MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Cung cấp thông tin cần thiết cho việc triển khai các hoạt động giáo dục môi trường tại khu vực nghiên cứu, đồng thời bổ sung cơ sở lý luận cho giáo dục bảo tồn dựa trên cộng đồng.
(1) Xác định cơ chế duy trì các hành vi không thân thiện với động thực vật hoang dã;
(2) Định hướng biện pháp tổ chức các hoạt động giáo dục bảo tồn đa dạng sinh học ở khu vực nghiên cứu.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cộng đồng địa phương và các hành vi của họ liên quan đến tài nguyên rừng trong KBTTN Pù Luông
Tôi đã chọn bản Nghèo, thuộc xã Hồi Xuân trong vùng đệm Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông, để nghiên cứu các hành vi của người dân liên quan đến tài nguyên rừng.
- Về thời gian: các hoạt động thu thập số liệu ngoài thực địa đƣợc tiến hành từ 13/03/2019 đến 13/4/2019
Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Điều tra, đánh giá các hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng bản Nghèo;
Nội dung 2: Điều tra, đánh giá thực trạng công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên đƣợc triển khai tại bản Nghèo;
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Các phương pháp điều tra thu thập số liệu
2.4.1.1 Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA)
Tiến hành họp dân bản Nghèo với sự tham gia đầy đủ các thành phần để thực hiện PRA, tập trung vào thảo luận về bảo tồn đa dạng sinh học rừng (Michael M et al, 2004) Cụ thể, sẽ áp dụng 6 công cụ PRA để thu thập thông tin và ý kiến từ cộng đồng.
Thảo luận để xây dựng cây vấn đề: “Nguyên nhân suy giảm tài nguyên thiên nhiên” Trình tự các bước như sau:
(1) Trước tiên cho họ xem cây vấn đề mẫu và giải thích quá trình lập nên nó;
(2) Hỏi những người tham gia xem những vấn đề lớn nhất hiện nay liên quan đến tài nguyên thiên nhiên của địa phương là gì;
(3) Tiếp theo, yêu cầu nhóm xác định nguyên nhân trực tiếp của những vấn đề đính trên giấy lật và ghi những nguyên nhân đó vào thẻ màu.;
Đối với mỗi nguyên nhân nằm ở hàng thứ hai, cần đặt câu hỏi về lý do dẫn đến nguyên nhân đó bằng cách hỏi: “Tại sao lại xảy ra điều này?” Sau đó, ghi lại câu trả lời vào thẻ và đính kèm dưới hàng thứ hai để tạo thành hàng thứ ba.
Yêu cầu người tham gia kết nối các cấp độ của kim tự tháp bằng những đường kẻ, thể hiện mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả; đồng thời, hãy đánh số thứ tự ưu tiên từ 1 đến hết.
(II) Lược sử thôn bản
Trình tự các bước như sau:
(1) Trước tiên cho họ xem Lược sử thôn bản (bản mẫu) và giải thích quá trình lập nên nó;
Trong quá trình họp với cộng đồng, hãy lập bảng ma trận hai chiều với trục hoành ghi lại các sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến việc sử dụng tài nguyên, đồng thời thêm mốc thời gian 5 năm tới để dự đoán biến động tài nguyên Trên trục tung, ghi nhận các chỉ số sử dụng tài nguyên quan trọng đã thay đổi theo thời gian tại địa phương, bao gồm độ che phủ rừng, diện tích nương rẫy, diện tích đất bỏ hóa, số lượng cây gỗ lớn, số lượng động vật hoang dã, lượng nước và chất lượng đất.
Cùng cộng đồng, hãy đánh giá từng ô giao nhau giữa trục tung và trục hoành, yêu cầu họ định lượng các chỉ số sử dụng tài nguyên trong từng sự kiện bằng cách cho điểm từ 1 đến 10, trong đó điểm 10 tương ứng với thời điểm chỉ số môi trường đạt chất lượng hoặc lượng cao nhất.
Trong quá trình thảo luận và cho điểm, có thể bổ sung hoặc thay đổi các thời điểm và sự kiện lịch sử trên trục tung, vì cộng đồng có thể nhận ra sự biến động tài nguyên rõ ràng tại những thời điểm đó.
Trình tự các bước như sau:
(1) Trước tiên cho họ xem Lịch thời vụ (bản mẫu) và giải thích quá trình lập nên nó;
Ghi chú các tháng trong năm trên trục hoành và liệt kê những hoạt động sản xuất cùng các mối đe dọa đến đa dạng sinh học trên trục tung Tiến hành thảo luận với cộng đồng để thống nhất danh sách các hoạt động này.
(3) Cùng với cộng đồng điểm qua từng hoạt động trên danh sách và yêu cầu họ đánh dấu những tháng họ thực hiện hoạt động đó;
Các hoạt động có thể gây ra mối đe dọa tiềm tàng và suy thoái tài nguyên thiên nhiên cần được xem xét kỹ lưỡng Điều quan trọng là phải tìm hiểu lý do chọn thời điểm cụ thể trong năm để tiến hành các hoạt động này.
Trình tự các bước như sau:
(1) Vẽ một vòng tròn lớn trên giấy A0 mô phỏng ranh giới của khu vực đang xem xét (ranh giới bản/làng + vùng rừng KBT gần bản);
Người dân cần xác định các yếu tố tự nhiên, địa lý và công trình xã hội nổi bật như giông núi, suối, đường đi, nhà văn hóa, và đánh dấu chúng trên sơ đồ Tiếp theo, cần xác định các hệ sinh thái chính như rừng tự nhiên, rừng trồng, ruộng nước, nương rẫy, hoa màu, và cũng đánh dấu lên sơ đồ Cuối cùng, vị trí của cộng đồng cần được đánh dấu trên sơ đồ Như vậy, sơ đồ khu vực sẽ được phác thảo một cách rõ ràng.
Viết các hoạt động của cộng đồng đã được xác định trong Lịch thời vụ lên thẻ màu nhỏ và yêu cầu người dân dán thẻ màu lên bản đồ tại vị trí nơi hoạt động đó diễn ra.
Sau khi hoàn thành sơ đồ các hoạt động, cần thảo luận với cộng đồng để lựa chọn tuyến đi phù hợp, đảm bảo tuyến này đi qua nhiều địa điểm diễn ra hoạt động của cộng đồng Tuyến đi thường bắt đầu từ một phía của bản đồ và kết thúc ở một phía khác.
Vẽ bảng ma trận 2 chiều với một trục thể hiện các hoạt động của người dân và trục còn lại thể hiện sinh cảnh nơi diễn ra các hoạt động đó Hình vẽ minh họa các sinh cảnh trên ma trận sẽ giúp thông tin trở nên hấp dẫn hơn.
(V) Ma trận ra quyết định quản lý, sử dụng tài nguyên
Trình tự các bước như sau:
Để xây dựng một bảng ma trận hai chiều, trước tiên cần xác định trục tung với danh sách các hoạt động liên quan đến tài nguyên đang được khai thác tại địa phương Tiếp theo, trên trục hoành, liệt kê những người hoặc các bên liên quan có vai trò quyết định trong việc cho phép đối tượng tiếp cận và sử dụng các loại tài nguyên đó.
Cùng với cộng đồng, chúng ta sẽ xem xét từng hoạt động trong ma trận và mô tả mức độ quyền lực khác nhau của các bên liên quan trong việc ra quyết định sử dụng tài nguyên Mỗi ô trong ma trận sẽ chỉ rõ ai là người sử dụng tài nguyên tương ứng.
(VI) Ma trận xếp hạng lựa chọn
Ma trận xếp hạng lựa chọn là công cụ hữu ích giúp phân tích và suy nghĩ, đảm bảo rằng tất cả các yếu tố và tiêu chí quan trọng được xem xét và so sánh kỹ lưỡng trước khi đưa ra quyết định.
Trình tự các bước như sau:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Thực trạng sử dụng tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng
Dựa trên kết quả khảo sát thực tế và thảo luận với người dân bản Nghèo, tôi đã xây dựng Lịch thời vụ và Lắt cắt làng, xác định các hoạt động sử dụng tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng, cùng với thông tin chi tiết về đối tượng thực hiện, thời gian và địa điểm diễn ra các hoạt động này.
(1) Săn bắt động vật hoang dã
Săn bắt động vật chủ yếu do nam giới thực hiện, với sự tham gia của một số người dân bản Nghèo và những người săn bắt chuyên nghiệp để bán Hoạt động này diễn ra rộng rãi ở các khu vực như rừng già, rừng phục hồi và nương rẫy, và có thể xảy ra vào bất kỳ thời điểm nào trong năm Tuy nhiên, mùa săn bắt diễn ra mạnh mẽ nhất vào tháng 11 và tháng 12 âm lịch, khi động vật có tầm hoạt động rộng hơn và người dân cần thêm thực phẩm hoặc thu nhập cho dịp Tết.
Hình 3.1 Súng kíp trong nhà dân Hình 3.2 Bẫy kẹp trong nhà dân
Người ngoài địa phương thường sử dụng súng kíp để săn bắn, trong khi người dân bản Nghèo chủ yếu sử dụng các loại bẫy như bẫy dính, bẫy cần giật và bẫy kẹp Bẫy dính và bẫy cần giật có thiết kế đơn giản, dễ làm và chi phí thấp, trong khi bẫy kẹp được bán công khai tại chợ địa phương Các loài động vật như tắc kè, lợn rừng, don, sóc và cầy đang bị săn bắt nhiều hơn do nhu cầu thị trường ngày càng tăng.
Vào mùa hè từ tháng 3 đến tháng 8, người dân bản Nghèo, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em, thường vào rừng để nhặt ốc đá Họ sử dụng ốc đá làm thực phẩm cho gia đình và cũng bán để tăng thu nhập.
Mặc dù lực lượng kiểm lâm đã tăng cường kiểm tra và kiểm soát, hoạt động khai thác gỗ tại vùng rừng bản Nghèo vẫn diễn ra, ảnh hưởng đến tài nguyên rừng KBTTN Pù Luông Tuy nhiên, hoạt động khai thác gỗ thương mại đã giảm đáng kể, chủ yếu là khai thác gỗ để sử dụng tại chỗ Tập quán của người Thái ở đây là xây dựng nhà sàn, do đó khi tách hộ hoặc cần thay thế bộ phận nhà bị mối mọt, nhu cầu khai thác gỗ từ rừng tự nhiên lại gia tăng Thêm vào đó, dưới gầm nhà sàn của mỗi hộ dân thường có một cỗ quan tài được đục nguyên từ một cây gỗ lớn, sẵn sàng cho những tình huống cần thiết.
Hình 3.3 Các thanh gỗ để ốp vách nhà sàn được xẻ về để ở dưới gầm nhà
Hình 3.4 Quan tài đƣợc đục thủ công từ một cây gỗ lớn lấy ở trong rừng
Hoạt động khai thác gỗ diễn ra liên tục trong năm, nhưng tập trung mạnh mẽ vào mùa khô và chủ yếu do nam giới thực hiện Việc khai thác và vận chuyển gỗ thương mại được thuận lợi nhờ vào hệ thống đường ô tô kết nối từ bản Nghèo đến trung tâm xã Hồi Xuân.
(3) Khai thác lâm sản ngoài gỗ
Người dân địa phương chủ yếu khai thác lâm sản ngoài gỗ như măng, đót, mật ong, song mây, phong lan, lá dong và một số cây thuốc để bán, trong khi một phần nhỏ được sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt như củi, rau ăn và thuốc chữa bệnh Tuy nhiên, lợi nhuận từ việc bán các loại lâm sản này rất thấp do phải qua trung gian thương mại và bị ép giá bởi tư thương.
Hình 3.5 Người dân bản Nghèo vào rừng tìm hái phong lan để bán
Hình 3.6 Người dân bản Nghèo thu mật ong trong rừng
Hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ, chủ yếu do phụ nữ và trẻ em thực hiện, diễn ra quanh năm để phục vụ nhu cầu sinh hoạt Trong mùa vụ nông nhàn hoặc khi có sản phẩm lâm sản ngoài gỗ như mật ong, măng, mắc khén và hoa phong lan, nam giới thường tham gia khai thác để bán.
Tại bản Nghèo, người dân thường có tập quán chăn nuôi gia súc theo hình thức thả rông Mỗi đàn gia súc hoặc từng con đều được đeo mõ để dễ dàng tìm kiếm trong rừng Trâu bò thường được thả rông ở các cánh rừng gần nương rẫy, đặc biệt là sau vụ cày cấy hè thu Tuy nhiên, vào mùa đông, tần suất bắt gặp trâu bò thả rông giảm đi vì chủ nuôi thường đưa chúng về để tránh rét.
Dưới góc nhìn của người dân bản Nghèo, lịch sử khai thác tài nguyên thiên nhiên và nguyên nhân suy thoái của khu vực được thể hiện qua kết quả thảo luận PRA, từ đó xây dựng lược sử thôn bản và sơ đồ cây vấn đề.
Cộng đồng người dân bản Nghèo đã nhận thấy sự suy giảm nghiêm trọng của tài nguyên thiên nhiên trong khu vực, bao gồm cây gỗ lớn, động vật hoang dã, nguồn nước và song mây Có bốn nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này: (1) Khai thác lâm sản ngoài gỗ quá mức; (2) Săn bắt động vật hoang dã trái phép; (3) Giảm độ che phủ rừng ở đầu nguồn các khe suối Khi được hỏi về lý do của từng nguyên nhân, người dân chỉ ra các yếu tố kinh tế xã hội sâu xa như: (1) Tăng dân số; (2) San ủi đồi rừng để xây dựng đường giao thông; (3) Nhu cầu thị trường cao đối với lâm sản, khiến bản Nghèo phải khai thác để không bị tụt lại so với các bản lân cận.
Thực trạng công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên tại bản Nghèo và các lý
3.2.1 Thực trạng công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên tại bản Nghèo
Kết quả thảo luận với người dân bản Nghèo cho thấy có 06 nhóm đối tượng tham gia quản lý tài nguyên thiên nhiên, bao gồm: Hộ gia đình trong bản Nghèo, Tổ bảo vệ rừng bản Nghèo, Ủy ban nhân dân xã Hồi Xuân, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Các hội đoàn thể, và Kiểm lâm huyện Quan Hóa Các nhóm này đã đóng góp vào 05 hoạt động quản lý tài nguyên thiên nhiên tại khu vực.
Ban quản lý thực hiện các hoạt động tuần tra và kiểm tra rừng nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Đồng thời, tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ rừng cũng như tổ chức tập huấn kỹ thuật nuôi trồng cây Bên cạnh đó, việc cung cấp giống cây con chất lượng và xử lý các hành vi vi phạm là những nhiệm vụ quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của rừng.
KBTTN Pù Luông có vai trò quan trọng nhất, đã tham gia chủ động vào tất cả
Tại bản Nghèo, 05 hoạt động đã được triển khai, không chỉ thúc đẩy sự tham gia của các bên liên quan mà còn tạo ra sự phối hợp chặt chẽ Trong số đó, hoạt động xử lý vi phạm về rừng là điểm nhấn, với sự tham gia đầy đủ của cả 6 bên liên quan, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Bài viết này không chỉ tập trung vào việc xây dựng Ma trận ra quyết định quản lý tài nguyên thiên nhiên, mà còn bao gồm các cuộc phỏng vấn và trao đổi trực tiếp với kiểm lâm địa bàn bản Nghèo, chú Vi Văn Hùng Bên cạnh đó, tôi cũng đã tham khảo báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội năm để có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.
Năm 2018, UBND xã Hồi Xuân đã tiến hành đánh giá công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên tại bản Nghèo, dựa trên các nguồn thông tin và khung phân tích SWOT Định hướng cho năm 2019 sẽ tập trung vào việc cải thiện và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên, nhằm nâng cao chất lượng sống và bảo vệ môi trường Kết quả đánh giá được thể hiện rõ qua bảng dưới đây.
Bảng 3.1 Phân tích SWOT về công tác quản lý TNTN tại bản Nghèo Điểm mạnh
Có tổ bảo vệ rừng với một kế hoạch làm việc rõ ràng;
Hương ước bản Nghèo có nội dung điều chỉnh, xử phạt các hành vi khai thác rừng đặc dụng Điểm yếu
Nghiệp vụ xử lý, trách nhiệm của tổ bảo vệ rừng khi người ngoài bản xâm nhập khu rừng;
Tổ bảo vệ rừng đại diện cho cả bản ký cam kết bảo vệ rừng (không phải từng hộ ký cam kết)
KBT, UBND xã coi Nghèo là bản trọng điểm đƣợc ƣu tiên phát triển sinh kế giảm phụ thuộc vào rừng Điểm mạnh- Cơ hội
Bổ sung các nhiệm vụ phát triển sinh kế vào kế hoạch hoạt động của tổ BVR;
Bổ sung một số điều khoản trong hương ước theo hướng khen thưởng các hộ điển hình làm kinh tế giỏi Điểm yếu- Cơ hội
Thiết lập cơ chế khen thưởng- kỷ luật; kiện toàn tổ BVR hằng năm;
Thành viên tổ BVR hoàn thành tốt nhiệm vụ đươc ƣu tiên nhận hỗ trợ cây- con giống;
Vùng rừng bản Nghèo quản lý giáp ranh nhiều xã- huyện Điểm mạnh- Thách thức
Kết nối với các điểm du lịch xung quanh để hình thành tuyến du lịch qua bản Nghèo;
Tập huấn nghiệp vụ du lịch cho thành viên tổ BVR nhằm bảo tồn văn hóa bản địa thông qua việc duy trì các luật tục trong hương ước Tuy nhiên, vẫn còn những điểm yếu và thách thức cần khắc phục để nâng cao hiệu quả của chương trình này.
Tập huấn quy trình phối hợp, xử lý tình huống cho các tổ BVR thôn/bản giáp ranh;
Chỉ định mỗi thành viên tổ BVR giám sát hoạt động sử dụng TNTN của một nhóm hộ trong bản và một bản giáp ranh
3.2.2 Các lý do khách quan hạn chế sự tham gia của các bên liên quan đối với công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên tại bản Nghèo
Qua việc phỏng vấn các bên liên quan, tôi đã xác định được những rào cản chính ảnh hưởng đến sự tham gia của họ vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học Kết quả này được trình bày chi tiết trong bảng dưới đây.
Bảng 3.2 Các rào cản bên ngoài đã hạn chế sự tham gia của các bên
Bên liên quan Rào cản
I Người dân bản Nghèo (1) Không có kỹ thuật thú y để tự chăm sóc đàn gia súc gia cầm tốt hơn;
(2) Điều kiện cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch sinh thái còn hạn chế
(3) Không có kỹ thuật hướng dẫn người dân phát triển các cây ngắn ngày góp phần cải thiện đời sống
II Ban quản lý KBTTN Pù
Chính sách từ năm 2013 đã chuyển giao địa bàn cho hạt kiểm lâm huyện, trong khi ban quản lý khu bảo tồn chỉ giữ vai trò chủ rừng, dẫn đến việc quyền kiểm soát lâm sản tại khu vực dân cư bị hạn chế.
III Ủy ban nhân dân xã Hồi
(1) Khó xử lý việc khai thác gỗ trong rừng tự nhiên để làm quan tài Bởi đây là tín ngƣỡng của cộng đồng
IV Các Hội đoàn thể (Đoàn thanh niên; Hội phụ nữ;)
Hiện nay, tuyên truyền bảo vệ rừng đã được tích hợp vào các cuộc họp, tuy nhiên vẫn thiếu tài liệu chuyên môn để nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng cho các hội viên.
Cơ chế phân cấp trách nhiệm và quyền hạn trong việc kiểm soát lâm sản, bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng giữa hạt kiểm lâm huyện và hạt kiểm lâm khu bảo tồn vẫn chưa được xác định rõ ràng.
(2) Sự hợp tác, ủng hộ của UBND xã với kiểm lâm địa bàn còn lỏng lẻo; nên việc thống kê gỗ gầm nhà sàn chƣa thực sự hiệu quả
VI Tổ bảo vệ rừng bản
Thiếu trang bị bảo hộ lao động như quần áo đồng phục có logo tổ BVR, giày, mũ, cùng với trang thiết bị thực thi pháp luật như cờ, còi, gậy và khóa cho thành viên tổ bảo vệ rừng là một vấn đề cần được khắc phục.
(2) Định mức tiền giao khoán bảo vệ rừng còn thấp và chƣa trả kịp thời hằng năm.
Thảo luận
3.3.1 Cơ chế duy trì hành vi không thân thiện với động thực vật hoang dã ở khu vực bản Nghèo
Mặc dù KBTTN Pù Luông đã được thành lập và ranh giới giữa rừng bảo tồn và khu định cư của người dân bản Nghèo đã được xác định rõ, nhưng việc ngăn chặn hoàn toàn các tác động của người dân vào rừng đặc dụng là điều không thể Do đó, việc nhận diện các hành vi không thân thiện với động thực vật hoang dã và xác định rõ cơ chế duy trì các yếu tố ảnh hưởng đến từng hành vi là vấn đề mấu chốt trong công tác giáo dục bảo tồn.
Sự săn bắt động vật hoang dã để bán của nam giới ở bản Nghèo, cùng với hoạt động săn bắn tiêu khiển của người ngoài bản, đã dẫn đến tình trạng suy giảm nhanh chóng số lượng động vật hoang dã Các loài thú buộc phải di chuyển lên vùng núi cao hơn và xa khu dân cư, trong khi nhiều loài đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cục bộ.
Hầu hết nam giới ở bản Nghèo tin rằng săn bắn động vật hoang dã không làm suy giảm tài nguyên rừng Trong khi một số người chọn chăn nuôi gia súc và gia cầm để thay thế việc săn bắn, nhiều người trong số họ lại thiếu kỹ năng chăm sóc thú y Thêm vào đó, những người từ bản khác đến khu rừng bản Nghèo để săn bắn thường không phải vì sinh kế, mà họ là những người có điều kiện kinh tế và địa vị xã hội cao, coi việc săn bắn như một trò tiêu khiển thể hiện đẳng cấp.
Khai thác gỗ lén lút tại bản Nghèo không chỉ thiếu tính bền vững mà còn gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường Việc chặt hạ cây gỗ lớn kéo theo sự đổ ngã của nhiều cây nhỏ, đồng thời gây ra tiếng ồn lớn từ việc sử dụng cưa xăng và lăn đá từ vách núi Những hoạt động này đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan môi trường và phá vỡ sinh cảnh sống của nhiều loài động thực vật hoang dã.
Tập tục xây dựng nhà sàn vẫn tồn tại, dẫn đến nhu cầu gỗ cao cho việc xây dựng và sửa chữa Hơn nữa, có quan niệm cho rằng có thể thương lượng với kiểm lâm và UBND xã để chặt cây gỗ lớn, nhằm làm cỗ quan tài phòng khi cần thiết.
Khai thác lâm sản ngoài gỗ không bền vững tại bản Nghèo diễn ra do kỹ thuật thu hái không hợp lý, dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên mà không để lại khả năng tái tạo Nhận thức hạn chế về khai thác bền vững của người dân và cán bộ là nguyên nhân chính, mặc dù lâm sản ngoài gỗ có mặt trong rừng bảo tồn Kiểm lâm và người dân địa phương thường hiểu rằng lâm sản này có thể được khai thác dễ dàng Hơn nữa, việc phát triển cây lâm sản ngoài gỗ chưa được chú trọng, với chỉ một số ít người muốn trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao như cây thuốc, phong lan, mật ong, và cây gia vị Mặc dù có 7 người đã được tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc, nhưng vẫn chưa có mô hình nào được triển khai do thiếu nguồn kinh phí.
Chăn thả gia súc dài ngày trong rừng của dân bản Nghèo dẫn đến việc các đàn gia súc được thả rông trong khu bảo tồn Chỉ khi cần sức kéo, có người hỏi mua hoặc thời tiết quá lạnh, chủ nhân mới lên rừng tìm gia súc dắt về Phương thức chăn thả này gây nhiễu loạn môi trường sống và dễ lây lan dịch bệnh từ gia súc sang động vật hoang dã, đặc biệt là nhóm thú.
Tại bản Nghèo, tập tục chăn nuôi gia súc thả rông vẫn tồn tại do quy định chỉ xử phạt khi trâu bò phá hoại hoa màu, mà không có hình phạt cho việc thả rông trong rừng.
3.3.2 Định hướng biện pháp tổ chức các hoạt động giáo dục bảo tồn đa dạng sinh học ở khu vực bản Nghèo
Mục tiêu của các hoạt động giáo dục bảo tồn là thay đổi hành vi không thân thiện với động thực vật hoang dã tại khu vực bản Nghèo Dựa trên phân tích cơ chế duy trì bốn hành vi tiêu cực, chúng tôi đã đề xuất một số biện pháp nhằm tác động và thay đổi các hành vi này.
(1) Cung cấp thông tin và kiến thức thông qua truyền thông:
Để giảm thiểu hành vi săn bắt động vật hoang dã và thu hái lâm sản ngoài gỗ tại bản Nghèo, cần cung cấp thông tin và kiến thức cho người dân địa phương Các biện pháp tuyên truyền hiệu quả bao gồm: sử dụng loa phát thanh để khuyến khích thu hái bền vững các loài cây-con, phát lịch Tết cho từng hộ gia đình, và phát áo phông, mũ cho cán bộ UBND xã Hồi Xuân cùng các đơn vị liên quan Những vật phẩm này sẽ in hình ảnh động vật hoang dã quan trọng của KBT Pù Luông và thông điệp bảo vệ chúng, nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn thiên nhiên.
(2) Thiết kế và thực hiện chương trình nâng cao nhận thức:
Chương trình nâng cao nhận thức cần thiết kế để thay đổi quan điểm giá trị của người dân bản Nghèo và cộng đồng bên ngoài, như việc sử dụng gỗ lớn để làm quan tài hay thả rông gia súc trong rừng Các bước thực hiện bao gồm: tổ chức hoạt động văn nghệ như chiếu phim, múa rối, và kịch nhằm phê phán những quan điểm này; rà soát và điều chỉnh hương ước của bản Nghèo; tổ chức họp dân để thông qua hương ước; và phổ biến thông tin qua loa phát thanh Đồng thời, cần phối hợp với các trường cấp 1 và 2 tại xã Hồi Xuân để lồng ghép nội dung này vào chương trình học, nhằm nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ ở bản Nghèo và các bản khác.
Để giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt, người dân bản Nghèo đã tự thảo luận và đưa ra nhiều lựa chọn cho việc tiếp cận tài nguyên Với quỹ đất sản xuất phong phú, họ đã lựa chọn các mô hình trồng trọt và chăn nuôi đa dạng Kết quả phân tích SWOT cho thấy cần thiết phải giới thiệu kế hoạch phát triển du lịch sinh thái cho cộng đồng người dân bản Nghèo.
Các đơn vị liên quan cần thúc đẩy việc kết nối bản Nghèo với những điểm du lịch sinh thái nổi tiếng như bản Lác ở Mai Châu, Hòa Bình và thủy điện Trung Sơn, cũng như bản Khuyn ở Bá Thước.
Tổ chức các khóa tập huấn kỹ thuật thú y nhằm nâng cao khả năng chăm sóc đàn gia súc, gia cầm cho người dân Đồng thời, triển khai tập huấn nghiệp vụ phục vụ khách du lịch để phát triển du lịch homestay tại bản Nghèo Ngoài ra, tổ chức tập huấn quy trình phối hợp và xử lý tình huống cho các tổ BVR ở thôn/bản giáp ranh với bản Nghèo.
(4) Vận động chính sách nhằm xóa bỏ các rào cản từ bên ngoài:
Ban quản lý khu bảo tồn hoạt động như chủ rừng, chịu trách nhiệm bảo vệ rừng trong khu vực được giao, nhưng quyền kiểm soát lâm sản lại bị hạn chế Hạt kiểm lâm huyện chỉ thực hiện nhiệm vụ chỉ đạo và hướng dẫn, trong khi bảo vệ rừng lại là trách nhiệm của khu bảo tồn, dẫn đến sự không thống nhất trong phối hợp giữa các cơ quan Điều này dễ dẫn đến lạm quyền trong thực hiện nhiệm vụ Do đó, cần vận động các cơ quan liên quan như Chi cục kiểm lâm tỉnh và Tổng cục Lâm nghiệp ban hành chính sách mới nhằm giải quyết những bất cập hiện tại.