LỜI CẢM ƠN Để đánh giá kết quả học tập của mỗi sinh viên đồng thời giúp sinh viên tổng hợp và củng cố những kiến thức đã học và vận dụng những kiến thức đó vào trong thực tế sản xuất, bư
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để đánh giá kết quả học tập của mỗi sinh viên đồng thời giúp sinh viên tổng hợp và củng cố những kiến thức đã học và vận dụng những kiến thức đó vào trong thực tế sản xuất, bước đầu giúp cho sinh viên làm quen với công việc của một người cán bộ kĩ thuật, được sự đồng ý của bộ môn Quản lý Môi trường khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, Trường Đại Học Lâm
Nghiệp, tôi tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý chất thải tại bệnh viện Đa khoa Hòa Bình - tỉnh Hòa Bình”
Sau gần ba tháng làm việc khẩn trương cộng với sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong bộ môn quản lý, các cán bộ, anh chị nhân viên của Khoa Chống Nhiễm Khuẩn cùng với sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo Nguyễn Thị Bích Hảo, đến nay, tôi đã hoàn thành xong khoá luận tốt nghiệp
Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Quản lý, các cán bộ, anh chị nhân viên trong Khoa Chống Nhiễm Khuẩn của bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình, và đặc biệt
là cô giáo Nguyễn Thị Bích Hảo người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khoá luận này
Trong suốt quá trình thực hiện khoá luận này mặc dù đã rất cố gắng và khẩn trương nhưng do thời gian và kiến thức còn nhiều hạn chế nên trong đề tài này không thể tránh khỏi mắc những khiếm khuyết, vì vậy rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2011
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Thu Thủy
Trang 2MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế 3
1.1.1 Khái niệm và những đặc điểm chung của chất thải y tế 3
1.1.2 Phân loại chất thải y tế 4
1.2 Hiện trạng chất thải y tế trên Thế giới và Việt Nam 6
1.2.1 Hiện trạng chất thải y tế trên thế giới 6
1.2.2 Hiện trạng chất thải y tế ở Việt Nam 6
1.2.3 Hiện trạng nước thải y tế ở Việt Nam 9
1.3 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường và sức khỏe cộng đồng 10
1.3.1 Ảnh hưởng đến môi trường 10
1.3.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến với sức khỏe cộng đồng 10
1.4 Quản lý và xử lý chất thải rắn y tế trên Thế giới và Việt Nam 12
1.4.1 Quản lý và xử lý chất thải rắn y tế ở một số nước trên thế giới 12
1.4.2 Quản lý và xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam 15
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 21
2.2 Đối tượng nghiên cứu 21
2.3 Nội dung nghiên cứu 21
2.4 Phương pháp nghiên cứu 21
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 22
2.4.2 Phương pháp thực nghiệm 22
2.4.2.1 Phương pháp lấy mẫu nước thải nghiên cứu 22
2.4.2.2 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 24
2.4.4 Phương pháp so sánh, đánh giá 27
2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 27
CHƯƠNG 3:ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI 28
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 28
3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố Hòa Bình 28
Trang 33.1.1 Vị trí địa lý 28
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội thành phố Hòa Bình 29
3.2.2 Điều kiện môi trường tự nhiên 30
3.2.2 Điều kiện địa chất và thuỷ văn khu vực Bệnh viện 31
3.4 Điều kiện kinh tế - xã hội của bệnh viện 31
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
4.1 Các nguồn phát sinh, thành phần và khối lượng chất thải bệnh viện Hòa Bình 33
4.1.1 Chất thải rắn y tế 33
4.1.2 Chất thải lỏng y tế 37
Nguồn phát sinh nước thải 37
4.2 Hiệu quả công tác quản lý và xử lý chất thải tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hoà Bình 40
4.2.1 Hiệu quả công tác quản lý và xử lý chất thải rắn của bệnh viện 40
4.2.1.1 Phương thức tổ chức quản lý chất thải của bệnh viện 40
4.2.1.2 Quá trình thu gom và xử lý chất thải rắn của bệnh viện 42
4.2.1.3 Đánh giá ưu nhược điểm của công tác quản lý rác thải bệnh viện 53
4.2.2 Hiệu quả công tác quản lý và xử lý nước thải của bệnh viện 54
4.2.2.1 Hệ thống thu gom nước thải bệnh viện 54
4.2.2.2 Quy trình xử lý nước thải của bệnh viện 55
4.2.2.3 Hiệu quả xử lý nước thải bệnh viện 57
4.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý chất thải tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình 63
4.3.1 Các giải pháp về quản lý môi trường 63
4.3.2 Giải pháp công nghệ xử lý ô nhiễm 65
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ - TỒN TẠI 69
5.1 KẾT LUẬN 69
5.2 TỒN TẠI 69
5.3 KIẾN NGHỊ 70
Trang 44.1 Khối lượng chất thải trong tháng 4 năm 2011 37 4.3 Kết quả phân tích không khí đầu ra của lò đốt 50 4.4 Kết quả phân tích môi trường không khí xung
quanh
51
4.5 Kết quả phân tích mẫu nước thải bệnh viện 59
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ
1.1 Sự gia tăng chất thải y tế theo thời gian ở Việt Nam 8
4.3 Mô hình tổ chức quản lý chất thải bệnh viện 41 4.4 Sơ đồ thu gom xử lý chất thải rắn 44 4.5 Sơ đồ công nghệ xử lý rác thải nguy hại 48
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, vấn đề môi trường đang được các quốc gia và cộng đồng trên thế giới quan tâm Bởi lẽ, ô nhiễm môi trường, sự suy thoái và những sự cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ trước mắt mà còn ảnh hưởng về lâu dài cho các thế hệ mai sau Toàn thế giới đều đã nhận thức được rằng: phải bảo vệ môi trường, làm cho môi trường phát triển và ngày thêm bền vững Một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc bảo vệ môi trường đó là việc giải quyết ô nhiễm do các nguồn thải khác nhau như ô nhiễm do các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, sinh học, các chất thải trong y tế Với mỗi loại chất thải, chúng ta cần có những biện pháp xử lý khác nhau từ những khâu thu gom đến khâu tiêu hủy cuối cùng Một trong những loại chất thải đó, chất thải bệnh viện (chất thải y tế) được quan tâm đặc biệt vì tính đa dạng và phức tạp của chúng Hiện tại, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và
xã hội cấp bách ở Việt Nam, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường dân cư xung quanh
Nước ta có một mạng lưới y tế với các bệnh viện được phân bố rộng khắp trong toàn quốc Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì cho đến nay, ngành y tế có khoảng 12.569 cơ sở khám bệnh với 172.642 giường bệnh Các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu và đào tạo trong các cơ sở y tế phát sinh ra chất thải Các chất thải y tế dưới dạng rắn, lỏng hoặc khí có chứa các chất hữu cơ, nhiễm mầm bệnh gây ô nhiễm, bệnh tật nghiêm trọng cho môi trường bệnh viện và xung quanh bệnh viện, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình đang hoạt động với quy mô ngày càng được nâng cấp và đầu tư mở rộng Theo dự báo lượng chất thải y tế sẽ tăng nhanh trong thời gian tới Vì vậy, việc phát sinh và thải bỏ chất thải y tế nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ gây nguy hại đến môi trường xung quanh
và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân Do đó để quản lý chất thải y
Trang 8tế cũng đang là vấn đề đáng quan tâm Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình đang trở thành bệnh viện đi đầu trong việc chú trọng vấn đề quản lý chất thải song song với nghiệp vụ chuyên môn khám chữa bệnh trên toàn địa bàn của tỉnh và các vùng lân cận
Để đưa ra giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm chất thải y tế phù hợp với điều kiện của bệnh viện, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý chất thải để đem lại môi trường đạt tiêu chuẩn cho bệnh viên, tôi đã tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý chất thải tại bệnh viện Đa khoa Hòa Bình - tỉnh Hòa Bình”
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế
1.1.1 Khái niệm và những đặc điểm chung của chất thải y tế
người và môi trường
b Đặc điểm chung của chất thải y tế
Chất thải y tế có những đặc chung như sau:
- Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo Chất thải y tế có thể ở cả 3 dạng: dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí
- Chất thải y tế được xác định là loại chất thải nguy hại, nằm trong danh mục
A các chất thải nguy hại có mã số A4020 – Y1 Khoảng 75% - 90% chất thải
y tế được phát sinh từ các cơ sở y tế là không nguy hại còn gọi là chất thải y
tế “chung” như chất thải sinh hoạt, 10 – 25% là chất thải thải tế nguy hại
- Chất thải y tế nguy hại là chất thải có một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan của người, bơm kim tiêm
Trang 10bệnh nhân… có thể chứa các tác nhân gây bệnh Vì vậy, có thể xếp chất thải y
tế vào loại chất thải nguy hại và cần phải xử lý triệt để
1.1.2 Phân loại chất thải y tế
Theo khuyến cáo của WHO năm 1992, các nước đang phát triển có thể
sử dụng cách phân loại chất thải y tế (CTYT) trong đó CTYT được chia thành các nhóm:
- Chất thải không độc hại (là những chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại)
- Chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không)
- Chất thải nhiễm khuẩn khác (với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn)
- Chất thải hóa học và dược phẩm (không kể các thuốc độc đối với tế bào)
- Chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao)
Ở Việt Nam theo “Quy chế quản lý chất thải y tế” của Bộ Y tế năm
1999, chất thải trong các cơ sở y tế được phân làm 5 loại:
- Nhóm E: bệnh phẩm (pathological waste) như các mô và cơ quan người, động vật, bị cắt bỏ
Trang 11b Nhóm chất thải phóng xạ
Nhóm chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán định vị khối, hoá trị liệu và nghiên cứu phân tích dịch mổ cơ thể Chất thải phóng xạ tồn tại dưới cả ba dạng: rắn, lỏng, khí
- Chất thải phóng xạ rắn gồm: các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, ống nghiệm, chai lọ…
- Chất thải phóng xạ lỏng gồm: dung dịch có chứa nhân tố phóng xạ phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của bệnh nhân, các chất bài tiết, nước xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ…
- Chất thải phóng xạ khí gồm: các chất khí dùng trong lâm sàng như các khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ…
c Nhóm chất thải hóa học
Chất thải hoá học gồm các hoá chất có thể không gây nguy hại như đường, axit béo, axít amin, một số loại muối v.v và hoá chất nguy hại như phóc-man-đê-hít, hoá chất quang học, các dung môi, hoá chất dùng để diệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong khử trùng, tẩy uế, thanh trùng v…v…
d Nhóm các bình chứa nén có áp suất
Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy,
CO2 bình gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần, v.v đa số các bình chứa khí nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu huỷ đúng quy cách
e Nhóm chất thải sinh hoạt
Nhóm chất thải này có đặc điểm chung như chất thải sinh hoạt thông thường từ các hộ gia đình gồm giấy loại, vải loại, vật liệu đóng gói bao gói, thức ăn còn thừa, thực phẩm thải bỏ và chất thải ngoại cảnh như các loại lá cây, hoa quả rụng
Trang 121.2 Hiện trạng chất thải rắn y tế trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Hiện trạng chất thải rắn y tế trên thế giới
Hiện nay, hầu hết các tài liệu đều chưa có số liệu chính xác thống kê về khối lượng rác thải y tế phát sinh hàng năm trên thế giới Tuy nhiên, căn cứ vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật của các nước, có thể xây dựng bảng số liệu thống kê lượng chất thải y tế thay đổi theo mức độ thu nhập như được trình bày trên bảng 1.1
Bảng 1.1 Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh theo mức thu nhập trên Thế Giới
Mức thu nhập
Chất thải bệnh viện nói chung (kg.giường bệnh -1
.ngày -1 )
Chất thải y tế nguy hại (kg.giường bệnh -1
.ngày -1 )
Tỷ lệ phần % chất thải nguy hại
(Nguồn: Ủy ban liên minh Châu Âu, 1995; Durand, 1995)
Ở một số nước trên thế giới có hệ thống y tế giống Việt Nam là có bệnh viện tuyến Trung Ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện thì hệ số phát thải chất thải rắn y tế
cũng dao động khá lớn về tổng lượng thải cũng như tỷ lệ chất thải nguy hại
1.2.2 Hiện trạng chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Đến năm 2010, Việt Nam có 1.186 bệnh viện với công suất 187.843 giường Các bệnh viện là nguồn thải chất thải nguy hại lớn nhất, phát sinh khoảng 350 tấn chất thải y tế/ngày, trong đó, có 40 tấn chất thải nguy hại/ngày Nếu không được quản lý tốt, các thành phần nguy hại trong chất thải y tế như vi sinh vật gây bệnh, chất gây độc, gây ung thư có thể tạo ra nguy cơ đáng kể đối với sức khỏe cộng đồng và môi trường (Dự thảo báo cáo
Trang 13quản lý các nguy cơ môi trường của dự án hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện nguồn vốn vay ngân hàng thế giới,2010).
Hiện nay, tỉ lệ tăng chất thải y tế là 7,6%/năm Dự kiến, đến năm 2015, tổng lượng chất thải rắn y tế là 600 tấn/ngày và năm 2020 là 800 tấn/ngày Lượng chất thải lỏng hiện là 150.000 m3/ngày đêm Chưa kể lượng nước thải của các cơ sở y tế dự phòng, các cơ sở đào tạo y dược và sản xuất thuốc Dự kiến đến năm 2015, lượng nước thải y tế phải xử lý lên tới trên 300.000
m3/ngày đêm (Đông Bích,2010)
Sự gia tăng về khối lượng rác thải y tế từ năm 1995 tới năm 2002 (Báo cáo trung tâm y tế dự phòng các tỉnh,2003) Được thể hiện trên bảng 1.2 và
(tấn/ngày) 248,3 253,7 253,7 258,6 258,2 262,1 263,9 CTR y tế nguy hại
(tấn/ngày) 55,4 56,6 56,6 57,7 57,6 58,5 58,9
Hình 1.1 Biểu đồ sự gia tăng chất thải y tế theo thời gian ở Việt Nam
Trang 14Qua biểu đồ 1.1 cho thấy, rác thải y tế ở Việt Nam thải ra tương đối lớn, không giảm qua nhiều năm và đang có xu hướng tăng lên
Tuy nhiên, đến nay chưa có bệnh viện nào triển khai hoàn chỉnh từ khâu thu gom, phân loại và xử lý chất thải y tế (CTYT) mà mới chỉ dừng lại ở xử lý chất thải rắn bằng hệ thống lò đốt, thu gom chất thải lỏng
Theo báo cáo của trung tâm y tế dự phòng các tỉnh, 81,25% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên tham gia công tác này chưa được đào tạo
kỹ năng cơ bản Việc phân loại còn chưa theo đúng quy cách như tách các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế, còn lẫn nhiều chất thải sinh hoạt vào chất thải y tế và ngược lại Hệ thống ký hiệu, màu sắc của túi và thùng đựng chất thải chưa đúng qui chế quản lý chất thải bệnh viện còn tuỳ tiện
Hầu hết các điểm tập trung chất thải rắn y tế được bố trí trên một khu đất bên trong khuôn viên bệnh viện thành một khu trung chuyển có điều kiện vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi, côn trùng dễ dàng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện Một số điểm tập trung rác không có mái che, không có rào bảo vệ, vị trí lại gần nơi đi lại,
Biểu 01: Sự gia tăng chất thải y tế theo thời gian ở Việt Nam
CTR y tế chung (Tấn/ ngày)
CTR y tế nguy hại (Tấn/ ngày)
Giường bệnh
Trang 15những người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập Chỉ có một số ít bệnh viện có nơi lưu trữ chất thải đạt tiêu chuẩn quy định Tình trạng chung là các bệnh viện không có đủ các phương tiện bảo hộ khác cho nhân viên trực tiếp tham gia vào phân loại thu gom, vận chuyển và tiêu huỷ chất thải
1.2.3 Hiện trạng nước thải y tế ở Việt Nam
Về nước thải y tế, vấn đề đáng quan tâm hiện nay là công tác quản lý, xử
lý nước thải ở các tuyến bệnh viện tỉnh và huyện Hệ thống thoát nước chủ yếu vẫn là cống nổi không có nắp đậy vì vậy gây mùi hôi thối khi có mưa hoặc trời nắng đồng thời cũng là nơi bệnh nhân có thể vứt rác và có cơ hội để cho côn trùng phát sinh Đặc biệt là tuyến huyện, có bệnh viện không có hệ thống thoát nước thải, nước thải tự ngấm vào môi trường đất, xung quanh bệnh viện gây ô nhiễm môi trường
Qua kết quả thanh tra, kiểm tra về chất thải y tế ở 175 bệnh viện tại 14 tỉnh, thành phố cho thấy: 31,5% bệnh viện không có hệ thống thoát nước; 47,4% bệnh viện là hệ thống thoát nước chung của tất cả các loại nước thải (nước mưa, nước sinh hoạt, nước thải trong quá trình hoạt động dịch vụ y tế); chỉ có 21,1% bệnh viện có hệ thống thoát nước riêng biệt; 26,3% bệnh viện có
hệ thống thoát nước kín; 31,4% là hở và 42,3% vừa kín vừa hở
Như vậy, việc quản lý chất thải bệnh viện chưa được quan tâm đúng mực, đặc biệt là các bệnh viện tuyến huyện Hoạt động xử lý chất thải gặp nhiều khó khăn, thiếu nhân lực, tài chính, phương tiện và đặc biệt là thiếu kiến thức, kỹ năng trong số nhân viên trực tiếp thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế tại các bệnh viện, các đối tượng như bác sỹ, y tá, kỹ thuật viên còn chưa tập huấn đầy đủ để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải Nhiều bệnh viện quản lý và xử lý chất thải giao cho hộ lý các khoa phong trực tiếp chịu trách nhiệm, thiếu hệ thống kiểm tra giám sát Điều này làm hạn chế hiệu quả quản lý chất thải tại bệnh viện Số bệnh viện có sổ sách theo dõi lượng phát sinh và tiêu hủy rất thấp Đây chính là việc khó khăn cho việc tính toán
Trang 16cụ thể khối lượng chất thải phát sinh, lập kế hoạch và đề xuất phương pháp xử
lý đạt tiêu chuẩn quy định Hiện nay, ở không ít bệnh viện, chất thải y tế được nhập chung vào chất thải thành phố để xử lý hoặc chỉ chủ yếu theo phương pháp đốt thủ công tại bệnh viện, hiệu quả xử lý thường kém và gây ô nhiễm môi trường không khí, thậm chí chất thải y tế tại một số bệnh viện được chôn lấp ngay trong bệnh viện và các bãi chôn lấp này đều không đạt tiêu chuẩn vệ sinh, là một nguồn chính gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, ô nhiễm mùi và là nguồn truyền bệnh rất nguy hiểm
1.3.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến với sức khỏe cộng đồng
Tất cả những người phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại đều là đối tượng có nguy cơ Họ có thể là nhân viên và người bệnh trong các cơ sở y tế làm phát sinh ra chất thải, những người trực tiếp tham gia xử lý, tiêu hủy chất thải và những người dân trong cộng đồng dân cư trong trường hợp chất thải chưa được xử lý chính đáng Nhóm nguy cơ chính bao gồm: bác sỹ, y tá, nhân viên, người bệnh, nhân viên thu gom, cộng đồng dân cư
a Ảnh hưởng của loại chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn
Bệnh truyền nhiễm có nguy cơ lây truyền rất lớn qua rác thải bệnh viện Rác thải bệnh viện có chứa các mầm bệnh như: các vi khuẩn, vi rút, kí sinh trùng và nấm với một lượng đủ để gây bệnh Những người dễ bị ảnh hưởng nhất là y tá, bác sỹ và những người thu gom rác, bới rác Các tác hại của rác thải bệnh viện là làm tăng nhiễm khuẩn và kháng thuốc tại bệnh viện, tổn thương trực tiếp cho người thu gom rác, lây nhiễm bệnh cho nhân dân sống trong vùng lân cận, ảnh hưởng tới tâm lư người dân và thẩm mỹ thành phố
Trang 17Nước thải bệnh viện có chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh, các chất độc hóa học, chất phóng xạ Nhưng điều nguy hiểm hơn là nước thải bệnh viện thường thải vào các nguồn nước mặt, thấm sâu vào đất và gây nên ô nhiễm nước ngầm gần khu vực sinh sống của dân cư Trong các nguồn nước thải của bệnh viện, nước thải khoa lây là nguy hiểm nhất Nếu trong nước thải sinh hoạt ở khu vực dân cư tỉ lệ vi khuẩn gây bệnh/tổng số trực khuẩn đường ruột là 1/104-106 thì trong nước thải của khoa lây tỉ lệ này là 1/102-103, gấp 100-1000 lần Người ta còn nhận thấy, trung bình trong 1 lít nước thải bệnh viện có từ 5.000 – 10.000 vi rút gây bệnh, 10- 15 trứng giun đũa
Đối với những vật sắc nhọn đặc biệt là y tá là những người có nguy cơ nhiễm cao nhất qua những vết thương, những người vận hành quản lý chất thải, những nhân viên quét dọn, những người bới rác (những mối nguy cơ này không có tài liệu chứng minh)
b Ảnh hưởng của loại chất thải hóa học và dược phẩm
Đã có nhiều vụ tổn thương hoặc nhiễm độc do việc vận chuyển hóa chất
và dược phẩm trong bệnh viện không đảm bảo Các dược sĩ, bác sĩ gây mê, y
tá, kỹ thuật viên, cán bộ hành chính có thể nguy cơ mắc bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da do việc tiếp xúc với các loại hóa chất lỏng bay hơi, dạng phun sương và các dung dịch khác Để hạn chế tới mức thấp nhất là nguy cơ nghề nghiệp này nên thay thế giảm lượng hóa chất độc hại bất cứ lúc nào có thể Còn đối với những người làm việc phải có bảo hộ lao động, những nơi sử dụng và bảo quản loại hóa chất nguy hiểm cũng nên được thiết kế hệ thống thông gió phù hợp, huấn luyện các biện pháp phòng hộ và các trường hợp cấp cứu cho những người có liên quan
c Ảnh hưởng của loại chất phóng xạ
Nhiều tai nạn được ghi nhận do việc xử lý các nguyên liệu trong trị liệu hạt nhân cùng với số lượng lớn những người bị tổn thương do tiếp xúc với mối nguy cơ Ở Brazil, đã phân tích và có đầy đủ tài liệu chứng minh một trường hợp ảnh hưởng lên cộng đồng có liên quan đến việc rò rỉ của chất thải
Trang 18phóng xạ trong bệnh viện Một bệnh viện chuyên về trị liệu bằng phóng xạ trong khi chuyển địa điểm đã làm thất thoát tại địa điểm cũ một nguồn xạ trị
đã được niêm phong, một người dân chuyển đến địa điểm này đã nhặt được
và mang về nhà Hậu quả là có 249 người tiếp xúc với nguồn phóng xạ này, nhiều người trong số đó đã chết hoặc gặp phải hàng loạt các vấn đề sức khoẻ
Có thể đã có nhiều trường hợp tiếp xúc với chất thải phóng xạ bệnh viện có liên quan đến các vấn đề sức khỏe, song không được ghi nhận Chỉ có những báo cáo các vụ tai nạn có liên quan đến việc tiếp xúc với các chất phóng xạ ion hóa trong các cơ sở điều trị do hậu quả từ các thiết bị X - quang hoạt động không an toàn, do việc chuyên chở các dung dịch xạ trị không đảm bảo hoặc thiếu các biện pháp giám sát trong xạ trị liệu
1.4 Quản lý và xử lý chất thải rắn y tế trên Thế giới và Việt Nam
1.4.1 Quản lý và xử lý chất thải rắn y tế ở một số nước trên thế giới
Hiện tại, phần lớn các bệnh viện ở quốc gia công nghệ cao trên thế giới,
cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều có thiết lập hệ thống xử lý phế thải bệnh viện Đó là các lò đốt (incinerators) ở nhiệt độ cao tùy theo loại phế thải từ 10000C đến trên 40000
C Tuy nhiên phương pháp này vẫn còn chưa triệt để, sản phẩm sau khi đốt rác thải y tế nguy hại phần lớn thải hồi ra ngoài môi trường nhiều hạt bụi li ti và các hóa chất độc hại phát sinh ra trong quá trình thiêu đốt như: HCl, dioxin/furan và một số kim loại độc hại như thủy ngân, chì, hoặc arsenic, cadmium
Bên cạnh hình thức xử lý rác thải y tế bằng phương pháp lò đốt Ngày nay, tái chế rác thải y tế cũng là một mô hình rất ưu việt được áp dụng nhằm làm hoàn thiện công tác quản lý rác thải trên thế giới Ví dụ như ở các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Singapore đã biến bệnh viện thành hình tượng của khách sạn Khắp mọi nơi không chỉ sạch mà còn đẹp, đảm bảo
vệ sinh chung Để tìm hiểu về phương thức quản lý và xử lý rác thải y tế trên thế giới, đề tài trình bày những thông tin liên quan ở hai quốc gia/vùng lãnh thổ là: Srilanka và Hồng Kông
Trang 19a Ở Srilanka
(1) Phân loại chất thải y tế
Tại Srilanka, việc phân loại chất thải y tế đang được quản lý ở Colombo, thủ đô Srilanka Định nghĩa chung về chất thải y tế là bất kỳ chất thải nào mà gồm toàn bộ một phần cơ thể người hoặc mô động vật, máu, dịch cơ thể, các chất bài tiết, thuốc, dược phẩm Chất thải y tế có thể được phân thành 7 loại: chất thải y tế thông thường, đồ vật sắc nhọn, biệt dược, thuốc và các dược phẩm, các vật gây mầm bệnh, nhau và mô bào thai, chất thải cytotoxic
(2) Công nghệ xử lý chất thải rắn y tế hiện nay
Ở Srilanka, chất thải y tế được tiêu hủy nhờ áp dụng tổ hợp các phương pháp sau:
Đốt cháy trong các lò đốt sơ bộ: Chất thải y tế thường bị lẫn với rác thải sinh hoạt của bệnh viện Phương pháp này gặp nhiều khó khăn trong việc
xử lý với độ ẩm của rác thải, dẫn tới hư hỏng trong bộ phận tự cấp nhiên liệu cháy Kết quả các khí tự nhiên cần được sử dụng làm nhiên liệu bổ sung, dẫn tới chi phí quá cao và không có bất kỳ hệ thống làm sạch khí hoặc kiểm soát phù hợp nào trên toàn bộ điều kiện đốt cháy
Đốt cháy trong lửa trên mặt đất hoặc trong hầm: Các loại chất thải rắn y tế đã được chọn lọc, đặc biệt các vật sắc nhọn, các dược phẩm, một số chất thải rắn y tế thông thường được đốt cháy lộ thiên Lửa có thể đốt cháy trên mặt đất hoặc trong hầm mỏ, sau đó được phủ đất lên Đốt cháy lộ thiên được tiến hành dưới sự giám sát
Chôn cất tại chỗ: các loại rác bệnh viện đã được chon lọc được chôn tại chỗ, đặc biệt là nhau thai và mầm bệnh Chôn lấp tại chỗ được thực hiện dưới sự giám sát
Đổ rác tại chỗ: Nơi bệnh viện có khu đất thích hợp, đổ rác tại chỗ xuất hiện trên mặt đất hoặc trong hầm rộng, sau đó được phủ đất lên Các
Trang 20đống rác đôi khi được đốt cháy, đốt cháy rác nhằm bảo toàn khả năng thiêu hủy Đổ rác tại chỗ được thực hiện dưới sự giám sát
b Tại Hồng Kông
(1) Phân loại chất thải y tế
Tại Hồng Kông, chất thải y tế được chia thành 7 nhóm bao gồm:
+ Nhóm 7: Các chất thải biệt dược và chất thải hóa học
(2) Công nghệ xử lý chất thải rắn y tế hiện nay
Vào năm 1990, các chất thải y tế được xử lý nhờ kết hợp thiêu trong các
lò đốt nhỏ đặt trong các bệnh viện và tiêu hủy bằng cách chôn lấp Các lò đốt nhỏ, không đạt các tiêu chuẩn quốc tế về nhiệt độ cao, thời gian lưu trữ dài và
có thiết bị làm sạch khí thải Do các hệ thống xử lý lại đặt ngay tại nơi đông dân cư và gần nhà cao tầng nên các chất độc hại thải vào khi quyển gây tác hại đến sức khỏe Trước tình hình khiếu nại của công chúng và tăng người nhiễm bệnh Chính phủ Hồng Kông đã giao nhiệm vụ cho các nhà khoa học nghiên cứu, đánh giá và đề xuất các giải pháp tiêu hủy chất thải y tế trong tương lai
Vào năm 1993, Tổ chức Y tế Hồng Kông (HKMA) đã giới thiệu hướng dẫn quản lý chất thải y tế nhằm đảm bảo cách thức phân loại thích hợp trong các bệnh viện và cơ quan y tế và các hoạt động nha khoa Điều này càng được
áp dụng hiệu quả hơn tại các bệnh viện, tại các cơ sở y tế nơi mà cán bộ có
Trang 21chuyên môn cao, có nhiều kinh nghiệm, có trang bị nhằm kiểm soát sự lan truyền ô nhiễm
Tuy vậy, cho đến nay vẫn có một số hạn chế liên quan đến cách thức tiêu hủy chất thải y tế Chất thải y tế được phân tách tại nguồn nhờ sử dụng hệ thống mã màu cho các túi nhựa và các thùng chứa theo hướng dẫn của HKMA Tất cả các loại chất thải rắn y tế và chất thải sinh hoạt đã được tiêu hủy trong các bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh kỹ thuật cao ở Hồng Kông Các lò đốt quy mô nhỏ ở các bệnh viện đã bị đóng cửa do kiểm soát khí thải kém hiệu quả
1.4.2 Quản lý và xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
a Quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ước tính mỗi ngày, các cơ sở của ngành Y tế thải ra ngoài môi trường khoảng 300 tấn chất thải rắn Tuy nhiên, trong đó, có khoảng 40 tấn là chất thải độc hại, nguy hiểm cần được xử lý bằng các biện pháp phù hợp, tức là chỉ 13,3% các chất thải y tế là chất thải độc hại Mức độ gây ô nhiễm môi trường của ngành Y tế thấp hơn ngành Công nghiệp, Hóa chất, Xây dựng
Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, ngoài việc thực hiện nhiệm
vụ chính là bảo vệ môi trường trong hoạt động của ngành Y tế, Bộ Y tế còn được giao nhiều nhiệm vụ khác như: bảo vệ môi trường trong hoạt động mai táng, quan trắc môi trường y tế, đánh giá tác động môi trường của các dự án
do Bộ Y tế phê duyệt Nhiều hoạt động trong nhiệm vụ của Bộ Y tế có liên quan đến bảo vệ môi trường như: xây dựng, hướng dẫn, kiểm tra các tiêu chuẩn về vệ sinh nước sinh hoạt, nước ăn uống, tiêu chuẩn vệ sinh của các công trình vệ sinh công cộng, đặc biệt là đánh giá tác động của môi trường đối với sức khỏe người dân, đánh giá tác động của môi trường lao động trong các khu công nghiệp và trong các làng nghề truyền thống đối với sức khỏe người lao động, đánh giá tác động của các chất gây ô nhiễm môi trường (như
Trang 22chất độc màu da cam…) lên sức khỏe nhân dân, đánh giá tác động của môi trường học đường đối với sức khỏe của học sinh
Tuy nhiên việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường của ngành Y tế còn gặp nhiều khó khăn, thách thức đó là: việc đầu tư kinh phí, trang thiết bị, giải pháp về công nghệ cho các hoạt động bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu Mạng lưới cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường ngành Y tế chưa được kiện toàn, năng lực cán bộ, nhất là tại địa phương còn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ được giao Ý thức bảo vệ môi trường của một số nhân viên y tế và cộng đồng còn hạn chế Cơ chế chính sách về bảo vệ môi trường chưa hoàn chỉnh, chưa có một kế hoạch tổng thể về triển khai công tác bảo vệ môi trường Sự phân công, phân nhiệm của các ngành trong quản lý chất thải chưa rõ ràng và chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành liên quan trong việc chỉ đạo và thực hiện vấn đề này
Để môi trường ngày một tốt hơn, thời gian qua, Bộ Y tế đã triển khai nhiều hoạt động trong việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường y tế, nhằm đảm bảo sức khỏe cho nhân viên y tế và cộng đồng, hạn chế gây ô nhiễm môi trường Kinh phí bảo vệ môi trường trích từ 1% GDP đã được Chính phủ cấp cho Bộ Y tế nhằm trang bị các phương tiện, máy móc thiết bị phục vụ công tác quản lý chất thải y tế, quan trắc môi trường, đặc biệt ưu tiên giải quyết các
cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Trong công quản lý nhà nước, Bộ Y tế đã ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế tại Quyết định số 43/2007/QĐ- BYT nhằm kiểm soát ô nhiễm chất thải y tế tại nguồn, giúp cho các cơ sở thực hiện tốt hơn việc quản lý chất thải, nhất là chất thải y tế nguy hiểm Bộ Y tế chỉ đạo các đơn vị xây dựng mô hình
và áp dụng công nghệ xử lý chất thải y tế phù hợp và thân thiện với môi trường Đến nay, 84 cơ sở, trong đó có 6 bệnh viện tuyến trung ương gây ô nhiễm đã được xử lý triệt để 59 cơ sở y tế được xây mới, cải tạo hệ thống xử
lý chất lượng y tế
b Công nghệ xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Trang 23Ở Việt Nam các cơ sở sản xuất dược phẩm thì chúng thải ra ngoài môi trường một lượng rác thải y tế khổng lồ, riêng chất thải rắn đã thải ra hơn 380 tấn mỗi ngày trong đó khoảng 45 tấn thuộc loại nguy hiểm Bộ y tế cho biết thì chỉ có 1/3 lượng chất thải rắn y tế được đốt bằng lò hiện đại Số còn lại được thiêu ngoài trời, đốt bằng lò thủ công, chôn trong khuôn viên bệnh viện hoặc là thải ra bãi rác chung Hầu hết các cách xử lý như vậy đều chưa hoàn toàn hiệu quả, với những cơ sở vận chuyển rác ra ngoài bệnh viện đến nơi khác để đốt, nguy cơ lây lan mầm bệnh trong quá trình vận chuyển là rất cao
vì không nhiều cơ sở có phương tiện vận chuyển chuyên dụng
Phương pháp chôn lấp thường được áp dụng ở những đơn vị không có lò đốt hoặc lượng rác thải không lớn và điều này sẽ nguy cơ dẫn đến ô nhiễm nguồn nước, dẫn đến dịch bệnh và qua thời gian diện tích sử dụng đất sẽ hạn hẹp đi
Đốt bằng lò cũng không phải giải pháp hoàn hảo Các chất độc hại sẽ giảm nhiều trong quá trình đốt nhưng với điều kiện lò có hệ thống xử lý khí thải, mà thực tế rất ít lò đốt rác y tế ở Việt Nam có hệ thống này Vì thế việc
xử lý chất độc này lại làm phát sinh các chất độc hại khác, làm ô nhiễm môi trường
Trên phạm vi cả nước đã có 35 tỉnh được đầu tư xây dựng và lắp đặt hệ thống lò đốt rác y tế Danh sách tỉnh hiện đã có lò đốt chất thải rắn y tế đã được lắp đặt và đưa vào khai thác vận hành tại Việt Nam Trong đó Hà Nội là tỉnh được đầu tư 5 lò đốt với công suất 450kg/h, nhiều nhất trong tất cả các tỉnh thành Ngoài ra Kiên Giang, Thái Nguyên 2 lò Hiện nay ở các bệnh viện trong cả nước số lượng và chủng loại lò đốt chất thải y tế được sử dụng khá
đa dạng và phong phú Trong đó, lò đốt chất thải hiệu Hoval MZ4 và MZ2 là được sử dụng nhiều nhất
Tuy nhiên, cả nước mới có 80 lò đốt hai buồng đạt tiêu chuẩn môi trường, với công suất từ 300 - 450kg/ngày, nhưng cũng chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu của các bệnh viện, khoảng 30% bệnh viện sử dụng lò
Trang 24đốt thủ công và 30% bệnh viện tự chôn lấp chất thải y tế nguy hại trong khu đất của bệnh viện Ví dụ như Viện Lao và Bệnh Phổi, bệnh viện C Đà Nẵng, bệnh viện Vũng Tàu đã lắp đặt lò đốt chất thải y tế Hoval MZ2 của Thụy Sĩ
có công nghệ hiện đại với nhiệt độ thiêu đốt có hiệu quả, 15 tháng đã đốt trên
10 tấn rác y tế nguy hại với kết quả tốt, đảm bảo an toàn về môi trường Một
số bệnh viện tuy đã lắp đặt lò đốt hiện đại nhưng lại không hoạt động được vì
vị trí đặt lò đốt gần nhà dân và khi vận hành không đúng kỹ thuật có khói đen
và mùi khí thải bốc lên gây cảm giác khó chịu nên bị nhân dân phản đối do vậy không vận hành được (Bệnh viện Bạch Mai) Một vài thiết bị tạm dừng khai thác do bị hỏng chưa có phụ tùng thay thế (Bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An)
c Công nghệ xử lý nước thải ở Việt Nam
Nước thải bệnh viện là một trong những mối quan tâm, lo ngại sâu sắc đối với các nhà quản lý môi trường và xã hội vì chúng có thể gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và nguy hiểm đến đời sống con người Số bệnh nhân ngày càng tăng mà vẫn chưa có biện pháp xử lý nước thải thỏa đáng
Vì vậy, nghiên cứu các giải pháp công nghệ nhằm xử lý hiệu quả nước thải bệnh viện, bảo đảm các tiêu chuẩn cho phép khi thải ra môi trường đã được các nhà khoa học trong và ngoài quân đội quan tâm Hiện nay, các nước trên thế giới và ở nước ta đã ứng dụng nhiều giải pháp công nghệ khác nhau
để xử lý an toàn và triệt để nước thải bệnh viện như là: xử lý nước thải bệnh viện bằng bể sinh học tiếp xúc hiếu khí; xử lý nước thải bệnh viện bằng công nghệ AAO kết hợp màng MBR, trong đó thường sử dụng phổ biến bằng công nghệ sinh học
Các thành phần chính gây ô nhiễm môi trường do nước thải bệnh viện gây ra là các chất hữu cơ; các chất dinh dưỡng của ni-tơ (N), phốt-pho (P); các chất rắn lơ lửng và các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh Các chất hữu cơ có trong nước thải làm giảm lượng ô-xy hòa tan trong nước, ảnh hưởng tới đời sống của động, thực vật thủy sinh Song các chất hữu cơ trong nước thải dễ bị
Trang 25phân hủy sinh học, hàm lượng chất hữu cơ phân hủy được xác định gián tiếp thông qua nhu cầu ô-xy sinh hóa (BOD) của nước thải Thông thường, để đánh giá độ nhiễm bẩn chất hữu cơ có trong nước thải, người ta thường lấy trị
số BOD Các chất dinh dưỡng của N, P gây ra hiện tượng phú dưỡng nguồn tiếp nhận dòng thải, ảnh hưởng tới sinh vật sống trong môi trường thủy sinh; các chất rắn lơ lửng gây ra độ đục của nước, tạo sự lắng đọng cặn làm tắc nghẽn cống và đường ống, máng dẫn Nước thải bệnh viện rất nguy hiểm vì chúng là nguồn chứa các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh, nhất là các bệnh truyền nhiễm như thương hàn, tả, lỵ làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Việc nghiên cứu công nghệ xử lý nước thải bệnh viện không chỉ thỏa mãn các tiêu chuẩn quy định mà còn bảo đảm các yếu tố chiếm ít diện tích, dễ lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng, không gây ô nhiễm thứ cấp ảnh hưởng đến môi trường xung quanh Hệ thống công nghệ xử lý nước thải bệnh viện còn phải có giá thành lắp đặt thiết bị công nghệ và sản phẩm xử lý phải phù hợp, cho năng suất cao và hoạt động ổn định
Nhưng qua số liệu thống kê, có tới 62,3% số bệnh viện chưa có hệ thống xử
lý nước thải Không những vậy, hệ thống xử lý nước thải của nhiều bệnh viện được thiết kế đã lâu, trên 30 năm, nay đã xuống cấp, công nghệ xử lý chưa đảm bảo được tiêu chuẩn môi trường, lượng bệnh nhân và giường bệnh gia tăng gây tình trạng quá tải ảnh hưởng đến chất lượng xử lý Kinh phí vận hành
hệ thống xử lý nước thải bệnh viện cũng khá lớn so với ngân sách được cấp
d Các hoạt động quản lý chất thải y tế trong những năm trước của bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình
Trong những năm trước đây, khi chưa có dự án cải tạo và nâng cấp lại cơ
sở hạ tầng trong bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình thì Công tác quản lý của bệnh viện có nhiều hạn chế, cơ sở hạ tầng còn có nhiều yếu kém Do bệnh viện là tuyến đầu ngành trong tỉnh nên tập trung các bệnh nhân từ các tuyến huyện Hàng năm với số lượng bệnh nhân trong tỉnh khám và chữa bệnh
Trang 26nhiều, có lúc còn quá tải nên bệnh viện chưa cung cấp đủ giường cũng như trang thiết bị cho bệnh nhân lưu trú
Công việc quản lý chất thải còn nhiều hạn chế Trước đây, bệnh viện còn chưa thành lập Khoa Chống Nhiễm Khuẩn và kỹ sư môi trường để phụ trách riêng về khâu quản lý và xử lý chất thải y tế Rác thải còn chưa được quản lý chặt chẽ từ khâu thu gom tới bảo quản và xử lý chất thải Việc rác thải y tế nguy hại và rác thải sinh hoạt được chôn lấp ngay tại khuôn viên bệnh viện Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến môi trường đất, nước và không khí như là có các chất độc hại có thể gây bệnh ung thư như (carcinogens), một số loại chất thải chứa các mần bệnh tiềm tàng trong đất chúng có thể gây ra các bệnh truyền nhiễm, ảnh hưởng tới các nguồn nước ngầm và nước sinh hoạt chúng
sẽ chu du đi khắp nơi
Hệ thống thu gom nước thải của bệnh viện thu gom một cách thô sơ: Khoa Sản, Khoa gây mê phẫu thuật, khoa chuẩn đoán hình ảnh, khoa huyết học, khoa vi sinh, khoa sinh hóa những khoa này có độ gây nhiễm độc cao Chúng được thu vào bể phốt sau đó được đưa vào một bể tập trung rồi bệnh viện xử lý bằng hóa chất khử trùng CloraminB Cuối cùng là thải ra môi trường chung của thành phố Điều này chứng tỏ bệnh viện vẫn chưa chú trọng tới công tác bảo vệ môi trường Đặc biệt vấn đề liên quan tới rác thải và nước thải
Trang 27CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung:
Góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải y tế tại Bệnh
viện Đa khoa tỉnh Hoà Bình
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung vào công tác quản lý chất thải và
hệ thống xử lý nước thải tại khu vực nghiên cứu
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài đã tiến hành nghiên cứu các nội dung cụ thể sau:
- Tìm hiểu nguồn phát sinh chất thải y tế từ hoạt động của bệnh viện Đa khoa tỉnh Hoà Bình;
- Đánh giá hiệu quả công tác quản lý và xử lý chất thải tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý chất thải tại địa điểm nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nội dung nghiên cứu trên, đề tài đã sử dụng các phương pháp sau:
Trang 282.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Đây là phương pháp được sử dụng nhằm giảm bớt thời gian và công việc ngoài thực địa, trong phòng thí nghiệm Phương pháp này rất cần thiết và được nhiều người sử dụng trong quá trình nghiên cứu Các tài liệu thu thập được giúp đề tài tổng kết lại những kinh nghiệm và kế thừa có chọn lọc thành quả nghiên cứu từ trước đến nay
Để phục vụ cho quá trình làm khoá luận, chúng tôi đã kế thừa tài liệu từ các nguồn như:
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của bệnh viện
- Các báo cáo có liên quan: Báo cáo Đánh giá tác động môi trường bổ sung cho việc nâng cấp Bệnh viện Đa khoa Hoà Bình
- Tài liệu trên Internet, sách, báo chí
- Khoá luận của các khóa trước
2.4.2 Phương pháp thực nghiệm
2.4.2.1 Phương pháp lấy mẫu nước thải nghiên cứu
Lấy mẫu và bảo quản mẫu nước với mục tiêu chính là nhằm chuyển mẫu đến nơi phân tích phải đảm bảo sự biến đổi của mẫu là tối thiểu, chất phân tích sẽ không có sự thay đổi đáng kể về hàm lượng
- Nguyên tắc lấy mẫu: Khi lấy mẫu nước phải đảm bảo các yêu cầu sau: + Mẫu nước được lấy phải có tính đại diện cao
+ Dụng cụ lấy mẫu và dụng cụ dựng mẫu phải đảm bảo sạch, phải áp dụng các biện pháp cần thiết bằng các chất tẩy rửa và bằng dung dịch axit để tránh sự phải được vô trùng
+ Dựa vào đặc điểm của nguồn thải trong Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hoà Bình, phù hợp với nội dung nghiên cứu chúng tôi lựa chọn phương pháp lấy mẫu đơn để lấy mẫu Trước khi lấy mẫu thì phải tráng bằng nước cần lấy 3 lần
Trang 29- Xác định địa điểm lấy mẫu: Trong đề tài này, tôi tiến hành lấy 04 mẫu nước thải tại hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện.Vị trí và thời gian lấy mẫu được trình bày tóm tắt trên bảng 3.1
Bảng 3.1 Lấy mẫu nước thải
mẫu (ml)
Địa điểm lấy mẫu Trước xử lý Sau xử lý
xử lý
xử lý
Ghi chú: Mỗi mẫu được đựng trong bình polietylen có thể tích là 500ml Bình phân
thuật cao đưa về hệ thống chưa được xử lý
bể khử trùng được phép thải ra môi trường
- Dụng cụ lấy mẫu: Bình polietylen có dung tích 500ml, dây nilon, băng dính, bút đánh dấu, kéo, thước dài 1,5m…
- Thời gian lấy mẫu: buổi sáng lúc 8h35 – 9h15 (lần 1); 8h
00 – 8h40 (lần 2)
- Độ sâu lấy mẫu: cách mặt nước 20 cm
- Cách lấy mẫu: Dùng dây buộc chặt chai vào đầu thước sao cho chai cân bằng tránth bị lệch và dùng sợi dây nilon buộc vào nút rồi nút chai lại; thả chai vào vị trí cần lấy mẫu thì giật dây nút chai bật ra khi đó nước tràn vào chai, khi chai đã đầy thì từ từ kéo chai lên, đậy nắp chai lại, tháo thước và lau khô bên ngoài Dùng phiếu dán vào chai và ghi đủ các thông tin vào phiếu Cuối cùng cho mẫu nước cần phân tích vào trong hộp xốp có đá lạnh và mang
đi phân tích ở phòng phân tích của Viện khoa học và công nghệ môi trường
Trang 302.4.2.2 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
Chúng tôi lựa chọn các thông số : pH, SS, PO4
, BOD5, COD, Colifom,
3-NH4+ ,S2- để nghiên cứu, đánh giá hiệu quả xử lý Việc phân tích các thông số trên được thực hiện tại phòng thí nghiệm của Viện Khoa học và Công Nghệ Việt Nam Các phương pháp phân tích thực hiện theo các quy chuẩn được ban hành
* Phương pháp đo pH
Chỉ tiêu pH được đo bằng máy đo pH cho kết quả chính xác, pH được
đo bằng giấy quỳ rồi so màu của giấy quỳ với bảng màu để xác định độ pH của mẫu nước
* Phương pháp xác định COD
- Quy trình phân tích mẫu: Ngâm ống nghiệm có nắp đậy trong dung dịch H2SO4 20% và rửa sạch trước khi sử dụng để loại bỏ các chất ảnh hưởng Nếu ống nghiệm có kích thước 16 x 100mm thì thể tích mẫu và hóa chất theo tỉ lệ: 2,5ml mẫu, 1,5ml K2Cr2O7, 3,5ml H2SO4
Cách tiến hành như sau: Cho mẫu vào ống nghiệm, thêm dung dịch
K2Cr2O7 0,05M vào, cẩn thận thêm H2SO4 vào ống nghiệm, đậy nút vặn ngay vào máy sấy ở nhiệt độ 1200C trong 2 giờ Để nguội đến nhiệt độ phòng và đặt ống vào giá đỡ Một số HgSO4 có kết tủa trong ống, tuy nhiên điều này không ảnh hưởng đến kết quả phân tích Chuyển dung dịch trong ống sang bình tam giác có thể tích lớn hơn để tiến hành chuẩn độ, thêm 1 - 2 giọt chỉ thị ferroin vào trong bình tam giác và tiến hành chuẩn độ bằng dung dịch FAS 0,1M Điểm cuối của quá trình chuẩn độ tương đương với điểm mà dung dịch chuyển từ màu xanh lục sang màu nâu đỏ, mặc dù màu xanh lục có thể xuất hiện trở lại sau vài phút Cần tiến hành phép thử song song với mẫu trắng với cách chuẩn bị mẫu tương tự như mẫu thử nghiệm
Công thức tính hàm lượng COD trong mẫu:
Trang 31V: thể tích mẫu nước đem đi phân tích
* phương pháp xác định BOD 5
Trong quá trình phân tích BOD5 cần phải tiến hành chuẩn bị nước pha loãng (dung dịch bao gồm: 1 lít nước cất, 1ml dung dịch đệm photphat, 1ml dung dịch MgSO4, 1ml dung dịch CaCl2, 1ml FeCl3) bão hòa oxi
Xử lý mẫu: Điều chỉnh pH của mẫu trong khoảng 6,5 – 7,5, H2SO4 đặc hoặc NaOH loãng Công việc pha loãng mẫu tùy theo độ đục và độ ô nhiễm của nước thải mà có công thức pha loãng mẫu cho phù hợp, tiến hành đo thực nghiệm DO0, DO5.
Đánh giá kết quả: Lượng BOD5 được tính theo (mgO2/l) và được tính theo công thức: 0 5 ( 2/ )
P
D D
Trong đó:
D0 là lượng oxi hòa tan của dung dịch mẫu đã pha loãng sau 15’(mg/l)
D5 là lượng oxi hòa tan của dung dịch mẫu đã pha loãng trong 5 ngày(mg/l)
P là hệ số pha loãng
* Phương pháp xác định SS
Quy trình phân tích mẫu: Đặt giấy lọc trên phễu hút chân không, sau đó rửa giấy lọc 3 lần bằng nước cất, mỗi lần 20ml Đặt giấy lọc trên đĩa nhôm và đem sấy ở 103 – 1050C trong 1 giờ Để nguội và cho vào bình hút ẩm Thể tích lấy mẫu là 1 lít Cách tiến hành: Đặt cái lọc vào phễu ở thiết bị lọc mặt nhẵn xuống dưới và nối thiết bị lọc với máy bơm chân không Lắc mẫu bằng que khuấy từ ở tốc độ lớn của các hạt trong mẫu để thu được một mẫu đồng nhất về kích thước hạt Mẫu sau khi đã đồng nhất dùng pipet lẫy thể tích mẫu
Trang 32xác định ở điểm giữa của bình Rửa giấy lọc 3 lần bằng nước cất, mỗi lần 10mL Chuyển mẫu sang giấy lọc và tiến hành lọc sau đó nhấc giấy lọc ra khỏi phễu lọc và chuyển sang đĩa nhôm Đặt đĩa nhôm có chứa giấy lọc đem sấy trong 1 giờ ở 103 – 1050C để nguội là đặt trong bình hút ẩm rồi cân Tổng chất rắn lơ lửng được xác định theo công thức:
(A - B) ×1000 mgTSS/L =
Hòa tan 0,7491 gam NaS trong 900 mL NaOH 0,25 M va định mức tới
1000 mL bằng dung dịch NaOH 0,25 M ta được dung dịch chuẩn S2-
100 mg/L
* Chu n lại nồng độ S 2- sau khi pha theo quy trình như sau
- Hút 25 mL dung dịch Iot ( C 0,05 mol/L ) vào bình nón 250 thêm
H2O đến khoảng 100 mL; - Thêm 10 mL axit acetic; - Hút 50 mL dung dịch gốc S2- cần chuẩn lại nồng độ cho vào dung dịch Iot; - Để hỗn hợp phản ứng
Trang 33trong 3 phút; - Chuẩn độ lượng dư Iot bằng dung dịch thiosunfat ( C 0,1 mg/L ) đến màu vàng nhạt, thêm hồ tinh bột và chuẩn độ tiếp đến không màu;
- Tính nồng độ S2- theo công thức: ( / )
50
100
* 604 , 1 )
2.4.4 Phương pháp so sánh, đánh giá
Sử dụng quy chuẩn Việt Nam QCVN 28:2010/BTNMT để đánh giá chất lượng nước Dựa trên kết quả phân tích các chỉ tiêu đã chọn tôi sử dụng các tiêu chuẩn trên để đánh giá ảnh hưởng quá trình hoạt động của bệnh viện tới chất lượng môi trường nước
Trang 34CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố Hòa Bình
3.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Hòa Bình là tỉnh lị tỉnh Hòa Bình, trước đây Hòa Bình vốn là thị xã, trở thành thành phố trực thuộc tỉnh theo Nghị định số 126/2006/NĐ-
CP của chính phủ ban ngày 27 tháng 10 năm 2006
Thành phố Hòa Bình có diện tích 13.276,05 ha diện tích tự nhiên, thành phố Hòa Bình nằm hai bên bờ sông Đà trên trục quốc lộ 6 và cách trung tâm
Hà Nội 76km Tọa độ địa lý của thành phố là 105o21’ Đông và 20o49’ Bắc, bao gồm 15 đơn vị hành chính
Địa giới hành chính của thành phố Hòa Bình như sau:
- Phía Đông giáp huyện Kỳ Sơn và huyện Kim Bôi
- Phía Nam giáp huyện Cao Phong
- Phía Tây giáp huyện Cao Phong và Đà Bắc
- Phía Bắc giáp huyện Thanh Sơn của tỉnh Phú Thọ
Với vị trí thuận lợi về giao thông đường thủy, đường bộ, cảnh quan du lịch phong phú, có nét văn hóa đặc trưng lại gần thủ đô Hà Nội, thành phố Hòa Bình trở thành một trong những vùng trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng thu hút nhiều du khách Hàng năm, ngành công nghiệp không khói này đã đóng góp đáng kể cho ngân sách của Nhà nước và phát huy, duy trì tính bản sắc dân tộc miền núi của tỉnh phía Bắc nước ta Nhiều địa danh của tỉnh đã trở thành điểm đến quen thuộc của nhiều du khách trong và ngoài
Trang 35
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội thành phố Hòa Bình
(1) Về phát triển kinh tế xã hội
- Tăng trưởng kinh tế bình quân trong 5 năm ( 2005-2009) đạt 13,85%
- Cơ cấu kinh tế: Dịch vụ 53,8%, Công nghiệp xây dựng chiếm 31,7%, Nông-Lâm nghiệp chiếm 14,5%
- Thu nhập bình quân đầu người/năm tăng từ 7,4 triệu đồng năm 2006 lên 16,9 triệu đồng năm 2009
a Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh, giá trị sản xuất đạt mức tăng cao đặc biệt là khu kinh tế ngoài quốc doanh, các ngành có nhiều tiềm năng phát triển như: Cơ khí, chế biến thực phẩm, chế biến lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng Năm 2009, có 51 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tăng 20 doanh nghiệp so với năm 2008, 1.100 hộ cá thể, 5 doanh nghiệp Trung ương, 16 doanh nghiệp của tỉnh, 5 doanh nghiệp của vốn đầu tư nước ngoài
b Thương mại – dịch vụ - du lịch
Đây là ngành chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu kinh tế của thành phố Giá trị xuất khẩu gia tăng cao Doanh thu năm 2009 ước đạt 1.172 tỷ đồng
c Nông – Lâm – Thủy sản
Phát triển theo sản xuất hàng hóa và có mức tăng trưởng khá Thâm canh tăng vụ được đẩy mạnh Năng suất lúa tăng từ 51,26 tạ/ha năm 2005 lên 54 tạ/ha năm 2009 Các mô hình chăn nuôi trang trại, canh tác nông, lâm nghiệp phát triển đa dạng với nhiều hình thức Độ che phủ rừng đạt 50%
(2) Về văn hóa xã hội
Sự nghiệp giáo dục được phát triển toàn diện, chất lượng dạy học được nâng cao ở các cấp học Toàn thành phố có 387 học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp thành phố có 137 em
Công tác xã hội hóa Y tế phát triển mạnh, chú trọng nâng cao công tác khám chữa bệnh Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố, hiện nay 15/15 trạm y tế
có bác sĩ, 3/15 trạm y tế đạt tiêu chuẩn Quốc gia
Trang 36(3) Về quy hoạch xây dựng hạ tầng
Thành phố Hòa Bình hiện có khoảng 2.400 ha diện tích đất đô thị cần được lập quy hoạch chi tiết để phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội tại địa phương
Hiện nay, thành phố đang phối hợp điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Hòa Bình năm 2025
3.2 Điều kiện tự nhiên khu vực bệnh viện
3.1.1 Vị trí địa lý
Bệnh viện đa khoa tỉnh Hoà Bình nằm ở trục đường chính đường Cù Chính Lan, Thành phố Hoà Bình, Tỉnh Hoà Bình
+ Phía Đông giáp với Phường Đồng Tiến
+ Phía Nam giáp với Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Hoà Bình
+ Phía Tây giáp với các Cơ quan của tỉnh và thành phố
Trang 37- Vùng đồi núi thấp: Gồm vùng đất feralit vàng đỏ và vùng cỏ thứ sinh, trong đó đất bạc vàng chiếm 45 – 80% Vùng ven sông Đà hàng năm được bù đắp một lớp phù sa khá dày nên thuận lợi cho việc trồng lúa, trồng hoa màu
b Điều kiện về thuỷ văn
Bệnh viện nằm ở vị trí rất thuận lợi nên mùa mưa sẽ không bi ngập
3.4 Điều kiện kinh tế - xã hội của bệnh viện
a Tóm tắt về bệnh viện
Tỉnh Hòa Bình là tỉnh miền núi, nằm ở toạ độ địa lý 200
19' - 21008' vĩ độ Bắc, 1040
48' - 105040' kinh độ Ðông Phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ; phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, Ninh Bình; phía Ðông giáp Hà Nội; phía Tây giáp tỉnh Sơn
La, Thanh Hóa Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.662,5 km2, chiếm 1,41% tổng diện tích tự nhiên cả nước Theo kết quả điều tra ngày 1/4/2009, tỉnh
Trang 38Hoà Bình có 832.543 người Bệnh viên đa khoa tỉnh Hoà Bình là bệnh viện hạng 1, một trong những bệnh viện chuyên môn cao nhất của Sở y tế Hoà Bình về công tác điều trị, có quy mô 520 giường bệnh với 25 khoa (Bệnh viện
đã nâng cấp cải tạo từ năm 2006) Tổng số cán bộ nhân viên của Bệnh viện hiện có 540 người (Được sự nhất trí của Chính Phủ, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình xây dựng và thành lập năm 1958 và đến năm 2006 Bệnh viện mới cải tạo va nâng cấp)
Bệnh viện nằm trên quốc lộ 6, cách thủ đô Hà Nội 73 km Với vị trí này rất thuận lợi cho việc đi lại và phục vụ người bệnh
Phạm vi và đối tượng phục vụ của bệnh viện bao gồm nhân dân tỉnh Hoà Bình, cán bộ công nhân viên của nhiều nhà máy và khu công nghiệp trong tỉnh
b Tình hình hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện trong năm 2010
+ Số giường bệnh theo kế hoạch: 520 giường
+ Số giường thực kê: 550 giường
+ Công suất sử dụng giường bệnh: 120%
+ Cán bộ công nhân viên: 540 người
+ Ngày điều trị trung bình: 7.9
Trang 39CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Các nguồn phát sinh, thành phần và khối lượng chất thải bệnh viện tỉnh Hòa Bình
Các chất tải rắn phát sinh trong bệnh viện được chia làm hai nhóm tuỳ theo tính chất ô nhiễm và biện pháp xử lý:
(1) Chất thải từ hoạt động chuyên môn, bao gồm:
+ Khoa điều trị: Bông băng, mủ hoại tử, thuốc thừa, các dịch, bệnh phẩm…
+ Phòng mổ: Bông băng nhiễm khuẩn, chi tiết cắt bỏ, dịch tổ chức, thuốc hoá chất vô cảm…
+ Phòng khám: Bệnh phẩm, bông băng gạc nhiễm khuẩn, dụng cụ, quần
áo nhiễm khuẩn, nẹp cố định
+ Khoa xét nghiệm: Máu, hoá chất, bơm kim tiêm, chai lọ đựng bệnh phẩm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm như máu, mủ đờm, môi trường nuôi cá… + Dược phẩm quá hạn, dược phẩm bị nhiễm khuẩn, dược phẩm không còn sử dụng
(2) Chất thải sinh hoạt:
Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các hoạt động thông thường của bệnh nhân, người thân bệnh nhân, cán bộ công nhân viên bệnh viện
Chất thải rắn sinh hoạt chứa thành phần chính là chất hữu cơ (rau, vỏ trái cây, hoa quả, thức ăn dư thừa), các thành phần trơ và khó phân huỷ như bao bì, rác quét dọn từ sàn, các loại giấy loại, túi nilon, hộp carton, giấy gói, các đồ bỏ đi như