gia, người dân có kinh nghiệm trong việc chăm sóc cây cảnh, các tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu để đưa ra những giải pháp tốt nhất

Trang 32

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài cây được nghiên cứu

3.1.1 Cây Ráy

- Tên khoa học: Alocasia odora (Roxb) C.Koch

- Họ ráy: Araceae

 Mô tả cây: Ráy là một loại cây mềm cao 0,3 đến 1,4 m, có thể dài tới 5

m nhưng phía dưới bò, trên đứng; dưới đất có thân rễ hình cầu sau phát triển dần thành củ dài, có nhiều đốt ngắn, trên đốt có vảy màu nâu Lá to hình tim dài 10 – 50 cm, rộng 8 – 45 cm, cuống mầm dài 15 đến 120 cm Bông mo mang hoa cái ở phía gốc, hoa đực ở phía trên và tận cùng bằng một đoạn bất thụ Phần dưới của mo tồn tại xung quanh các quả mọng, hình trứng, màu đỏ

 Phân bố, thu hái và chế biến: Ở nước ta thường mọc hoang ở đồng bằng, miền núi Cây ưa ẩm thường mọc ở các thung lũng trong rừng, ven khe suối Còn thấy ở Lào, Campuchia (Kdat norar), Hoa Nam Trung quốc, châu

Úc Người ta thường đào củ ở những cây 2 hay 3 năm trở lên Đào về rửa sạch đất cá, cắt bỏ rễ con, cạo bỏ vỏ ngoài, phơi khô hay dùng tươi Khi chế biến thường bị ngứa tay nên ta cần phải chú ý

 Thành phần hóa học: chưa thấy tài liệu nào nghiên cứu, chỉ mới biết trong củ ráy có tinh bột chất gây ngứa

 Công dụng và liều dùng: Củ Ráy chỉ mới thấy dùng làm thuốc trong phạm vi nhân dân.Tài liệu coi củ Cây Ráy có vị nhạt tính hàn, có đại độc (độc nhiều) ăn vào gây ngứa trong miệng và cổ họng Nhân dân thường dùng củ Ráy để sát vào nơi bị lá han gây ngứa tấy, còn dùng làm chữa mụn nhọt, ghẻ, sưng bàn tay, bàn chân Tại Quảng Tây Trung Quốc nhân dân dùng uống chữa sốt rét, thũng độc, ngày uống 20 gam

Đơn thuốc có củ Ráy:

Trang 33

Cao dán mụn nhọt: Một củ ráy tươi nặng 80 – 100g, nghệ 1 củ (60g) Củ Ráy rửa sạch vỏ, giã nát nhừ cùng với nghệ, sau cho vừng vào nấu nhừ, thêm dầu thông và sáp vào khuấy cho tan Để nguội phết lên giấy vào nơi mụn nhọt [18]

Hình 3.1: Cây Ráy - Alocasia odora

(Nguồn: Nguyễn thị Liên – 2011)

3.1.2 Cỏ seo gà

Còn gọi là Ráng seo gà chẻ nhiều, Phượng vĩ thảo [11] [18]

- Tên khoa học: Pteris multifida Poir., 1804

- Tên họ Cỏ seo gà: Pteridaceae

 Cây thảo nhỏ, cao 30 – 40 cm Thân rễ ngắn mọc bò Lá lược chia làm nhiều đoạn xòe ra như đuôi gà, đuôi phượng, mép lá các đoạn có khía răng

Có hai loại lá: lá không sinh sản ngắn, lá sinh sản dài nhưng hẹp hơn, lá chét cuốn men theo sống lá, mép lá gập lại mang túi bào tử dày đặc ở trong

 Tính vị tác dụng: Cỏ seo gà có vị ngọt nhạt, hơi đắng tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, lương huyết, chỉ lỵ

 Công dụng: Thường dùng chữa kiết lỵ mãn tính, lỵ trực trùng, viêm ruột, viêm đường tiết liệu, ngoại cảm phát sốt, sưng hầu họng, Viêm tuyến nước bọt, đinh nhọt, ngứa lở, bệnh ngoài da

 Liều dùng: 30 – 60g cây khô sắc uống Để dùng ngoài ta lấy cây tươi giã nát hoặc dùng cây và thân rễ hơ lửa, nghiền thành bột, trộn với dầu vừng

Trang 34

 Đơn thuốc chữa kiết lỵ:

+ Cỏ seo gà, dây mơ lông, rễ cỏ tranh, phèn đen, mỗi vị bằng nhau 20 – 30g, gừng sống 3 lát, sắc đặc để uống vào lúc đói

+ Cỏ seo gà 30g, vỏ sắn thuyền 12g, cám gạo rang vàng hay đậu đen rang cháy 20 g sắc uống

 Nơi sống và thu hái: Cỏ seo gà thường mọc bám trên các khe đá, nơi

ẩm ven đường đi Cỏ seo gà là loài cây được trồng làm cảnh nhiều nơi ở nhiều nước và người ta cũng đã tạo ra được những giống trồng Cỏ Seo gà thu hái toàn thân quanh năm, rửa sạch phơi khô dùng dần

Phân bố rộng từ đồng bằng đến vùng núi thấp của Lào cai, Hà giang (giữa thị

xã và đồng me, Poilane 33322, HM), Cao Bằng (Nguyên Bình : Tĩnh túc; poilane

33322, HM ; Trà Lĩnh, vùng hồ Thăng Heng, Lạng Sơn (Đồng Đăng, Đồng Mỏ) qua Quảng Bình (lưu vực sông gianh), thừa Thiên Huế đến Lâm Đồng (lang hanh) Còn gặp ở trung quốc về bắc đến Nhật Bản, bán đảo cộng hòa dân chủ nhân dân triều tiên và đài loan, về Nam ít khi gặp ở Malayxia [18]

Hình 3.2: Cỏ seo gà - Pteris multifida

(Nguồn : Nguyễn thị Liên- 2011)

3.2 Tổng quan về ô nhiễm không khí ở Việt Nam

3.2.1 Đặc điểm ô nhiễm không khí ở Việt Nam

Ở Việt Nam ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đô thị, công nghiệp và làng nghề Công nghiệp hóa càng mạnh, đô thị hóa càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường

Trang 35

không khí càng nhiều, áp lực biến đổi chất lượng không khí theo chiều xấu ngày càng lớn Môi trường không khí đô thị bị ô nhiễm bụi có tính phổ biến, nặng nề và ô nhiễm các khí độc hại có tính cục bộ

1 Về ô nhiễm bụi : nồng độ bụi trong không khí ở các đô thị lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng ở xung quanh các nhà máy nhiệt điện, vật liệu xây dựng, phân hóa học… trung bình ngày cao hơn tiêu chuẩn cho phép (TCCP = 0,200 mg/m3) từ 1,5 – 3 lần Ở các nút giao thông cao hơn TCCP từ 3 – 5 lần, ở các khu phố đang diễn ra hoạt động xây dựng nồng độ bụi vượt TCCP từ 10 – 20 lần [14]

2 Về ô nhiễm khí NO2, CO: Ở các đô thị lớn như Hà Nội, T.P HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng nồng độ khí NO2, CO trung bình ngày trong môi trường không khí xung quanh đều nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép Tuy vậy ở một số nút giao thông lớn trong đô thị, nồng độ khí CO và NO2 đã vượt trị số cho phép từ 1,2 – 1,5 lần [14]

3 Về ô nhiễm khí SO2: So với trị số tiêu chuẩn cho phép 2005 (nồng độ trung bình ngày = 0,125 mg/m3) Nồng độ khí SO2 ở các khu dân cư đô thị nói chung còn dưới TCCP Nhưng ở các phố phường gần các khu công nghiệp và xung quanh các cơ sở sản xuất các khu công nghiệp nồng độ SO2 đều đã hoặc vượt trị số tiêu chuẩn cho phép [14]

4 Nồng độ khí benzen, toluen và xylen đều có xu hướng tăng cao ở ven các trục giao thông đường phố Tại Hà Nội, một số nghiên cứu cho thấy nồng

độ benzen, toluen và xylen cao nhất ở dọc hai bên các tuyến đường giao thông

và có giảm đi ở các khu dân cư nằm xa các trục đường lớn Điều này chứng tỏ nguồn gốc của những khí này chủ yếu từ các phương tiện giao thông [13]

3.2.1.1 Nguyên nhân gây ô nhiễm không khí ở Việt Nam

Các nguồn gây ô nhiễm không khí ở nước ta gồm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng đô thị, hạ tầng kĩ thuật, sinh hoạt của nhân dân Các nguồn khác như cháy rừng, ảnh hưởng của quốc gia lân cận Tuy nhiên ta có thể phân chia thành 4 nguyên nhân chính như sau:

Trang 36

1 Hoạt động sản xuất công nghiệp: công nghiệp nước ta hiện nay phân ra thành 2 nhánh mới và cũ Các cơ sở công nghiệp cũ do đều mang quy mô nhỏ, lại được xây dựng trước năm 1975 nên không có thiết bị xử lý khí thải độc hại, không có thiết bị giảm thanh ở máy móc sản xuất, nhiên liệu sản xuất lại giản đơn như dầu FO, than vì vậy đã dẫn đến ô nhiễm không khí Còn với các khu công nghiệp mới, dù được xây dựng ở những vị trí riêng biệt, song việc xử lý bụi, khí thải độc hại chưa triệt để cũng là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường Hơn nữa, các khu công nghiệp chưa có công cụ để tính toán lượng khí thải ô nhiễm, chưa thống nhất cách tính ô nhiễm từ nhiên liệu, loại hình công nghệ, trình độ công nghệ Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý hành vi vi phạm môi trường chưa được quan tâm đúng mức Mức xử phạt đối với hành vi xả khí thải vượt tiêu chuẩn cho phép còn thấp

2 Về hoạt động giao thông vận tải: Nếu chỉ xét không gian dọc theo các

đường phố thì lượng bụi do giao thông vận tải gây ra chiếm 80 % Tính chung cho các đô thị lớn lượng thải khí CO của ngành giao thông chiếm 83,7 %, lượng thải SO2 chiếm 5 %, lượng thải khí NO2 chiếm 30,8 % [14] Phát thải các chất độc hại như CO, hơi xăng (HmCn,VOC), SO2, chì, benzene, toluene, xylen liên quan chặt chẽ tới tiêu thụ xăng dầu Trong cơ cấu tiêu thụ xăng dầu của quốc gia thì giao thông vận tải chiếm tỉ trọng lớn nhất [13] Hà Nội và TPHCM đã và đang được xếp vào tốp 10 thành phố ô nhiễm không khí nhất thế giới [3]

3 Nguồn ô nhiễm không khí từ sinh hoạt đun nấu của nhân dân chủ yếu là

do nhân dân ở nông thôn nước ta thường đun nấu bằng củi, rơm, cỏ, lá cây và một tỷ lệ nhỏ đun nấu bằng than Nhân dân ở thành phố thường đun nấu bằng than, dầu hoả, củi, điện và khí tự nhiên (gas) Đun nấu bằng than và dầu hoả

sẽ thải ra một lượng chất thải ô nhiễm đáng kể, đặc biệt nó là nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí trong nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân

Trang 37

4 Nguồn thải từ hoạt động xây dựng đô thị : Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh với các hoạt động xây dựng mới, sửa chữa và cải tạo nhà ở; mở rộng và nâng cấp hệ thống giao thông Các hoạt động xây dựng này thường xuyên phát tán bụi vào môi trường, khiến cho tình trạng ô nhiễm không khí ngày thêm trầm trọng

Việc gia tăng quá mức các nguồn thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, hoạt động xây dựng đô thị và sinh hoạt cộng đồng đã làm cho ô nhiễm không khí ngày một trầm trọng và có nguy cơ gia tăng, ô nhiễm các khí độc hại (SO2, CO, ) có tính cục bộ

3.2.1.2 Tác động của ô nhiễm không khí đối với sức khỏe con người

Ô nhiễm không khí trước hết gây ra tác hại đối với sức khỏe cộng đồng,

tiếp theo là hệ sinh thái trên cạn, tác hại đến thiết bị trong nhà đặc biệt là thiết

bị điện , điện tử, tác hại đến vật liệu và gây biến đổi khí hậu từ đó dẫn đến thiết hại về kinh tế xã hội Đối với sức khỏe cộng đồng, ô nhiễm không khí gây ra các bệnh về đường hô hấp (viêm mũi, viêm xoang, viêm họng, viêm phế quản, ho, viêm phổi, ung thư phổi), gây ra các bệnh về mô, tế bào da (viêm da, mề đay, dị ứng da…), gây ra các bệnh về thị giác (đau mắt,viêm mắt…) làm trầm trọng thêm các bệnh của hệ thần kinh và các bệnh của hệ tim mạch Theo báo cáo của WHO (2007, 2002) khoảng 20- 30 % tổng số người bị bệnh đường hô hấp trên thế giới là do ô nhiễm không khí xung quanh và ô nhiễm không khí trong nhà gây ra Khoảng 4 -8 % số người bị chết non là do ô nhiễm bụi từ không khí xung quanh và ô nhiễm bụi từ không

khí trong phòng gây ra [14] Từ năm 2001 đến năm 2003, đã có 5000 trẻ em

dưới 15 tuổi điều trị tại Khoa nhi, Bệnh viện Thanh Nhàn - Hà Nội vì mắc bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí, 1,4 lần là con số bệnh nhân ở thành phố mắc bệnh hen suyễn, viêm phế quản cao hơn so với bệnh nhân ở ngoại thành Tại bệnh viện Lao Phạm Ngọc Thạch, TP Hồ Chí Minh, năm 2002 đã điều trị nội trú cho 2600 bệnh nhân bị bệnh về đường hô hấp, 9 tháng đầu

năm 2003 số bệnh nhân đã lên tới 2500 người [4]

Trang 38

Trước những vấn đề về ô nhiễm không khí ở Việt Nam như trên đã đưa

ta thấy ô nhiễm không khí ở nước ta đứng trước nhiều thách thức Các cơ sở sản xuất công nghiệp cũ và mới thải ra môi trường không khí nhiều chất độc hại Nhiên liệu dùng cho giao thông cũng như công nghiệp ở nước ta chỉ là nhiên liệu truyền thống như xăng dầu, than… Chưa phát triển nhiên liệu sạch như khí hóa lỏng, dầu sinh học Giao thông công cộng ở các đô thị phát triển chậm so với nhu cầu đi lại của nhân dân Kiểm tra, kiểm soát về môi trường đối với các cơ sở sản xuất còn bất cập

3.2.2 Ô nhiễm không khí trong phòng ở Việt Nam

Thông thường, khi nói đến ô nhiễm môi trường người ta thường nghĩ rằng đó là những ô nhiễm ngoài trời tác động đến thời tiết, khí hậu, cây cỏ, hủy hoại các công trình xây dựng, ô nhiễm đất, không khí, nước ảnh hưởng đến sức khỏe con người Nhưng thực sự ô nhiễm gây độc trong nhà và văn phòng là rất trầm trọng gây ra đủ loại bệnh, gây độc hại sức khỏe con người

Ô nhiễm không khí trong phòng là cụm từ nói chung về sự ô nhiễm trong nhà ở, phòng làm việc, lớp học, nhà xưởng Điều này có thể do trong phòng được làm kín, ít thông thoáng nên các nhân tố gây ô nhiễm tích tụ làm nồng

độ ngày càng cao

3.2.2.1 Nguồn gốc gây ô nhiễm không khí trong phòng

1 Các chất ô nhiễm từ bên ngoài vào nhà

a) Các tác nhân: Khí thải sản xuất công nghiệp, khói xe ôtô, khói quang hóa gồm bụi, SO2, NOx, HnCm, CO, O3, Pb, đều có thể dẫn đến ô nhiễm khí quyển Thông thường tại các nước phát triển tỷ lệ các chất này giữa trong và ngoài nhà là 0.7÷ 1.3 Các chất ô nhiễm này khi xâm nhập vào phòng cũng là một nguyên nhân của sự ô nhiễm, khi chúng ở một nồng độ nhất định sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe con người

b) Tương quan giữa không khí ngoài trời và không khí trong phòng

Ô nhiễm không khí trong phòng và ngoài trời có mối liên hệ với nhau Theo một nghiên cứu ở Mỹ, khi nồng độ SO2 cao tỷ lệ của nó ở trong nhà và

Trang 39

ngoài trời (ký hiệu I/O) nằm trong khoảng 0,3 – 0,5 Nhưng khi nồng độ SO2

ngoài trời thấp thì tỉ lệ I/O lên tới 0,7 – 0,9 Đối với ozon tỉ lệ I/O thường là 0,1 – 0,3 (nhưng cũng có trường hợp tới 0,7) CO là khí khá trơ, nếu không có nguồn trong nhà coi như nó ít thâm nhập Nhưng nếu dùng bếp ga hay bếp dầu thì nồng độ của nó cao hơn ngoài trời, thậm chí khi thông gió không tốt

có thể nguy hiểm đến tính mạng [9]

2 Các trang thiết bị nội thất

Đồ dùng gia đình là bộ phận trang trí chủ yếu trong phòng ở Những năm gần đây, rất nhiều gia đình gặp phải vấn đề ô nhiễm môi trường trong phòng

mà nguyên nhân là do đồ nội thất sinh ra Vật liệu chế tạo đồ nội thất có rất nhiều như gỗ tự nhiên, kim loại, kính, ván gỗ nhân tạo, các loại keo dán, chất phun sơn,… Đa phần các đồ nội thất này sử dụng ván gỗ dán và ván gỗ dày chế tạo ra vì vậy sẽ thải ra các chất hóa hợp hữu cơ ở thể hơi như formaldehyde, benzene, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người Một loại

ô nhiễm trong phòng mà ta có thể kể đến đó là ô nhiễm bởi các chất bay hơi hữu cơ Các chất hữu cơ bay hơi (Volatile Organic Compounds – VOCs) được dùng làm dung môi trong các sản phẩm tiêu dùng

VOCs chia làm hai nhóm: Nhóm trên cơ sở dầu mỏ và nhóm dung môi clo hóa Nhóm trên cơ sở dầu mỏ nói chung có ở các sản phẩm như sơn , keo dán, các chất màu, chất gắn, chất bả tường Các dung môi clo hóa là thành phần của xi đánh bóng đồ gỗ, sơn phun, chất tẩy sơn, các chất tẩy quần áo Các nghiên cứu tại Đan Mạch về chất lượng không khí trong nhà ở và văn phòng

đã chỉ ra các chất thường gặp như toluene, xylen, pinen [9] Ở nhiệt độ bình thường Toluen và xylen toluene dễ bay hơi thành dạng khí, dễ cháy nổ

 Toluen là những chất xúc tác được sử dụng nhiều nhất trong công nghiệp Toluen có trong sơn, nhựa, keo dán và chất xúc tác trong công nghệ

in ảnh

Con đường xâm nhập toluene ở cơ thể người: Toluen được hấp thu qua phổi và một lượng nhỏ qua da, thường đọng lại ở những bộ phận có mỡ Thời

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w